Bản “Đại Việt sử ký toàn thư” và trang sử bị cấm
Đại Việt sử ký toàn thư (gọi tắt Toàn thư) là công trình của các sử gia Đại Việt đời Trần và Hậu Lê (Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy…) soạn. Đây là bộ quốc sử trọn vẹn nhất, có giá trị về nhiều mặt của nước ta, chép từ đời Hồng Bàng đến đời Lê Trung hưng (1675).
Cho đến nay, bản nguyên văn chữ Hán in ván khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), còn gọi “Nội các quan bản”, lưu giữ tại thư viện của Hội Á Châu ở Paris, là bản được đánh giá cao nhất.
Năm 1982, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) đã cho tổ chức nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư căn cứ trên bản in Nội các quan bản. đây là một công trình lớn, với sự hợp tác của nhiều tên tuổi đáng kính: Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, Giáo sư Sử học Phan Huy Lê, nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, Giáo sư Hà Văn Tấn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Hoàng Văn Lâu… Và mười năm sau, đến 1992 mới được hoàn thành và xuất bản trọn bộ.
Trên mạng, có thể tìm đọc Đại Việt sử ký toàn thư nguyên văn chữ Hán, do Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm cung cấp cho Văn khố Wiki: https://zh.wikisource.org/zh-hant/大越史記全書
Bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư theo Nội các quan bản của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam được đăng tải ở đây: http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/.
Có một bất tiện nho nhỏ cho những ai muốn tra cứu Toàn thư về vua Lê Thánh tôn trên mạng qua bản dịch này, vì nó đã bị cấm đọc đoạn cuối đời Thánh tôn. Có khi nào nguyên nhân phần này (ĐVSK, Bản kỷ Thực lục, Quyển 13: Nhà Hậu Lê, Phần 2 – http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt178.html) bị cấm đọc là bởi nó đề cập đến cái chết của vị đệ nhất minh quân nước ta?
Xin trích vài đoạn “Toàn thư” ca tụng đức độ Lê Thánh tôn, trong Bản kỷ thực lục:
– Quyển XII, Kỷ nhà Lê, Thánh tông Thuần hoàng đế, phần 1:
Kỷ Sửu, [Quang Thuận] năm thứ 10 [1469], ngày 18 [tháng 11 âm lịch]. Ngày 18, [Lê Thánh tông] sắc dụ quan viên văn võ và dân chúng cả nước rằng:
“Trẫm nghĩ, người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ làm khuôn phép giữ gìn. Nếu không có lễ thì tình dục bừa bãi, phóng đãng xằng bậy, không gì không làm. Từ nay về sau, các sắc quan lại, ai được thăng chức hay bổ dụng, thì Lại bộ phải sức giấy cho phủ, huyện, xã, bắt xã trưởng phải làm tờ đoan khai là tên ấy đã đủ tuổi quy định, giá thú làm theo hôn lễ, thì mới tâu cho lên để thăng bổ như lệ, Nếu để cho kẻ xấu lạm dự vào hàng quan chức, thì viên đó bị thích chữ đi đày” (trang 52a).
Kỷ Sửu, [Quang Thuận] năm thứ 10 [1469], ngày 18 [tháng 11 âm lịch]. Ngày 18, [Lê Thánh tông] sắc dụ quan viên văn võ và dân chúng cả nước rằng:
“Trẫm nghĩ, người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ làm khuôn phép giữ gìn. Nếu không có lễ thì tình dục bừa bãi, phóng đãng xằng bậy, không gì không làm. Từ nay về sau, các sắc quan lại, ai được thăng chức hay bổ dụng, thì Lại bộ phải sức giấy cho phủ, huyện, xã, bắt xã trưởng phải làm tờ đoan khai là tên ấy đã đủ tuổi quy định, giá thú làm theo hôn lễ, thì mới tâu cho lên để thăng bổ như lệ, Nếu để cho kẻ xấu lạm dự vào hàng quan chức, thì viên đó bị thích chữ đi đày” (trang 52a).
– Và 4 năm sau đó (vẫn Toàn thư, Bản kỷ thực lục, quyển XIII, Lê Thánh tông, phần 1):
Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 [1473], Mùa xuân. Cấm tửu sắc. Ra sắc chỉ cho quan viên và trăm họ rằng:
“Kể từ nay, trong nhà không làm cỗ thết khách thì không được chè chén, người vợ không phạm tội thì không được ruồng bỏ. Kẻ nào dám rượu chè bừa bãi, gia đạo không nghiêm, kẻ nào không có mối lái mà dám vụng trộm tư thông thì phải trị tội” [Trang 1a].
Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 [1473], Mùa xuân. Cấm tửu sắc. Ra sắc chỉ cho quan viên và trăm họ rằng:
“Kể từ nay, trong nhà không làm cỗ thết khách thì không được chè chén, người vợ không phạm tội thì không được ruồng bỏ. Kẻ nào dám rượu chè bừa bãi, gia đạo không nghiêm, kẻ nào không có mối lái mà dám vụng trộm tư thông thì phải trị tội” [Trang 1a].
– “Kỷ Dậu, [Hồng Đức] năm thứ 20 [1489]. Mùa hạ, tháng 5, đại hạn. Xuống chiếu đại xá, gồm 49 điều. Cấm quan viên họp bọn say đắm tửu sắc”. (Bản kỷ thực lục, quyển 13, trang 62a).
Nhưng trái ngược với những giới cấm dâm dục do mình ban, vua lại băng hà vì nữ sắc quá độ, với chứng “bệnh xã hội” (giang mai làm mủ?). Phần bị “cấm đọc” nói trên kia chính là tường thuật việc này:
Vào năm Đinh Tỵ [Hồng Đức] năm thứ 28 [1497]. “Tháng Giêng, ngày Nhâm Tý 30, vua băng ở điện Bảo Quang”. Nguyên nhân cái chết được ghi là: “Tiếc rằng vua nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng. Trường Lạc hoàng hậu bị giam ở cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm giấu thuốc độc trong tay mà sờ vào chỗ lở, bệnh vua do vậy mới lại thêm nặng” (Bản kỷ thực lục, quyển 13, trang 79b).
Thiển nghĩ, cái chết của Lê Thánh tôn tuy không được đẹp đẽ thơm tho, nhưng không hề làm giảm sút công nghiệp của vua lưu lại cho hậu thế. Muốn biết về văn nghiệp võ công Lê Thánh tôn, hãy đọc trọn phần Đại Việt sử ký Toàn thư, Bản kỷ thực lục, quyển 12-13 đã dẫn link ở trên.
Đề nghị các vị đảm trách việc dựng tường lửa nên tha cho phần bị cấm đọc kia. Lê Thánh tôn chỉ là đại diện của chế độ phong kiến hủ bại, chứ đâu phải lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản mà phải bưng bít nguyên nhân cái chết của ông? Huống chi, trong phần đó, ngoài việc thuật lại cái chết của vua, còn có những sử liệu quan trọng đời Hồng Đức: về các định chế khảo thí nghiêm ngặt để tuyển dụng nhân tài; lệnh về quyền thừa kế của con đích, con thứ; định lệnh cho sứ thần các phiên thuộc vào triều cống nước ta; về tôn trọng lễ nghĩa, khuyến khích nông tang…
Phần nhận xét hiển thị trên trang


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét