18.
Cuối cùng tôi cũng về đến nơi.
Thị xã bấy lâu tôi trú ngụ nhiều thay đổi đến không ngờ. Những
cửa tiệm, cửa hàng tư nhân hầu hết đóng cửa.
Thi thoảng chỉ còn một hai hàng nước chè năm xu, bán mấy quả
chuối, vài “cối” thuốc lá quấn. Đây là những hộ gia đình chính sách được ưu
tiên. Một là thương binh, gia đình liệt sĩ, hai là cô đơn quả phụ, hay người
tàn tật.
Tất thảy mọi sự mua bán bây giờ đều do nhà nước quản lý, có sự
giám sát gắt gao của ban quản lý thị trường.
Cả vùng thị xã, duy nhất có hai nơi bán hàng ăn, uống. Một là ở
bến xe, hai là bến phà phía đầu thị xã trên kia. Tất tật đều phải dùng đến tem
phiếu theo tiêu chuẩn nhà nước, không phải ai cũng được cấp phát và chỉ có giới
hạn.
Hàng bách hóa bán công nghệ phẩm sơ sài tập trung duy nhất một
cửa hàng bách hóa trung tâm.
Chợ Tam Cờ vắng vẻ đến nỗi bọn trẻ con đá bóng được trong chợ
không vị vướng người, không bị rầy la.
Những dẫy hàng trước đây vương vãi đầy lá khô, rác rưởi.
Không biết bác bá tôi giờ dọn hàng về đâu?
Khi về đến nhà tôi mới biết cả hai người đã lên huyện trên mượn
đất của đồng bào “áo dài” để làm nương, sau hôm tôi về xuôi được ít ngày.
Thị xã của tôi, “thủ đô kháng chiến”, “thủ đô gió ngàn” như sau
này các nhà thơ hay ca ngợi được chọn làm nơi thí điểm cải tạo công thương
nghiệp. Chấm dứt giai đoạn kinh tế tư nhân tự phát, lạc hậu, có nguy cơ theo
con đường tư bản chủ nghĩa, “bỏ qua giai đoạn quá độ, tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội”.
Cửa hàng nào cũng từng đoàn người xếp hàng rồng rắn từ sớm tới
chiều không lúc nào dứt. Nhân viên phục vụ mặt đằng đằng, nghiêm nghị, luôn
muốn thể hiện vai trò làm chủ xã hội, vai trò quan trọng của mình. Họ la lối,
mắng mỏ khách như kẻ ăn, kẻ ở, không phải con người bình thường.
Chen mua được cái bánh bao bằng thứ bột mì đen dính đầy các con
mọt hôi rình, cái bánh xốp bột ngô khô khồng khộc, hay cốc sữa đậu nành lõng
bõng là một kỳ công! Người nào người nấy mồ hôi mồ kê nhễ nhõa, áo ướt đẫm như
dính phải nước mưa.
Thỉnh thoảng một cô chú “lỏi tì”đen nhẻm, tay chân như vừa lau lỗ
cống xong, ít hơn tôi vài tuổi, mắt trước mắt sau, rớn rác như chó ăn vụng bột,
lén lút dí vào tay mời người ta mua vé ăn do chúng bằng cách nào đó “phe” được!
“Phe”, là chữ dùng không chỉ phe XHCN, hay TBCN, mà là “phe phảy”
chỉ một hiện tượng xã hội mới mẻ, chưa từng có ở bất cứ thời kỳ xã hội nào
trước đây. Một kiểu buôn bán lậu, cò con, trái phép kéo dài khá lâu, mãi tới
hết thời kỳ “bao cấp”sau này. Thời kỳ mà con người luôn có sự buồn bã, lo lắng
những thứ nhỏ mọn, vụn vặt không đâu, không đáng có cho cuộc sống hàng ngày.
Cho dù tôi có là người lơ đãng, thờ ơ hay quá chú ý về bản thân
mình tới đâu thì khung cảnh trước mắt vẫn đập vào mắt tôi, không thể không chú
ý.
Hơn nữa bụng tôi đang đói. Hàng phố đã lên đèn, chưa chắc tôi về
kịp nhà bác bá bữa cơm chiều.
Bác bá đâu có biết tôi ngược trở lên để phần cơm?
Tôi vào một hàng ăn vừa mới được dựng lên trên bãi đất trống gần
bến xe khách xuôi Hà Nội.
Nhà hàng mái lá cọ mới lợp chưa kịp héo, phên nứa vẫn còn tươi
tương đối đông khách. Dân thường, bộ đội đàn ông, đàn bà từng tốp ba lô túi
xách đứng chầu chực bên ngoài. Có người chờ chực ở đây đã mấy ngày vẫn chưa mua
được vé xe về Hà Nội hoặc đi đâu đó phía đằng xuôi đồng bằng, hay ngược lên
vùng núi cao các tỉnh phía bắc.
Có thể ban đêm, vỉa hè nhà ăn này cũng là chỗ ngủ qua đêmcủa họ
vì chưa có nhà trọ ở bến xe này. Tôi nhìn thấy những mảnh chiếu rải quanh những
gốc cây gần đó chứng tỏ điều đó. Còn đến bữa tất nhiên người ta dùng cho xong
việc. Khẩu phần là những thứ mua được từ trong cửa hàng.
Một hai người thì thầm mua bán với nhau những cái tem nho nhỏ,
lớn hơn cái tem thư một chút. Đó là những cái tem lương thực có mệnh giá “hai
tram hai lăm gam”. Cũng là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy tem đường, tem
sữa, tem thịt, đậu phụ.. hình thù như thế nào.
Tôi chưa biết rằng nền “văn hóa tem phiếu” đang thịnh hành khắp
nơi, trên nửa đất nước yêu quý của mình.
Những ngày qua tôi như sống trong giấc mơ đáng sợ, tôi chưa có
thời gian, điều kiện để cảm nhận nó đang phát triển, lớn lên từng ngày.
Một cô bé có đôi mắt tròn đen láy, tóc tai bù xù, đi chân đất
xuất hiện trước mặt tôi. Có lẽ cô chạc tuổi tôi hay ít hơn một chút. Cô nhìn
tôi từ đầu đến chân như thể đo đạc dò xét. Đánh bạo hỏi:
- Anh giai cần gì?
Tôi suýt nữa bật cười! Từ bé đến giờ chưa có ai gọi tôi “anh
giai” như thế. Nghe vừa có vẻ giễu nhạo lại vừa ân cần, thân thiết.
Tôi bảo:
- Tôi không cần gì cả!
- Tưởng “anh giai” cần cơm đây để lại cho?
- Giá cả thế nào?
- Thì giá nhà nước, bọn em chỉ tý hỏa hồng thêm thôi!
Cô đưa tôi tờ phiếu màu rơm xỉn ghi giá một đồng. Tôi lục túi chỉ
còn đúng hai đồng bạc. Đây là số tiền còn lại, bà cụ Chước bảo là của mẹ tôi để
lại, trao cho tôi. Tôi đưa cho cô một đồng. Cái vẻ thân thiện của cô mắt đen
lập tức biến mất:
- Sao lại một đồng?
- Tôi tưởng giá vé như thế nên mới đưa như thế cho cô?
- Vơ vẩn, Tưởng bên Đài Loan chứ đâu ở đây? Thế còn tem phiếu
không định trả tôi à?
Tôi nói mình không biết. Cô đòi thêm năm hào nữa, nói là tiền tem
gạo. Lỡ rồi. Tôi đưa nốt cho cô cho xong việc rồi bước vào hàng ăn.
Tôi ngồi vào một bàn ăn nhớp nháp xếp đầy bát đĩa khách ăn xong
chưa kịp dọn, chờ người ta mang đến. Một bác “sơn tràng” có con dao dựa thò lên
từ túi ba lô lộn ngồi gần đó bảo:
- Phải vào trong kia xếp hàng mà lấy, ngồi đây có đến rằm tây đen
cũng chẳng có ai mang ra đâu!
Tôi nhìn nét mặt, biết ông ấy nói thực, vội mang cái vé ăn ấy vào,
rồng rắn đợi đến lượt lấy được xuất ăn của mình.
Đó là xuất cơm đơm lên cái đĩa men sứt to tướng, có hai miếng đậu
phụ và ít rau muống sào phủ lên trên.
Cái bụng khốn nạn của tôi chả coi bữa ăn ấy ra gì. Ăn vào rồi mà
mồm miệng vẫn thòm thèm như không!
Có lẽ đáp ứng được với nó, cần thêm hai đĩa như thế nữa mới ổn. Nhưng
tôi bây giờ lấy đâu ra “xiền”?
( Còn nữa..)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét