Xứ Đoài mây trắng bay..

Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

Đại án Công an, Quân đội: cơn địa chấn chính trị Việt Nam bắt đầu


Cuộc tấn công vào nhóm lãnh đạo cao cấp Bộ công an cho thấy ông Trọng đã nắm trong tay lực lượng an ninh ở cả Bộ công an và Bộ quốc phòng. Vấn đề còn lại là lực lượng này có đủ sức đối đầu khi các ông trùm sẽ phải chọn cách liên minh với nhau để chống lại hay không thì khó nói trước. Điều chắc chắn là chính trường Việt Nam cuối năm 2018 và trong vài năm tới sẽ bước vào giai đoạn dữ dội nhất. Sẽ không chỉ là kẻ đang nắm giữ quyền lực, nhóm đối tượng quyền lực trùm mền kiểu như “thái thượng hoàng” sẽ cùng nhau vào cái “lò đang cháy” trong cuộc chiến bước vào thời điểm dữ dội nhất.

Thành kính phân ưu
Sau một số vụ đại án liên quan lĩnh vực kinh tế, bắt đầu từ giới ngân hàng, doanh nghiệp sân sau.. giờ đây các đại án đang bùng lên ở cả 2 lực lượng vũ trang của chế độ là công an và quân đội với hàng loạt tướng tá bị bắt giữ với nhiều loại tội danh khác nhau. Điểm đáng chú ý không phải ở chức vụ cấp hàm của các bị can sa lưới mà vụ đại án liên quan Vũ “nhôm” bất ngờ lọt ra thông tin có người “bán thông tin cho Trung quốc” để lấy tiền đánh bạc. Loại tội danh này xưa nay luôn thuộc loại “bí mật quốc gia” và chưa có tiền lệ ở cấp cao trong cả 2 lực lượng công an và quân đội.

Nói về loại tội danh này, nhân vật bị đưa ra xét xử cao nhất vào năm 1980 là vụ xử ông Nguyễn Thúc Tuận – Nguyên đại biểu Quốc hội, Trưởng ty Thể dục Thể thao tỉnh Bình Trị Thiên “can tội gián điệp, đã bị tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên kết án 18 năm tù xét xử ngày 11/12/1980 - nhưng vụ này bị cho là một vụ án oan do bị cáo luôn kêu oan tới nay vẫn không được xem xét lại. Các vụ án liên quan hoạt động tình báo dạng “tiết lộ thông tin” thì nhiều nhưng bị can đều nằm ngoài ngành hoặc nắm vị trí rất nhỏ. Các chứng cớ là “tài liệu bí mật” thường bị cho là không đủ cơ sở buộc tội.

Như vậy, việc một loạt các tướng tá cao cấp, thậm chí có người đứng đầu cơ quan an ninh, tình báo.. phạm tội liên quan lĩnh vực này cho thấy độ mục nát ở thượng tầng chế độ đến đâu. Đồng thời cũng vì thế sẽ chỉ ra cuộc chiến “chống tham nhũng” mà ông Trọng đang dẫn dắt có thể nói đã bắt đầu chạm đến vùng cấm cuối cùng của quyền lực. Đầu dây, mối nhợ phía sau những bị can này gắn liền với nhóm quyền lực cao nhất là nhân sự cấp Bộ chính trị. Đồng nghĩa không chỉ riêng cựu Ủy viên Đinh La Thăng, chắc chắn không lâu nữa sẽ xuất hiện thêm các gương mặt lớn hơn nữa cũng sẽ bị đưa ra trước vành móng ngựa.

Việc bóc gỡ mảng ung nhọt với loại tội danh từ tham nhũng quyền lực như vậy rất có thể sẽ mở ra cơ hội cho các đại án chính trị từng làm khuynh đảo chính trường Việt Nam trước đây như vụ “Tổng cục II”; vụ gián điệp trong Bộ Tổng tham mưu tiết lộ tin tức cho Trung quốc trong cuộc chiến phía bắc… nhưng bị chìm xuồng được lật lại. Dấu vết liên quan rất rõ bởi không ai khác là chính các “ông trùm” ngay trong các cơ quan đầu não ngành an ninh, quân đội từ các đại án trong quá khứ đều ít nhiều là thế lực tạo dựng nên bộ máy tội phạm dạng này. Cũng không ai khác, các bàn tay quyền lực phủ bóng lên chính trường Việt Nam là tác giả của thủ đoạn sử dụng nghiệp vụ nhằm triệt hạ đối thủ, thâu tóm quyền lực trước đây hiện đứng sau điều hành mạng lưới tội phạm bị phanh phui hiện nay. Nói một cách khác, sẽ không chỉ là kẻ đang nắm giữ quyền lực, nhóm đối tượng quyền lực trùm mền kiểu như “thái thượng hoàng” mà các quan chức phe Đảng và truyền thông nói là “không hạ cánh an toàn” sẽ cùng nhau vào cái “lò đang cháy” trong cuộc chiến bước vào thời điểm dữ dội nhất.

Từ chiếc xe biển xanh trái qui định của Trịnh Xuân Thanh đã kéo toàn bộ cựu lãnh đạo PVN và Đinh La Thăng lãnh án. Từ hợp đồng mua bán đất công sản trái luật dẫn đến băng nhóm của Vũ “nhôm”, Út “trọc”, sắp tới là một số quan chức thành phố Hồ Chí Minh; Từ B.O.T sẽ lòi ra phe nhóm ngành vận tải; Các “sự cố cháy nổ” sẽ kéo phe nhóm địa ốc tới ghế bị cáo; từ thất thoát tiền trong ngân hàng và vụ đánh bạc của tướng Vĩnh sẽ lộ ra đường dây rửa tiền của bất cứ ai.v.v.

Cuộc tấn công vào nhóm lãnh đạo cao cấp Bộ công an cho thấy ông Trọng đã nắm trong tay lực lượng an ninh ở cả Bộ công an và Bộ quốc phòng. Vấn đề còn lại là lực lượng này có đủ sức đối đầu khi các ông trùm sẽ phải chọn cách liên minh với nhau để chống lại hay không thì khó nói trước. Điều chắc chắn là chính trường Việt Nam cuối năm 2018 và trong vài năm tới sẽ bước vào giai đoạn dữ dội nhất.

Thiên Điểu 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Bá Thanh có bị “đào mồ” để cho vào “lò” của ông Trọng không?


Quê Hương (Cali Today News)
Phải đợi đến thời điểm Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam bắt Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”), khởi tố vụ án “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, “Trốn thuế”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” thì cố Bí Thư thành ủy Đà Nẵng ông Nguyễn Bá Thanh, một “tượng đài thanh quan” bấy lâu của người dân Đà Nẵng đang thực sự chuyển sang gam màu tối với những tiết lộ liên quan đến những sai phạm diễn ra tại Đà Nẵng lúc còn sống …

Có thể nói “phát súng” đầu tiên sau hơn 03 năm nằm trong lòng đất đối với cựu Bí thư thành ủy Đà Nẵng – ông Nguyễn Bá Thanh – chính là lời khai của ông Đào Tấn Cường (SN 1969, trú phường Thanh Bình, quận Hải Châu, nguyên PGĐ công ty CP nhiên liệu bay Petrolimex chi nhánh Đà Nẵng) tại phiên xử sơ thẩm ngày 9/2/2018. Ông Cường bị Tòa án Đà Nẵng đưa ra xét xử với tư cách là bị cáo với cáo buộc có hành vi đe dọa giết Chủ tịch Ủy ban TP. Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ. Qúa trình diễn ra phiên xử, Hội đồng xét xử có hỏi ông Cường liên quan gì đến lô đất L09 tại bán đảo Sơn Trà? Ông Cường cho biết vào năm 2006, vợ ông Cường là bà Lê Thị Ngọc Oanh đứng tên lô đất L09 này giúp ông Nguyễn Bá Thanh. Sau khi ông Thanh mất, ông Cường trả đất lại cho gia đình ông Thanh bằng cách lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ đất biệt thự L09 cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Lê Hữu Tiến và vợ là bà Võ Thị Thanh Vân. Được biết, ông Tiến lại là em ruột của bà Lê Thị Qúy, vợ của ông Nguyễn Bá Thanh.

Theo cáo trạng vụ án đe dọa giết Chủ tịch Ủy ban TP. Đà Nẵng ông Huỳnh Đức Thơ, do ông Cường nghi ngờ ông Trần Phước Sơn – Phó chánh văn phòng Ủy ban TP.Đà Nẵng đã tham mưu, đề xuất ông Thơ ký quyết định thanh tra lô đất L09 tại Sơn Trà, gây bất lợi đến uy tín em trai mình là ông Đào Tấn Bằng – nguyên Chánh văn phòng thành ủy Đà Nẵng nên đã mua sim điện thoại nhắm tin de dọa ông Thơ. Ngày 18/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an bắt khẩn cấp Đào Tấn Cường, khởi tố tội danh “Đe dọa giết người”. Ông Cường bị Tòa án Đà Nẵng tuyên bản án sơ thẩm là 18 tháng tù giam.

Tuy không thể triệu tập ông Thanh ra tòa đối chất nhưng lời của ông Cường như “phát súng” nổ vào “tượng đài thanh quan” Nguyễn Bá Thanh đối với tấm lòng suy tôn và mến mộ của người dân Đà Nẵng.

“Phát súng” thứ hai nổ vào “tượng đài thanh quan” Nguyễn Bá Thanh chính là việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam khởi tố vụ án và bắt tạm giam ông Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”) vào tháng 12/2017 với những cáo buộc tội “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, “Trốn thuế”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Vụ án này sau đó vào ngày 17/04/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam đã phát lệnh khởi tố hàng loạt lãnh đạo và cựu lãnh đạo cấp cao ở Đà Nẵng như: cựu Chủ tịch ông Ủy ban Trần Văn Minh, cựu Chủ tịch Ủy ban ông Văn Hữu Chiến, ông Nguyễn Điểu nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường TP, ông Trần Văn Toán – nguyên Phó Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường TP, ông Lê Cảnh Dương – Giám đốc Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư TP với cáo buộc có hành vi “Vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý đất đai” quy định tại Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Riêng ông Minh và ông Chiến còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố thêm hành vi “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” quy định Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ông Minh hiện đang bị tạm giam và ông Chiến thì đang áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú.

Trao đổi với báo đài Việt Nam sau khi có lệnh khởi tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, ông Nguyễn Điểu nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường TP cho biết bản thân ông đã làm việc với Bộ Công an về việc khởi tố có liên quan đến vụ án ông Vũ “nhôm”. Ông Điểu nói những dự án giao cho Vũ “nhôm” thì TP có chủ trương và quyết định. Còn sở, ngành chỉ là đơn vị làm theo, hợp thức hóa thủ tục hành chính. Ông Điểu cũng có nhắc đến ông Minh, ông Chiến và ông Nguyễn Bá Thanh vào thời điểm giao dự án, nhà và đất công sản cho ông Vũ “nhôm” là những người ở cương vị đứng đầu TP nên có trách nhiệm chính.

“Phát súng” thứ hai này dành cho ông Nguyễn Bá Thanh thì dư luận dễ dàng suy luận được trong khi “phát súng” thứ nhất lại khiến cho dư luận bất ngờ về “tượng đài thanh quan” đang bị bóc mẽ và có chăng chỉ ở giới cán bộ các cấp cầm quyền mới không bất ngờ về điều này và nhiều người cho rằng, liệu Nguyễn Bá Thanh có bị “đội mồ” để cho vào “lò” của ông Trọng không, khi những ngọn lửa trong “lò”của ông Trọng ngày càng cháy mạnh

Trong giai đoạn 2003-2014, thời kỳ ông Nguyễn Bá Thanh nắm chức Chủ tịch ủy ban, Bí thư thành ủy Đà Nẵng thì cũng là giai đoạn Vũ “nhôm” cho người dân Đà Thành và đại gia bất động sản cả nước thấy một sự nhảy vọt “thần kỳ”, từ một thợ nhôm trở thành một đại gia bất động sản đầy tên tuổi, thâu tóm hầu hết những dự án, đất và nhà công sản ở Đà Nẵng. Cali Today từng có bài viết, sự đi lên của ông Vũ “nhôm” gắn liền với chiếc ghế quyền lực của ông Nguyễn Bá Thanh ở Đà Thành và dĩ nhiên ông Thanh về với cát bụi thì Vũ “nhôm” vào nhà đá cũng là điều dễ hiểu.

Cũng cần phải nói thêm, những sai phạm của Vũ “nhôm” cũng có phần trách nhiệm của ông Thanh nên với chiến dịch “đốt lò” chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng ở hiện tại nếu ông Thanh còn sống chắc chắn những ngày qua cũng bị Bộ Công an “sờ gáy”. Và như vậy, không chỉ riêng người dân Đà Thành và người dân cả nước Việt Nam một phen chấn động, đến lúc này “tượng đài thanh quan” trong lòng dân của Nguyễn Bá Thanh đã suy giảm. Mà chắc cũng không yên đối với ông Thanh dù ông đã chết vì vụ án Vũ “nhôm” đang ở cao điểm diệt tham quan ở các nơi và Đà Nẵng đang là chảo dầu đang sôi sục.

Căn cứ vào Quy định số: 102-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN ký ngày 15/11/2017 về việc quy định xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm, tại Khoản 2 Điều 5 của Quy định này có nói các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật trừ trường hợp đảng viên đó vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng. Vậy có nghĩa là nếu vụ án Vũ “nhôm” hoặc những sai phạm liên quan việc quản lý đất đai ở Đà Nẵng mà ông Nguyễn Bá Thanh dù hiện tại đã chết nhưng nếu bị phát hiện có những hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn có thể bị xử lý. Và nếu điều này thực sự xảy ra thì có lẽ “tượng đài thanh quan” dành cho ông Nguyễn Bá Thanh sẽ bị hạ bệ ngay tức khắc trong lòng người dân Đà Nẵng.

Ông Nguyễn Bá Thanh (Sinh ngày 8/4/1953- Mất ngày 13/2/2015), lật lại những tờ lịch thì phát hiện ngày mất của ông Thanh trúng vào Thứ Sáu ngày 13, theo tâm linh của nhiều nước phương Tây đây là ngày kém may mắn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cựu nhà báo ngồi tù: Giám đốc Sở KH-ĐT Yên Bái phạm tội đưa hối lộ?


>> Kỷ luật ông Lê Trương Hải Hiếu
>> Tin đồn bủa vây gia đình cựu bí thư Sài Gòn Lê Thanh Hải
>> Vũ Nhôm thao túng báo chí và mạng xã hội
>> Hàng tướng, loại "chiến công" như Vĩnh còn không ít trong bộ máy


Theo Người lao động
Cùng với việc tuyên phạt cựu nhà báo Lê Duy Phong, TAND tỉnh Yên Bái cũng kiến nghị Tỉnh ủy Yên Bái xử lý đối với Giám đốc Sở KH-ĐT Yên Bái.

Ngày 20-4, TAND TP Yên Bái quyết định tuyên phạt bị cáo Lê Duy Phong (cựu Trưởng ban bạn đọc Báo Giáo dục Việt Nam) 3 năm tù về tội cưỡng đoạt 200 triệu đồng của ông Vũ Xuân Sáng (Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) tỉnh Yên Bái) và 50 triệu đồng của ông Hoàng Trung Thực (giám đốc một doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh Yên Bái). Đối với ông Vũ Xuân Sáng, Hội đồng xét xử (HĐXX) TAND TP Yên Bái kiến nghị Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái xem xét xử lý theo quy định của điều lệ Đảng.

Theo tài liệu điều tra, tháng 6-2017, ông Lê Duy Phong chỉ đạo phóng viên đến Yên Bái để xác minh nguồn gốc và tài sản trên đất của gia đình giám đốc Công an tỉnh và giám đốc Sở KH-ĐT tỉnh Yên Bái. Ông Phong đã nhắn tin vào số máy ông Vũ Xuân Sáng đề nghị gặp để xác minh một số vấn đề liên quan đến "dinh thự" của gia đình ông.

Tại cuộc gặp, ông Phong đã gợi ý ông Sáng đưa cho mình 200 triệu đồng thì sẽ "giải quyết ổn thỏa và không viết bài về nhà ông Sáng nữa". Do lo sợ, ông Sáng đã đưa cho ông Phong 2 lần với tổng số tiền 200 triệu đồng. Tuy nhiên, khi "bình tĩnh trở lại", ông Sáng đã báo cáo với Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái và đến Công an TP Yên Bái tố giác việc bị ông Phong cưỡng đoạt tài sản.

Về hành vi của ông Sáng có phạm tội hối lộ không, luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng Văn phòng luật sư Nguyễn Anh, Đoàn luật sư TP Hà Nội), phân tích do thời điểm xảy ra vụ án, hành vi phạm tội của cựu nhà báo Duy Phong đang thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) nên không có căn cứ xử lý Nhà báo Duy Phong về Tội nhận hối lộ. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hành vi của ông Sáng về Tội đưa hối lộ theo Điều 289 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.


Theo luật sư Thơm, xét hành vi của ông Sáng đã đưa tiền cho Nhà báo Duy Phong khi bị đe dọa đã cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản nên ông Sáng là người bị hại trong vụ án này. Tuy nhiên, với cương vị là ủy viên Ủy ban Thường vụ Tỉnh ủy, giám đốc Sở KH-ĐT, ông Sáng lại không trình báo ngay với cơ quan pháp luật khi bị đe dọa cưỡng đoạt để bắt quả tang hành vi phạm tội của nhà báo Duy Phong.

"Chỉ đến khi cơ quan điều tra Công an TP Yên Bái đang tiến hành xác minh đơn tố giác của ông Sáng mới phát hiện và bắt quả tang nhà báo Duy Phong đang có hành vi cưỡng đoạt tài sản số tiền 50 triệu đồng của ông Hoàng Trung Thực. Do vậy, dù hành vi của ông Sáng không cấu thành tội hình sự, nhưng việc Tòa kiến nghị xử lý về mặt Đảng là cần thiết"- luật sư Thơm phân tích. 

Luật sư Thơm phân tích thêm: "Đáng lẽ, trước hành vi vi phạm của nhà báo Duy Phong, ông Sáng phải chủ động báo cáo cấp ủy Đảng, các cơ quan pháp luật để có biện pháp ngăn chặn, điều tra xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật chứ không nên miễn cưỡng chấp nhận yêu cầu đưa tiền để rồi sau này "bình tĩnh trở lại", "không thể im lặng" làm đơn tố giác tội phạm".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÊN KHUỔI ĐÀO


Truyện ngắn trong tập "Bánh xe hạnh phúc" XB HNV 2013
        Hồng Giang


Kết quả hình ảnh cho Ảnh chim công?
K
   Lên
Khuổi
   Đào


Không nhớ ngày nào, tháng nào năm trước, có một lần tôi gặp chim công? Khi ấy là hoàng hôn, nền trời màu đỏ, con công xanh đậu trên hòn đá trắng. Không phải màu trắng tinh khiết, tảng đá có màu trắng bàng bạc, không gợi một điều gì cả. Tôi biết nó là con chim cô đơn. Cái cổ cao cao của nó ngơ ngác. Hình như nó nghe thấy tiếng bìm bịp kêu cuối ngày. Tiếng của giống chim thô lậu, vừa ể oải vừa buồn phiền. nó biết không phải tiếng đồng loại nên chẳng có vẻ gì là hưởng ứng. Công là giống chim kiệm lời, nó chẳng bao giờ kêu dễ dãi như thế. Nó nhón chân đi rất nhẹ trên tảng đá cao chừng nửa vòng, rồi vút bay đi. So với đồng loại, nó nhỏ hơn một chút, nhưng tinh khôn và có bộ lông đẹp mê hồn. Con mái không có gì đặc biệt. Nó to gần bằng con gà tây, bộ lông xám như lông ngỗng.

Có lúc tôi băn khăn về giống chim này. Sao con mái lại không mang vẻ đẹp thường thì dành cho phái yếu? Con đực có cái mào rất lạ, màu đỏ cờ trông xa

như một cục than đỏ, nhấp nhánh như khi bén lửa. Sải lông đuôi của nó rực rỡ, mỗi chiếc lông như có con mắt nhìn rộng ra xung quanh. Cái dải đuôi dịu dàng ấy nhún nhảy, rung động như chiếc quạt hoa trong tay người
đẹp. Ngày trước mẹ tôi bảo: "Nem công,  chả phượng là món tiến  vua.".Nghe thì biết vậy thôi. Thịt công như thế nào tôi chỉ hình dung trong đầu. Tạng người như tôi làm sao có được? Tôi không ngờ lại có ngày được ăn thịt chim công, ăn theo kiểu đơn sơ của người H’Mông.
        Mấy hôm trước ông Giàng Chu nhắn tôi lên gấp, tôi  dặn ông nếu thấy công đực báo cho tôi một tiếng. Anh bạn tôi nuôi một con công cái mấy năm  nay mà chưa tìm ra con đực. Thành thử con mái của anh vẫn đơn chiếc. Dù vậy nó vẫn phải làm bổn phận mà trời phân công cho con mái,đẻ ra cái ổ làm bằng rơm nếp những quả trứng tròn. Ban đầu cũng được ấp thử, mãi mà không thấy công con tách vỏ ra đời. Thì ra giống công cao sang là vậy, vẫn phải tuân theo luật của muôn loài. Không thể không theo âm dương chuyển dịch, một cách tự nhiên. Thôi đành phải ăn! Anh bạn tôi bảo: "Trứng công ăn rất thơm. Vị thơm của nó đặc biệt, nửa như mùi hồi, nửa như mùi quế". "Nhưng ăn trứng công thì tiếc lắm!" Tôi bảo thế anh gượng cười: “Biết làm sao được? Không có sống, trứng công chỉ có giá trị hơn trứng gà một chút!” Tôi nói: “sao anh không nhờ người ta sinh sản vô tính?" Anh bảo: " Tốn kém lắm, ngành khoa học này tỉnh ta chưa có. Nơi có, chưa chắc người ta đã nhận lời. Giá của nhân bản vô tính đâu phải chuyện đùa!". Nhìn những quả trứng công hồng hồng, cái cằm của anh hơi xệ xuống. Mãi về sau anh mới biết thêm đặc tính riêng biệt của loài chim này. Nó thường đẻ trứng vào tổ của các loài chim khác, nhờ ấp hộ. Như kiểu nhà giàu thuê vú em. Bao giờ chim con biết bay chuyền, bố mẹ chim mới bay đến đưa về. Đó

là lý do vì sao giống chim này mỗi ngày một hiếm. Gần đây mới có người nghiên cứu về tính cách này của nó và nhờ có máy ấp trứng công nghiệp, việc nhân giống
mới thành khả quan. Nhưng dù sao vẫn phải có trống có mái, trứng mới nở ra công con được.

Nếu trời không mưa tôi đã đi ngay hôm đó. Đường lên Khuổi Đào đi, về gói gém trong một ngày. Kể cả việc uống rượu, nghe khèn ở nhà ông Giàng Chu.
Sau những ngày nắng hạn kéo dài, mưa rừng như đổ nước. Mưa cứ như thác ở trên trời tràn lên mặt đất. Thôi thì đá lở, đất vùi đi bộ còn khó, nói gì xe. Chiếc Min Khơ địa hình của tôi cũng đành che manh chiếu. Đất đỏ bám chặt hai bánh, chẳng nhìn thấy nan hoa đâu cả. Nó trở thành cục sắt trơn nhuồi nhuội. Cái bô bỏng giãy muốn đỏ lên, lỡ chạm chân vào khác nào cục sắt nung. Bỏng hàng tháng mới khỏi. Ý mghĩ muốn nhân giống chim công cứ nung nấu, khiến tôi quên cả mệt. Biết đâu có con đực giống chim này sẽ sinh sôi nảy nở! Mở đầu cho một nghề làm ăn độc đáo, nhiều thú vị? Nghe nói ở miền trung người ta đã nuôi thành công giống đà điểu, đã nhân giống bán rộng ra thành một sự kinh doanh đầy triển vọng. Giống chim công cũng có quyền được phát triển, nó thanh tao, còn lịch lãm nữa cơ mà? Nếu con công của bạn tôi có trống, sau đấy ấp nở giống chim này, nhiều điều không tính trước được. Việc cho nó ăn, uống cũng bình thường, không quá cầu kì. Tôi chủ quan nghĩ rằng đó là điều thực tế có thể làm được, không viển vông.
   Vào Khuổi Đào phải đi qua con đường hàng tỉnh, người ta còn chưa hoàn thiện. Có chỗ mới đổ đá, có chỗ đã láng nhựa. Cuối năm nay nó sẽ được hoàn thành. Những người làm quy hoạch đã hình dung ra

những biến động có tính hai mặt của nó về môi sinh, môi trường. Nhưng thôi, nó là công việc cuả những người quản lý. Còn chúng tôi sống ở  rừng, nhiều năm
nay thấy rừng sa sút. Các loài thú hiếm thưa thớt dần. Gấu, hổ không còn . Tắc kè im tiếng rúc trên vách đá. Những trận mưa như hôm vừa rồi, không thấy cua núi bò ra.

  Tin ông Giàng Chu bắt được công làm tôi rất mừng. Tôi gửi xe ở nhà trưởng thôn người Tày ngoài chợ Kiến Thiết. Ông cho tôi mượn con ngựa để vào Khuổi Đào nhưng vẫn hỏi: "Biết cưỡi không đấy?" Tôi nói "Chơi tốt". Lại hỏi: "Mà mày mệnh gì?" Tôi bảo:" mệnh kim". Ông cười hề hề, hai bên đuôi mắt co tít lại:" Thế thì được. Con xám này mệnh thuỷ. Thuỷ sinh kim, không sao". 
Thấy tôi tần ngần chưa hiểu, ông bảo: "Dùng ngựa là phải biết khớp mệnh của nó với mình. Nếu không tai vạ đấy. Bữa trước có tay kiểm lâm vào đây hỏi, tao cho mượn. Tay này mệnh hoả, nên nó bị văng vào bụi nứa, đứt mất một bên tai đấy."    Tôi vừa sợ lại vừa buồn cười. Lại nghĩ mấy anh kiểm lâm chỉ quen đi xe máy, sao không tập cưỡi ngựa nhỉ? Ở rừng có phải chỗ nào cũng đi xe máy được đâu?

     Đường vào Khuổi Đào không khó, ô tô có thể chạy được. Nhưng đó là những ngày nắng ráo còn mưa thì rất phiền. Xe chỉ được vài chuyến là đường xẻ thành hào. Nước ngập đầy những khe rãnh chẳng biết đâu là nông sâu. Nhưng đi ngựa chẳng việc gì phải ngại. Vừa nãy ông Phương sẹo cứ nghĩ tôi lên hỏi về việc cây khèn. Có lần tôi nhờ ông kiếm hộ, ông bảo: “Việc mày nhờ tao hôm nọ hơi khó đấy, tao có hỏi, nhưng chưa ai nhận lời. Mày cũng nên biết văn hoá

không phải thứ mua được bằng tiền, phải dùng tình cảm thôi. Bây giờ mày vào Khuổi Đào là được gặp
thằng Thào Mìn đấy. Nó biết làm, nhưng nó bảo nó không bán. Có ai lại đi bán nỗi buồn vui của mình?”
Tôi nói: “ Tôi lên Khuổi Đào vì một chuyện khác. Còn việc cây khèn để dịp sau".   Ông phương cũng không hỏi thêm việc gì. Người Tày ở đây có thói quen không tọc mạch vào chuyện người khác. Ai kể gì thì nghe, nhập tâm nhưng không bắt bẻ, vặn vẹo. Ông thắng yên ngựa cho tôi. đấy là bộ yên cương còn tốt, làm bằng da thật. Những móc khoá bằng đồng vẫn còn vàng choé, kêu roong reng. Tôi túm lấy sợi dây cương, con ngựa lùi lại mấy bước. Hai chân nó hất hất ra đằng sau, đầu ngỏng lên, mũi xì xì có ý doạ dẫm. Tôi quát nó: Trò hề, mày diễn thế nào được?" Ông Phương mắng tôi: " Mày phải nói tiếng thổ, tiếng kinh nó không biết nghe đâu!".  Tôi cố nhớ vốn tiêng Tày ít ỏi của mình: “ Hừm, pây liều...pố pây hát công, noọng à!”  Chẳng hiểu có phải tôi nói và phát âm có chuẩn không, con ngựa cứ hì hà hăng hơn trước. Tôi bực mình tóm sát dây cương tận mặt nó, cầm đoạn dây còn lại quất mấy cái vào mặt. Con ngựa có ý sợ, đầu cúi xuống, thôi không vẫy đuôi loạn xạ nữa. Ông Phương phuổi tay bảo: “Mày chơi được. Giống ngựa cần phải thế. Nhút nhát nó bắt nạt.”   Tôi thả nước kiệu, con xám biết thân phận ngoan ngoãn đi. Tôi kẹp hai đầu gối vào sườn nó, chân đặt vào bàn đạp, người hơi cúi về phía trước. Ở  tư thế này, con ngựa có dở chứng cũng không làm gì được.

     Đúng ngày phiên chợ, các cô gái người HMông, Người Dao ăn mặc sặc sỡ đi ngược chiều với tôi, nom xa như một vạt hoa rừng. Những anh con trai quần áo chàm đen, bên sườn đeo cái bi đông lủng

lẳng. Họ đi rất nhanh nhưng không hấp tấp, cái lưng thẳng, hai tay vung dài. Tuyệt nhiên không thấy anh
nào có dáng đi lao đầu về trước. Tôi thầm yêu cái dáng vẻ tự tin ấy của họ, có người bảo: " Đỉnh núi cao nào cũng nằm dưới chân người HMông". Điều ấy không sai.
    Tôi quen ông Giàng Chu ở hội diễn văn nghệ quần chúng của huyện. Trước hết vì tiếng khèn của ông. Vì cái khèn đen bóng, có sáu ống hơi vàng rộm, buộc dây lúc nào cũng đeo trước ngực. Ông còn là một thầy mo. Không một đám tang nào của người H’mông ông vắng mặt. Ông vừa thổi khèn, vừa hát những bài thơ cổ. Những bài hát giảng giải cho cái ma trước lúc về trời. Về nơi mà cuối cùng, làm người đều phải có mặt, có tên. Cũng chính ông bắn phát súng cuối cùng tiễn biệt linh hồn. Để hồn nhớ đường ngay lối thẳng mà đi, cho tới nơi cực lạc. Chớ có quay về nhũng nhiễu người thân, làng bản. Bấy nhiêu công việc quan trọng mà đồ đoàn của ông cũng thật là đơn giản. Một cái trống con to bằng cái vung nồi ba, một cây khèn, cái vòng lập lắc và mấy mảnh xin âm dương làm bằng sừng trâu đực thay tư.
      Hôm đó ở hội diễn về, ông uống rượu hơi nhiều. Thấy tôi cứ mân mê cái khèn, ông lắc lư cười hỏi: " Biết thổi không?"  Tôi lắc đầu. Ông định cất đi. Tôi bảo:" Cho xem", rồi tôi khen: " Đẹp quá".   Chẳng biết ông đùa với tôi, hay chọc mấy cô gái cùng đoàn văn nghệ của ông: “ Đẹp cái gì? Mày có thấy nó tròn tròn mũm mũm giống cái gì không?” Mấy cô gái đỏ mặt, mím miệng lại mà cười. Con gái người H’Mông hay nén tình cảm của mình, ít nói, nhưng cái duyên lại lên rất lạ, chẳng giống con gái của bất kì dân tộc nào. Ông Giàng chu lảng sang chuyện khác, về những huyền thoại của dân tộc mình. Tôi hỏi ông: “Cây khèn có điển tích gì

không?" Ông bảo: "dài lắm". Rồi như sắp xếp ý nghĩ trong đầu, lát sau ông bảo: “Mày có biết bài hát làm
dâu"  của con gái mèo không? Nó là câu chuyện của cái khèn này đấy. Con gái mèo lấy chồng là hết cả một đời, sống làm dâu, chết làm ma nhà người. Nếu không may chồng chết phải ở với em trai của chồng. Lại chết nữa thì ở với người tiếp theo...." Tay ông Giàng Chu nâng cây khèn lên ngang mặt, ngắm nghía như nó là vật lạ không phải của mình. Ông bảo: " Khèn có sáu ống dài ngắn khác nhau là ý nghĩa đó".   Tôi hỏi:" bác có biết làm khèn không? " Ông đáp:" Tao chỉ thổi được thôi, trên bản có thằng Thào Mìn nó biết làm. Không phải ai cũng làm được đâu nhé. Thần linh ứng vào bàn tay nào, người đó mới làm được đấy". Tôi nhìn thấy cũng đơn giản. Bầu khèn bằng gỗ, các ống bằng tre. Toàn là vật liệu dễ kiếm trong rừng. Tôi nói với ông: " nếu có mẫu như thế này, thợ mộc khéo tay có thể làm được chứ? Ông tròn mắt nhìn tôi bảo: " Không được đâu, mày có biết làm bằng gỗ gì không?”.   Tôi thấy vân gỗ mịn như gỗ dâu, như là gỗ dổi, nhưng không dám chắc là gỗ gì. Tôi đành lắc đầu cái nữa. Để tôi ngớ ra một lúc, ông mới bảo: “Gỗ này bây giờ hiếm lắm. nó chỉ có ở rừng đại ngàn. Cây nó mọc trên mỏm đá cao, chỗ có nhiều gió".  Tôi hỏi tên. Ông nói một câu tiếng H’Mông. Tôi không hiểu. Anh con trai đi cùng đoàn bảo: " Tiếng phổ thông gọi là kim giao".   Tôi giật mình!. Tôi đã được nghe về loại gỗ này. Ngày xưa vua chúa thường dùng làm đũa ăn cơm, để phòng bị đánh độc. Nếu trong thức ăn có độc thì đầu đũa sẽ đen tím lại. Không ngờ cây khèn được chế ra từ loai gỗ này. Ông Giàng Chu xoay xoay rồi rút ra một đoạn ống. Ở đoạn ống nằm trong bầu khèn có mảnh đồng bạch, màu sáng trắng. Ông chu bảo: “Thứ đồng bình thường nó chẳng  “nổ" được đâu. Thứ này bây giờ khó tìm. Hơi

người đi qua, cuốn cái lưỡi này nó mới “nổ" được”!. Ông còn bảo khèn thổi càng lâu nó càng hay, mà còn
vang xa vì cái lưỡi bạch kim kia lúc ấy ấm dần lên. Tôi nghĩ bụng : “gọi là gỗ kim giao có nghĩa là thế chăng?” Nhưng lại sợ không trúng nên lại hỏi: “còn ống này bằng tre gì mà đốt nó dài vậy?". Ông xua xua bàn tay to bè, xần xùi (Tôi lấy làm lạ, sao hai bàn tay này lại khiến được chiếc kèn taì tình vậy?) "Tre này ở đây cũng không có đâu. Mãi trên Mèo Vạc mới có. Nó gọi là tre ngoong, tiếng kinh gọi là cây giang mà”  .Cây giang thì tôi biết, trên Nà Hang, Chiêm hoá thiếu gì? Nhưng không muốn ông phật ý. Men rượu làm ông đang hứng. Cứ để ông nói, dễ gì được nghe những câu chuyện này. Nhưng tự dưng ông không nói gì nữa. Có thể là ông chợt nhớ đến bài ca buồn của dân tộc mình, những bái ca làm  day dứt suốt cuộc đời du cư trên những miền núi cao. Nó là bạn đồng hành với người H’Mông cả ngàn năm rồi. Không biết nó bắt nguồn từ đâu? Đến đâu thì kết thúc?

  Ngày trước ông Giàng Chu ở trên Mèo Vạc. Ông về đây do biến cố biên giới phía bắc. Ông vẫn giữ nếp sinh hoạt cũ. Xã có làm cho ông ngôi nhà gọi là nhà Đoàn kết ở khu trung tâm. Ông không thích nên vào mãi Khuổi Đào làm ngôi nhà tường chình bằng đất. Thứ đất tổ mối mịn, không nứt nẻ. Mái nhà lợp phên nứa. Những thanh nan phần cuối cong lên trên như lông nhím. Kiểu nhà này tiện cho hai mùa nóng, lạnh. Mát và ấm. Ai bảo người H’Mông ăn ở sơ sài?.

    Sau buổi làm quen ấy, tôi và ông Giàng Chu là chỗ thân tình. Người H’Mông hay rượu. Ông Giàng Chu rượu càng hay. Rượu không uống chén mà chơi bằng bát. Năm bát rượu với ông chẳng là gì. Tôi có cái

bi đông tàu to ngoại cỡ. Thứ này mang từ biên giới phía Tây Nam về để nhớ ngày trọi nhau với Pôn Pốt.
Nó to dềnh dàng nhưng lên chơi với ông Giàng Chu lại được việc. Ông Chu bảo: “Ở Khuổi Đào chim trĩ, gà lôi thì có nhưng công thì ít gặp”  Tôi nói: “Ít gặp nghĩa là vẫn còn"  Ông ngần ngại: "Chẳng biết có còn không, để xem đã".  Người H’Mông tính vốn thế, Chắc chắn lắm. Không tiện miệng hứa suông bao giờ. Chuyến đi này tôi lên Khuổi Đào một công đôi việc. Có khi được chim quý mà cả khèn cũng nên. Anh bạn có phòng tranh ở Hà Nội cứ hẹn mãi, nhờ tôi tìm cho một chiếc. Tôi chưa kiếm được vẫn lấy làm áy náy. Mấy lần nhờ ông Phương sẹo mà vẫn chưa thành.
   Gần trưa tôi mới tới được nhà ông Giàng Chu. Tôi buộc con ngựa dưới gốc cây bứa trước nhà, vứt vội cho nó vài đọt lau non. Con ngựa dáng chừng đói, nhai ngấu nghiến. Từ trong nhà ông Chu nhìn thấy, vội chạy ra nói lớn:"Thế này không được đâu. Mày không biết thương con ngựa rồi. Nó cõng mày cũng mỏi chân lắm chứ. Để tao cho nó cái này..”   Ông chạy trở vào trong nhà xách ra một ít ngô hạt đựng trong cái xô cũ, con ngựa mừng rỡ hí vang. Trong nhà có mấy anh con trai đang làm gì tíu tít, vội lắm. Mùi thịt nướng thơm lựng. Tôi đoán họ đang nướng gà ăn. Chắc là thịt gà rừng, mùi rất thơm. Tôi hỏi ông:"Nhà có việc à?"  Ông Giàng Chu chẹp miệng: " Việc gì đâu, uống rượi vui thôi mà"  Lại hỏi: "Sao bây giờ mới lên?".  Tôi nói: "Mưa quá cháu không đi được. Bắt được con công to không bác?"  Ông bảo: "Hơn ba cân" Tôi mừng quá:"Vậy thì tốt rồi, bác cho xem luôn rồi uống rượi sau".  Ông ngẩn người "Tốt cái gì? Mày lên chậm rồi. Nó gãy một chân, xưng to, đen tím lại. Tao sợ mày không lên nó chết mất. Vừa cho bọn nó thịt xong".   Tôi choáng cả người. Lặn lội lên đây thế là công toi rồi! Thấy tôi thần người

ra ông Chu bảo: "Thôi để hôm nào tao tìm cho con khác".  Tôi biết ông nói vậy , nhưng tìm không dễ. Công chứ đâu phải gà rừng. Gà rừng bây giờ cũng đâu dễ tìm. Rừng kiệt rồi. Ông Giàng Chu bảo: "Vẫn còn một đôi. Mấy ngày nay tao thấy nó múa ở bãi trống gần Bát Xứ. Chỗ ấy ba bề bốn bên có rừng, yên tĩnh lắm. Giống này a, hơi động một tí là nó đi ngay. Bây giờ lỡ rồi, ở đây uống rượu với tao. Thịt công ngon lắm, mày ăn chưa?"  Phải như lúc khác thì hay, dễ gì được nếm chút thịt công? Món mà chỉ vua chúa mới được ngự thiện? Nhưng lúc này tôi không thấy thú vị gì, vì tôi đang cầu một con công đực. Nhưng lỡ rồi, không thể để ông Giàng Chu mất vui. Lại hi vọng ở lần sau vậy. Con người ta nhiều hi vọng lắm, chỉ khi nhắm mắt mới thôi!
      
  Con công được nướng trên than củi để nguyên cả con. Tôi không được nhìn ngắm nó lúc còn sống. Chẳng biết nó xinh đẹp thế nào. Bây giờ nó đen xạm lại, đôi cánh và đôi chân co quắp. Cái cổ nó nghẹo sang một bên, hai con mắt nó lồi ra đen xì. Dáng hình nó xấu xí hơn cả con gà quay. Mới biết mỗi loài đẹp mỗi cách. Con gà luộc mỏ ngậm bông hoa làm lễ tơ hồng đẹp hơn con gà thả ngoài vườn. Con công đẹp theo kiểu khác, khi nó lượn trên vạt cỏ. Nó đâu phải con thịt ? Tôi chắc bọn người ca tụng: “Nem công chả phượng " là một lũ tục nhân, sống lấy cái ăn làm đầu. Bao nhiêu khí huyết của rừng mới tạo ra được nó. Bao nhiêu hương sắc của trời mới làm nên bộ lông óng ả nhường kia. Bây giờ bộ lông óng ả ấy tơi tả bên bếp lửa. Mấy con chó con đang nghịch vày, lấy cái mõm đen hôi hám vảy tứ tung.

      

Tôi nhặt mấy cái lông còn sót lại như một niềm an ủi, thơ thẩn cả người, quay lại bàn uống nước. Ông Giàng Chu trải chiếu ngồi xuống đất, thu cái bi

đông rượu vào lòng. Mấy đứa con ông lạch cạch bát đĩa.
Mọi khi tôi lên hay bắt chuyện với Hoa, con gái lớn của ông. Cô có đôi mắt sáng, môi hồng chúm chím , hỏi cái gì cũng "chi pâu, chi pâu "( không biết ) . Hôm nay Hoa không vui. Cô thương con chim xấu số hay vì lẽ gì tôi không biết mà đôi mắt đỏ hoe, lặng lẽ kéo váy ngồi mép chiếu, rót rượu ra mấy cái bát.
Từ cô tỏa ra mùi thoang thoảng, hương  rượu ngô, hương con gái .
Con công được chặt thành nhiều miếng vuông quân cờ, xếp lên một chót lá chuối. Ông Giàng Chu bảo: " Thịt nướng không nên bày đĩa , nó mất mùi . Để trên lá ăn nó mới thơm" 
Đến lúc này tôi mới hỏi ông : “Sao bác không lấy thuốc chữa cho nó? Bác biết cây thuốc mà?”  Ông Giàng Chu tay đã nhón miếng thịt, lại đặt xuống, vỗ tay vào đùi : “Ừ nhỉ! Sao ta không nghĩ ra? lú lẫn quá! Bây giờ mày nói tao mới sực nhớ, chứ trong rừng thuốc thiếu gì  .. Mọi khi con ngựa nếu không may bị què tao vẫn lấy thuốc đắp cho nó mà! Chỉ vài ngày là khỏi thôi. Nhưng từ xưa tới giờ có thấy ai lấy thuốc cho chim đâu?
    Tôi ngớ ra, việc này chưa từng có, không trách ông được. Ở đời người ta hay nghĩ
và làm theo thói quen, chẳng cứ người H’Mông, ngay các dân tộc khác cũng vậy, làm khác đi đâu có dễ ?
Nhớ lần tôi vào rừng với ông, vấp phải gốc cây, ngón chân cái bị sứt ra lòi xương trắng hếu, máu chảy

ướt đỏ năm đầu ngón chân, ông chu kiếm quanh, bứt mấy cái lá bỏ vào mồm nhai rồi đắp cho tôi. Chỗ đứt cầm máu ngay, không thấy buốt nữa. Ông cõng tôi về nhà, dăm hôm sau là khỏi.

Tôi hỏi ông đó là thứ thuốc gì, ông bảo :" Rừng nhiều lá thuốc lắm. Lá tao đắp cho mày gọi là lá tơ nhện”  Thứ lá tôi vẫn thường gặp ven suối , cây nó thân mềm , lá ròn giống cây thanh táo. Người học võ thường hay dùng nó làm thuốc đòn, chữa giập xương. Nếu ông Giàng Chu không sơ ý, con công đã được chữa khỏi. Ông tiếc cái cơ hội vừa rồi, không phải lúc nào cũng gặp và bắt được nó. Giống này là tinh hoa của rừng, ít khi để lộ ra. Người ta bảo rằng : " Năm nào  đi rừng mà gặp công là năm đó gặp nhiều điều hay. Vùng đất nào có công ở là vùng đất đang thịnh”   Thần rừng nuôi  nó để làm vui riêng cho mình, và khi cần thì báo hiệu cho con người  bằng sự xuất hiện của nó.

Ông Giàng Chu gắp cho tôi một miếng thịt. Đây là miếng lườn dưới bụng con chim,
chỉ có tí xương rất mỏng, cứng. Thịt công nạc hơn thịt gà rừng, không có mỡ. Không biết có phải vì thế mà nó múa lượn nhanh nhẹn, uyển chuyển, thịt lại ngon hơn các loại chim khác? Tôi không muốn đem cái hương vị của nó ra kể. Ngại rằng ai đó nảy ra ý nghĩ muốn ăn thử xem sao, khi đã chán sơn hào hải vị. Lúc đó công sẽ là đối tượng bị săn lùng ráo riết. Chẳng khác năm nào người ta đi tìm đá đỏ, đào tan hoang cả một cánh rừng! 
Vừa uống rượu tôi vừa kể cho ông Giàng Chu nghe về anh bạn tôi và con chim mái.
Ông nheo nheo mắt hỏi : “Bạn mày giàu lắm à ?"    Tôi bảo : " Nó cũng nghèo như những người nghèo

trong tỉnh mình thôi”   Ông lại hỏi :” Nghèo lấy đâu ra tiền mua công? Đắt lắm đấy! Còn phải nuôi nó nữa chứ, nó không ăn như gà đâu!"
           Tôi nói: "Anh ấy phải đổi một chiếc xe máy tàu bác ạ! Còn cho ăn cũng dễ, nhà gần quán phở, thịt vụn dễ mua. Chỉ tiếc cái xe còn mới, chạy chưa được ngàn cây số" Ông Chu tròn mắt: “Sao nó làm liều thế. Không đắt đến thế đâu"    Tôi bảo không đắt, bác còn giữ được con công vừa rồi tôi cũng xin biếu bác một chiếc". Ông cười rung cả ngực, cả vai.  “Xe máy tao cũng thích nhưng không biết đi. Lên nương cần gì đến xe máy, nếu lần sau tao bắt được, tao xin cái tivi màu".   Ông lại cười:" Ố, có khi tao còn thấy người nhà ở  trong  tivi. Người Mèo núi cao nào chẳng có. Ở trong Tây Nguyên  còn có mà".   Người H’Mông có óc thiết thực, hay nghĩ bằng trực giác, bằng những cái cụ thể.
Chuyện về con công ao ước ấy làm cho bữa rượu  sinh động hẳn lên. Ông Giàng Chu kể cho tôi nghe về cách bắt công. Giống chim này tinh khôn, không bắn bằng súng được. Nó thấy mùi thuốc súng từ rất xa. Thoáng cái là bay mất. Phải đánh bằng bẫy thật khéo léo. Lưới phải nhuộm màu đất, màu lá cây để nó không  nhận ra được. Nó không phải giống phàm ăn, nên không bẫy bằng mồi. Phải tìm bãi đất bằng phẳng, cỏ non giăng lưới sẵn. Những bãi này hay gặp ven bờ suối. Nó khôn là vậy, nhưng lại có nhược điểm chết người. Nó hay nhảy múa và chết vì cái sở thích của mình. Ấy là khi nó quyến rũ con cái. càng múa lượn nó càng say sưa, quên cả hiểm nguy  rình rập. Hệt như anh con trai người H’Mông lúc múa, khèn lấp loáng như công xòe đuôi. Bước chân người rất nhẹ, như không phải đặt trên mặt đất mà là đặt lên đám sương khói bồng bềnh. Tiếng khèn thấm vào gan ruột, toàn thân run rẩy như người nhập đồng, dáng dấp không

định hình được nữa, cứ lơ mơ, nhập nhòa như mơ, như thực. Lúc ấy chẳng chú ý gì đến xung quanh. Con công cũng vậy, nó sa bẫy chính vào lúc này. Y như con
người, say mê cái gì là khổ vì cái ấy! Bỏ mạng lúc nào không hay!
             Đang bữa, Thào Mìn cùng mấy anh con trai người H’Mông đến. Tôi thấy lo, thế nào mình cũng bị gay go vì rượu! Tửu lượng của họ rất cao mà  lại mời không cho từ chối. nếu chối từ sẽ không có lần gặp gỡ thứ hai. Người H’Mông không ưa ai thì khó mà lấy lại được cảm tình. Tôi nhớ mình có con ngựa, nên vững tâm, có bị mềm như dưa cũng chẳng sao, cố mà bò lên lưng ngựa. Con ngựa quen đường sẽ đưa tôi về, khi nào đến nhà ông Phương sẹo mình sẽ làm một giấc,  tỉnh lại cưỡi xe Min về. Giàng Thào Mìn còn trẻ. Anh chàng đang định cướp A Hoa về làm vợ. Gọi là cướp cho đúng với phong tục, thực ra con trai con gái người H’Mông bây giờ khác rồi, có yêu nhau mới cướp được người mình yêu về làm vợ. Phải thổi nóng cây khèn, nhảy cho ran mặt đất, cho nhau bằng lòng và cũng để cái ma cảm thông đừng ngăn trở. Suối đừng quá sâu, núi đừng quá cao, mây giăng đừng che khuất lối đi về...
Tôi định đi tìm, thật may  Thào Mìn lại đến. Ông Giàng Chu gắp cho mỗi người mới đến một miếng thịt, miệng giục" Uống rượu đi, chốc nữa nói"    Mấy anh trai  bản nâng chén rượu, cánh tay đưa rất thẳng mời chúng tôi, nhưng vẫn có vẻ khép nép.Vì đến nhà người yêu của bạn, hay thấy tôi là người lạ nên không được tự nhiên? Chỉ riêng Thào Mìn có vẻ sắc sảo.
Những cuộc vui như thế này, người xóm Khuổi Đào đều có mặt. Hễ kiếm được con gì, đều cùng nhau vui. Có khi chỉ một con sóc cũng hết bay cả can ba lít. Tự nhiên tôi thèm cái quấn quýt hồn nhiên của họ. Như thể trời đất mới sinh ra họ vậy, chưa vướng bụi trần .

Bà Giàng Chu bưng lên cái chõ đồ xôi bằng gỗ bên trong xếp  đầy ngô nếp hãy còn non, cả bẹ . Hơi
nóng bốc lên nghi ngút ngào ngạt. Ngô sôi kiểu này ăn rất ngọt, không dính tay. Bà đưa mỗi người một quả. Đó là cách mời tận tình, đưa tận tay. Tôi yên lặng vừa ăn ngô vừa nghe chuyện. những câu chuyện nửa tiếng kinh, nửa tiếng H’Mông. Có câu tôi hiểu, có câu không. Nhưng khi thấy họ cười rộ lên, tôi cũng cười.
Ông Giàng Chu khoe: "Tao cho chúng mày xem cái này".Rồi ông đứng lên, mở cái hòm xưa đựng đạn pháo lấy ra tờ giấy. Ông bảo Thào Mìn đọc. Đó là giấy chứng nhận ông là tuyên truyền viên văn hóa giỏi. Ông bảo tôi:"Hôm nào lên mua tao cái khung kính. Không phải tao ham cái oai, mà vì để bọn nó hiểu tao tốt với người H’Mông như thế nào. Tình cảm của tao mà".    Tôi biết là ông thực lòng. Tuy chẳng chức sắc gì, ông luôn là trung tâm, là cái hạt nhân của xóm người H’Mông này. Như cái trống bọc da trâu treo sát mái kia, báo mọi chuyện vui buồn.
Tôi bưng bát rượu lại gần Thào Mìn. Anh lánh ra một chút cho tôi ngồi,  vừa cười vừa nói:"Mới lên à?" Tôi gật đầu hỏi anh:" Ông Chu đã bảo gì với anh chưa"   Thào Mìn hiểu ý ngay bảo:"Nó nói rồi, uống rượu đã".    Tôi hỏi thêm cho chắc:"Có không?" Thào Mìn gật đầu: "Mấy cái kia". Tôi mừng thầm, mong cho cuộc rượi mau kết thúc, vì nó thường kéo dài rất lâu, có khi qua đêm suốt sáng. Rượu say lăn ra ngủ, rồi lại uống tiếp!
   Thào Mìn không có thói quen ấy. Anh uống chừng ba bát rồi lại gần bếp nói gì đó với A Hoa. Cô không nói gì, chỉ gật đầu, tay gạt gạt thanh củi. Quay ra, Thào Mìn bảo tôi: "Tôi mượn con ngựa đi lấy khèn về cho".  Tôi dặn anh:"  Nó hơi bướng, anh cẩn thận".    Ông Giàng Chu vỗ vai tôi: "Không lo, nó cưỡi được mà,


có phải hổ đâu".  Thào Mìn nhảy phóc lên lưng ngựa, anh khuất sau rừng cây rất mau, sành điệu hơn cả tôi.
Anh đi chừng nửa tiếng thì quay lại. Lúc này cuộc rượu đã lưng lửng. Ông Giàng Chu lấy cây khèn ra cho đám thanh niên. Anh nọ dùn anh kia, chưa ai nhận. Thào Mìn về, tất cả đều quay lại. Anh cầm trên tay những hai cây khèn mà mặt ỉu sìu sìu. Anh đưa tôi một cây giọng rất buồn, chẳng như lúc ban đầu:"Anh không may rồi. Trận lốc vừa rồi ác quá. Nó làm rơi cây xà vào giập hết khèn rồi. Tôi để trên gác mà. May mà chưa đổ nhà"   Tôi hỏi :"Còn dùng được không?"   Anh bảo không được đâu, thứ này hỏng một ống thổi không được đâu."   Ông Chu bực bội:"Trời bây giờ ác quá. Hôm rồi còn bẻ gẫy cả rừng đào, quả hãy non lắm. Mất cây, rừng nó đâm ốm mà".  Nhìn cây khèn  giập, tôi như người hụt hẫng, chẳng muốn nói gì nữa.
Thào Mìn an ủi tôi: "May mà bầu nó còn nguyên, như rừng mất cây nhưng còn đất mà. Tôi sẽ làm lại cho".
           Ông Giàng Chu cũng nói: “Mày lên phải ngày xấu rồi. Không được việc gì cả. Thôi, tao sẽ tìm cách giúp cho. Hôm nào lên mà lấy. Hay mày không định lên chơi nữa hả?" Tôi vội nói: “Không, cháu còn lên nữa chứ". Mà tôi còn lên thật. Duyên nợ với rừng tôi nào đã xong?
 Nhưng giờ phải về, con ngựa tôi mượn phải trả để ông Phương mai sang Yên Nguyên thăm người nhà. Con ngựa như có phần uể oải, cho thêm ít ngô nó cũng chẳng buồn ăn. Tôi mới lên suối Hoa Đào một ngày mà bao nhiêu là chuyện ..
Rừng ơi là rừng!

          
                                                                

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒN KHÈN - MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT BẰNG THƠ


Nguyễn Thị Hồng 


Kết quả hình ảnh cho Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng



HỒN KHÈN
(Trường ca)
Quê ta ở tận cổng trời
Bản ta tay với chạm trời
Lời yêu không gửi được nhau
Lời yêu ta gửi lên trời
Chung chiêng rừng núi những lời thiết tha
I
Ngày ấy
Chiều chiều
Mặt trời sắp đi ngủ sau lưng núi
Giao bản làng lại cho mặt trăng
Ráng chiều
hằn
dáng ngựa
Một con ngựa bạch rung bờm
Anh đứng trên đèo
Nắm lấy dây cương...
Em
Hạt bắp trắng tròn
Cha mẹ như nương vừa mùa đốt rẫy
Nương nhiều màu gặp mưa xuân tươi tốt
Hạt bắp trắng tròn trổ cây bắp tốt tươi
Bản làng mình cheo leo lưng trời
Nhìn xuống
Bãi bằng mây trùng điệp
Em tắm nước lần trong khe
Em tắm ánh trăng lưng núi
Da em mịn như hoa đào
Má em hồng như trái đào...
Anh nắm dây cương
Ngựa bạch tung bờm
Anh đi cùng cây khèn trúc
Khèn trúc biết hát lời yêu
lơ lửng
đậu trên mặt trăng
Anh đi cùng cây khèn trúc
Khèn trúc biết nói lời tình
Thầm thĩ
Luồn xuống khe sâu
Anh đi cùng cây khèn trúc
Khèn trúc cùng hơi thở anh
chui qua khe cửa
luồn vào chăn em
vuốt ve da thịt
em!
Hãy về với anh
Em yêu!
Ta cùng đi ngả cây rừng
dựng ngôi nhà
ba gian, bẩy gian
Hãy về với anh
Em yêu!
Ta cùng đi trỉa hạt bắp
về đồ mèn mén*
Cùng bốc một rá
Tay chạm tay
Hãy về với anh
Em yêu!
Bản mình
đá chen đá
Nhà mình
đá chen đá
Ngày xuân
vui bạn
say
có em dìu
Không ngã
Hãy về với anh
Em yêu!
Ngày xuân
con ong đi làm mật
anh đi lấy sáp ong
về nhuộm váy hoa em
Anh đốt nhiều ống nứa
Lấy nhiều tro
Váy em trắng nhất bản
Và em
Hãy về với anh
đêm êm
đêm ấm
Ngày ngọt
ngày ngào
Em bước trước
anh bước sau
Như hình với bóng
Khèn trúc thĩ thầm lời hát
Bao nhiêu cung bậc bấy nhiêu tình
Lời hi vọng bay trên đỉnh núi
Như đóa hoa nở giữa rừng xanh
Lời hi vọng như nương như bản
cho ta nơi ở cho ta nơi ăn
Lời hi vọng như nước như muối
cho ta khỏi khát cho ta khỏi nhạt
Lời hi vọng như cha như mẹ
Lúc sinh thành âu yếm chở che
Lời hi vọng như cây như lá
Rợp màu xanh mát lối đi về
Lời hi vọng như mặt trời ban ngày
xua tan sương lạnh đêm đông giá
Lời hi vọng như mặt trăng ban đêm
dịu dàng dòng chảy suối thần tiên
Lời hi vọng như chim buổi sáng
líu lo ca rộn rã bản làng
Lời hi vọng như bắp gặp mưa xuân
Như bí gặp mưa bụi
Như rau dớn thuận tiết xanh rờn
Lời hi vọng cầu mong cha mẹ
Cầu mong thần linh
cho em về với anh
Khèn trúc thĩ thầm lời hát
Bao nhiêu cung bậc bấy nhiêu tình
Nỗi giăng mắc trầm buồn tha thiết
Em, em yêu thấu chăng?
Mỗi người chỉ một lần sinh ra
Ba ngày kể như một kiếp sống
Không lấy được em anh ở một mình
như cây cô đơn trên đỉnh núi
Không lấy được em anh ở một nơi
như tảng đá đơn côi xó bản
Không lấy được em ngày đắng
Không lấy được em đêm cay
coi như ông trời đã lấy mình đi rồi
lúc bằng hạt tấm.
Cây khèn trúc thĩ thầm lời hát
Bao nhiêu cung bậc bấy nhiêu tình
Nỗi giăng mắc và niềm hi vọng
cứ chung chiêng khắp núi khắp rừng...
Em
Hạt bắp vừa mẩy
Trái đào vừa xinh
chân đi nương tay thoăn thoắt xe lanh
sợi lại sợi vòng quanh
vòng quanh như con suối mười hai đoạn
quành về mười hai khúc
đường anh đi không sót khúc nào
lại trở về đoạn đầu
rồi lại đi đủ mười hai khúc
khúc nào cũng nghĩ về em...
Tiếng khèn nỉ non trong đêm thâu
như tiếng dế nỉ non trong búi cỏ
cạnh nơi em ở...
chẳng biết em động lòng vì tiếng khèn nức nở
chẳng hiểu em động lòng vì tiếng dế nỉ non
Em hé cửa bên
một đêm trăng bạc...
Em lướt nhẹ nhàng
đến bên tảng đá
đêm đêm anh ngồi lõm
đêm đêm anh ngồi mòn
Hơi thở ta lồng vào nhau
“miếng ngon ai để về sau
người ngon ai để cho nhau đợi chờ”*
Em như rau rệu gặp mưa
Anh mưa khắp bãi bờ em ngập lụt
xung quanh ta núi chìm trong màn nước
lúc anh trao ân ái cùng em
mình chìm xuống đáy hồ sâu thẳm
mặt nước dập dềnh bông hoa trắng
hoa cùng người chết đuối giữa dòng xanh...
Tình ta ngọt như quả ngõa mật
Tình ta ngọt như đõ ong mật
Ngõa mật chín trên cây ngõa
Mật ong ngọt trong đõ ong
Tình hai ta ngọt khắp người em
Tình hai ta ngọt khắp người anh
Ước em như sợi lanh
Anh quấn quanh mình
Anh đâu em đấy
Anh muốn em như sợi lanh
Anh quấn quanh mình
Em đâu anh đấy
Anh về thưa cha mẹ
Nhờ mối mai dạm ngõ
Anh đã cất công tìm ông mối giỏi
Anh đã cất công tìm ông mối tài
Hát đối đáp thật dài
Bài hát sắp hết lại không hết
Anh đã xem ngày lành
Anh đã xem tháng tốt
Nhờ ông mối đến nhà
Nhưng cha mẹ em không nhận thuốc
Nhưng cha mẹ em không tiếp lời
Cha mẹ em chê anh
muốn con rể có vàng lá nhiều phân
muốn con rể có bạc nén nhiều lạng
Anh chỉ có mình
Và cây khèn trúc
Cho lại em yêu
Cha mẹ em chê anh
quả ngõa mật trên cây rụng rữa
Cha mẹ em chê anh
đõ ong mật trong rừng rụng tàn
Cha mẹ em chê anh
anh như bị lấy mất hồn
Cha mẹ em chê anh
em như bị thu mất vía
Cha mẹ em chê anh
khèn trúc nằm một xó
Ta ngồi
gối bó
Ta ngồi ở giữa đất trời
mây trên đầu với tóc bời cùng ta
khác chăng chỉ khác chăng là
mây vô tư đến như là vô tư
còn ta ta mãi thế ư
quanh ta vấn vít rối mù tơ vương...
Anh tính con đường thương
Anh mở con đường nhớ
Em ở nhà làm gái tơ cha mẹ
Anh đi buôn kiếm bạc nén vàng phân
Anh trở về mùa xuân
Hoa mận tiếp hoa đào
Còn mùa hoa mình còn gặp nhau
Em ơi! Nước chảy được nước chảy
Đất không chảy được thì đất đứng
Anh đi được anh đi
Em không đi, em sẽ phải lên núi lên đồi em than
Em gửi nỗi thương vào đất
Đất thương mình sẽ trổ cây xanh đợi anh
Em gửi nỗi nhớ lên trời
Trời thương mình giữ gìn anh cho em
Mùa xuân về anh có bạc nén
Mùa xuân về anh có vàng phân
Mùa xuân về anh giã bánh dày trắng
Mùa xuân về anh đồ xôi cẩm
Mùa xuân về anh mổ bò, mổ dê
Đưa lễ đến nhà em
Ta mời hết bản làng
Cho em về với anh
Em ơi!
Buồn lòng mình ta gỡ không xong
Sầu lòng ta mình gỡ không nổi
Chỉ còn đường anh đi
Em ở nhà gắng đợi,
Làm gái tơ cha mẹ chờ anh...
II
Anh lên đường
Khát vọng nấu nung khát vọng
Khát vọng
chớp mắt
mặt đất
toàn màu xanh
chớp mắt
mặt đất
những ngôi nhà xinh
ai bên ai
ân tình
Nhưng
Giọt nước xanh tự nguồn
theo mưa sa về xuôi
Dòng sông
cuồn cuộn
xoáy
Không còn sự yên ả của viên sỏi trong lòng suối
ai soi bóng ai trong lành
Dòng sông
Cuộc đời
Dữ dội và bạo liệt...
Giọt nước xanh
đã biến mất
trước dòng đời
cuồn cuộn
xoáy
Anh lại
đi
Rừng tiếp rừng
Đường nối đường
Khát vọng nấu nung khát vọng
Nhưng
Khát vọng
chỉ là
cơn khát
lữ hành trên sa mạc
Khát
bình minh
vừa ló
Nhật thực toàn phần
Đất trời
trở lại
cõi
hồng hoang
Lữ khách
mênh mang
gọi đò
không
tiếng vọng
Đêm
thầm
vỗ sóng...
Không đò
lữ khách
mãi
ở lại
bờ
hư vô...
III
Em ở lại
lòng như đun lửa nồi không
nhớ anh không thể ngỏ...
chân lên nương tay xe sợi lanh
sợi lại sợi vòng quanh
vòng quanh như con suối mười hai đoạn
quành về mười hai khúc
đường em đi không sót khúc nào
lại trở về đoạn đầu
rồi lại đi đủ mười hai khúc
khúc nào cũng nghĩ về anh...
Anh giờ bươn bả nơi đâu
đường xa dặm thẳm đèo cao thác ghềnh
còn bao giờ nữa không anh
một lần gặp lại cho lành vết thương
muôn đời nhện cứ tơ vương
một lần gặp để nhớ thương một đời
Nhện giăng tơ trên lá lúa
Nhện giăng tơ trên lá ngải
Tơ tình em giăng mắc ngàn trùng
Biết chăng anh
Nơi dãy núi điệp trùng
Đá và người cùng lạnh
Em - bông hoa nở trong rừng sâu
Rừng nhiều hoẵng, nhiều cầy
Hoa thì đậu nhờ thân cây
Cây cho nở được nở
Cây cho tàn phải tàn
Hoa mong manh giữa chốn đại ngàn...
Người ta nhà ván bảy gian
Cao ngang ngọn đồi
Người ta vàng lá nhiều phân
Bạc nén nhiều lạng
Người ta cậy người mai mối
Em thưa với mẹ cha
Em đợi
Mẹ cha cho em đợi một mùa
Lòng em như nước thượng nguồn
Lao mình theo thác tìm đường về xuôi
Khát mình gặp được biển khơi
Hòa êm dịu với nước trời bao la
Gập ghềnh đá nát thịt da
Nỗi đau khát vọng xát chà con tim
Đăm đăm chỉ một nỗi niềm
Cùng ai chung một mái êm thuận hòa
Nhưng rồi biển cứ khuất xa
Mình em đứng giữa phong ba cõi lòng...
Ngày ngày em đi nương
chân bước tay xe lanh
sợi lại sợi vòng quanh
vòng quanh như con suối mười hai đoạn
quành về mười hai khúc
đường em đi không sót khúc nào
lại trở về đoạn đầu
rồi lại đi đủ mười hai khúc
khúc nào cũng nghĩ về anh
Ước gì như núi Cô Tiên
là thiên nhiên
không ràng buộc
Ta về với nhau
lấy lá rừng làm lều
lấy cây lau làm lán
Ta về với nhau
được ấm
Ta về với nhau
được êm
Nhưng
Ngày lại tiếp đêm
vù qua như chim sẻ
Một mùa đã đầy trước cửa
Một mùa đã đầy trước thềm
Anh yêu vẫn bặt tin
Mẹ cha nhận lễ nhà người
làm cưới
Mặc em
nước mắt nhiều bằng suối
IV
Anh trở về tìm lại dòng xanh
Nơi đón suối tự nguồn thanh khiết
Nhưng bất ngờ
Như thời tiền sử
Nước từ trời
Từ núi
Từ lòng đất
Cùng dâng lên
xối xuống
muôn dòng
Như thể trái đất làm bằng nước
Chứa trên trời, trong núi
để giờ tuôn
Những ngôi nhà cheo leo sườn núi
Tháng ngày yên ả lặng trong mơ
Giờ đây mưa lũ từ trời xối
Thành dòng thành thác quật xác xơ
Anh như cành rều trong cơn lũ
Buông mình bất lực giữa dòng trôi
Với nỗi buồn giã từ khát vọng
Bởi dòng xanh mãi mãi khuất xa rồi
Em đã bước qua cửa nhà người
Cái chân gà nhà người đã cào lên lưng em nhận ma
Này chồng
Này mẹ
Này cha
Bao dây giằng quấn quít
cách nào gỡ em ra
Từ đó
Có một ngôi nhà ướt*
đêm đêm mở cửa xanh
Khèn trúc lại giúp anh
Gửi em lời nhắn nhủ
Đừng buồn em
Đừng khóc
Hoàng hôn đang tắt
Đất trời đang hóa kiếp
Bình minh
Mình hẹn gặp nhau lúc tuổi trắng trong
Em nhớ giữ mình
khi trời trở gió
Anh yêu em chung thủy
Tình yêu là có thật
Em yêu!
Người ta bảo tình yêu như hoa nở sớm tàn chiều
Tình yêu mình
như dòng Nho Quế
Dòng đuổi dòng không dứt
Tình yêu mình bắt anh mãi khóc
khi không còn hi vọng
Em - Bờ xanh cho dòng nối bờ anh
Bờ xanh em không được nối bờ anh
đã tan thành dòng sông nước mắt
đêm ngày bờ khóc
tiếc nỗi mình không được nối bờ anh
Đừng buồn em
Đừng khóc
Hoàng hôn đang tắt
Đất trời đang hóa kiếp
Bình minh
Mình hẹn gặp nhau lúc tuổi trắng trong
Em nhớ giữ mình
khi trời trở gió
Anh yêu em chung thủy
Tình yêu là có thật
Em yêu!
Ban ngày mặt trời chiếu sáng
Mặt trời giúp anh tỏ rạng
đường đi nương anh bước gấp
cây rừng ngả cây to
bắp trỉa nương tiếp nương
bí leo rẫy liền rẫy
đậu lên đồi lại đồi
cái việc ăn cái nghĩ
cái việc đỡ đần nỗi buồn
Ban đêm mặt trời đi ngủ
mặt trăng gợi nhớ đêm nào
mình cùng chìm sâu...
đâu rồi
Bông hoa trắng
mặt nước dập dềnh
trong dòng xanh
ân ái
Lòng buồn
Khèn thổn thức
Niềm xưa...
Đời người được mấy giấc mơ
đã tan theo gió đã mờ theo mây
khát khao hạnh phúc xum vầy
đốt mình cháy hết tàn bay về trời
Anh từng sống kiếp người
Trong cách xa thương nhớ
Mỗi phút mỗi giây
Mỗi ngày mỗi giờ
Trái tim đập bằng mạch hồng của máu
Nỗi cô đơn như gai đâm
Những cám dỗ dịu dàng như nước
Và tình yêu duy nhất
Như mặt trời mặt trăng
có một
Để giữ gìn mặt trời có một
Để giữ gìn mặt trăng có một
Anh phải vượt qua ảo ảnh
dịu dàng như nước xoa dịu gai đâm
Anh vẫn một mình
như cây cô đơn đỉnh núi
như hòn đá đơn côi xó bản
ngày nối ngày
đêm lại tiếp đêm
Anh vẫn một mình
đợi em...
Xin em đừng đau khổ
Không làm rẫy sẽ làm ruộng
Không làm vợ sẽ làm người yêu
Đón em từ sớm đến chiều Khau Vai*
Chợ Khau Vai
Anh qua Tùng Vài
Anh qua Quản Bạ
Ngắm núi Cô Tiên
Giấc mộng ngàn năm
Trở về thiên nhiên...
Anh ngược cổng trời
đến quê hương người Mông ta rồi
Chợ Khau Vai
Mèo Vạc
Một năm chỉ có một ngày tốt
Ngày tốt ta được gặp nhau
Em đi trước
Anh bước sau
Ô che mặt tròn
Ô che dáng thon
Khèn anh cất tiếng nỉ non...
Người xa người
Giá băng vô tận
Thời gian mãi đông
Bỗng xuân
Một ngày nắng ấm
Người bên người
Cây mướt xanh
Dịu dàng và êm ái
Không gian nhẹ như tơ
Nắng choàng vai đôi lứa
mềm như âu yếm sau bao đợi chờ
Nắng xuân người ơi dịu thấm
Như thời khắc ta bên nhau
Nước hồ người ơi sâu thẳm
như tình ta nồng và đau
Thời gian không gian biền biệt
Tình ta như cây bên bờ
chôn chân chịu bao giá rét
đợi xuân thời khắc một giờ
Dẫu một giờ thôi nắng hửng
đủ tan giá rét một đời
Cây côi mướt xanh trở lại
trong vòng tay ấm người ơi
Ta gặp nhau từ sớm
Nắng mới ăn cái nương
Em kể lể đoạn trường
Làm dâu người không xiết
Làm dâu người không ngọt
Làm dâu người không bùi
Em như chùm quả xẻn
Vỏ vàng mà ruột cay
Ngày lại ngày
Nặng nề và chậm chạp
Như cối đá xay bắp
Cối xoay nặng ngày qua càng nặng
Cối xoay chậm ngày qua càng chậm
Ước gì em như con chim sẻ bay vù
Nhưng em chỉ như con cứ cư ở một nương
nỉ non lòng dạ
Sớm đá lạnh, lá cây còn lạnh
Sớm đường tối, lối đi còn tối
Sương sa ướt đầm áo váy
Em đã dậy
đi địu nước nhà người
Em về nhà chồng địu được thùng nước sạch
Mẹ chồng nói là em địu thùng nước đục
Sang xuân, chồng nó đi cày nương bên núi
Em chẳng có bụng mang cơm theo
Sang xuân, chồng nó đi làm nương bên đồi
Em chẳng có lòng mang cơm đi cùng
Thân em như hoa trân châu nở không nổi
Em mắc ở cửa nhà người...
Em ơi
Anh muốn đỡ núi để núi không lở
Đỡ em, nhưng chẳng dám cùng anh bước
Không bước cùng anh, em phải bước cùng người
Cây đùm đũm đỡ quả đùm đũm
Em bước cùng người đỡ chùm con em
chúng bé bằng hạt tấm
chúng bé bằng hạt kê
Em trở về nuôi hạt tấm hạt kê
lớn bằng cây nêu
cao bằng cây sào
Anh ơi
Ước gì như núi Cô Tiên
Là thiên nhiên
không ràng buộc
Em sẽ ở lại nơi này
Vòng tay ôm nốt tháng ngày cùng anh
Em ơi
Em như người ở trong gương
Nhìn thấy đấy, sờ sao chẳng thấy
Bóng chiều đã ăn con rẫy
Về đi mình
Một năm chỉ có một ngày tốt
Ngày tốt ta lại gặp nhau
Thương em thương nhiều nhiều
Năm sau
đợi đến chợ Khau Vai rồi sẽ yêu
...
V
Năm ấy
Nhớ lời ước hẹn
Một năm chỉ có một ngày tốt
Ngày tốt ta được gặp nhau
Yêu em yêu nhiều nhiều
Hẹn nhau từ sớm đến chiều Khau Vai
Anh qua Tùng Vài
Anh ngược Quản Bạ
Ngắm núi Cô Tiên
Lại nghĩ đến em...
Đã nhiều mùa ngõa mật rụng rữa
Đã nhiều mùa ong mật rụng tàn
Em như cây cỏ thiên nhiên
Qua xuân hè phải kề bên thu vàng
Em không còn là hạt bắp mẩy tròn
Em đã là quả mận nhăn nếp vỏ
Núi Cô Tiên vẫn tròn trịa trinh nguyên
Mà em, con đã bằng cây sào
Mà em, con đã bằng cây nêu
Anh cũng như cây đã cội...
Nhưng
Tại sao nắng muộn về mà nắng lại nóng
Tại sao nắng sớm về mà nắng không nóng
Thế thì làm sao phơi được cỏ kia khô
Cỏ không khô
Cỏ vẫn mướt xanh
Cỏ lại lan nhanh
Ven đồi ven suối
Nơi nào dấu chân em tới
Nơi nào dấu chân anh qua
cỏ cũng
cùng thời gian
chân trần
in dấu
Giây in vào phút
Phút in vào giờ
Giờ in vào ngày
Ngày in vào tháng
Tháng in vào năm
Năm tiếp năm
Đường anh đi chợ
Rộn ràng vó ngựa
Nhằm hướng Khau Vai
Anh qua cổng trời
Ngắt chùm lan tím
treo vào cây khèn
để cạnh địu xôi
để cạnh ống rượu
Anh sẽ tặng em hoa tươi
Khèn sẽ tặng em lời tình tự
Ta cùng ăn xôi trắng
Ta cùng uống rượu nồng
Ta quên nỗi đơn côi
của chuỗi ngày chậm chạp
Em sẽ nói lời ngọt
Anh sẽ nói lời ngào
Bên nhau từ sớm đến chiều Khau Vai...
Em sẽ lại thở than
đường em đi nương không rợp bóng
địu em lấy nước chà hai vai
guồng em quay sợi mòn chỗ ngồi
cối em xay bắp chai tay thon
gan em thương anh mòn cả buồng
Khèn anh sẽ nói lời thương
cho đường em đi nương rợp bóng
cho guồng em quay êm chỗ ngồi
cho cối xay bắp xoay nhẹ xoay
cho gan anh thương em bồi gan em thương anh
Anh đi
Anh đi
Lòng anh bay...
Chợ Khau Vai
Anh ngồi gốc cây
đợi
Nắng chớm ăn cái núi
Nắng ăn hết cái nương
mất hút dáng em thương
Nắng ăn hết cái núi
hoa tươi héo đầu bông
khèn xinh nằm xó cây
anh lấy xôi ra ăn
một mình ăn không nổi
Bóng chiều ăn cái núi
hoa tươi héo đầu cuống
khèn xinh nằm xó cây
anh lấy rượu ra uống
một mình uống không vào
Anh ngồi gốc cây đợi
chiều đã ăn mặt người
người đã tan chợ rồi...
Anh ngồi gốc cây đợi
lòng anh đã chao ngửa
lòng anh đã chao nghiêng
Em quên rồi sao
Trước đây ta đã thề với nhau
Giữa chốn thiên đường chợ Khau Vai
Nay em lại để quả pao rơi xuống đất
Xin hỏi gió rừng người yêu của ta đâu
Người yêu anh đã nằm sâu lòng đá
Người yêu anh đã nằm sâu lòng đất
Mà anh không biết
Hỡi trời!!!
Lời người
dao đâm
Anh
ròng ròng
máu chảy
Em!
Anh còn biết trốn đi đâu
dưới gầm trời với nỗi đau thế này?
Đường về
Ngựa rũ bờm
dây cương
thõng
Em yêu ơi
Nỗi đau dày như cây
lấp lối
Anh biết đi ngả nào
Ngả nào cũng chẳng còn nhau
Lòng hoang lối cũng một màu hoang vu
Đã đành kiếp sống phù du
Vẫn mơ có kiếp đền bù cho nhau
Em yêu ơi
Lúc sống ta không chung mái nhà
Lúc sống ta không chung cái nương
Không chung nơi ở
Không chung nơi ăn
Không chung nơi nằm
Đêm đêm
mỗi người một mặt trăng
chỉ chung một mối dạ tằm nhớ nhau
Bây giờ
Buồng gan em đã nát dưới đất
Bây giờ
Buồng gan em đã nát dưới đá
Anh không được rót rượu gọi hồn em lối lại
Anh không được mổ gà tiễn hồn em lối đi
Làm sao em biết đi về cùng anh
Em yêu ơi
Kiếp sau ta hóa chim xanh
Cùng đỗ ngọn tống quá su trên rừng
Khèn anh tha thiết
nỉ non nơi em ngủ
nỉ non nơi em nằm
Hết ngày lại đêm
Anh quên cuộc sống
Anh thành cây trúc
thĩ thầm lời yêu...
Đất trời giăng mắc tơ tình
cho đôi lứa tiếp chúng mình
Em như hoa đào
năm tiếp năm lại nở
Anh khèn trúc chung chiêng
gọi mời đôi lứa chợ tình...
Quê ta ở tận cổng trời
Bản ta tay với chạm trời
Lời yêu không gửi được nhau
Lời yêu ta gửi lên trời
Chung chiêng rừng núi những lời thiết tha...
Bản Mông Hà Giang 1972,1995
Bản Mông Lào Cai 1992
Trại sáng tác Nha Trang- Đà Lạt 1998
Sửa lại tại Hà Nội 2003
NTH
* Tất cả những đoạn, cụm từ in nghiêng trong trường ca này đều trích từ dân ca, ca dao, thành ngữ của dân tộc Mông hoặc chỉ loài vật, cây cối, sinh hoạt của họ.
* Ca dao.
* Thơ Y Phương.
* Chợ Khau Vai là phiên chợ tình của người Mông, ở Mèo Vạc, Hà Giang diễn ra hàng năm vào ngày 27 tháng 3 âm lịch để cho những đôi lứa yêu nhau mà không lấy được nhau lại có dịp hẹn hò, gặp gỡ.



HỒN KHÈN - MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT BẰNG THƠ


Đoàn Hữu Nam
Hồn Khèn là một bản trường ca khiêm tốn nằm ở phần sau tập thơ Cuộc bàn giao vĩnh cửu - Hồn Khèn của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng do NXB Phụ Nữ ấn hành năm 2003. Có lẽ vì sự khiêm tốn trong trình bày tập thơ, khiêm tốn của chính tác giả và hậu quả của việc xuất bản thơ tràn ngập hiện nay mà Hồn khèn - bản trường ca duy nhất (cho đến thời điểm này) viết về người Hmông dường như bị khuất lấp. Đây là điều đáng buồn không chỉ của riêng tác giả.
Trước khi đi sâu vào Hồn Khèn tôi xin giới thiệu đôi nét về cây khèn của người Hmông.
Khèn là một loại nhạc cụ truyền thống do chính những nghệ nhân tài ba người Hmông làm ra. Cây khèn có ba bộ phận chính là ống thổi, bầu khèn và ống sáo. Ống thổi và bầu khèn được làm bằng gỗ pơ mu. Ống sáo được làm bằng ống trúc. Sáu ống sáo to nhỏ khác nhau được gắn với bầu khèn, mỗi ống có lưỡi gà tạo âm thanh làm bằng lá đồng được đục một lỗ thoát hơi. Ống khèn và bầu khèn cùng sáu ống sáo lắp vào bầu khèn được thít chặt với nhau bằng vỏ cây đào rừng.
Cây khèn là biểu tượng văn hóa của người Hmông. Trong sinh hoạt văn hóa tinh thần khèn được thể hiện qua hai hệ thống lý lối khác nhau, đó là làm tang ma và vui chơi, văn nghệ, song dù ở hệ thống lý lối nào người thể hiện cũng phải dùng động tác múa và thổi khèn thành tiếng theo đúng bài vở. Do sự nghiêm ngặt của lý lối, sự đòi hỏi điêu luyện, tài khéo léo mà người thổi khèn buộc phải có tài năng, sức mạnh, đặc biệt là phải học thổi, múa từ bài khèn gốc đến học suốt đời.
Do đặc điểm địa lý, phương thức canh tác tự cấp, tự túc cùng với phong tục tập quán như sợi dây rừng nối từ đời này sang đời khác nên cho đến bây giờ mà có lẽ mãi mãi mai sau những sản phẩm văn hóa nội tại vẫn luôn là món ăn hàng ngày, là khẳng định sự trường tồn của người Hmông. Trong đời sống văn hóa tinh thần tự sản, tự thưởng thức ấy Khèn tham gia vào hầu hết các các họat động. Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng lấy Hồn khèn làm phương tiện để đi sâu, lý giải và thể hiện sự yêu mến, kính trọng tâm hồn, tính cách của một dân tộc ẩn chứa trong mình thế giới tâm hồn phong phú, phong tục tập quán đặc sắc muôn đời không trộn lẫn thì không chỉ có tài năng, dũng cảm mà còn tiềm ẩn sự “trường vốn”, sự gắn bó như định mệnh với người Hmông của tác giả.
Có thể nói Hồn khèn là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ.
Câu chuyện về Hồn Khèn khá đơn giản. Đó là một đôi trai tài, gái sắc gặp nhau, chàng trai lấy hồn khèn làm phương tiện thổ lộ, gửi gắm tâm tình, cô gái lấy hồn khèn làm nơi đón nhận, trú ngụ. Từ Hồn Khèn, trong Hồn Khèn hai người đến với nhau, quấn quýt bên nhau tưởng như không gì trên đời có thể tách rời, trớ trêu thay bố mẹ cô gái tham của thách cưới mâm vàng mâm bạc. Nhưng, là kẻ không tiền không của, để có tiền cưới vợ, chàng trai dấn thân vào con đường làm ăn, phiêu bạt, cô gái bị bố mẹ ép buộc về làm dâu nhà người cam chịu cảnh hồn một nơi người một nơi. Sau bao ngày càng chôn vùi mình vào “dòng sông cuộc đời dữ dội và bạo liệt”, chàng trai tìm về chợ Khau Vai – chợ dành cho những người yêu cũ gặp nhau thì cô gái, sau bao ngày chôn mình vào công việc nhà chồng, chôn mình vào dòng sông nước mắt đã kiệt sức mà về với tổ tiên. Từ một câu chuyện đơn giản, bằng cái tài, cái tâm của mình tác giả Hồn Khèn đã bám chặt vào cốt chuyện, khai thác sâu vào chi tiết, đặc biệt đã thổi vào câu chuyện một hồn thơ tinh tế, làm cho tác phẩm vừa có tính khái quát vừa hấp dẫn, lôi cuốn.
Xin được đi theo hồn khèn, hồn người.
Chậm rãi đi, chậm rãi nghĩ, chậm rãi dãi bày là phong cách của người miền núi. Nữ sĩ Nguyễn Thị Hồng đã khai thác triệt để lợi thế này, dòng tự sự nhuần nhuyễn, có đầu có cuối như con thuyền trôi trên dòng sông đã đưa Hồn Khèn “nhập thế” vào con người, tâm hồn Hmông.
“Ngày ấy/ chiều chiều/ mặt trời sắp đi ngủ sau lưng núi/ giao bản làng lại cho mặt trăng/ ráng chiều/ hằn/ dáng ngựa/ một con ngựa bạch rung bờm/ anh đứng trên đèo/ nắm lấy dây cương…”, “Em/ hạt bắp trắng tròn/ cha mẹ như nương vừa mùa đốt rẫy/ nương nhiều màu gặp mưa xuân tươi tốt/ hạt bắp trắng tròn trổ cây bắp tốt tươi…”… Với lối kể chậm rãi, vừa gần gũi, vừa cách điệu, siêu thực, trình bày có đầu có cuối, ngay từ mở đầu Hồn Khèn đã làm cho người đọc tò mò, háo hức song không thể đọc nhảy quãng, không thể đọc một mạch được. “Anh đi cùng cây khèn trúc/ khèn trúc biết hát lời yêu/ lơ lửng/ đậu trên mặt trăng”, “Anh đi cùng cây khèn trúc/ khèn trúc cùng hơi thở anh/ chui qua khe cửa/ luồn vào chăn em/ vuốt ve da thịt/ Em!”, “Mỗi người chỉ một lần sinh ra/ ba ngày kể như một kiếp sống/ không lấy được em anh ở một mình/ như cây cô đơn trên đỉnh núi…”, lời khèn, lời tỏ tình theo lời khèn lúc thực, lúc hư, lúc thô mộc, lúc bay bổng. Lời khèn bền bỉ như tiếng ong, trong veo như tiếng họa mi, thẳng thắn, dứt khoát như đánh đục vào cột. Lời khèn giống như con suối không đứt đoạn, như nước chảy trên đá cứng, đá cứng phải mòn. Lời khèn cùng sự kiên nhẫn của người khoan nòng súng thủ công của người trai đã làm xiêu lòng cô gái. “Chẳng biết em động lòng vì tiếng khèn nức nở/ Chẳng hiểu em động lòng vì tiếng dế nỉ non/ em hé cửa bên/ một đêm trăng bạc/ em lướt nhẹ nhàng/ đến bên tảng đá/ đêm đêm anh ngồi lõm/ đêm đêm anh ngồi mòn…”. Vâng, có thể bỏ qua được chăng khi giữa núi, giữa rừng, giữa ngày, giữa đêm, thế giới này chỉ có chàng trai, cây khèn và người anh ta yêu. Vạn vật có linh, lời khèn lúc nỉ non, thầm thĩ, dịu dàng như dòng suối, lúc tuôn trào như thác đổ, mưa rừng; người múa khèn lúc mạnh bạo, kiên quyết, lúc thong thả, kiên nhẫn; thong dong, vội vã đan nhau. Qua lời khèn, múa khèn tấm lòng bày ra, hoàn cảnh bày ra, khát vọng bày ra. Sự bày tỏ như dòng nước tràn vào ruộng ải, càng chảy càng ngấm, chảy cho đến khi ruộng no nước, chảy cho đến khi: “Hơi thở ta lồng vào nhau” mà nước vẫn cứ chảy, cứ “vòng quanh như con suối mười hai đọan/ quành về mười hai khúc/ đường anh đi không sót khúc nào/ lại trở về đoạn đầu/ rồi lại đi đủ mười hai khúc/ khúc nào cũng nghĩ về em”. Từ lời khèn, lòng người tình yêu đã đến với họ, khát vọng của họ đã được dịp nổ bùng, cháy rực: “Em như rau rệu gặp mưa/ anh mưa khắp bãi bờ em ngập lụt”, “Mình rơi xuống đáy hồ sâu thẳm/ mặt nước dập dềnh bông hoa trắng/ hoa cùng người chết đuối giữa dòng xanh”, “Em như sợi lanh/ anh quấn quanh mình/ anh đâu em đấy”. Mạnh mẽ, quyết liệt, hết mình, đúng là tính cách Hmông. Tôi dám chắc Đông Tây, Kim Cổ các đôi trai gái yêu nhau đều khao khát được rực cháy như ngọn lửa của chàng trai cô gái trong Hồn Khèn.
Bình thường, với sức nóng của tình yêu, với cháy rực, tỏa sáng như vậy thì cuộc đời có dài như con sào thì họ cũng nắm tay nhau leo từ mút đầu này sang mút đầu khác, cuộc đời có là sợi dây mài thì dẫu có đứt lìa thì ngọn ngọn vẫn trồi lên lấp lối, nếu như! Vâng nếu không có chữ nếu như trớ trêu, tai ác. “Cha mẹ chê anh/ khèn nằm một xó…. Quanh ta vấn vít/ rối mù tơ vương”, “Mẹ cha nhận lễ nhà người/ làm cưới/ mặc em /nước mắt nhiều bằng suối”, “Em đã bước qua cửa nhà người/ Cái chân gà nhà người cào lên lưng em nhận ma/ này chồng, này mẹ, này cha/ bao dây giằng quấn quýt/ cách nào gỡ em ra”…
Không ai gỡ em ra cả.
Chấp nhận, chấp nhận và chấp nhận. Để mưu sinh, để tỏ rõ sức mạnh người Hmông có thể đập đá vá trời. Để không chịu nhục người Hmông có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, song trong vòng vây luật tục người Hmông thường, hoặc phải chấp nhận, hoặc lấy cái chết để giải thoát, vậy người Hmông mới có chợ Khau Vai, có Hội Gầu Tào để cho những người yêu nhau không lấy được nhau có cơ hội giải tỏa những đau khổ, ấm ức. Cô gái trong Hồn Khèn chọn cách chấp nhận. Cô nuốt nước mắt vào trong, nhẫn nhục làm tròn phận sự của mình, bởi trong cô vẫn đinh ninh lời hẹn ước: “Xin em đừng đau khổ/ không làm rẫy sẽ làm ruộng/ không làm vợ sẽ làm người yêu/ đón em từ sớm đến chiều Khau Vai…”. Cô đang như cánh chim giữa bầu trời tự do, như dòng thác tung bọt trắng xóa trên triền núi. Cam phận làm dâu nhà người là cánh chim tự do chui vào lồng; cam phận “hoa thì đậu nhờ cây/ cây cho nở được nở/ cây cho tàn phải tàn/ hoa mong manh giữa chốn đại ngàn” là dòng thác bị hút tụt xuống hang đá như hút tụt vào cái sừng trâu không đáy. Sống trong dòng sông nước mắt ấy mà cây lá ngón ấy không bị mất đi mấy lá, bản làng, gia đình không bị mất đi một con người là còn có nhiều cứu cánh, là vì cô còn có cơ hội gặp lại chàng trai.
“Đời người được mấy giấc mơ /đã tan theo gió, đã mờ theo mây /khát khao hạnh phúc sum vầy /đốt mình cháy hết tàn bay về giời”. Bốn câu lục bát như dấu lặng trên bầu trời giông bão, là hình ảnh, tâm trạng của người trai sức tàn, lực kiệt, “cáo chết ba năm quay đầu về núi”. “Chợ Khau Vai/ anh ngồi gốc cây/ đợi/ Chiều đã ăn mặt người/ Người đã tan chợ rồi”. Người trai trở về nơi hẹn ước, tưởng như Chợ Khau Vai - nơi những mối tình ngang trái mỗi năm được khơi gợi, xới xáo lại một lần, nơi anh sẽ được xoa dịu những mất mát, đau khổ trên đường đời. Nghiệt ngã thay, theo tháng, theo năm, uất ức, bất lực trước vòng vây luật tục, trước nhớ thương mòn mỏi, công việc cực nhọc, lòng cô đã chết từ khi trở thành ma nhà chồng… tất cả hùa nhau đưa người con gái đã sớm về với tổ tiên.
“Người yêu anh đã nằm sâu lòng đá/ Người yêu anh đã nằm sâu lòng đất”. Người trai đau đớn ngửa mặt tru lên như con sói bị thương. Người ta nói lời khấn khứa càng nhắc đi nhắc lại càng thiêng! Người ta nói “sầu đong càng lắc càng đầy”, còn anh: “Lời người/ dao đâm/ anh/ ròng ròng/ máu chảy/ Em!/ anh còn biết trốn đi đâu/ dưới gầm trời với nỗi đau thế này!”. ” “bây giờ/ buồng gan em đã nát dưới đất/ bây giờ/ buồng gan em đã nát dưới đá/ anh không được rót rượu gọi hồn em lối lại/ anh không được mổ gà tiễn hồn em lối đi/ Làm sao em biết đi về cùng anh”… Cô đơn đến tột cùng, ngơ ngác đến tột cùng, đau khổ đến tột cùng. Con đường mười ba ngả, một trăm ngả, song ngả nào cũng chẳng còn em. Còn hơn thế nữa, mất em lòng anh thành bãi tha ma, lối đi, rừng núi cũng thành bãi tha ma “ngả nào cũng chẳng còn nhau/ lòng hoang lối cũng một màu hoang vu/ đã đành kiếp sống phù du/ vẫn mơ có kiếp đền bù cho nhau…”, “khèn anh tha thiết/ nỉ non nơi em ngủ/ nỉ non nơi em nằm/ hết ngày lại đêm/ anh quên cuộc sống/ anh thành cây trúc/ thĩ thầm lời yêu…”… . Đau đớn, cay đắng, song không tuyệt vọng, vẫn mơ một kiếp đền bù cho nhau, đó mới là “mình vì người”, đó mới là yêu hết mình, chết rồi vẫn chưa hết yêu. Thông thường với những nam nhi đại trượng phu dường như nước mắt không dành cho tình yêu. Khi thất tình trong lòng có nhão ra như đất bột ngấm nước thì bề ngoài đấng trượng phu vẫn cương lên cứng như mai rùa, vẩy tê tê. Chàng trai trong Hồn khèn khác, anh ta sẵn sàng nức nở, sẵn lòng tỏ cho hồn người tình, cho những người xung quanh biết sự đau khổ của mình, sự đau khổ ấy có được chia sẻ hay không không cần biết. Vậy đây là dũng cảm chân thật hay mềm yếu, không biết cương lên dũng cảm hơn hay bày tỏ dũng cảm hơn.
Một yếu tố xuyên suốt làm nên sức sống của Hồn khèn là gần gũi với dân gian, lấy dân gian làm nền tảng. Dân ca Hmông chia làm năm tiếng hát, đó là tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), tiếng hát cưới xin (gầu xống), tiếng hát làm dâu (gầu ua nhéng), tiếng hát mồ côi (gầu tú giua), tiếng hát cúng ma (gầu tùa) thì Hồn Khèn khai thác sâu cả trong năm tiếng hát. Những lợi thế về hình ảnh, hình tượng, đặc biệt là những từ láy đi láy lại của dân ca được phát triển, biểu cảm phù hợp với tâm trạng, sự việc diễn ra trong trường ca đã tạo nên ấn tượng sâu đậm mà cả người trong cuộc lẫn người ngoài cuộc không thể lướt qua. Đó là hai phần ba Hồn Khèn xoáy vào sự thương thân trách phận. Không cãi lại đấng sinh thành, chấp nhận hoàn cảnh, không oán thán, căm giận ai, không có tạ tội, bởi có ai có tội ở đây, không có cái đau ngoài mình mà chỉ có cái đau trong mình xoi xói, nhoi nhói từ trong ra, như nhọt bọc, như thối tim, thối gan. “Không bước cùng anh, em phải bước cùng người/ cây đùm đũm đỡ quả đùm đũm/ em bước cùng người đỡ chùm con em…”, “Nỗi đau dày như cây/ lấp lối/ anh biết đi ngả nào”, và rồi “Em yêu ơi/ nỗi đau dày như cây/ lấp lối/ anh biết đi ngả nào”. .. Trong luân lý nhà Phật, trong giáo lý đạo Thiên Chúa, trong đạo lý của đạo giáo, Sa man giáo… luân lý nào cũng coi cuộc sống hiện hữu nơi trần gian là tạm bợ, là thử thách, cuộc sống vĩnh hằng mà con người hướng tới là đất của Chúa, là bồng lai tiên cảnh, là vương cung thánh đường…, song gì thì gì, trong cuộc sống tạm bợ nơi trần thế ai cũng mong ước, cũng vươn tới là sung sướng, giàu có, quyền lực, hạnh phúc, còn khổ ải ư! Khi còn là con trẻ ai mà không thạo trò thả đỉa ba ba, rơi vào ai nấy chịu, cam chịu cũng từ đây, tồn tại cũng từ đây.
Hồn Khèn được kết cấu trình tự, bài bản. Đó là thế mạnh song cũng là lực cản sáng tạo, bởi cốt lõi của thơ là hồn, là gợi, là có cái để cho người ta ngẫm nghĩ. Hồn Khèn vượt qua lực cản này bằng chữ hoạt, ý tứ trùng điệp, hình ảnh, hình tượng khắc sâu. Các nhịp thơ, khổ thơ trong Hồn Khèn biến đổi theo tâm trạng, sự kiện, câu một chữ, câu hai chữ, mười, mười lăm chữ; khổ hai câu, khổ ba câu, khổ hai mươi, hai mốt câu; các kết đoạn, trường đoạn bằng thơ lục bát nhẹ nhàng, tình cảm, như dấu nối hòa quyện giữa hai bản sắc văn hóa Kinh – Hmông đã làm cho trường ca tựa như dòng suối chảy giữa đại ngàn, lúc hiền hòa uốn lượn, lúc tung bọt trắng xóa, gầm gào thác lũ. Trong Hồn Khèn những câu thơ có tính khái quát, có hình ảnh xuyên thẳng vào việc cần phải giãi bày như: “Núi Cô Tiên vẫn tròn trịa, trinh nguyên/ mà em, con đã bằng cây sào/ mà em, con đã bằng cây nêu/ Anh cũng như cây đã cội”, “Em không còn là hạt bắp mẩy tròn/ em là quả mận nhăn nếp vỏ/ quả mận khô trên cây” không phải là hiếm. Những câu thơ tài hoa, mang đậm dấu ấn cá nhân như “Bờ xanh em không được nối bờ anh/Đã tan thành dòng sông nước mắt”, “Ngày lại tiếp đêm/ vù qua như chim sẻ/ một mùa đã đầy trước cửa/ một mùa đã đầy trước thềm”, “cái việc đỡ đần cái buồn” , “giọt nước xanh biến mất trước dòng đời cuồn cuộn xoáy”… vừa làm bật lên được tâm trạng của nhân vật, vừa diễn tả được không gian, thời gian, sự việc.
Mạnh mẽ và tinh tế, đó là tính cách, tâm hồn Hmông, cũng là hồn vía của trường ca Hồn Khèn. Mặc dù còn có những câu thơ dễ dãi, đưa những từ hiện đại, khó ăn nhập với bức tranh toàn cảnh song với 871 câu thơ Hồn Khèn thực sự là một bản trường ca đầy ấn tượng, xứng đáng để bạn đọc lưu tâm, thưởng thức.
Lao Cai – Đầu đông 2009
Đ.H.N


Phần nhận xét hiển thị trên trang