Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Vì sao ông Chu Giang Tức giận?

Tiểu luận của Nhã Thuyên

   LTS:Tiểu luận của Nhã Thuyên về thơ "dơ",thơ "rác".. . thì không đáng nói đến.
 Nhưng vấn đề rất nghiêm trọng là quan điểm đào tạo sai lầm. 
Kỳ này nói về luận văn của Nhã Thuyên.
Các kỳ tới nói rõ sai lầm có hệ thống ở bộ môn

Văn học Hiện đại Việt Nam khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội 


 Thế là gần hai mươi năm qua Thạc sĩ Nguyễn Thị Bình vẫn giữ quan niệm văn học sai lầm mà vẫn trở thành PGS-TS-Nhà giáo ưu tú - Tổ trưởng tổ văn học hiện đại Việt Nam để hướng dẫn nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan (tức Nhã Thuyên) hoàn thành luận văn Thạc sĩ “VỊ TRÍ CỦA KẺ BÊN LỀ: THỰC HÀNH THƠ CỦA NHÓM MỞ MIỆNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA” đạt kết quả xuất sắc với điểm 10 tuyệt đối. Đây là một chương hài hước đặc sắc nhất trong lịch sử Trường ĐHSP Hà Nội. 
Lời cảm ơn của tác giả Luận văn (từ đây xin viết tắt LV) nói lên phần nào tinh thần Umour ấy.
Tôi muốn bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình, người hướng dẫn luôn sẵn lòng cởi mở đón nhận những ý kiến đa dạng về các hiện tượng đương đại.
Cảm ơn Tiến sĩ Võ Văn Nhơn, Tiến sĩ Đỗ Lai Thúy, những người không ngần ngại chia sẻ tư liệu và trao đổi. Cảm ơn Thạc sĩ Trần Ngọc Hiếu vì sự sâu sắc đa dạng trong các bài viết về thơ ca và lý thuyết chứa đựng nhiều tiềm năng kích thích và gợi mở quý báu... (và nhiều người khác).
Nội dung của Luận văn đãđược đưa vào tiểu luận Những tiếng nói ngầm, có đôi chút khác nhau chỉ là sự trau chuốt, thêm Lời ngỏ và cắt tỉa những chỗ quá khiêu khích trắng trợn mà chúng tôi sẽ phân tích sau.
Vấn đề rất quan trọng ở đây là sự khác nhau giữa Luận văn và tiểu luận. Một tác giả tự do đăng tải trên mạng. Các cư dân mạng có thể tiếp nhận ở những mức độ khác nhau, có thể người ta không đọc, có thể được tán thưởng, có thể bị phản đối một cách quyết liệt, như hồi ký của một vị giáo sư cách đây mấy năm.
Nhưng một Luận văn cao học trong một cơ sở đào tạo của Nhà nước thì có tính pháp quy. Đại học Sư phạm Hà Nội là trường đại học trọng điểm của quốc gia, tính pháp quy của Luận văn càng phải chặt chẽ. Luận văn phải lưu ở thư viện quốc gia, là tài liệu chính thức cho người nghiên cứu, tham khảo. Tác giả Luận văn lại là người giảng dạy, trực tiếp đứng lớp thì học trò phải học theo. Vì thế cần phải vạch rõ tính chất nguy hại của Luận văn này.
Ngay trong tên của Luận văn, thì góc nhìn văn hóa ở đây là góc nhìn nào? Thuộc về một thứ văn hóa nào? Nó vừa mập mờ che mắt người đọc, vừa ngầm chứa một ý tưởng xấu. Thông thường người ta hiểu từ Văn hóa là hay là tốt, là đúng... nhưng đọc vào nội dung mới thấy góc nhìn của Luận văn là góc nhìn phản văn hóa. Hãy xem Lý do chọn đề tài của tác giả Luận văn:
Nếu coi văn hóa là một chỉnh thể, thì cái chỉnh thể này, bất kể không gian hay thời gian, luôn bao gồm cái hiện diện và cái vắng mặt, dòng chính (mainstream) và dòng ngầm (underground). Theo đó, dòng chính thường được coi như là trung tâm, là hệ quy chuẩn cho những định giá trong tiếp nhận, cũng có nghĩa nó mang quyền năng chi phối và tác động, quyền năng hình thành quy phạm, hình thành thiết chế. Tuy nhiên, luôn luôn xảy ra quá trình giải quy phạm và phá hủy thiết chế, nhất là khi thiết chế đó bộc lộ sự xơ cứng và bảo thủ, diễn ra ngay trong dòng chính như một quy luật của vận động. Và không khó hiểu, ở những thời điểm khủng hoảng, những cuộc cách mạng/khởi loạn thường xảy ra. (Luận văn - trang 3) Vâng! Nhưng không phải hầm bà lằng, tạp pí lù đâu!
Và đây nữa, là “văn hóa” khi nhận xét, bình luận các hiện tượng văn học:
Việc Nguyễn Huy Thiệp nhét cứt vào miệng kẻ sĩ Bắc Hà để hạ bệ thần tượng hoàn toàn khác việc Mở Miệng đưa chuyện cứt đái ra nói công khai như những kẻ mua vui nhàn rỗi cho quần chúng bằng thơ tiếu lâm. Nguyễn kết thúc thời kỳ anh hùng bằng việc trộn lẫn hư cấu và lịch sử, nhưng vẫn kỳ vọng vào sự thay đổi và “quyền được nói sự thật”, và cuộc chiến đấu của Nguyễn vẫn là cuộc chiến đấu với một ý thức hệ bao trùm. Các nhà thơ “phản kháng” trong bối cảnh hậu đổi mới như Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Phan Bá Thọ, Mở Miệng, hay nhiều nhà thơ khác xuất bản trên Tiền Vệ hay Damau, thể hiện sự phản kháng bằng nhận thức rộng rãi hơn về bối cảnh. Họ văng tục và nói về cứt đái nhưng muốn lật đổ hơn là xây dựng. Họ không thể gây hấn chỉ bằng cách nỗ lực nói sự thật, vì niềm tin vào sự thật cũng không còn. (Luận văn - trang 31)
Và đây có thể xem là mục tiêu “văn hóa” của Luận văn, khi định giá trị của cái ngoại vi, cái khác (other), cái bên lề:
Cái bên lề xuất hiện đòi làm cách mạnh khi cái trung tâm trở nên cỗi già. Quá trình kết tụ sức mạnh thành dòng ngầm của những cái bên lề và “gây hấn” ở những thời điểm cách mạng không phải là một thuộc tính văn chương, mà là một hiện tượng phổ biến và nằm trong bản chất của vận động, do đó, cũng là một hiện tượng vận động có tính quy luật của lịch sử văn học, ở bất kỳ thời gian, không gian, trong bất kỳ thể chế nào, mọi thời đại, mọi quốc gia, lãnh thổ. Nó luôn là biểu hiện của một nỗ lực tìm kiếm ý thức văn hóa mới có tính chất thay thế, làm đối tượng với cái đang trở nên già cỗi, mòn sáo và chuyên chế. (Luận văn - trang 25)

Chùm truyện ngắn "Mình hót lên" của Nhã Thuyên

27-07-2011 01:33:16 PM
VanVN.Net - Nhã Thuyên, sinh năm 1986 tại Hải Dương. Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, Đại Học Sư phạm Hà Nội 2007. Hiện sống và làm việc tự do tại Hà Nội. Làm thơ, viết truyện ngắn và cực ngắn, viết tiểu luận. Và phải kể đến các bài báo. Xuất hiện chủ yếu trên các diễn đàn văn học nghệ thuật liên mạng cùng một số tờ báo, tạp chí: Lao Động, Tiền Phong, Tuổi Trẻ, Thể Thao Văn Hóa, Văn Nghệ Trẻ,…VanVN.Net xin giới thiệu hai truyện ngắn được rút ra từ cuốn sách mới nhất của tác giả trẻ này, cuốn Ngón tay út (NXB Hội Nhà văn, 2011).


Tác giả Nhã Thuyên

Gió cứ thổi trong bầu trời xám

Người đàn ông nằm trên giường như một cây khô ở thời khắc tàn bạo nhất của mùa đông, vẫn giữ nguyên dạng hình nhưng không còn dòng nhựa chảy, cả nỗi đau đớn trong mạch máu cũng bị bàn tay vô hình của gió buốt vắt kiệt. Đôi mắt mờ đục trồi lên trên gương mặt mơ hồ, mở to nhìn ngọn nến đính trên chiếc đĩa sứ nằm úp trên một chiếc ghế gỗ cũ, ánh lửa xanh chao đảo, âm u. Ông biết, họ đang chuẩn bị quan tài cho ông. Nằm đây, ông có thể ngửi thấy mùi gỗ mới, thoang thoảng thơm mùi của một giấc mộng đẹp xa xôi.
“Trăng đã lên chưa con?”
Hôm nay là rằm trung thu. Nhiều năm nay, trung thu nào ông cũng chuẩn bị cỗ trông trăng thịnh soạn cho con gái, dù cô đã mười sáu tuổi, như để bù đắp lại bao năm tháng tuổi thơ của con ông đi biền biệt.
Đứa con gái như một bắp ngô non, chỉ có gương mặt hơi nhú lên, toàn thân được bọc bằng lớp áo bông sù sụ, nhưng trông vẫn thật yếu ớt. Hôm nay cô nấu chè bưởi. Cô để lửa cháy quá nên mùi thơm của cùi bưởi và nước cốt dừa có lẫn hơi khét. Cô muốn mở cửa sổ nhưng sợ gió thốc lạnh. Và hình như có mưa. Mưa, mưa thì có thể trăng không lên. Mưa thì mù mịt những điều hãi hùng.
Gia đình cô – từ một miền nào đó mà không ai còn muốn nhắc tới - dạt tới đây sau một trận lũ tàn bạo cuốn phăng tất cả, bố đã dựng lên một căn nhà rộng giữa nơi vắng người, giữa cánh đồng mênh mông, nơi gió lạnh và mưa bao giờ cũng dửng dưng và khắc nghiệt hơn, nơi con người phải khô sắt hơn để chống chọi với sự đơn độc, nơi người ta nói ít hơn là lặng lẽ quan sát lẫn nhau... Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông. Gió quét rát mặt từng mảng tường, gió băng qua mái nhà, vừa thổi vừa bất thường rên thê thiết, ủ sẵn buồn thương trong những cơn mưa đến từ vùng mờ đục âm u nào đó.… Những ngày tháng mười, gió ở đây luôn mang một vẻ mặt sầu thảm và đôi khi giận dữ, gương mặt của những người đàn ông can trường, chịu nhiều đau khổ, gương mặt của cha cô.
“Chưa bố ạ.” Cô nói, kìm những giọt nước mắt. Cô không muốn người cha biết trời đang mưa.
“Mưa hả con?”
 Mưa, mưa thì trăng không lên. Mưa thì mù mịt những điều hãi hùng. Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông, những loài gió lạ lùa qua khe cửa sổ sơn xanh chống chếnh, những loài gió với gương mặt và hơi thở khổ đau, trĩu nặng mà vẫn ngang tàng.
Ông nghe rõ tiếng đóng quan tài mỗi lúc một vang mạnh. Gã thợ giáng những nhát búa mạnh xuống tấm ván. Những thớ thịt gỗ bị xiết vào nhau kêu thít lên.
“Họ làm đến đâu rồi, con gái?”
Nhiều ngày nay, ông biết, đã hết người đến thăm ông. Họ đang làm phận sự cuối cùng của họ, với ông, một người khác.
“Bố hỏi gì cơ hả bố?”
“Trăng đã lên chưa con?”
Cô gái ngồi bất động. Nước mắt không kìm giữ được giàn ra. Người đàn ông mỉm cười. Nụ cười rút máu trên mặt, gương mặt ông tái xám dần. Ông đã nằm liệt nhiều ngày, chỉ có thể chèn thật nhiều gối phía sau để đỡ tấm lưng bất lực, để nhìn rõ hơn gương mặt người đang nói chuyện cùng ông. Ông không thể nhấc mình dậy, để ra ngoài nhìn trăng, một lần nữa.
“Bố, con đưa xe đẩy bố ra ngoài nhìn trăng nhé. Trăng có lẽ sắp lên. Bây giờ bố ăn một bát chè bưởi đã.”
Cô biết rằng, cả việc đặt ông vào xe đẩy lúc này, cũng thật khó nhọc. Và cô nói thế trong khi đã nghĩ ngay cả điều ấy cũng khó thực hiện được. Cả điều ấy cũng khó thực hiện được...
Người đàn ông mỉm cười. Nước đọng lại trong mắt ông đùng đục. Cô gái bưng bát chè lên, lấy từng thìa đưa lên miệng người cha nhưng mặt cúi gằm, răng bặm vào môi. Người đàn ông cố gắng ăn một cách nhẹ nhàng nhất có thể. Môi ông há ra khô nứt, tái nhợt như một mảng da bong lên sau khi vết thương khép dần miệng, cô nghĩ đến một mảnh trăng bị rách, rơi xuống và ngấm đẫm mưa tháng mười. Ông muốn mỉm cười. Muôn vuốt tóc con gái. Muốn khóc. Muốn đứa con bé lại và ngồi trong lòng ông như ngày nào. Muốn ôm lấy con và hôn, muốn hôn, muốn ôm lấy con muốn ôm lấy con con đừng khóc rồi tất cả sẽ qua đi sẽ qua đi… Con sẽ quên sẽ quên… Mọi người chết rồi sẽ bị lãng quên…
Cô gái muốn mỉm cười. Muốn bé lại và ngồi trong lòng ông như ngày nào. Muốn khóc. Sẽ chẳng có điều gì qua đi sẽ chẳng bao giờ chẳng bao giờ cả…
Tiếng thét vỡ ra trong lồng ngực cô gái, nhưng nghẹn lại nơi cổ. Không. Không thể. Bố không thể… “Trời hành bố. Nhưng cái gì đến sẽ phải đến. Cái gì đến sẽ phải đến.” Tiếng người cha nhỏ dần, chìm trong nỗi đau đớn dồn dập thúc vào lồng ngực nhỏ bé của cô gái.
Hình như họ đã xong xuôi, đã đi gọi đội kèn, đã có những người đến nấu nướng. Một người già nào đó đã xé vải tang. Bàn tay nào xé rách không khí.
 “Con mở cửa sổ ra bố nhé. Để nhìn trăng từ đây”.
Cô gái hé cửa sổ. Mưa dội xuống đục cả con ao và mảnh vườn. Bức tường bao quanh khu vườn rộng bỗng chao đảo trong mưa. Ở ngoài kia vẫn là mênh mông, cánh đồng và những khoảng trống. Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông, những loài gió lạ lùa qua khe cửa sổ sơn xanh chống chếnh, những loài gió với gương mặt và hơi thở khổ đau, buồn trĩu nặng mà vẫn ngang tàng. 
“Trăng đã lên chưa con? Con ra hẳn ngoài ngắm trăng đi.”
Cô gái nhìn mãi phía tường bao trắng nhợt đang bị nuốt dần trong cái lưỡi khổng lồ của bóng tối. Cô nhìn mãi, sao trăng vẫn chưa lên.
Cô đã quên mất rằng cửa sổ của căn nhà này mở về phía Đông. Nơi ấy trăng chỉ hiện ra vào lúc tảng sáng. Chỉ có gió thốc lạnh. Mưa.
Người thợ đã giáng nhát búa xuống chiếc đinh cuối cùng. Ông nghe tiếng gỗ giật nảy lên vang chói tận óc. Ông thấy mình nằm im cứng đơ trong vải liệm, rồi được đặt ngay ngắn trong chiếc quan tài sơn thếp vàng.
Người cha nhìn gương mặt con gái, một vầng trăng nhợt nhạt đẫm nước mưa, mỉm cười, nụ cười của kẻ đã bị số phận tàn hủy, đến phút cuối cùng vẫn chờ đợi một điều gì mãi không đến.
“Trăng đã lên chưa con?”
Những tấm thân yếu đuối dồn sức gồng lên, lao ra ngoài ô cửa. Họ thuộc về bầu trời xám, những cơn mưa, vầng trăng đẫm nước, họ thuộc về sự tàn hủy, họ sinh ra từ những loài gió lạ và họ đang trở về, thành những loài gió lạ, những loài gió mang gương mặt và hơi thở khổ đau, trĩu nặng mà vẫn ngang tàng, thổi không ngừng trong những mùa đông.
                                                                                                                                                                                                                                                  14.01.08 – 15.12.2010


                                      Mình hót lên
                                                                                    tặng p.m.đ & những mùa

Một sáng sớm mùa đông, bầu trời xám thở ra hơi mát lạnh, tôi tự nhiên trút bỏ dần bộ dạng người. Trong gương, khi đưa bàn tay trái lên gỡ tóc rối, tôi thấy ngón tay đeo nhẫn và ngón trỏ thấp hơn hẳn. Theo trò đùa của mắt, tôi hà hơi mờ mịt mặt kính, áp bàn tay trái vào gương, nhấc lên, thấy hình bàn tay trên gương, chiếc sừng nai nhấp nhô những mầm sừng đang nhú, hai mầm sừng bị chặt ngang, rồi dấu vết trên mặt gương mờ dần, chiếc sừng teo nhỏ lại, thành chiếc cành đang đâm nhánh bỗng chết khô vì cây bị đứt rễ, rồi dần dần chúng biến mất hẳn trước mắt tôi, chỉ còn lại toàn hơi sương. Tôi dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải nắn vuốt từng ngón tay trái, phát hiện điều kì cục xảy ra với cả ngón trỏ, và cả ngón áp út bàn tay phải: chúng cụt lủn, chỉ còn hai đốt. Như thể một căn bệnh lây nhiễm, các ngón tay khác cũng trụi dần trụi dần, một cái cây bỗng nhiên bị loài sâu khổng lồ gặm mòn hết cành lá, chỉ còn trơ lại những hốc mắt tròn lụi trên thân.
Bây giờ tôi thấy mình thấp dần, toàn thân co dồn, hai chân lún mãi xuống, một cái lò xo chịu lực ép vô hình. Mặt sàn nơi tôi đứng vẫn bất động, không có dấu hiệu chuyển rung, chao đảo. Cái mặt tôi vẫn nguyên dạng mặt người, gương mặt quen thuộc với tôi: hai con mắt lầm lì thiếu sinh khí, hai lá đào khô, cái mũi thấp bẹt cố nhoi lên hít thở, cái lều tạm bợ trên sa mạc của lũ vi trùng, hai gò má cao xương xương, hai hốc đá, nơi trú ngụ của những nụ hôn trong quá khứ bỏ hoang, vết sẹo nằm ngang dài 4cm, con đỉa nằm bẹp trên trán cao và dô, vài sợi tóc lòa xòa ngang má. Gương mặt bây giờ là kí ức người sót lại của tôi, là minh chứng cho nhân dạng tôi. Theo độ lún xuống của đôi chân và toàn thân co lại, chiếc mặt tôi, may thay, vẫn gắn với đầu, từ từ tụt xuống, và rơi xuống mặt đất, một cái đầu tượng bằng đất.
Qua những tấm gương lớn đặt sát tận chân tường, gắn với tứ phía của căn phòng riêng có cửa thông ra phòng khách, tôi thấy đôi chân mẹ, chiếc làn nhựa xanh đặt xuống nền gạch hoa như mọi ngày. Tiếp đó, như thường lệ - và tôi luôn đoán đúng, tôi nghe tiếng gọi vào ăn sáng, lần này tiếng gọi vang lên âm âm, có lẽ bởi tai tôi đang ở quá sát mặt đất. Ngày nào tôi cũng rình đoán những lúc mẹ gọi đến tên mình vào các giờ ăn. Tiếng “con” vang lên trong không trung, vón cục, lăn lốc cốc, đôi khi cũng vui tai. Tôi và mẹ sống cùng nhau 20 năm qua, bằng số tuổi tôi bây giờ, theo thể thức giao tiếp đặc biệt gần như thủ tục: phần lớn thời gian tôi sống trong căn phòng đặt gương tứ phía, mẹ và tôi không giáp mặt nhau nhưng từ phòng mình, tôi vẫn quan sát được bước chân mẹ, những chuyển động chống chếnh như dưới nước khi ánh mặt trời rọi vào, gương mặt lấp ló đâu đó, đôi mắt lo âu vẫn dò theo tôi nhất cử nhất động bằng cách nhân thành nhiều đôi mắt qua các tấm gương. Có một thỏa thuận ngầm đáp ứng nhu cầu của cả hai bên: nhu cầu quan sát từ xa của tôi và mẹ bằng cách nhân bội con mắt, tôi đề phòng mẹ nhất cử nhất động, mẹ canh chừng tôi nhất cử nhất động, từ khi tôi mới lọt lòng. Bà chỉ có mình tôi, bà sống vì tôi và luôn sợ hãi tôi biến mất bất cứ lúc nào.
Có lẽ ngày đang trôi, nắng mùa đông hắt vào tấm gương loang loáng những lưỡi ánh sáng nhọn sắc, những lưỡi thép trắng lạnh. Gương mặt tôi bắt đầu biến thái, miệng tôi dài ra và úp vào nhau thành cái mỏ chim. Tôi mơ hồ đoán rằng chính lưỡi dao của ánh sáng đang khoét gọt tôi theo cách nó muốn.
Tôi đang thành một con chim. Lông bắt đầu phủ dần lên hai cánh tay và bàn tay trụi lủi. Lông dầy lên toàn thân, ấm áp. Những móng chân của tôi hơi quặp lại và lớp sừng đang sần lên. Một con chim ngoại cỡ so với những loài chim quen thuộc trong thành phố này.
Tôi cười thầm. Sự biến mất của tôi sẽ làm mẹ kinh hãi. Thậm chí tuyệt vọng, thậm chí bà có thể chết bất ngờ. Ánh sáng đang khoét gọt tôi theo cách của thiên nhiên, theo quy luật sinh tồn và thích ứng. Tôi không phải là sở hữu của mẹ tôi. Tôi không thuộc quyền kiểm soát của bà. Tôi cũng chẳng thể tự quyết định chính tồn tại của mình.
Tôi nhảy nhót ra ban công. Tôi bay, thử xem. Tôi đập cánh. Tôi lấy đà. Tôi ngã dúi. Tôi đập cánh lại. Tôi lấy đà. Tôi bay được.
Quả thật tôi là chim? Tôi bay lên.
Khi mệt, tôi đứng nghỉ trên dây điện chăng khắp phố, nhìn nghía bọn người đi lại ở dưới, bọn người tôi vốn chán ghét vì sự nhàm tẻ đúc ra từ khuôn mặt họ. Lần đầu tiên tôi quan sát đám đông di chuyển đủ loại người, mà tôi không phải trà trộn vào họ, cũng không phải len lén nhìn, không phải bày đặt một căn nhà gương, tôi đang ở trên cao hơn để nhìn họ, tôi không bị họ săm soi như soi một con người bình thường. Tôi đang mang hình thù chim. Tôi bắt đầu thấy họ hay hay là lạ. Rồi có lẽ họ cũng săm soi tôi, săm soi một con chim, có thể bằng mắt, bằng tay, bằng ná thun, bằng súng, bằng đá…theo cách của một con người. Nhưng tôi chẳng lo xa. Bây giờ tôi đang là chim.
Tôi gõ gõ vào thân cây, nghiêng nghiêng đầu, mổ mổ xuống cánh lá.
Tôi nghe tiếng hót của tôi cứ mỗi ngày mỗi trong hơn.
Trong kí ức của một con chim có hình ảnh một con người không?
Mình hót lên. Chỉ mang máng rằng cánh tay mình teo dần rồi mọc ra hai cái cánh. Rồi lông phủ lên… Chỉ mang máng rằng một sáng sớm mùa đông, bầu trời xám thở ra hơi mát lạnh, mình tự nhiên trút bỏ bộ dạng người. Thế rồi bay đi luôn và là chim luôn từ đấy.
Nhưng bây giờ, mình phải bay đi đâu? Mình đã làm thân với những loài chim và biết rằng, trong thành phố này, mình là một con chim chẳng hợp bầy. Những loài chim trong thành phố có lẽ đã cảm thấy bất trắc khi mình lại gần. Thiên nhiên đã ngẫu hứng tạo ra mình, có lẽ, nhưng thiên nhiên không kèm theo hướng dẫn sử dụng, cũng không khuyến mại một cái lồng. Trong kí ức của một con chim có hình ảnh một con người không? Trong hình dạng bây giờ, liệu mình có bị phát hiện ra mình đã từng là một con người không. Bây giờ, mình phải bay đi đâu?
                                                                                                      21. 07.2007 - 02.01.2011

VẤN ĐỀ Ở KHOA VĂN ĐHSP HÀ NỘI 

Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối 

CHU GIANG  

(Xem từ số 256)
Mặc dù Luận văn trưng bày nhiều lý thuyết của nước ngoài làm cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu như khái niệm LỀ (margin) hay SAMIZDAT (tự xuất bản), tựu trung chỉ để khẳng định, đề cao thực hành thơ của nhóm MỞ MIỆNG. Và đây là sự đánh giá của Luận văn về sự giải phóng ngôn ngữ, về “hai thứ taboo vào loại lớn nhất, nguy hiểm nhất trong các xã hội Việt Nam là Nói Tục và Chính Trị thì đều được các nhà thơ MỞ MIỆNG và những người đồng ý hướng xuyên thủng” (Luận văn - trang 66). Và được tác giả hết lời ca ngợi:
Hiếm có bài thơ nào sử dụng những chữ vốn bị cho là cấm kỵ tài tình và hấp dẫn đến thế, thẳng băng ngang hàng, không kêu gọi lật đổ, mà bản thân nó đầy sức mạnh lật đổ. Xin đọc một đoạn:
nếu Jesus không hỏi: trong các người ai chưa từng Đụ thì hãy ném vào chị ta?! (Sự hổ thẹn của họ đã cứu Magdalena khỏi trận mưa đá). Sao không có sự hổ thẹn nào để trả lại công bằng cho Lồn, Cặc, & Đụ? Khi nhắm mắt lại (đưa tâm về với thân), tôi thấy chúng là tinh tú, những vật linh, có năng lượng của xúc cảm hùng vĩ & hoạt tính thần bí. Lồn là vọng âm của trống, của chuông & của ký ức nguyên thủy [...] Và khi tôi phát âm “Lồn”, tôi nghe rõ tiếng vọng của nó rền vang từ mộ chí lịch sử, từ trong cái từ bi bát ngát của Bụt & từ trong cái bất an kỳ cùng của ký ức. Mười năm qua, tôi bị 3 lần bồ đá, bị một lần vợ sang ngang & tôi buộc phải trở thành một kẻ chỉ Đụ cát. Không biết bao nhiêu lần tôi nằm sấp trên cát, mắt lim dim dịu dàng nhìn mặt trời mọc. Nhìn một hồi tôi thấy có sự chuyển dịch từ đỏ sang đen. Nó không còn là một quầng sáng đỏ lấp lánh, nó biến thành một lỗ đen lung linh & ám ảnh. Máu trong người tôi bắt đầu tăng tốc & lượng hồng cầu ưu tú nhất hối hả dồn xuống đan điền. Cặc tôi ấm và cứng. Cặc tôi rưng rưng. Cặc tôi mừng húm. Tay tôi bấu xuống cát, bụng tôi áp xuống cát, miệng tôi há hốc vì cát & mông tôi xoay” (Luận văn - trang 67).
Xin lỗi bạn đọc, nhưng cần phải tiếp cận đúng nội dung văn bản để hiểu được tư tưởng của Luận văn, cũng nhưgóc nhìn văn hóa của người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận án. Thà nói thẳng ra một lần rồi thôi để không phải tranh đi cãi lại. Đây lại là Luận văn có tính pháp quy, không được trích dẫn sai lệch và lại cũng phải dân chủ, để đông đảo bạn đọc, các bậc phụ huynh của sinh viên Trường ĐHSP Hà Nội biết được các thầy giáo, cô giáo, những người tham gia giảng dạy và đào tạo cho nhà trường, đang giảng dạy, đào tạo con em họ như thế nào.
Nhã Thuyên cũng tán thưởng thi pháp giễu nhại, chế tác - xem là “Thái độ hủy diệt mọi thành tựu quá khứ này tiếp tục cái gọi là tính chất lật đổ, đầy nhạo báng, một cách có ý thức” (Luận văn - trang 91). Xin dẫn ba trường hợp:
1. Hỏi đáp có thưởng
Tôi hỏi đất: - Đất sống với đất như thế nào?
- chúng tôi tôi cao nhau [heo]
Tôi hỏi nước...
Tôi hỏi thỉnh:
- thỉnh sống với thỉnh như thế nào?
[ôi dào!]
Tôi hỏi người:
- thỉnh sống với người như thế nào?
[ôi dào!]
Tôi hỏi người:
- thỉnh sống với người như thế nào?
[ôi dào!]
Nguyên liệu: Hỏi của Hữu Thỉnh
(Luận văn - trang 93)
2. Chọn lựa của Văn Cao
Giữa sự sống và sự chết
Ông chọn sự sống
Để bảo vệ sự sống
Ông chọn sự chết
Thế là hết [the end)
Nguyên liệu: Chọn của Văn Cao
Bài thơ của Văn Cao, thường được đọc như một bi kịch của lựa chọn. Cái tâm trạng và sự lựa chọn bi kịch đó, một cách nghiêm túc, có thể coi như một khát vọng hướng thượng, mọi thứ mĩ học sự sống. Tuy nhiên, cái bi khi bị đẩy vào tình trạng nghiêm trang cũng có thể làm nảy ra cái hài, và Bùi Chát phát hiện ra nghịch lý hài hước đó. Không phải Bùi Chát muốn tấn công một nhà thơ lớn, mà anh muốn nhạo báng lý tưởng, cái lý tưởng hướng thượng vốn chẳng dễ dàng gì được thực hiện trong cuộc đời trần tục, cũng chẳng dễ dàng có được trong thời đại mất lý tưởng - lý tưởng trở thành một thứ “từ ngữ” nghiêm trọng mà thơ ca có lẽ cần giải bỏ. Kết tinh trong từ “lý tưởng” đó, là cả một quá khứ đau thương, hào hùng, đầy bi kịch của dân tộc, mà cái kết cục vừa bi thảm vừa hài hước: thế là hết. Như một bộ phim, một vở kịch phi lý. Mấy chữ “thế là hết” (the end) cũng có thể được đọc như một bình luận tương tác của người xem với vở kịch nghiêm trang này (Luận văn - trang 92).
3. Giễu nhại Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tập bài thơ một vần của Bùi Chát, mặc dù là thơ tự do, nhưng tính chất một vần nằm ở từ khóa cộng sản. Bùi Chát lật đổ các slogan xã hội, các ảo tưởng được đóng đinh trong ngôn ngữ ý thức hệ. Chẳng hạn:
Đường Kách Mệnh
Đi một ngày đàng, học [& hành] một giường khôn
Con đường nối những con đường
Dẫn tới các nhà thương
Ngồi một mình
Em nói như mưa
Thì tại sao chúng ta không lên giường
Để đào những cái mương
Giữ mãi lời thề xưa
Đường Kách Mệnh: một tác phẩm của cố Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh, tập hợp các bài giảng tại lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, được xuất bản 1927.
Chú thích của tác giả (Luận văn - trang 71)
Chế tác, giễu nhại nơi vỉa hè quán xá là chuyện thông thường. Bịt miệng vò miệng chĩnh không bịt được miệng thế gian. Người hiểu biết họ tránh xa. Người vô minh xúm lại. Nhưng chế tác, giễu nhại chính thức trên sách báo, thành văn bản, xã hội hóa lại là chuyện khác, quan hệ đến luật pháp. Chân dung nhà văn của Xuân Sách là một ví dụ mà chúng tôi đã đề cập trong Luận chiến văn chương - Q.2, NXB Văn Học 2012. Nay không nhắc lại.
Nhưng giễu nhại Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là Đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được Độc lập, thống nhất, dân chủ.
Bao gi đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một ngưi công dân du sơn ngạo thủy, đọc sách làm vườn.(Trả lời một nhà báo nước ngoài - Paris 1946)
(Xem VN TP. Hồ Chí Minh, số 196, ngày 5-4-2012, trang 2)
Giễu nhại một con người như thế là một việc làm vô đạo, thất đức, bất nhân, bất nghĩa. Người dân thường ít chữ nghĩa cũng không bao giờ làm thế. Nếu đồng thanh tán thưởng một Luận văn như thế, tôi không hiểu văn hóa của ngưi hướng dẫn khoa học, của Hội đng chấm luận án, của những người đọc, trao đổi, giúp đỡ tài liệu, khích lệ việc làm này là văn hóa gì, thuộc về một thứ văn hóa nào? Và tại sao nó lại có thể tồn tại và ngang nhiên hoạt động trong trung tâm sư phạm trọng điểm của quốc gia như vậy?
Chỉ riêng sự giễu nhại này cũng đủ lý do để hủy bỏ Luận văn của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan. Luận văn này vi phạm nhiều điều của Luật xuất bản. Vì vậy chúng tôi cấp thời đề nghị phải lập tức đình chỉ việc giảng dạy của cô giáo Nhã Thuyên - dù là giảng dạy hợp đồng. Đồng thời hủy bỏ Luận văn, hủy bỏ học vị Thạc sĩ của tác giả Luận văn, xem xét lại tư cách của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thị Bình và trách nhiệm của Hội đồng chấm Luận văn này. Không thể để tiêm nhiễm vào các nhà giáo tương lai một thứ văn hóa phản nhân văn, bất nhân bất nghĩa như thế.
Chúng tôi muốn góp ý với các bạn đồng nghiệp là nhà văn Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện Văn học và nhà văn Văn Giá - Trưởng khoa Lý luận - phê bình văn học Trường Đại học Văn hóa (Bộ Văn hóa), hai thành viên Hội đồng chấm luận án và Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên - người đã đọc bản thảo Những tiếng nói ngầm cho Nhã Thuyên - rằng các bạn nên giữ sự trung thực cho ngòi bút của mình, nên tự trọng về nhân cách. Các bạn có thể xin ra khỏi Đảng, tự nguyện trả lại các chức danh và học vị mà thể chế này - do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập – đã phong tặng cho các bạn rồi làm một nhà văn tự do thì hay hơn là lập lờ hai mặt như vị thầy của các bạn: Vẫn ca ngợi, kính phục Dương Thu Hương: người phụ nữ một mình chống lại cả một Nhà nước - nhưng mà giải thưởng, chức danh Nhà nước ấy trao cho vẫn vui vẻ nhận, lại còn thắp hương khấn vái xin cho được nữa. Cũng mong Ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đừng để ĐHSP Hà Nội thành ra một Trung tâm Hài hước như thế.
Kỳ sau:
VĂN SƯ TỬ VÀ VĂN CẦY CÁO 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào: