Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

Chiếc thuyền ngoài xa


                                                    * Tác giả - tác phẩm:
Nguyễn Minh Châu
     Nguyễn Minh Châu, một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với những đóng góp rất có giá trị. Giai đoạn trước 1975 là những tác phẩm mang tính sử thi lãng mạn đặc sắc. Sau 1975, ông chuyển hướng sang đề tài về cảm hứng cuộc sống đời thường. Nói như Nguyên Ngọc đã nhận định: Nguyễn Minh Châu là "một nhà văn tinh anh nhất, tài năng nhất" lúc bấy giờ.
     Chiếc thuyền ngoài xa (viết vào năm 1983) là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sáng tác thứ hai, sau 1975. Tác phẩm lúc đầu được in trong tập truyện ngắn Bến Quê, sau được in trong một tập truyện ngắn khác. Chiếc thuyền ngoài xa được dùng làm tên chung cho tập tác phẩm đó vào năm 1987. Điều này khẳng định giá trị nội dung mang tính thông điệp, tính định hướng cho cả giai đoạn sáng tác và giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn xuôi đặc sắc trong giai đoạn sáng tác thời kỳ sau 1975.
       * Tóm tắt tình huống truyện:
      Sau khi phát hiện ra cái đẹp tuyệt đỉnh về ngoại cảnh, cái đẹp đã đem đến cho Phùng những xúc cảm thẩm mỹ, nhân văn sâu sắc nhất khi chiếc thuyền ở ngoài xa thì một phát hiện thứ hai bất ngờ đột ngột phủ phàng gần như cùng một thời điểm, đó chính là thực tế cuộc sống đầy bi kịch của gia đình hàng chài khi chiếc thuyền tới gần. Hóa ra mọi thứ không chỉ nhìn ở cái đẹp của ngoại cảnh mà nó chính là không gian sống bức bối chen chúc chật hẹp tăm tối với hai vợ chồng hàng chài và những đứa con.
     Chính những phát hiện trên bờ biển lại là nguyên nhân đưa đến cuộc trò chuyện được tái hiện trong đoạn ngữ liệu sau:
     "Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
     - Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
     - Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
     - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính - bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
     - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
     - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
     - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
     - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
     - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
     - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
     - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông…dù hắn man rợ, tàn bạo?
     - Phải - người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ?
     Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
     - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - Vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ.
     - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi.
     - Có chứ, chú!  Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng tôi được ăn no…"
     Từ đó, Nguyễn Minh Châu đã sắp xếp để nhân vật Phùng đi đến một phát hiện khác trong tòa án huyện. Tuy nhiên, phát hiện điều gì thì đây vẫn là ẩn số cho phần sau. Ở đây, người đọc không phải điều tra ngay mà đi sâu vào những cảm nhận cảm xúc của người đàn bà hàng chài, cảm nhận về cuộc đời về vẻ đẹp người đàn bà ấy và cả cách nhìn cuộc sống được rút ra từ cuộc trò chuyện ở tòa án huyện này. 
     Sau khi chứng kiến bi kịch của gia đình hàng chài tới lần thứ hai, Phùng còn gặp lại người đàn bà hàng chài ấy trong tòa án huyện lần thứ ba. Và lần này, ta chứng kiến một cuộc trò chuyện tay ba giữa Phùng (một phóng viên báo) - Đẩu (Chánh án tòa án huyện) - người đàn bà hàng chài. Thông qua đó, ta hiểu được nỗi khổ cực của người vợ, người mẹ nghèo khó đồng thời cũng chính là thông điệp mang tính nhân văn sâu đậm mà Nguyễn Minh Châu muốn trao cho người đọc.
     * Cảm nhận về người đàn bà hàng chài:
     Có lẽ trong truyện ngắn này, trừ những chi tiết như: người đàn bà xuất hiện trên bãi biển với vẻ nhẫn nhục, dáng người to lớn thô kệch gương mặt tái ngắt và hình như buồn ngủ qua lần đầu tiên Phùng nhìn thấy và ở cả những lần sau này khi nhìn bức ảnh thì người phụ nữ ấy hiện lên với một ấn tượng đậm nét hơn hết chính là qua cuộc trò truyện giữa người đàn bà ấy với Đẩu và Phùng. 
     Đầu tiên, ta đi quan sát lại cuộc trò chuyện giữa Đẩu và Phùng, sẽ thấy hình ảnh: người đàn bà chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình. Chị nói về những bi kịch, nói về những nguyên nhân "Vì sao không lên bờ mà ở?". Rồi tại sao người đàn bà ấy lại phải nhẫn nhục để chịu đựng những trận đòn như cơm bữa "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng". Rồi thậm chí không đề cập đến những nỗi buồn, nỗi đau khổ đói nghèo, người đàn bà còn đề cập đến những niềm vui hạnh phúc dù là hy hữu dù là nhỏ nhoi thoáng qua. Từ đó, thấy được toàn vẹn hình ảnh người đàn bà hàng chài hiện lên trước mắt chúng ta một cách rõ nét: từ thân phận cho đến vẻ đẹp tâm hồn.
     Thân phận đau khổ. Cái khổ thứ nhất là chị sống một cuộc sống nghèo đói. Cái nghèo đói dai dẳng đeo bám suốt cuộc đời của chị, chồng chị và cả các con chị. Trước Cách mạng, có những khi biển động không đi biển được và cả nhà ăn xương rồng luộc chấm muối cả tháng trời. Sau Cách mạng, cuộc sống đỡ đói khổ hơn. Tuy nhiên, miếng cơm manh áo vẫn luôn luôn là một vấn đề bức thiết trong gia đình. Cái khổ thứ hai là một cuộc sống tăm tối. Ở đó, gần như tách biệt với cuộc sống văn minh nên bạo lực như một hệ quả tất yếu của đói nghèo và tăm tối "Hễ lúc nào khổ quá thì lão xách tôi ra đánh ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, đánh tôi như đàn ông thuyền khác uống rượu. Nếu lão mà biết uống rượu thì có lẽ tôi đỡ khổ...". Đó là những lời nói chân tình mà đau đến thắt ruột của người đàn bà hàng chài khi đề cập đến nguyên nhân của bạo lực. Bạo lực ở đây không chỉ do chồng đánh vợ mà còn có thứ bạo lực khủng khiếp hơn đó là tình yêu thương quá độ ở đứa con: thằng Phát. Thằng Phát có thể vì quá thương mẹ mà đánh cả bố. Lúc nào nó cũng chờ sẵn trên bãi biển để có thể xông ra bảo vệ mẹ như một hiệp sĩ: đánh bố và còn hơn thế nữa để cứu mẹ. Người đàn bà ấy khổ vì sự tàn bạo của chồng, khổ vì tình yêu của đứa con.
     Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của người đàn bà hàng chài. Thể hiện ngắn gọn trong đoạn trò chuyện nhưng đó là những nét chấm phá giúp ta hình dung nên một tâm hồn và nhân cách cao đẹp. Ở đây, có một điều đặc biệt là giữa nhà văn Kim Lân và Nguyễn Minh Châu dường như có điểm chung. Nếu ở Vợ nhặt, nhân vật người vợ không được miêu tả tỉ mỹ qua độc thoại nội tâm mà tất cả chỉ phát họa bằng dáng vẻ, cử chỉ, lời nói, ánh mắt thì với Chiếc thuyền ngoài xa này Nguyễn Minh Châu cũng cùng một cách thể hiện và cũng là nhân vật người vợ trong bối cảnh nghèo khó túng bấn. Đó là một người vợ có trái tim nhân ái hiền hậu, giàu đức hy sinh. Khi bị chồng đánh, chị hiểu rằng không phải vì chồng quá ác tâm hay ghét mình mà chỉ đơn giản là do chồng không chịu đựng nổi cái khổ sở thường xuyên đeo bám cuộc đời. Trong lúc nhất thời, chồng mang chị ra để làm chỗ giải thoát những uất hờn. Chị thanh minh và thấu hiểu chồng. Thậm chí là chị nhận hết lỗi về mình "Nếu mà chúng tôi mua được con thuyền rộng hoặc là tôi đẻ ít đi. Lỗi là do đàn bà chúng tôi đẻ nhiều quá mà thuyền thì chật...". Với đứa con, cái nhân hậu vị tha hiện rõ hơn ở người phụ nữ bất hạnh đang được nói tới. Người đàn bà này chịu đòn cũng là để con thuyền có người đàn ông khỏe mạnh biết nghề, chèo chống qua phong ba nuôi nấng và chăm sóc con. Tình mẫu tử còn thể hiện ở nét đẹp của nụ cười được miêu tả cực kỳ đặc biệt của nhà văn "lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ trở ửng sáng lên như một nụ cười". Không phải là nụ cười mà là ánh sáng của nụ cười từ bên trong tâm hồn chị tỏa rạng. Đó là ánh sáng của niềm vui khi hình dung ra các con được hạnh phúc, vợ chồng được hòa thuận: "Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng tôi được ăn no…".
     Đây còn là người đàn bà có sự thâm trầm sâu sắc trong việc hiểu thấu mọi lẽ đời. "Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình". Cái nhìn về quá khứ về hiện tại về tương lai ai cũng đã từng nhưng với chị nó trở nên lạ và ấn tượng. Cái nhìn có màu vị của hy vọng của xót xa. Vì cả cuộc đời đó là cả quãng dài dằng dặc những nỗi đau buồn. Con mắt như thấu trải mọi điều. 
   Ở người phụ nữ này còn hiện hữu một sức mạnh. Rõ ràng, trước những trận đòn, trước sự khốn khó, nếu không có một sức mạnh tâm hồn tiềm tàng trong con người ấy thì không thể nào vượt qua được giông bão cuộc đời. Bằng chứng là chị chịu tất cả những uất ức tâm lý và sự vũ phu của chồng để ông ấy có thể giải tỏa bức bối, chị nhẫn nhịn trước con để giữ gìn sự bình yên gia đình. Hình ảnh sự lúng túng, sợ sệt, rụt rè khi vào tòa án huyện rồi "rón rén ngồi thu mình trên mép ghế" ai cũng nghĩ đây là một người đàn bà yếu đuối nhưng thực chất bên trong lại tiềm ẩn sức mạnh kiên cường. Sức mạnh đó xuất phát từ tình yêu thương.
     * Cách nhìn về cuộc sống của nhà văn:
     Thông qua câu chuyện trong tòa án huyện giữa Phùng, Đẩu và người đàn bà làng chài, một phát hiện thứ hai đã được đề cập đến nhận thức thấm thía nỗi chua xót: Trong cuộc sống này, cái xấu cái ác vẫn tồn tại như một lẽ bất khả kháng. Chúng ta hiểu điều đó không phải để dung túng nó, buông xuôi nó mà phải có một cái nhìn thấu đạt nhân tình, cần có một thái độ bình tĩnh và tích cực tìm ra cội nguồn phát sinh cái xấu cái ác nhằm loại bỏ nó ra khỏi cuộc sống con người. 
     Thông qua những nghịch lý trong câu chuyện, ta thấy cái đẹp nhiều khi không hoàn toàn thống nhất với cái thiện. Cái bên ngoài không hẳn đã thể hiện toàn bộ cái bên trong. Chính vì thế ta cần có cái nhìn sâu sắc, thấu đáo, toàn diện về con người và cuộc sống. 
     Ngoài ra, truyện còn mang đến một thông điệp đó là để giải phóng con người khỏi đói nghèo tăm tối cần có những biện pháp thiết thực nhưng mang tính toàn xã hội chứ không bằng những lý thuyết đẹp đẽ và xa rời thực tiễn. 
     * Lời kết:
Minh họa: chiếc thuyền ngoài xa
     Bằng nghệ thuật khắc họa tâm lý con người một cách tinh tế (cả tác phẩm gần như không có một dòng nào miêu tả tỉ mỹ nội tâm nhân vật), Nguyễn Minh Châu đã chuyển tải một khối lượng giá trị nội dung hết sức tự nhiên: Giá trị hiện thực (tác phẩm phản ánh một bức tranh thật của con người) và giá trị nhân đạo (hướng tới xót thương con người, ca ngợi con người và tin vào phần tốt đẹp vẫn luôn tiềm ẩn khuất lấp đâu đó trong mỗi con người khốn khổ)...

_Ma xó cận_
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào: