Dẫn nhập
Phật giáo là một tôn giáo hay triết lý?
Đó là câu hỏi được giới học giả phương Tây đặt ra khi tiếp cận với đạo Phật. Với sự mặc định tri thức phương Tây luôn vượt trội hơn phương Đông các nhà nghiên cứu Phật học phương Tây sẽ vĩnh viễn không thể chạm đến sự tận cùng, rốt ráo của con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Để có câu trả lời các học giả phương Tây đã thông qua giáo lý, kinh điển đạo Phật cùng việc tiếp cận với các học giả Phật học cũng như các vị hành giả danh tiếng phương Đông nhằm thâm nhập, lĩnh hội giáo lý, pháp hành và giá trị thật sự của đạo Phật. Song việc ra sức nghiên cứu đạo Phật bằng các phương cách trên khó thể chạm đến giá trị cốt lõi, đúng mực vốn có của Tam Tạng giáo điển.
Dẫu rằng Tam Tạng giáo điển vẫn còn vẹn nguyên giá trị chánh pháp. Tuy nhiên, việc “Tam sao, thất bản” trải qua một khoảng thời gian lâu xa truyền giữ nên bản gốc Tam Tạng kinh khó tránh khỏi rơi vào tình cảnh dị bản cùng sự thêm thắt giáo lý của ngoại đạo Bà la môn giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo,… cũng như yếu tố lai căng các tôn giáo bản địa.
Một yếu tố quan trọng khác khiến cho giáo lý Tam Tạng kinh có sự khiếm khuyết so với lời Phật Thích Ca thuyết đó là “Giấy không thể gói được lửa”.
Tại sao tôi lại nói đến yếu tố “Giấy không thể gói được lửa”?
Đây chỉ là một cách nói hàm ngôn. Lửa mà tôi nói với hàm nghĩa lời Phật Thích Ca thuyết là lời nói của bậc Giác giả hoàn toàn; Giấy với hàm nghĩa Tam Tạng giáo điển do người học Phật về sau kết tập. Thực tế là sau khi Phật Thích Ca nhập diệt Tam Tạng giáo điển mới được tựu thành, việc cho ra đời pho Tam Tạng kinh đầu tiên được các vị Tổ Ca Diếp, A Nan cùng các bậc chứng đắc A la hán, đệ tử đời thứ nhất của Phật Thích Ca đúc kết. Cho dù gắng sức hoàn chỉnh pho Tam Tạng kinh nhằm lưu truyền hậu thế nhưng các bậc A la hán Ca Diếp, A Nan,… khó thể kết tập đúng mực, sáng rõ, hoàn hảo những lời Phật Thích Ca từng tuyên thuyết.
Vì sao lại có sự khiếm khuyết, tì vết nơi bộ Tam Tạng kinh được kết tập lần thứ nhất?
Vì lẽ những người ra sức kết tập bộ Tam Tạng kinh lần thứ nhất chỉ là các bậc A la hán. Dẫu rằng Nhị Tổ A Nan là người đa văn, trí nhớ siêu việt lại được sự tiếp sức của Sơ Tổ Ca Diếp, vị Tổ đắc A la hán bằng vào lối tu Tiểu thừa cực đoan khổ hạnh, cùng các vị đồng tu chứng đắc A la hán khác nhưng tin rằng bộ Tam Tạng kinh kết tập được chỉ là phần xác, dù là lời Phật Thích Ca từng thuyết song tin rằng nội dung Tam Tạng kinh đầu tiên ở một mức độ nào đó đã có sự thiếu khuyết phần hồn, sự viên dung, sáng rõ, thông suốt 3 thời của lời Giác giả Thích Ca.
Bởi do lời Phật Thích Ca thuyết là các pháp phương tiện nhằm chỉ bày cho người thoát khổ cũng như việc giải thoát hoàn toàn cho những chúng sinh đã nhàm mỏi việc sinh tử luân hồi. Đây là việc làm có tính khế hợp, tùy duyên, Phật Thích Ca còn được xem là một Bậc đại y vương, do vậy nên tùy căn tánh, trình độ của người cầu pháp mà Phật dùng pháp phương tiện xảo hợp đúng người, đúng bệnh, đúng thời. Pháp của Phật nhằm độ người, độ mình nên là bất định pháp, là pháp bất nhị, là pháp bất khả tư nghì.
Trong khi đó, cái biết của những môn đồ học Phật chỉ là sự góp nhặt, tích lũy với tư kiến, định kiến hạn cuộc, thế nên việc trùng tuyên Tam Tạng kinh của các đời Tổ khó tránh khỏi sự thiếu xót, lỗi lầm.
Ở một mức độ tương đối nhằm diễn đạt về vấn đề khiếm khuyết giới hạn khi tham cứu cũng như kết tập Tam Tạng kinh ở người học Phật là việc này sẽ tựa như việc con vẹt nói tiếng người, tiếng thời giống vậy như nghĩa thời khó thông suốt, cùng tột vì pháp bất định đã trở thành định pháp; pháp bất nhị thù thắng, vi diệu đã rơi vào nhị pháp đối đãi nơi tâm phân biệt, dính mắc của người viết, người đọc, người thuyết, người nghe.
Sự giác ngộ của bậc A la hán so với cái biết của Giác giả có thể xem như là ánh sáng của con đom đóm với ánh sáng của vầng trăng tròn đầy. Vậy nên làm sao Sơ Tổ, Nhị Tổ cùng chư vị A la hán có thể trình bày toàn bích, trọn vẹn những lời Giác giả Thích Ca thuyết đúng theo tâm Phật?
Việc kết tập kinh điển Tam Tạng ngày nào có chút nét tương đồng với việc các nghiên cứu sinh, sinh viên đại học ngày nay góp nhặt, sao chép lại tài liệu của các vị Tiến sĩ, Bác học thực học, thực nghiệm.
Phải chăng sự hiểu biết của các sinh viên, Nghiên cứu sinh sẽ tự có sự giới hạn cùng với ít nhiều sai lạc tri thức so với kiến thức của Tiền nhân có sự thực nghiệm đúng mực?
Về sau khi những vị Tổ lần lượt nhập niết bàn thì Tam Tạng kinh lại được trải qua vài lần kết tập bổ khuyết. Bản gốc Tam Tạng kinh đầu tiên do các bậc A la hán kết tập vốn đã chứa đựng sự thiếu sót lại trải qua thêm vài lần hiệu chỉnh bởi các vị học Phật đã xa thời Chánh pháp, do vậy nên giáo lý đạo Phật về sau thì càng bổ sẽ càng khuyết, càng mất dần hay nói đúng hơn là càng nhạt nhòa giá trị đúng mực nguyên thủy.
Tất nhiên là không hẳn việc kết tập lại Tam Tạng kinh không mang lại chút giá trị đúng mực nào song qua mỗi lần kết tập thì giáo lý Tam Tạng kinh sẽ có sự len lõi ít nhiều giáo lý của ngoại đạo tiêm nhiễm vào bản gốc, nguyên nhân là do sự vô minh của người học Phật mà ra sự bổ khuyết sai lầm.
Về sau, Tam Tạng kinh được dịch giải ra nhiều thứ tiếng và được người học Phật diễn giải bằng vào sự hiểu biết cá nhân, việc làm này quả thật là khó tránh khỏi tính chủ quan, biên kiến, phiến diện; học giả dịch giải khác, hành giả diễn nghĩa khác.
Thời may yếu tố giác ngộ giải thoát hoàn toàn nơi Tam Tạng kinh đã không bị lược giải hoàn toàn, Tam Tạng kinh một khi hãy còn cụm từ giác ngộ giải thoát hoàn toàn thì giá trị chánh pháp của đạo Phật hãy còn vẹn nguyên.
Sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn của chánh pháp tựa như là đốm lửa nhỏ giữa đống tàn tro khi đủ duyên thì ngọn lửa chánh pháp sẽ bùng cháy sáng rỡ soi sáng, đẩy lùi sự vô minh, tăm tối nơi tri thức nhân loại.
Tương tự như việc “Giấy không gói được lửa” ở pho Tam Tạng giáo điển việc hỏi đáp, chia sẻ thông tin giữa các nhà nghiên cứu phương Tây với giới học giả, hành giả phương Đông cũng chỉ là việc làm kém đúng mực, khách quan. Đây quả thật lại là việc làm khó tránh khỏi sự thiếu xót, sai lầm.
Học giả Phật học và hành giả phương Đông nào phải đâu là Giác giả.
- Học giả phương Đông cũng chỉ là những người mò mẫm giá trị Tam Tạng kinh qua ngôn từ, giáo lý với cả một bầu tri thức có phần tự phụ hiểu biết hơn người cùng nỗi hoài nghi về sự tồn tại của con đường thoát khỏi hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi. Việc “cởi ngựa xem hoa” ở giới học giả phương Đông hiển nhiên chỉ có thể chạm đến góc nhìn hiện tượng, thật không thể chạm đến bản chất tinh hoa của đạo Phật.
- Hành giả phương Đông, những người học và hành trì theo giáo lý đạo Phật hãy còn là những người học Phật ở trong lưới vô minh. Thế nên sự hiểu biết của họ cũng không dễ chạm đến sự đúng mực, sáng rõ của đạo Phật. Dẫu rằng sau những nỗ lực hành trì miên mật cùng với yếu tố duyên đã có một vài vị hành giả chân tu đạt được sự tỏ ngộ nhưng sự chứng ngộ tiểu phần về sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn đó hãy còn kém xa cái biết cùng tột của một bậc Giác giả.
Vậy nên dù các học giả phương Tây, phương Đông cùng các hành giả danh tiếng có cùng ngồi lại trao đổi chia sẻ sự hiểu biết về đạo Phật một cách thẳng thắn, chân thành, khách quan, cởi mở thì việc làm đó nào khác gì việc làm của những gã mù sờ voi. Hơn nữa, đã có bao giờ hai nền tri thức Đông Tây thật sự cùng nhau trao đổi một cách chân thành, không vụ lợi, không giữ kẽ, không giam mình trong định kiến hơn người. Dường như… có vẻ là điều đó chưa bao giờ xảy ra khi con người còn trong sự vô minh, cái biết không sáng rõ, đúng mực. Người phương Tây, người phương Đông mà nhất là các vị học giả, các nhà nghiên cứu Phật học thật chẳng thể rũ bỏ, đặt xuống cái biết giới hạn của tư kiến cá nhân nên việc tham cứu, điều nghiên Tam Tạng kinh khó mong chạm đến sự tinh hoa, cùng tột. Đây chỉ việc làm thiển cận, ấu trĩ và mông muội của các bậc trí giả, hành giả khi nhân loại tựa nơi góc nhìn tổng thể, khách quan nhận diện, xét lại vấn đề.
Đạo Phật không là một loại hình tôn giáo và cũng không là một hệ thống trường phái triết học.
Giáo lý chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền nơi nhân loại thật sự không phải là một hệ thống triết lý suy lường, phán đoán theo đường lối triết học cổ đại phương Tây. Con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn là kết quả của một công trình thâm nhập, quán chiếu đến cùng lý, tận tánh bản thể vạn pháp gồm vũ trụ, sự sống, cái chết của mỗi loài và cả muôn loài hay nói cách khác đó là kết quả của một sự thực chứng giác ngộ tổng thể, toàn diện. Đó là sự hiểu biết không có sự giới hạn bởi tư duy, nhận thức chủ quan, cục bộ, cực đoan.
Thế nên, ngày nay con người, các học giả, những nhà nghiên cứu Phật học Đông Tây dùng cái biết nơi trí năng giới hạn hãy còn chưa tỏ tường gốc ngọn vạn pháp để đánh giá Tam Tạng kinh hiển nhiên là một việc làm ngớ ngẩn, ấu trĩ, mê lầm. Việc xem giáo lý đạo Phật như là một loại hình tôn giáo hoặc một hệ thống triết lý rồi dùng tư tưởng, tri kiến ở các trường pháp triết học cổ đại, hiện đại Đông Tây như là một lăng kính đối chiếu, thẩm định, đánh giá giá trị của giáo lý đạo giác ngộ giải thoát đã làm sai lạc giá trị thường tại thật có ở những lời Phật Thích Ca từng nói. Việc làm chứa yếu tố chủ quan, sai lầm của giới học giả Đông Tây đã làm lu mờ, nhòa nhạt sự sáng rõ, đúng mực, khách quan về nguồn tri thức ẩn tàng nơi Tam Tạng kinh, việc làm ấu trĩ, thiển cận đó cũng đã góp phần gây ra sự khuất lối con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi có thật nơi nhân loại.
Giáo lý chánh pháp Phật Thích Ca trao truyền vốn không nhằm vào việc tạo dựng nên một hệ thống tôn giáo mới trong lòng nhân loại. Nơi giáo lý chánh pháp là một chuỗi các pháp phương tiện giúp người thoát khổ, hướng dẫn chỉ bày con người cách thức vượt khỏi quy luật sinh tử luân hồi quẩn quanh. Thế nên với những giá trị cốt lõi, then chốt có nơi giáo lý chánh pháp thì nơi nào có khổ đau, có chúng sinh nhàm mỏi việc sinh tử thì giáo lý đạo giác ngộ giải thoát sẽ cần đến và rất đắc dụng.
Khổ não, muộn phiền do Tham sân si mạn nghi phải chăng trải đều, rộng khắp trong nhân loại từ xưa đến nay và mai sau?
Với tính logic biện chứng thì rõ thật giáo lý chánh pháp có nơi lời Phật Thích Ca là giành cho toàn nhân loại chứ nào phải của riêng người học Phật. Việc nhốt giáo lý chánh pháp vào đạo Phật, vào tôn giáo để rồi về sau nhân loại sinh khởi định kiến suy lường về mục đích, giới hạn chia chẻ giáo lý chánh pháp là sai lầm của tri thức nhân loại (nói chung) và người học Phật vô minh (nói riêng).
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét