Ngày đến làng tôi ông Tú Ất có cái la bàn bỏ túi. Khi bố tôi đưa gia đình đi tản cư ông tặng bố tôi, vừa làm kỷ niệm, vừa lấy cái xác định phương hướng đi đường. Nó nhỉnh hơn chiếc đồng hồ quả quýt, có nắp mở ra, gập lại. lại có sơi dây xích nhỏ bằng đồng để móc vào miệng túi khá dài. Khi bố tôi trở lại quê nhà, ông đưa nó cho tôi. Trừ những lúc đi ngủ hay tắm sông tôi mới tháo ra, còn thì suốt ngày đeo vào cổ, như trọng tài đeo cái còi.
Không ngờ lần ra đi này cái la bàn phát huy tác dụng. Nó bớt cho
tôi những quãng đường quanh không cần thiết. Tôi cứ nhằm hướng bắc mà đi. Chỗ
nào men được theo sông thì men, chỗ nào bờ sông không có lối lại xem la bàn. Có
chỗ thuận theo đường. Chỗ tắt qua bãi mía, nương dâu. Chỗ vượt qua con ngòi nhỏ
hay những vũng nước đọng không quá sâu.
Bạn đường của tôi là những đám mây trời, tôi cứ nương theo nó mà
hưởng trọn bóng mát ít ỏi ngày cuối mùa hạ.
Nắng lửa héo cả tán lá bên đường, nung nóng những hố nước bỏng
giãy có thể làm lông gà lông vịt.
Làng quê Việt Nam đâu đâu cũng hao hao giống nhau. Cũng lũy tre
xanh gầy guộc thấp thoáng bóng cò. Những đường làng ngõ xóm quanh co, những bờ
ao nhơ nhác lũ trẻ gầy mòn. Những bà mẹ già, nét mặt nhăn nhúm, mắt mờ đứng đợi
con bên cửa, kiên trì năm này qua năm khác. Những ngôi đình trên tường kẻ vô số
khẩu hiệu nét chữ nguệch ngoạc, nhiều chỗ sai lỗi chính tả, văn phong thật buồn
cười. Có chỗ người nào đó biến thể nó ra những câu ca dao để dễ nhớ, dễ đi vào
lòng người, kiểu môn phái của cụ Bút tre thời sau này. Đại loại “ Anh Lanh ơi
hỡi anh lanh, anh về phân bắc phân xanh đầy chuồng”. Hay “ Trên trời con khi
chơi đu, thằng Ngô Đình Diệm bú cu..”
Bắt đầu một thời kỳ văn hóa khẩu hiệu đi vào lịch sử quốc gia.
Một quốc gia theo lời ông Tú Ất ngày xưa có tên gọi Việt Thường,
khởi phát từ Động Đình Hồ, tỉnh Hồ Nam kéo dài qua Quảng Đông, Quảng Tây, Đảo
Hải Nam và từ Quảng Bình trở ra hết miền bắc Việt nam thời bây giờ.
Quốc gia ấy cứ bị thu hẹp dần bởi sự xâm lấn của người phương
bắc. Hết nhà Sở đến nhà Ngô rồi nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh sau này..
Người ta cứ hay nhầm lẫn
hai chữ “Giao Chỉ” bởi âm mưu của ngoại bang giải thích rằng đó là vùng đất tộc
người có hai ngón chân cái giao vào với nhau. Kỳ thực không phải như vậy. Nhưng
lúc bấy giờ tôi chỉ phân vân thế thôi, chứ chưa có tài liệu nào để tham khảo về
việc này. Gân đây tôi mới được đọc một bài viết của một tác giả chỉ biết tên,
chưa biết mặt. Tôi thấy anh ta có lý, khi viết rằng:
( Địa danh Nam Giao góp
phần sinh ra khái niệm Giao Chỉ Nam Giao sẽ đẻ ra khái niệm Giao Chỉ. Thật
vậy, Giao Chỉ với chữ Chỉ có bộ phụ mang nghĩa là vùng đất, khu vực. Giao Chỉ
là vùng đất tiếp giáp, vùng biên cương vương triều ở về phía nam của địa danh
Nam Giao. Chữ Chỉ ngoài bộ phụ, còn có một chữ Chỉ nữa đồng âm như bộ Túc
(bàn chân). Sự nhầm lẫn giữa hai chữ Chỉ này góp phần khiến cho nhiều sử gia từ
Đông Hán trở về sau có rất nhiều cách giải nghĩa Giao Chỉ. Trần Thư, một bộ sử
do Diêu Tư Liêm viết năm 636 đã lần đầu tiên ghi thêm một chữ Chỉ nữa với bộ Thổ
(đất) trong từ Giao Chỉ. Cổ văn Trung Hoa có qui tắc "đồng âm thông
giả", tức những chữ đồng âm đều có thể mượn và sử dụng lẫn lộn. Khi tìm
nghĩa một chữ phải vận dụng ngữ cảnh đang xét chứ không thể máy móc giữ nghĩa
chết của chữ ấy trong những tài liệu khác ít liên hệ. ( Trương Thái Du ).
Nước nhà từ nay độc
lập, nhưng lịch sử còn bao nhiêu điều mơ hồ, căn nguyên là từ những can qua.
Nhân tài bị diệt, sách vở bị đốt hết. Sử vẫn là sử mang nhiều nét huyền thoại,
thiếu sót.
Tôi vừa đi vừa suy
nghĩ miên man như thế, quên cả hoàn cảnh thực tại của bản thân mình.
Tự nhiên thấy thương
thương điều gì đấy mơ hồ chưa rõ nghĩa. Hóa ra tôi là phần hậu duệ, tinh hoa
của quốc gia vĩ đại ấy còn sót lại? Một
lãnh thổ rộng lớn giống như trong chuyện “Miếng da lừa” của Ban zắc, sau mỗi
điều ước lại thu hẹp dần lại?
Cho đến bây giờ còn
dải đất chật hẹp này, chênh vênh trên bờ biển đông. Không rõ bây giờ và sau này
nữa, còn bao người phải vượt biển ra đi vì bị dồn đến bước cùng đường? Một số
phận vừa điêu linh, vừa kiên cường, hào dũng của bao thế hệ sinh ra trước cuộc
đời tôi?
Đến đồi Cây Me thì
trời xập tối. Chỗ này ngang với khúc sông đêm nào nhà tôi ghé lại hồi tản cư.
Nơi ấy có người đàn bà ngồi khóc bên chiếc quan tài của chồng vì chưa nhờ được
người mai táng cho người xấu số mồ yên, mả đẹp. Bố tôi phải dừng thuyền vào
làng tìm người giúp người ta. Đã gần mười năm trời, sao hình ảnh ấy cứ khắc sâu
vào trong trí nhớ của tôi?
( Còn nữa..)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét