Tháng Chạp năm
1997
Chương mở đầu
Từ
gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ
nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong
nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót
sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ
làm bằng quần áo cũ.
Trên
các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau - chân dung
« Chủ tịch vĩnh cửu » Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai
nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ,
có nguy cơ bị tử hình.
Trời
tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả
lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp.
Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt.
Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết
lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi.
***
Tôi
đã quyết định như thế trên đường trở về nhà. Đó là lần thứ ba tôi đi tìm mẹ và
chị Keumsun. Cả hai đã đi Rajin-Sonbong, thành phố lớn bên cạnh làng tôi từ sáu
ngày trước để tìm thức ăn, vì chúng tôi chẳng còn gì để ăn ở Eundeok cả. Lấy
hết can đảm, tôi băng qua chiếc cầu bắc qua sông, rồi men theo đại lộ chính đến
bến xe.
Khách
bộ hành rất hiếm hoi trên hè phố, nhưng tôi nhìn chăm chăm vào khuôn mặt tất cả
những người đi ngang qua, sợ lỡ không trông thấy mẹ nếu bà quay về theo hướng
ngược lại. Phía bên trái, tôi nhận ra cửa hàng bán mì mà tôi ưa thích biết bao,
hồi trước ba tôi thỉnh thoảng có dẫn tôi đi ăn vào dịp lễ. Đằng xa là tiệm chụp
hình mà chúng tôi đã từng đến chụp những tấm ảnh kỷ niệm gia đình.
Ở bến xe, người ta để
cho tôi được gia nhập vào đám đông đang chen chúc phía sau một chiếc xe tải
được sử dụng làm xe đò chạy tuyến Rajin-Sonbong, cách đó một giờ xe chạy. Tôi
không phải trả tiền, có lẽ vì là con nít.
Trong
suốt cuộc hành trình, tôi không ngừng hồi hộp quan sát những chiếc xe hơi và xe
tải đang lưu thông trên đường để tìm ra khuôn mặt mẹ. Nhưng đến trạm cuối, tôi
chỉ còn trơ lại một mình, đối diện với một hàng rào lính tráng. Trước mặt tôi,
là những hàng rào kẽm gai có phóng điện bảo vệ lối vào Rajin- Sonbong.
Phải
có giấy phép đặc biệt mới được vào trong thành phố. Thế nên tôi đành phải rình
rập ở đó cả tiếng đồng hồ, canh chừng những bóng người đi ra, với niềm hy vọng
và tâm trạng khủng hoảng. Không thấy cả mẹ lẫn chị Keumsun ra khỏi khu rào
chắn. Thất vọng, tôi quyết định trở về nhà vì trời đã sập tối.
Lần
này thì tôi chắc chắn rằng mẹ và chị không bao giờ trở về nữa. Chắc là có
chuyện gì xảy ra rồi, hoặc là cả hai đã bỏ rơi tôi. Trái tim thắt lại, đầy cay
đắng, tôi thầm trách mẹ. Lúc đi mẹ bảo là mẹ sẽ mang đồ ăn về « trong hai
hoặc ba ngày nữa ». Và mẹ để lại cho tôi 15 won để sống tạm qua ngày. Cả
một gia tài đối với tôi !
Thoạt
đầu tôi rất phấn khích vì chưa bao giờ có nhiều tiền như thế. Đôi mắt tôi sáng
rỡ. Một mình, y như người lớn, tôi hãnh diện đi đến jangmadang, ngôi chợ nằm gần
bên sông. Tôi mua một miếng đậu hũ, rồi quay về căn hộ bé tí chỉ có một phòng
của chúng tôi ở tầng một. Tôi thưởng thức từng muỗng nhỏ cái khối trắng mềm mại
ấy, chia thành nhiều suất để có thể duy trì được đến khi mẹ trở về. Ngon ơi là
ngon, tôi rất thích ăn đậu hũ !
Trong
suốt hai ngày tôi ở nhà, quan sát những người qua lại thông qua khung cửa sổ
nhìn ra đường. Từ khi ba mất hôm 11/11, nghĩa là cách đây vài tuần, hai chị em
tôi đã nghỉ học do quá bận đi đào bới rễ củ và kiếm củi trên núi để kiếm sống.
Hơn nữa nếu trở lại trường thì rất xấu hổ vì chúng tôi không còn thứ quần áo
nào ra hồn. Tất cả đều đã bán hết rồi, nay chị em tôi phủ lên người những miếng
giẻ rách tả tơi. Ra đường tôi rất sợ gặp phải bạn học cùng lớp.
Sau
bốn mươi tám tiếng đồng hồ, cái đói bắt đầu giày vò tôi, và cả nỗi sợ hãi bị bỏ
rơi. Từ khi nhấm nháp hết miếng đậu hũ, tôi chẳng còn gì để cầm hơi nữa. Mẹ thì
vẫn chưa về ! Tôi nằm trên sàn nhà, nhắm mắt và nhẩm đếm trong đầu :
chắc chắn là mẹ sẽ xuất hiện khi tôi đếm đến mười. Nhưng chẳng có gì thay đổi
cả. Tôi bèn đếm từ 10 ngược trở lại 1. Cũng không hơn gì.
Rồi
tôi tập nhịn đói cho qua bữa. Trên nền balcon, tôi tìm được mấy chiếc lá củ cải
đầy bụi hồi đó chúng tôi mang phơi còn sót lại. Tôi nhặt vài chiếc ít bị héo
nhất đem nấu lên thành món canh. Trong hai ngày, tôi sống sót với loại canh vô
vị này…
Thêm
hai ngày nữa trôi qua, tôi không còn có gì để cho vào miệng nữa, thậm chí tôi
chẳng còn đủ sức lực để đi ra ngoài ăn xin hay ăn cắp…Cơ thể tôi quen dần với
cái đói đang hành hạ, nhưng tôi bị kiệt lực. Chỉ còn lại trong tôi một sự mệt
mỏi ngày càng thêm nặng nề. Tôi cố ngủ, người yếu như sên, có cảm giác như sàn
nhà sẽ nuốt chửng tôi. Thật kỳ lạ, tôi cảm thấy như đang bị hút vào tâm trái
đất vậy !
Bỗng
chốc tôi hiểu rằng mình sẽ chết. Lúc mẹ và chị tôi trở về, có khi là đã quá
trễ. Thế là hết. Từ khi nạn đói bắt đầu, tôi đã quen với cái ý nghĩ là chắc tôi
không qua khỏi, cho đến nỗi tôi không còn sợ chết nữa. Tuy vậy tôi tự nhủ, tôi
không thể ra đi như thế mà không để lại dấu vết gì…Tôi bỗng nảy ra quyết định
soạn thảo di chúc. Tôi muốn mẹ biết được những gì tôi đã trải qua, biết rằng
tôi đã đợi mẹ, đã làm mọi cách để đi tìm mẹ. Và nhất là tôi cảm thấy mình bị bỏ
rơi.
Trong
ngăn kéo của chiếc bàn thấp, tôi tìm được một cuốn sổ nhỏ bằng giấy tốt và một
cây bút chì, trong số những món đồ hiếm hoi còn chưa bị bán đi. Ngồi xổm trong
bóng tối mờ mờ, tôi bắt đầu viết. Tôi kể lại nỗi gian truân của tôi, về ba
chuyến đi tìm mẹ tận thành phố lớn, về sự tuyệt vọng. Tôi nắm chặt cây bút chì,
viết đầy cả trang giấy.
(…) « Mẹ ơi, con đợi mẹ. Con chờ đợi đã sáu ngày trời
rồi. Con cảm thấy con sắp chết. Tại sao mẹ không về với con ? »
Tôi
khóc nức nở, nằm vật xuống trong cái bóng tối đang dần dần phủ dày lên người.
Bỗng dưng tôi nghe có những tiếng động trên cầu thang, trái tim tôi đập loạn cả
lên. Nhưng không, đó chỉ là những người hàng xóm trở về nhà họ…
Tôi
đặt bản thảo lên một vị trí dễ thấy trên bàn. Rồi với gương mặt đẫm lệ, tôi nằm
dài ra và nhắm mắt lại, tin chắc rằng mình sẽ chẳng bao giờ thức dậy nữa.
Chương 1 : Viết,
như một chứng nhân
Tháng Ba 2011. Những cánh cửa tự động sập lại, đoàn
tàu chuyển động, và đường ke chờ tàu lướt qua trước khi tôi bị nuốt chửng vào
miệng hầm tối đen. Tôi dán người vào cửa kính, thấy lòng trống vắng. Những
luồng sáng thoảng qua trên vách tối - một chiếc kính vạn hoa dạng quảng cáo,
chiếu lên một câu khẩu hiệu mà tôi không đọc nổi. Tất cả đều diễn ra quá nhanh
tại Seoul , ngay
cả trong métro.
Tôi 25 tuổi, tên tôi
là Eunsun.
Trông tôi cũng giống
như các nữ sinh viên khác, và nhờ vóc dáng nhỏ nhắn, không ai nhận ra là tôi
già hơn các bạn học. Chừng 40 phút nữa, tôi sẽ đến trường đại học Sogang, một
trong các trường đại học nổi tiếng nhất của Hàn Quốc. Trường tôi trông không ấn
tượng bằng trường Korea University hay Yonsei danh giá, nhưng tôi cảm thấy
thoải mái như ở nhà mình với những dấu mốc quen thuộc, với các bạn bè tôi đã có
được.
Thời khóa biểu trong
ngày đã được định sẵn. Tôi sẽ ôn thi trong thư viện, với chiếc máy tính xách
tay Samsung hai màu đỏ trắng, và đôi khi bấm nghịch chiếc iPhone có vỏ bao màu
tím, để tìm ra các bạn bè đang ngồi ở quán cà phê Starbuck trong trường. Tôi
thích uống caffe latte, vì
đối với tôi thì cà phê expresso quá đắng. Rồi tôi quay lại thư viện, cố không
ngủ gục trên chồng sách.
Tôi học ngành ngôn ngữ
và văn minh Trung Hoa, bạn đọc sẽ hiểu lý do ở những chương sau. Tại Hàn Quốc,
phải ganh đua rất dữ dội để có được điểm cao, nhưng tôi cố gắng tối đa. Rất ít
bạn cùng lớp biết được rằng tôi không được đến trường trong nhiều năm trời, nên
tôi phải phấn đấu để rút ngắn lại sự chậm trễ của mình.
Tôi thích học hành,
nhất là vào học kỳ đầu tiên, khi các giảng viên đều mới mẻ và nhiệt tình nên
học hỏi được rất nhiều thứ. Khoảng 10 giờ tối, tôi trở về căn hộ nhỏ nằm lạc
loài trong trung tâm đô thị lớn, gặp lại chị Keumsum và mẹ.
***
Tất nhiên là ở đây đôi
khi bị kẹt xe nhiều tiếng đồng hồ dưới cơn mưa dầm tháng Bảy, và tiền thuê nhà
hết sức đắt đỏ. Nhưng cuộc sống thì thú vị biết bao, thực tiễn biết bao, và
trôi đi rất nhanh. Internet tốc độ cao có mặt ở khắp nơi. Mỗi góc phố, ngày
cũng như đêm, đều có nơi giải trí. Tại khu phố sinh viên Sinchon, buổi tối tôi
thường đi với bạn bè uống Maekju, một loại bia nội địa, trong những quán bar
không đóng cửa bao giờ. Chúng tôi thưởng thức mực khô và choukoumi, ngon kinh khủng, có
thể nuốt chửng cả miếng.
Nhưng các bạn không
chịu tin lời tôi là các loại hải sản ở Bắc Triều Tiên ngon hơn, tuy điều đó là
sự thật. Họ không hiểu tôi, vì tôi đến từ một thế giới khác. Và cái thế giới
đó, họ thậm chí còn không thể tưởng tượng ra được.
Toa tàu lao với tốc độ
nhanh làm rung chuyển dưới chân. Xung quanh tôi, các ajuma có mái tóc xoăn đang đọc những truyện
dài nhiều kỳ, qua điện thoại di động có ăng-ten đã được gập lại. Ở đây, người
ta gọi các bà nội trợ là ajuma. Vịn tay vào các thanh kim loại, các nữ
sinh viên đi những đôi giày gót nhọn lơ đãng thả hồn theo nhạc, chiếc iPod đeo
bên tai. Số khác chuốt lại mascara trên mi, rút ra những chiếc gương bỏ túi.
Các cô làm ngơ trước người bán rong dĩa CD đang cố bán bộ sưu tập đĩa Frank
Sinatra cho ông cụ trong toa, nhờ những thùng loa gắn trên bánh xe. Các ga tàu
mênh mông lần lượt diễu qua một cách máy móc.
***
Métro Hàn Quốc làm cho
tôi mơ mộng. Chìm vào kỷ niệm, tôi nhớ lại những nhà ga ở Bình Nhưỡng mà tôi đã
được ba dẫn đến, cách đây lâu lắm rồi. Các nhà ga này sang trọng tuyệt vời, với
những chùm đèn màu tím như trong phim. Ánh đèn néon nhợt nhạt ở đây không thể
sánh kịp.
Tôi nhớ mãi chuyến đi
đến thủ đô Bình Nhưỡng. Hồi đó tôi lên chín tuổi, đi với ba và chị Keumsun, còn
mẹ muốn ở lại coi nhà. Chuyến đi thật là tuyệt, cho dù chúng tôi chả có gì để
ăn. Không thấy có nhà chọc trời ở đó, nhưng chúng tôi nhìn thấy một khách sạn
đang được xây dựng mà đã cao đến 150 mét. Trên đỉnh công trình này, máy móc và
con người chao động, có vẻ bé nhỏ như những con kiến !
***
Chỉ còn ba trạm nữa là
đến trường, tim tôi đập nhanh với bản hợp âm của toa tàu. Tốc độ này làm cho
lòng tôi dậy sóng, nó nhắc nhở rằng tôi đến từ một hành tinh khác. Ở đó, phải mất hai ngày dài vô tận trên tàu hỏa để
đến được Chongjin, nơi ông bà tôi cư ngụ, chỉ cách thành phố nhỏ Eundeok của
tôi có 95 cây số. Một chuyến đi vắt cạn sức lực trong thời tiết giá lạnh ;
chen chúc nhau như những con vật, chúng tôi tiểu tiện vào những hộp sắt vì sợ
mất chỗ.
Cùng một khoảng cách
đó, tại Hàn Quốc tôi chỉ mất không đầy 20 phút, trên một chuyến tàu cao tốc
tiện nghi. Ở Bắc Triều Tiên, chỉ có thủ đô mới được hưởng những tiện nghi hiện
đại, như là trạm métro ở Bình Nhưỡng đã làm tôi lóa mắt.
Tôi hồi tưởng lại về
tất cả những người tôi đã bỏ lại sau lưng, không có bất cứ tin tức gì kể từ
ngày tôi trốn khỏi đất nước để tìm phương sống sót. Lúc đó tôi 11 tuổi, bụng
trống rỗng, nhà cửa không còn. Các cô dì, chú bác, các bạn học cùng trường lớp
của tôi có sống sót qua trận đói đó hay không ?
Trong toa tàu, một
hành khách liếc nhìn tôi, như thể tôi là người ngoại quốc…Trong khi tôi đã làm
mọi cách để trông giống như một thiếu nữ Hàn Quốc, với đôi giày cao gót, chiếc
váy ngắn và áo blouson bó sát. Thực ra tôi sinh ngày 15 tháng 8 năm 1986 tại
Eundeok, thành phố công nghiệp nhỏ bé thuộc tỉnh Hamgyong ở miền Bắc. Sau cuộc
hành trình đầy sóng gió kéo dài 9 năm xuyên qua Trung Quốc và Mông Cổ, tôi đã
thành công trong việc tìm được tự do. Tại Seoul, tôi có được hộ chiếu, không
còn là một người không giấy tờ sống lén lút nữa, và bắt đầu một cuộc sống mới.
Tuy vậy, những kỷ niệm
thường xuyên quay lại đè nặng lên tôi, và một câu hỏi luôn ám ảnh : Vì sao
dân tộc Bắc Triều Tiên của tôi lại phải khổ đau đến như thế ?
Câu trả lời, tôi tìm
được trong sách báo từ khi đến được nơi đây : đó là do một chế độ độc đoán
vô nghĩa. Do sự điên cuồng của một triều đại khát máu, triều đại họ Kim, đã chà
đạp trong biển máu tất cả những ai chống đối. Do một thảm họa kinh tế, hậu quả
của một hệ thống cộng sản chủ nghĩa bị đẩy đến mức cùng cực. Tuy vậy các câu
trả lời này không làm tôi hài lòng, không thể làm trái tim tôi dịu lại.
Nhất là, chúng làm cho
tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực. Dù chỉ sống cách vùng biên giới tua tủa
những rào kẽm gai chia cách vùng đất quê hương tôi chưa đầy 40 km, tôi không
thể làm gì để giúp đỡ các đồng bào mình, đang kiệt quệ vì nạn đói và sự trấn áp
của một quyền lực nghiệt ngã. Bắc Triều Tiên đã trở thành một hố đen sâu thẳm
đối với 22 triệu cư dân, bị những người trên hành tinh này, cũng như người anh
em Hàn Quốc cùng dòng máu bỏ quên. Nỗi đau dâng ngập lòng tôi.
***
« Trạm
Sinchon ».
Giọng nói máy móc xé
toang sự im lặng trong toa tàu, kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ. Tôi thất thểu
bước xuống bến tàu, tìm lối ra, leo lên những bậc cầu thang như một cái máy.
Tôi quyết định rằng kể từ lúc này, một khi chui lên mặt đất, tôi sẽ không còn
giữ thái độ thụ động nữa. Không thể kéo dài tình trạng này !
Tôi cần phải kể lại
câu chuyện của mình. Để quá khứ đáng sợ không trôi vào quên lãng, để nói lên
tiếng nói của hàng triệu người Bắc Triều Tiên đang chết dần chết mòn từng ngày
trong im lặng. Và để tố cáo sự khổ đau của hàng trăm ngàn người đã từng cố
thoát khỏi địa ngục như tôi, nay đang trốn chui trốn nhủi ở Trung Quốc. Hai
mươi hai ngàn người đã đến được vùng đất hứa Hàn Quốc. Và ở đây, chúng tôi bị
xem như những công dân hạng hai, trong khi sai lầm duy nhất của chúng tôi là đã
chối từ nguy cơ bị chết đói.
Vì những người anh em
Bắc Triều Tiên của tôi không có quyền nói lên tiếng nói, tôi sẽ nhân danh họ mà
viết. Tôi tin rằng đến một ngày nào đó, hai nước Triều Tiên sẽ được thống nhất,
tuy phức tạp, nhưng rồi cũng sẽ đạt được. Để thành công trong việc hợp nhất,
chúng tôi cần có sự giúp đỡ của toàn thế giới. Nhưng nếu muốn tìm ra giải pháp,
thì cần phải hiểu được nguồn cội của cái ác.
Tôi đã khám phá được
một số, cùng với mẹ và chị, vào cái ngày đáng nhớ mà tôi cứ ngỡ mình sẽ thở hơi
cuối cùng.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét