|
K
|
hải vào Miền Nam
cuối mùa chim di trú. Khi những con chim cuối cùng mỏi mệt, chậm chân, run cánh
rời phương Bắc. Khi những đám mây đen tơi tả vì gió mùa, rải kín bầu trời từ
đình đèo Hải Vân đến tận Mục Nam Quan và xa hơn nữa. Qua Thượng Hải, Bắc Kinh,
Mạc Tư Khoa cho đến vĩ tuyến cuối cùng của địa cầu.
Trên mặt đất đoàn người di cư mỗi lúc một
đông. Bằng đủ loại phương tiện vào các khu kinh tế miền nam, họ đi tàu hoả, ô
tô. Có cả những người đi bằng xe đạp thồ như thời kháng chiến. Cha con, Vợ chồng,
ông cháu hòm xiểng cồng kềnh ba lô khoác vai, tay túi xách. Chỉ có anh, mỗi chiếc
cặp xách tay trong đựng duy nhất bộ quần áo. Cái cặp thì đã cũ, mầu nâu, đã sờn
chỗ tay xách và đường viền xung quanh. Duy ổ khoá của nó là đáng giá. Được làm
bằng thép không rỉ. Hùng, bạn anh học ở Nga về dùng nó đã khá lâu tặng Khải làm
kỉ niệm khi anh nói sắp sửa đi xa.
Cái cặp tuy cũ nhưng có lẽ nó là thứ sang trọng,
có giá trong đám hành lý của khách đi tàu, giữa đám ba lô sờn, túi du lịch mất
pecmơtuya và đủ các loại túi xách to nhỏ khâu tay từ quần áo cũ, vải bạt...
Bề ngoài Khải giống như một công chức,
dọc đường công tác. Nếu thêm cặp kính trắng người ta có thể nhầm anh là một tri
thức miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa được tăng cường vào phía nam.
Không ai biết anh đang thất nghiệp,
vừa trải qua những thử thách .
Khải
đi về phương Nam mà chưa biết mình sẽ đi tới đâu, làm gì để sống trong những
ngày sắp tới. Trong túi số tiền ít ỏi chỉ giúp anh sống tằn tiện được một vài
tuần.
Khác
hẳn với những hành khách trên cùng chuyến tàu, Khải ra đi không phải là mình chọn
lựa. Còn họ, những người nông dân miền bắc ra đi là những người tình nguyện. Họ
đi theo tổ chức, có chế độ chính sách ưu đãi của chương trình xây dựng khu kinh
tế Miền Nam. Nơi mà hàng chục năm nay, kể cả thời chưa giải phóng, thống nhất
hai miền được mô phỏng là miền đất hứa. Nơi có những cánh đồng phì nhiêu, cây
lúa mọc tự nhiên, mùa lúa chín người ta chỉ đập lúa cho rụng vào lòng thuyền,
chỉ cần phơi qua vài nắng lúa được dồn vào lãm, bịch dùng dư giả cả năm. Nơi dọc
ngang kênh rạch, cá tôm nhiều vô kể. Nhiều đến nỗi có chỗ phải rẽ cá, ghe thuyền
mới qua lại được. Nơi có những rừng dừa bát ngát quả sai lúc lỉu, ăn sài không
xuể còn đem để ép dầu.
Nơi
những vườn trái xum xuê với đủ thứ: Mãng cầu, Sầu riêng, Chôm chôm, Măng cụt
v.v.. Không thể nhớ hết là có bao nhiêu loại. Loại nào cũng thật thơm ngon
không thể tả được.
Nơi
có những vườn chim đủ Mòng, Két, Cu, Diệc muôn giống, muôn màu phong phú không
khác gì sự đa dạng của cây trái. Cả những giống chim quý độc nhất vô nhị trên cả
hoàn cầu, từng được ghi vào sổ đỏ của Thế giới.
Và
nhất là: Nơi con người suốt ngày cởi trần, áo vắt vai uống rượu thả giàn. Tính
nết thì vô tư, thiệt thà. Tâm hồn hào sảng phóng khoáng.
Đó
không phải là niềm Đất Hứa hay sao, những người nông dân vùng Châu Thổ sông Hồng
và cả khu Bốn, phía bắc Miền Trung đều nghĩ như vậy. Họ bỏ sau lưng những Hợp
tác xã nghèo khó bao năm của thời bao cấp. Những cánh đồng “Năm tấn” bạc mầu,
công lao động bình quân ba lạng thóc một ngày. Những mái nhà u ám đến dầu đốt
đèn cũng phải hạn chế vì khan hiếm. Bỏ lại sau lưng bầu không khí ngột ngạt lúc
nắng cháy da, khi lạnh thấu xương bao éo le, vướng mắc của thời quá độ. Họ hướng
tới miền quê mới với niềm hân hoan hiện trên nét mặt. Tuy thoáng có lúc bùi
ngùi nỗi nhớ quê nhà. Nơi có mồ mả ông cha, có người ruột thịt, thân bằng cố hữu
ở nơi chôn rau cắt rốn.
Vẫn
là thói quen chắt bóp, cơm nắm muối vừng, nước sôi mua cả can để uống dọc đường,
nhưng câu chuyện của họ rất vui.
Khải
thì khác. Anh ra đi chỉ có một mình. Không có ai là bạn đường, không người đưa
tiễn. Bất đắc dĩ mà phải ra đi, dù nơi đang ở không phải là quê hương bản quán.
Dù nơi ấy đìu hiu gió hút của xứ đồng rừng. Dẫu sao anh vẫn còn mẹ già con dại
và mái nhà tranh đã từng gắn bó một thời. Có những người bạn mới quen, tuy
trong số họ không phải hoàn toàn là người tốt cả.
Vẫn biết di cư là quá trình hình thành của nhiều
quốc gia và nhiều dân tộc, di cư là đặc trưng của người Việt mình, là lịch sử
đi từ phương Bắc đến phương Nam. Và không chỉ một mình anh ra đi như thế. Trước
đây và bây giờ, ngoài anh ra còn muôn vạn, tức triệu người ra đi. Mà sao Khải vẫn
thấy bùi ngùi?
Có
lẽ, cả những đàn chim di trú bay về phương Nam chúng cũng thanh thản giữa trời.
Ngày nào đó, khi mùa xuân đến, chúng sẽ lại trở về. Chúng sẽ gặp lại những cánh
đồng, những dòng sông, những ngọn cây quen thuộc. Chúng sẽ lại bay lượn hát ca
nơi khoảng trời thân thuộc, không còn âu lo dằn vặt trong lòng như Khải lúc
này.
Còn
anh, anh bao giờ trở lại?
Tàu
rời sân ga trong lòng thành phố vào lúc nửa đêm. Trừ khu vực này còn ồn ào kẻ
qua người lại, thành phố chìm trong giấc ngủ. Hà Nội những năm này còn thiếu điện.
Đêm đêm những con đường vắng lặng xào xạc
lá cây. Những cơn gió mùa quét trên mặt đường quãng quãng một hố nước đọng. Sự
khác biệt giữa ngày và đêm ở đây rất rõ. Những hàng phố nhà nhà đóng cửa hoạ hoằn
mới có một hàng ăn đêm ở mái xép bên đường. Thỉnh thoảng một chiếc xích lô vội
vã, với dáng vẻ âm thầm. Những người qua đường giờ này phần nhiều là khách vãng
lai. Những ngọn đèn đường yếu ớt vàng nhoè không soi rõ mặt người qua lại.
Hùng
đèo xe đạp chở Khải ra ga. Anh có căn nhà ở phố Nguyễn Thái Học đối diện với bến
xe Kim Mã phía bên kia đường. Tầng trên căn hộ của Hùng là căn hộ của một nhà
thơ tên tuổi. Ông còn là nhà soạn kịch có tiếng trong nước. Ngày còn ở Hà Nội
Khải thường đến thăm ông. Anh đã đọc thơ của mình để nhà thơ cho ý kiến. Mỗi lần
từ căn nhà của ông bước ra, anh thấy mình như một con người khác. Từ một thế giới
nào không thực lắm trở về. Nhưng lần này trở về Hà Nội anh không dám đến gặp
ông. Không phải vì anh vướng mắc nợ nần với ai, hoặc làm điều gì xấu xa ở thành
phố này mà ngại. Đơn giản chỉ vì hoàn cảnh của anh bây giờ rất khó nói khi gặp
người quen cũ. Hùng là một trong số ít bạn bè mà Khải tìm gặp mà không phải ngại
ngần. Ngày còn ở Thất Khê, Khải đã cứu Hùng thoát chết. Hùng bơi lội không giỏi,
nhưng cứ nằng nặc xin đi bè lấy gianh về lợp mái nhà Hiệu Bộ. ở nơi sơ tán nhà
cửa, lớp học thầy trò phải tự làm lấy. Địa phương chỉ cho vật liệu và giúp công
một phần. Cây cột không thiếu, chỉ khó khăn về cái lợp. Khu vực có cỏ gianh
cách xa Hiệu Bộ gần hai mươi cây số, phải theo đường sông. Con sông Kỳ Cùng có
đoạn chạy song song quốc lộ số bốn. Nếu có xe vận tải, đi lấy gianh về không
khó. Nhưng lúc ấy ô tô rất ít chỉ để ưu tiên chở những thứ hàng khác từ Hà Nội
lên. Cách duy nhất là đóng bè chở gianh về. Các phương tiện khác không chở được
bao nhiêu vì gianh là thứ quá cồng kềnh.
Lớp
của Khải có bốn mươi mốt người. Vừa bằng số người trong một bộ phim Nga đang
xôn xao thời ấy. Một nửa ở lại cắt gianh. Một nửa kết bè đưa gianh về địa điểm
tập kết gần Hiệu Bộ. Khải và Hùng ở trong nhóm này.
Con
sông Kỳ Cùng cũng là con sông kỳ lạ mà Khải từng biết đến. Nó không chảy về
đông như nhiều con sông khác mà anh từng qua. Đáng lẽ phải từ Thất Khê, Tràng Định
sông về qua Na Sầm Lạng Sơn, thì nó lại có thuỷ trình ngược lại.
Lòng
sông không rộng, từ bờ bên này sang bờ bên kia có lẽ hẹp hơn cả sông Nho Quế,
còn gọi là sông Gâm ở Tuyên Quang. Điều đó có thể nhận thấy bằng mắt thường.
Nhưng
nó lại là dòng sông kỳ dị. Đã chảy ngược mà từng đoạn lại không nơi nào giống
nơi nào. Đoạn thì dòng sông lười biếng, nước như thể đứng yên không muốn chảy.
Lúc thì vật vã ào ào cuộn xoáy. Những người trở thác trên sông Đà cũng chẳng vất
vả hơn những kẻ đi bè trên những đoạn sông này. Vừa mới bơi chèo đến rời rã
cánh tay qua đoạn nước đứng, lại thót tim trước gềnh đá ngay trước mặt. Trên mảng
của khải có hai bạn nữ cùng về vì ngại đi bộ. Một người về lấy thực phẩm, một
người về nhận thuốc men.
Đến
khúc sông khó đi Khải đã nhắc hai cô gái ngồi yên trong lều che bằng lá cọ. Vậy
mà trong lúc tập trung sức lực cho bè băng qua vực sâu, một cô chới với rơi ra
khỏi bè. Chỉ vì một chiếc nón đổi một mạng người. Chỉ nhìn thấy cô gái thấp
thoáng giây lát rồi chìm nghỉm xuống đáy vực. Hùng đang đánh mồng ở phía cuối
bè không kịp nghĩ ngợi, nhảy liền theo xuống. Khải bàng hoàng không biết giải
quyết cách nào. Số trên bè kêu thét om sòm, nhưng không ai dám xuống nữa. Cái
bè cứ xoay vòng trong vật nước loang loáng, chóng mặt. Khải đã vớ vội cuộn dây
thừng buộc vào ngang lưng. Anh cột đầu kia vào hoành bè rồi nhảy xuống. Những
khúc cây, tảng rễ bị nước hút xuống đâm vào lưng vào ngực Khải đau nhói. Đến
khi tức ngực không thở được, Khải mới ngoi lên. Lần thứ hai Khải tóm được tóc
Hùng. Cũng là lúc những người trên bè kéo thừng lôi cả hai người lên. Hùng đã bất
tỉnh còn Khải máu xục ra tai ra mũi. Anh không nghe thấy gì, mắt nhìn một mầu
vàng đục cuồn cuộn. Các bạn của Khải xúm lại giúp Hùng tỉnh lại. ít phút sau Khải
đã nghe được và nhìn thấy những bóng người nhòe nhoẹt xung quanh.
Buổi
trưa hôm ấy lại thêm mấy đợt những người còn lại trên bè thay nhau dòng dây nhảy
xuống sông. Nhưng không còn cách nào cứu được cô gái. Mắt ai cũng đỏ hoe và
cùng im lặng. Giá lúc này có cứu được thì Hoan cũng không còn sống nổi. Người
ta có thể nhịn ăn vài ngày, thậm chí cả tuần cũng chẳng sao. Nhưng không ai có
thể nhịn thở tới năm phút. Đó là một sự thật khốn nạn nhất mà sinh thể con người
không đối phó được.
Trời
về chiều rất nhanh. Phải mau chóng đưa bè ra khỏi vật nước, nếu không muốn quay
mãi trong vật, trong đêm tối. Khi ấy biết điều gì sẽ xảy ra? Một cây gỗ to hay
một mũi bè từ đầu nguồn thúc xuống, hoặc đơn giản bè va vào một phiến đá ngầm…
Khi ấy bè sẽ bị xé nát, tính mạng những con người trên bè sẽ không biết đâu mà
lường.
Phải
để lại người để nhờ thuyền của dân tìm xác cô bạn gái. Khải, Hùng và những người
khác tiếp tục hành trình.
Không
biết Hoan vướng vào hàm ếch dưới lòng sông, hay mái tóc dài mắc vào đám rễ cây
mà năm ngày sau cô mới nổi lên cách vật nước gần mười cây số. Thuyền chài lúc
đó mới đưa cô về.
Trường
đã làm lễ truy điệu và mai táng nấm mộ của cô trên một gò đất cao mọc dày cây
trinh nữ.
Từ
đấy Hùng coi Khải như ruột thịt. Nhưng lúc này đây anh cũng không giúp bạn được
gì ngoài bộ quần áo và ít tiền làm lộ phí đi đường. Tiếng là đi học nước ngoài,
Hùng về nước cũng chẳng có của nả gì. Ngoài chiếc xe đạp ngoại, anh chỉ mang về
hai va li đựng đầy sách quý. Những cuốn sách Hùng lo ở trong nước không thể mua
được cho công việc nghiên cứu khoa học của anh. Người ta đi Tây ( là cách gọi
những người sang Đông Âu) về xây nhà, sắm sửa tiện nghi đủ thứ. Hùng chỉ như đi
công tác xa mới về. Mẹ anh lại bị ốm liệt giường nửa năm nay. Hàm vị phó Tiến
sĩ của anh cũng không đủ nuôi sống gia đình. Hùng còn hai đứa em đang đi học. Bố
anh đã già, ngày ngày vẫn phải cặm cụi khâu, sửa giày cho khách. Công việc lem
luốc ấy tuy chẳng danh giá, nhưng đồng tiền kiếm được có tháng còn hơn cả lương
của Hùng, nhất là những tháng cuối năm.
May
mà Khải không đặt vấn đề nhờ vả, nếu không Hùng sẽ chẳng biết phải nói với bạn
ra sao.
Việc
duy nhất đáng giá Hùng giúp được bạn là tấm vé đi tàu. Vé dành riêng cho người
nhà cán bộ và công nhân viên đường sắt. Vợ anh làm ở phòng thông tin, tín hiệu
nên việc ấy không khó. Nếu không Khải phải chờ chưa biết đến bao giờ. Tàu Thống
Nhất lúc này không phải ai muốn là cũng được đi ngay. Nhà tàu chỉ ưu tiên cho bộ
đội, cán bộ có giấy đi công tác. Hoặc là tập thể nhân dân có quyết định vào
cùng kinh tế mới. Nếu là cá nhân phải có giấy giới thiệu uỷ ban nhân dân huyện
trở lên. Còn ở thành phố phải là cấp quận. Giấy xin từ xã, phường không có giá
trị gì. Tuyến đường sắt Bắc - Nam phải
vài năm nữa mới đi lại dễ dàng. Đường sắt vừa mới khôi phục sau nhiều
năm chiến tranh, chưa ổn định theo yêu cầu kỹ thuật. Một phần an ninh dọc đường
không đảm bảo. Đã có vụ đổ tàu chết người, vụ bọn Phỉ trên Cao Nguyên Trung Phần
phá hoại, cướp tài sản của hành khách trên tàu là chuyện dễ gặp ở dọc đường.
Trước lúc Khải ra đi Hùng đã nói qua cho anh biết như vậy. Nhưng với Khải, lúc
này điều ấy không quan trọng. Anh như kẻ đã liều thì ba bảy cũng liều, tất cả
phó mặc cho số phận.
Hùng
định mua thêm cho bạn chút quà bánh ăn đường nhưng suốt quãng từ Quốc Tử Giám ra tới ga không có hàng quán gì.
Ra tới sân ga mới có người bán bánh mỳ, Hùng mới mua được mấy cái. Anh còn kiếm
thêm được vài gói thuốc và hộp diêm cho Khải. Hai người không muốn rời nhau,
nhưng còi tàu đã gọi. Khải xiết tay bạn một lần nữa rồi im lặng lên tàu. Không
có lời lẽ nào thích hợp với họ vào lúc này.
ó
ó ó
Đáng
lẽ Khải lên toa dành cho khách có vé ưu tiên. Nhưng từ lúc nào nó đã đầy ắp người.
Đâu có phải mình anh là thân nhân của ngành đường sắt. Phần đông họ cũng là người
có trường hợp như anh. Hơn nữa quy định này cũng là cơ hội để cán bộ, nhân viên
ngành đường sắt kiếm thêm bù vào đồng lương ít ỏi trong lúc vật giá leo thang.
Đồng tiền mới đổi vào năm 1978 chỉ giữ giá được thời gian đầu, về sau tụt xuống
đến chóng mặt. Người nào làm nghề nào tìm cách kiếm ăn vào nghề ấy. Như câu
thành ngữ: “ Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ ”. Nhân viên đường sắt kiếm thêm từ
khách đi tàu thì có gì là lạ? Thợ dập đinh ăn cắp đinh, thợ xây ăn cắp gạch là
chuyện thường ngày đấy thôi. Có chuyện ở một công trường xây dựng một đêm mất mấy
vạn gạch mà không để lại dấu xe ra vào. Gánh bộ thì không được rồi vì phải vài
chục con người mới kịp khuân trong một đêm. Mà việc đó không thể qua mắt cổng bảo
vệ. Vậy thì làm cách nào, không lẽ trộm có cánh bay như chim. Cuối cùng người
ta cũng tìm ra hành tung của bọn trộm. Cạnh
công trường có một hồ nước. Bọn trộm đã khôn ngoan khuân gạch thả xuống
hồ. Có lẽ chúng tính đến chuyện xây xong công trình, công trường rời đi, chúng
sẽ lại vớt lên. Báo chí hết lời khen cán bộ điều tra có đầu óc đã khám phá ra vụ
án mặc dù không biết thủ phạm là ai! Chúng đã cao chạy xa bay, hoặc phủi tay sạch
sẽ rồi.
Khải
không lấy làm bực dọc khi cô nhân viên nhà tàu nói với anh hãy thông cảm. Anh
có thể lên bất cứ toa nào mà anh thích. Nói nghe hay thế, nhưng khi lên toa nào
cũng gấp đôi thậm chí gấp ba số vé bán cho khách. Mà lên được rồi ai cũng cảm
thấy là mình may mắn. May mà đang mùa giá lạnh, nếu không chẳng biết hành khách
chịu đựng thế nào nữa.
Vài
chục năm sau khi người ta nói về nạn tham nhũng tiêu cực ai cũng đổ tại mặt
trái nền kinh tế thị trường của thời mở cửa. Thực ra thì nó manh nha từ thời
bao cấp kia rồi. Từ cái cốt lõi cơ chế quản lý xã hội. Dạo ấy chưa có những vụ
ăn cắp hàng ngàn tỷ, chẳng qua là đất nước khi ấy quá nghèo. Không phải do liêm
chính, tư chế chỉ xâm phạm tài sản ở mức cò con vặt vãnh.
Khải
nghĩ rằng: Lòng tham thời nào cũng có. Khác nhau ở chỗ nghèo khó thì tham ăn,
giàu có tham vàng. Mà lòng tham dù lớn bé gì cũng là đê tiện và vô liêm sỉ.
Lần
này may cho anh là đứng gần dãy ghế của mấy bố con ông lão nét mặt hồn hậu, sởi
lởi. Ông bảo hai cô con gái ngồi xích lại cho anh ngồi ghé vào đầu ghế. Có lẽ
ông đã tính nếu anh không ngồi thì một người nào đó cũng len vào ngồi. Đã có ghế
tới năm người ngồi. Thà để cái anh chàng nom nét mặt không đến nỗi nào còn hơn
là một bà buôn to béo chen vào. Phía ghế bên kia cũng là người gia đình ông.
Hai hàng ghế xoay mặt vào nhau, phía trước gần cửa sổ gắn một cái bàn nhỏ. Cái
bàn thất cách, ngoài việc để hoa quả bánh trái bày ra ăn, không thể viết lách
hay làm được việc gì. Ông lão bảo:
-
Mỗi người nhường nhau một chút, chật hoá rộng. Mà cậu xuống ga nào?
- Dạ cháu đi hết tuyến.
- Cậu vào tận Sài Gòn
kia à?
Ông lão nói thứ thổ âm, Khải không
nhớ đã nghe ở đâu. Lại còn nhầm cả địa danh. Bây giờ người ta gọi là thành phố
Hồ Chí Minh chứ còn ai gọi tên cũ là thủ đô Sài Gòn của thời Mỹ - Ngụy nữa?
Ngọn đèn nóc toa chập chờn, lúc tối
lúc sáng. Có thể nó bị chập điện hoặc hở đầu dây ở chỗ nào đó. Nhân viên nhà
tàu phải khắc phục bằng cách treo thêm trong toa hai ngọn đèn bão. Nhìn qua của
sổ có che lưới sắt thỉnh thoảng mới bắt gặp ánh đèn ở một thị trấn hay một trạm
bơm nào đó. Những cánh đồng tối lờ mờ không nhìn rõ những đống rơm rạ sau mùa gặt
hái. Những thửa ruộng mới cấy còn loang loáng nước. Xóm làng phía xa luỹ tre
đen xẫm nom như bánh thép nghiến trên đường ray, tất cả xung quanh yên ắng
không một âm thanh nào vọng tới.
Trong toa, hành khách bắt đầu gà gật
ngủ. Giờ này nếu còn ở nhà người ta đang cuộn tròn trong chăn, chìm trong giấc
ngủ mê mệt. Ông lão nhường chỗ cho Khải vẫn thức. Chiếc áo bông cũ mỏng trên
người ông chắc không đủ ấm. Thỉnh thoảng ông lại xoa hai tay vào nhau cho đỡ
cóng và húng hắng ho. Hai cô con gái gục đầu vào vai nhau không biết ngủ hay thức.
Không nghe họ nói gì, cũng không thấy cựa quậy. Khải mời ông lão điếu thuốc. Mấy
ngón tay khô khan từ bàn tay xương xẩu của người từng lao động nặng của ông cầm
lấy đưa lên mũi ngửi, rồi mới bật diêm châm hút. Ông lão khen thuốc thơm và hỏi
là loại gì?
-
Phù Đổng cụ ạ! Thứ này mới có từ ngày thống nhất. Nó thơm và đượm hơn Tam Đảo,
Điện Biên.
Ông cụ bảo:
Thằng con tôi vào tiền trạm trước nhắn
về là khi nào lên mang chè Thái Nguyên với thuốc lào vào, nhưng khó mua lắm. Cứ
tưởng miền Nam thứ gì cũng có, mà nó lại dặn mua mấy thứ ấy với cả xà phòng,
thuốc đánh răng nữa chả hiểu ra làm sao?
-
Miền Nam trước giải phóng khác. Toàn hàng Mỹ viện trợ. Bây giờ hết nguồn ấy nên
hàng hoá khan hiếm cụ ạ.
Thực ra thì Khải cũng chưa biết tình
hình cụ thể như thế nào. Anh cũng chỉ là phỏng đoán như vậy. Thấy ông cụ vui
tính Khải gợi chuyện:
-
Cụ quê ở đâu ạ?
- Lão quê ở Hoài Đức. Đấy là quê tổ,
chứ lão đẻ ở bên Tân Đảo. Năm 1960 chính phủ kêu gọi đồng bào về nước, lão về
làng La Khuê. Đợt này xã vận động dân vào Lâm Đồng, khéo quá, lão lại cùng con
cháu đi. Không biết lần này có an cư lạc nghiệp được không? Hay giữ phận lưu
dân mãi? Cái cây chuyển trồng chỗ khác còn héo nữa là con người. Câu “ Xẩy nhà
ra thất nghiệp ”. Thời nào cũng đúng cậu ạ!
Hẳn nào giọng nói của ông cụ rất
khác. Một thứ giọng pha tạp của nhiều miền đất khác nhau. Ông cụ kể quê cụ đất
chật người đông. Nghề canh cửi gần như tê liệt, làm không đủ ăn. Người làng phần
nhiều đi nơi khác kiếm sống bằng làm mướn. Người khá một chút thì đi buôn. Chỉ
đến cuối năm, giáp tết mới về. Ông cụ khoe :
-
Không phải tôi khoe người làng tôi đâu. Nếu có thua chỉ chịu thua anh Thổ Tang
thôi. ở đất này buôn bán dân La Phù, La Khê không chịu ai đâu cậu ạ.
Khải
biết là ông cụ nói thật. Người dân vùng này chẳng những giỏi giang mà còn là đất
quý người. Khách đến chơi nhà không biết có mang lợi lộc gì không nhưng đều đón
tiếp chu đáo. Không như có nơi có người tới chơi nhà cứ gườm gườm làm như người
ta là gián điệp, Việt gian không bằng. Khải đã có thời gian hay về làng Đá, nơi
Ty Văn hoá sơ tán thời chiến tranh. Anh đã từng ăn cơm, ngủ lại đấy và từng có
những bạn bè. Nên phong hoá của vùng đất này anh biết. Tự nhiên anh thấy ông
lão gần gũi như người nhà. Khải cũng nghe bà dì anh nói hôm Khải từ Xuân Quang
về quê. Quê cũ của anh người ta cũng đang rậm rịch chuyển vào Lâm Đồng. Không
biết họ hàng, chú bác, anh em có ai vào đấy không?
Bà
dì Khải vườn rộng hàng mẫu, lại thêm tiêu chuẩn gia đình liệt sỹ, kinh tế vào
loại khá nhất làng. Vậy mà bà còn định đi. Trong mấy chị em gái, về mặt kinh tế
bà là khá nhất. Bà tính chuyện ra đi là vì lẽ khác. Ông chồng hy sinh để cho bà
hai cô con gái. Mà ở làng này nếu chỉ toàn con gái thì coi như không có con.
Tám năm nay chồng đi B bà ở nhà không điều tiếng gì. Nhưng sau khi chồng báo tử
bà kiếm thêm cậu con trai, dù không đi bước nữa. Chính điều này nảy sinh điều
tiếng cho bà. Người làng người xã đã đành, ngay trong họ tộc cũng nhiều người bất
bình. Con người đoan chính trong mắt nhiều người, xem như là hư hỏng. Bà ân hận
rồi uất ức muốn bỏ tất cả đi nơi khác. Đến nơi mà không ai biết mình là ai, dù
ăn rau ăn cỏ, còn hơn là chịu đựng những lời xì xèo sau lưng, ánh mắt coi thường
trước mặt. May mà bên chồng còn có người cảm thông, nên bà còn lưỡng lự chưa
quyết.
Chuyện
của mình, lúc đó Khải không muốn để Dì biết. Nếu bà có biết cũng không giúp anh
được điều gì. Một bà Dì quanh năm lam lũ dưới luỹ tre làng, văn hoá đủ để biết
đọc biết viết, cũng không có ý kiến gì hay. Vụ va vấp đầu đời của Khải bà đã từng
khuyên bảo, mà có tránh được điều gì đâu? Giá năm đó Khải cứ bình tĩnh ở nhà,
chưa chắc đã xảy ra chuyện gì. Anh bỏ lên Lạng Sơn năm ấy là cả một sự sai lầm.
Không có tội cớ sao giật mình? Đến như người vô tư nhất cũng sẽ nghĩ như vậy. Lại
thêm chuyện không may ở ga Bắc Thuỷ, khu vực có công trình quân sự. Khi ấy nó
đang là mục tiêu của máy bay ném bom, chỉ một dấu hiệu không bình thường là xảy
ra chuyện.
Lần
này anh về là muốn thăm quê hương lần cuối trước lúc đi xa. Tâm trạng của Khải
lúc này anh có linh tính ngày về còn xa. Không biết mình còn đi tới đâu nữa. Khải
muốn thăm mồ mả tổ tiên, họ mạc trước lúc ra đi. Thấy hoàn cảnh của Dì lúc ấy
cũng buồn. Bên nhà ông Thước, chú ruột anh nói một câu khiến Khải nhói tâm can,
suýt nữa Khải thay đổi ý định của mình. Vẫn hai hàm răng sít. Chú nói qua kẽ
răng:
-
Không đâu bằng ở quê mình, có hay gì kẻ bỏ làng mà đi!
Ông
nói đúng, không sai. Nhưng xét về tình người nó bẽ bàng, khốn nạn quá. Câu nói
này với người khác có thể là lời vàng ngọc. Nhưng với đứa cháu hoạn nạn đã phải
bỏ xứ ra đi thì không khác gì mũi dao đâm vào tim nó. Nếu ông nghĩ vậy, sao hồi
đó ông không ra tay cứu giúp? Vị trí xã hội của ông lúc bấy giờ thừa khả năng
che chở mà không ai làm gì được đứa cháu ruột của mình. Ông có thể nói với người
ta rằng ông bảo đảm việc đó, và chính ông cũng biết là nó không làm gì nên tội.
Nhưng ông đã làm ngơ. Ông đã tranh thủ cơ hội đó mua đất, mua nhà của mẹ con nó
với giá bọt bèo… Giờ những lời giả nhân giả nghĩa kia còn thuyết phục được ai?
Khải ứa nước mắt nghẹn lời không thốt ra được. Trong lòng anh muốn gào muốn
thét lên. Nếu ông không phải là chú ruột, Khải đã không nhẫn nhục như thế.
Khải
đành tự an ủi mình, trong lúc còn nhiều giá trị bị lẫn lộn, lòng người điên đảo,
thói giả dối lộng hành, vô nhân tính tốt nhất là im lặng. Bất kể với ai cũng đừng
tranh luận. Thường nó mang lại kết quả chẳng tốt đẹp gì.
Đã
qua một đêm, một buổi sáng Khải không cảm thấy đói. Thỉnh thoảng anh mua một
bát nước của một cậu bé có cái ấm nhôm méo mó bán trên tàu. Trời lạnh thế mà cậu
mặc độc chiếc quần đùi để tiện đi lại chỗ đông người, hay không có quần dài? Cậu
bé đầu to, cổ ngẳng, cái áo cũng cộc tay tới khuỷu. Chỉ có đôi mắt mở to, sáng
lấp lánh như thể coi mọi thiếu thốn cũng không đáng kể gì. ánh mắt nhìn của cậu
bé khiến cho Khải ấm lòng. Nó như mách bảo: Hãy cho qua mọi chuyện, dù sao cuộc
đời không phải đã hết những điều tử tế. Còn lòng tốt, còn tin tưởng, còn những
con người có tấm lòng để ta đáng sống, và trong đời không chỉ có một mình anh
trái ngang đau khổ.
Trong
vụ án xảy ra năm Giáp Dần, năm năm sau người ta cũng đã tìm ra thủ phạm. Đó là
Nguyễn Xuân Việt con một liệt sỹ chống Pháp. Trước đó không ai ngờ một anh
chàng điển trai có bề ngoài giàu nữ tính lại là hung thủ giết người. Vụ xô xát
có nguyên nhân từ chuyện ghen tuông trai gái. Nạn nhân bị giết cũng không phải
là người tốt đẹp gì. Y là tên đảo ngũ ở chiến trường về. Nhờ có người nhà đang
là nhân vật quan trọng trên tỉnh, Y đã giả mạo hồ sơ, nghiễm nhiên mang thẻ
thương binh, có một chân không quan trọng lắm ở Huyện đội.
Mười
một người bị bắt năm đó, ban đầu nghi là có liên quan. Một số được cho là có biết
nhưng không chịu khai báo. Rồi theo phản ảnh của địa phương, mỗi người mang một
tội danh khách nhau. Trừ Việt và hai nhân chứng nữa được đưa ra toà, còn tất cả
đều đi cải tạo với cái án chung “nguy hại cho xã hội”.
Theo
thói quen của một thời, tất cả đều không khiếu nại, đều lần lượt trở về. Thủ phạm
duy nhất ốm bệnh chết trong trại, gia đình Việt xin được mang thi thể về địa
phương.
Chấm
dứt một nghi án kéo dài gần năm năm. Nhưng số phận những con người có liên quan
trong vụ án, sau chấn động ấy, giờ đây vẫn chưa dừng lại. Nó để lại rạn nứt
trong nhiều gia đình. Để lại vết thương còn lâu mới được chữa khỏi.
Cũng
trong dịp về quê lần này, Khải gặp lại Du. Con người trước đây lành như củ. Sau
ngày ở trại về bỗng trở thành kẻ hung dữ. Sẵn sàng nhận lời nếu có kẻ thuê đâm,
chém mướn. Cuối năm ngoái bỗng Du mắc phải một căn bệnh kỳ quái. Qua một cơn sốt
rất nặng, khi khỏi Du trở thành một con người khác. Anh ta suốt ngày lặng lẽ,
thấy người lạ cứ nem nép sợ hãi, mồ hôi vã ra đầm đìa. Du không nhớ Khải là ai,
cứ cắm cổ bỏ chạy dù Khải không làm gì anh ta cả. Có thể căn bệnh trầm cảm quá
nặng, đã sinh ra hiệu ứng này. Mẹ Du cứ ôm Khải khóc. Anh cũng không biết an ủi
bà thế nào ngoài câu: Tất cả do số phận con người. Câu cửa miệng ấy xem ra kém
thuyết phục. Mẹ Du cứ rấm rứt mãi khi đưa Khải ra ngõ.
Vợ
chồng Đỗ Đen đi đám tang một người bà con trên Chí Cao nên Khải không gặp. ý định
gửi lại chiếc nhẫn và nhờ bạn vay cho ít tiền đi đường của Khải không thực hiện
được. Khải không thể nấn ná chờ Đỗ về.
Những
người khác, ngay cả ông Chú bà Dì Anh cũng không hy vọng gì. Không mấy người có
tiền, và nếu có chưa chắc đã có người chịu giúp Khải trong tình cảnh này. Khải
không còn sống ở làng, nếu còn ở đây đã chắc gì vay mượn được? Huống hồ anh còn
định đi xa, tương lai mờ mịt không biết sẽ thế nào.
May
mà hôm sau ra gặp Hùng, Khải không còn phải lo số tiền ấy nữa. Anh đã không phải
bán chiếc nhẫn nhận lại từ tay Thịnh đưa trả. Cô nhất định không nhận sau lần ở
công an huyện trở về. Cô nói anh còn nhiều khó khăn, nên giữ lấy làm vốn phòng
thân. Ai ngờ điều lo xa ấy của Thịnh trở thành hiện thực. Khải để ý mỗi khi có
điều không hay xảy đến chiếc nhẫn liền đổi màu. Nó không được sáng. Như có một
màu u tối bao quanh, nom nó sẫm nâu như thứ đồ giả kim…
Vì
chưa có dự định gì cho những ngày sắp tới, nên Khải chỉ nhớ lại những việc đã
qua. Anh lơ đãng nhìn phong cảnh xa lạ bên ngoài. Những con bò gầy guộc cần mẫn
gặm cỏ trên những sườn đồi khô khát miền trung. Những dải Xương Rồng khắc khổ mọc
miên man trên những cồn cát hai bên đường tàu. Thấp thoáng bóng người lom khom,
vất vưởng khuất nẻo về nơi nào đó, Khải chưa từng biết. Cảnh sắc như phụ hoạ với
lòng người, nhuốm sắc bi thương u uất. Khải nén một tiếng thở dài.
Ông
lão bảo:
-
Đã đi qua đèo Hải Vân rồi đấy. Cậu có thấy ấm dần lên không? Quả thật, Khải
không chú ý đến điều ấy. Nghe ông nói thế anh thấy quả là thời tiết có ấm lên
thật. Cái áo NaTo trở nên bức bối. Ngoài Bắc mùa đông thứ áo này nhiều người ưa
dùng. Nó có độ bền và rất ấm. Nhà sản xuất làm theo đơn đặt hàng của khối Nato,
thích hợp lăn, lê nơi trận mạc, có lười giặt cũng không nhận ra bụi bẩn. Nếu
Nhân không kỷ niệm cho thì chưa chắc anh đã giám mua vì nó đắt. Bán cái nhẫn
hai chỉ của anh cũng không đủ tiền mua nó.
Nhưng
mặc nó Khải thấy nó thế nào ấy, không phù hợp với mình. Mà bán đi thì không được.
Với khí hậu phương nam có lẽ ít khi dùng đến nó. Mà cũng lạ, trong khi ở lứa tuổi
anh người Bắc rất chuộng, mà ở trong này, Khải không thấy ai mặc Nato? Vì thời
tiết nóng hay vì di sản chiến tranh phía bên kia để lại?
Chiều
nay tàu sẽ tới ga Lăng Cô, đoàn người di dân sẽ xuống ở ga này để đáp xe lên
Lâm Đồng. Nơi mà trước kia báo chí gọi là Cao Nguyên Trung Phần, nơi có vùng đất
đai màu mỡ ưa trồng cây công nghiệp. Đã có lúc Khải nghĩ đến việc theo đoàn người,
đi cùng ông lão ngồi bên cạnh. Rất có khả năng anh gặp người làng ở nơi ấy.
Nhưng rồi Khải nghĩ lại. Anh muốn tới một nơi mới lạ, ở đó không ai biết mình
là ai. Khải sẽ tìm một việc làm nào đó gây dựng lại cuộc sống một lần nữa. Như
ngày anh ở tù ra, về nơi mẹ đang ở kiếm củi thả bè. Rồi Khải sẽ đón mẹ và bé Hà
vào. Điều gì cần quên hãy quên đi để sống những ngày mới mẻ, cho dù gian khó.
Cũng
là đi tìm cuộc sống, nhưng đoàn người di dân này hăm hở, hân hoan còn Khải thì
buồn lo trĩu nặng trong lòng.
Biển
Nha Trang đã hiện ra trước mặt. Nắng, gió, Biển cả mênh mang như tạo cho Khải một
niềm phấn khích rất lạ. Đường tàu cận kề bãi biển. Những hàng cây xanh bình yên
rợp bóng, dường như không còn dấu tích nào của cuộc chiến ác liệt mấy chục năm
trời. Biển xanh ngắt một màu xanh thơ mộng. Nếu như không có cảnh xua đuổi những
người bán hàng rong chạy cuống quýt trên sân ga, thì đây là một buổi chiều tuyệt
đẹp.
Ông
lão và đoàn người đã ra khỏi sân ga. Chỉ còn mình Khải đứng trên cửa lên xuống
im lặng nhìn theo. Lại là những hành khách mới tất tưởi lên tàu.
Một
cậu bé chừng mười hai tuổi chào mời:
- Chú Hai mua giùm con ổ
bánh mỳ đi. Bánh mới nè!
Khải
không định nhưng vẫn mua. Một ý nghĩ thoáng qua làm anh vui vui: Phải đây là
câu chào đầu tiên khi anh đến mảnh đất này?
ó
ó ó
Nếu
như Hà Nội là một thành phố héo hắt, gầy mòn, bị đổ nát một phần vì chiến
tranh, thì Sài Gòn, bây giờ gọi là Thành phố Hồ Chí Minh lại ngược lại. Hai
mươi năm chiến tranh nó được mở rộng quy mô, tầm vóc một thành phố hiện đại nhất
nhì khu vực. Người Mỹ đã đổ tiền vào xây dựng nơi nuôi dưỡng bộ máy chiến
tranh, mô hình để tuyên truyền cho sự giàu có của Thế giới Tự do. Sau ngày 30 -
4 thành phố hầu như còn nguyên vẹn, ngoại trừ cánh cổng sắt dinh Độc Lập bị xe
tăng cán đổ và vài hố đạn róc két ở cầu Bình Lợi… Chiến tranh như không hề qua
đây với những cảnh đổ nát hoang tàn. Chính quyền mới như người chủ cũ trở về
ngôi nhà của mình mà không cần lo sửa sang lại gì nhiều.
Nhưng
đó là cái nhìn bề ngoài của những kẻ thờ ơ, hay người qua đây lần đầu. Thực ra
người dân thành phố đang gặp rất nhiều khó khăn về đời sống. Các cơ sở sản xuất
thiếu nguyên liệu, công nhân thiếu việc làm, người dân thiếu mọi nhu yếu phẩm,
giá cả leo thang… Lại thêm những chủ trương vội vã, chủ quan trong việc cải tạo
công thương nghiệp, cải tạo quan hệ và phương thức một nền kinh tế bấy lâu nay
sống nhờ vào viện trợ nước ngoài. Chính sách di dân lên các vùng kinh tế mới,
xây dựng các tập đoàn sản xuất theo mô hình xã hội chủ nghĩa từ miền Bắc mang
vào. Đáng lẽ phải căn cứ vào thực tế xã hội để tìm ra phương sách, người ta lại
duy lý đưa những quyết sách quan liêu từ trên xuống. Tình hình không khác nào lửa
cháy hai đầu, thách thức cuộc sống của mấy triệu con người.
Khải
lần đầu đến thành phố này. Mặc dù Hùng đã vẽ sơ đồ đến địa chỉ anh cần mà không
khỏi bỡ ngỡ. Sân ga rộng ngút tầm mắt, những ngôi nhà cao tầng anh mới thấy lần
đầu, những con đường hai chiều rộng thênh thang với đủ loại xe cộ nom lạ mắt nối
đuôi nhau. Những hàng cây xanh lâu năm hai bên vỉa hè to cả vòng tay ôm không
xuể. Tất cả như vẽ ra một thành phố trù phú, no đủ.
Nhưng
khi đi ra khỏi sân ga, vào một hàng hủ tiếu trên đường Lý Chính Thắng Khải mới
biết mình lầm, khung cảnh không khác gì một cửa hàng ăn uống quốc doanh ngoài Bắc.
Những thực khách ăn bận luộm thuộm, ba lô hành lý xếp dưới gầm bàn, ngồi nhai
bánh mỳ hay ăn thứ hủ tiếu nước dùng trong vắt, bên trên rải ít cọng hành thái
nhỏ, thêm một vài miếng thịt heo thái mỏng. Chỉ có ớt là thứ gia vị duy nhất
khách mặc lòng dùng theo ý muốn. Đó cũng là thứ khác biệt dễ nhận ra nhất. ở Hà
Nội hay các tỉnh Bắc phần người ta cũng dùng ớt làm gia vị nhưng nó được dùng ở
mức vừa phải không dùng “quá xá” như cách nói của người phương Nam. Chỉ khẽ sêu
tô hủ tiếu lên là đã nhìn thấy ớt đỏ ngầu. Người không quen dùng tức khắc hắt
hơi, nước mắt nước mũi nom mờ cả mắt.
Người
phương Nam ăn ớt nhiều có lẽ bởi thói quen hàng trăm năm xưa của những người đầu
tiên đi mở đất, khi ấy những đoàn khai sơn phá thạch còn gặp nhiều lam chướng,
dùng ớt như một bài thuốc trừ lam chướng và chống ngã nước. ăn riết rồi thành
quen. Trong gen sinh tồn của người phương này không thể thiếu thói quen dùng ớt.
Ngay
cả thời kỳ khó khăn này, thiếu gì thì thiếu, ớt vẫn dùng dư dả.
Với
giá tiền trả cho tô hủ tiếu, ở Hà nội đã có bát phở ngon lành. Khải vẫn có cảm
giác như chưa ăn gì, hủ tiếu chủ yếu là nước, ăn thêm bát nữa thì ớt quá cay,
anh chưa quen.
Ba
ngày trên tàu, Khải không ăn bữa nào thành bữa, toàn thứ quà bánh vặt vãnh dọc
đường. Anh thèm một bữa cơm nóng, cơm rau thôi cũng được. Nhìn quanh quất không
thấy, Khải đành ngồi nhai thêm mẩu bánh mỳ lúc mua trên tàu ở ga Lăng Cô. Không
biết bánh để lâu hay do mệt mỏi trên đường mà mẩu bánh mỳ không khác gì mẩu gỗ.
Nó vừa cứng vừa không có hương vị gì. Anh vừa đặt mẩu bánh xuống bàn đã thấy mấy
bàn tay nhỏ bé, đen đủi vồ lấy. Đứng ngay sau lưng Khải có đến ba, bốn đứa bé
ăn mặc rách rưới tóc bù xù đang dành nhau mẩu bánh vừa rồi. Khải đưa bọc ni
lông bên trong còn mấy cái đưa cho chúng. Một đứa lễ phép khoanh tay:
-
Con cám ơn chú Hai.
Cử
chỉ ấy làm anh ngạc nhiên. Nó là đứa con của một gia đình có giáo dục vừa tan
đàn sẻ nghé, hay là thói quen của lũ trẻ nơi này? Lúc ở trong ga Khải cũng thấy
những tốp trẻ con như thế. Con trai, con gái tuổi từ mười lăm, mười sáu trở xuống.
Chúng cao thấp mập ốm khác nhau, nhưng đều có chung bề ngoài lam lũ bẩn thỉu.
Ngoài cái túi ni lon hay một mảnh bao bố cầm tay trên người chúng chẳng có gì.
áo quần chúng mặc cũng không giống ai. Cái thì cộc cỡn, cái thì rộng thùng
thình. Có lẽ là thứ người lớn cho, hay chúng lượm được đâu đó ở một xó xỉnh
nào… Những đứa trẻ không biết đến tắm rửa là gì. Đất cát, bụi đường, dầu nhớt
bám dày từng lớp. Có lẽ Gavơrot lang thang trong thành phố Pa Ri trong “Những
người khốn khổ” cũng không cam khổ đến mức này. Cha mẹ chúng là ai? Đã chết
trong chiến tranh bỏ chúng bơ vơ giữa dòng đời, hay lưu lạc phương trời nào?
Chúng tự ý bỏ nhà chốn đi, hay cuộc sống cơ cực ném chúng ra vỉa hè?... Khải
nhìn chúng rồi sót xa nghĩ đến con gái mình. Con anh có cha có mẹ mà từng ấy
năm sống như trẻ mồ côi. Nếu không có bà nội, tình cảnh của nó khác gì những đứa
trẻ kia? Khải cảm thấy có lỗi với mẹ, với con gái mình. Anh đã mắc nợ với người
thân của mình rất nhiều. Không thể đổ hết cho hoàn cảnh, cho số phận. Khải phải
chịu trách nhiệm trước cuộc đời mình. Nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, éo le
hơn sao người ta vẫn vượt qua được. Mình ít ra cũng có hoàn cảnh thuận lợi lúc
ban đầu, có người mẹ thương con, nhân hậu hiếm có. Anh còn được đi học, đi đó
đi đây… vậy mà Khải đã làm gì để đến nông nỗi này. Kể từ hôm nay, anh cũng
thành bơ vơ đất lạ, quê người không khác gì những đứa trẻ kia. Có phải anh cũng
là một đứa trẻ sống lâu năm được gọi bằng bố mà suốt quá trình sống không tích
luỹ được gì? Không tài sản, không nghề nghiệp nuôi thân, đến cả kinh nghiệm sống
cũng không đầy đủ. Nói gì đến bổn phận làm con, làm chồng, làm cha?
Không
lúc nào Khải tự cảm thấy khinh bỉ bản thân mình như lúc này! Một kẻ như thế cứ
sống nhăn ra đấy, nhằm vào cái gì đây? Khải sợ, không dám nghĩ tiếp. Anh cũng
không dám nhìn đám trẻ trước mặt. Chúng thiếu thốn khổ sở, nhưng chúng hồn
nhiên vì trước mặt con đường còn dài. Một bước ngoặt nào đó chúng sẽ được đổi đời.
Vì thường ra ông trời không quên ai, nếu ông có đủ thời gian.
Còn
anh, mười năm nữa, Khải sẽ trở thành một người già. Mẹ anh sẽ qua đời, con anh
còn dại… cảnh tuổi già nhà dột, gà sống nuôi con không phải là một khổ cảnh khó
hình dung! Đừng nói đến sự nghiệp cao xa gì cho cám cảnh. Sẽ là giả dối, huyễn
hoặc chính mình. Khải thấy mình giống chiếc xe tải cũ nát mất phanh, đang tụt dần
trên đèo Rù Rì, rồi lao vút xuống vực trước hàng ngàn con mắt của hành khách
trên tàu.
Anh
bước vội sang bên kia đường, cổ họng khát khô, ù cả hai lỗ tai. Chiếc áo dày
làm Khải khó chịu, ở xứ sở nóng nực này khoác áo trên người chẳng khác nào cực
hình. Anh vội cởi nó ra vắt lên vai. Người Mỹ tự hào có đầu óc thực dụng, thực
tế mà lại trang bị cho lính tráng kiểu áo này là cớ làm sao? Có lẽ nó có thể
thích hợp trên cao nguyên hay các nước Tây âu trong khối Nato của họ hơn ở Sài
Gòn.
Tiệm
giải khát phần nhiều là bán hoa quả, thứ nước giải khát thông dụng là trà đá hoặc
nước rau má. Cũng chỉ thưa thớt dăm người khách. Dân cư thành phố dường như đi
đâu vắng cả. Ngay ngoài đường cũng ít người qua lại. Khải kêu một ly trà đá,
tìm cách hỏi thăm đường.
Người
bán hàng là một bà có tuổi nói giọng Bắc pha Nam lơ lớ. Khi Khải hỏi đường xuống
quận 11 thì bà nói:
-
Chú cứ theo đường Lý Chính Thắng này, lội qua đường Cách mạng tháng tám rồi
theo đường Tô Hiến Thành quẹo phải đi một khúc Lý Thường Kiệt là tới liền à. Nếu
không nhớ thì cứ hỏi thăm đường xuống khu Đầm Sen. Đến đó lại hỏi tiếp.
Bà
nói một thôi một hồi, khiến Khải không sao nhớ nổi. Hỏi thăm như vậy cũng bằng
không. Phải là người đã qua lại ở đây nhiều, nhắc qua thế mới biết được. Vừa
may có một người cao gầy, áo cộc tay, mũ bò tới bên:
-
Thầy Hai tới đâu tui rước!
Khải
hơi ngạc nhiên trước vẻ vồn vã quá mức khiêm nhường của người chạy xe ôm. Anh định
mời anh ta ly nước nhưng người này từ chối. Anh ta ra cái xe dựng ở mép đường
hí húi sửa cái gì đó. Khi Khải bước ra, cái xe sáp bầu tròn đen trũi trông rất
kỳ quái đã nổ máy bành bành. Chiếc xe phun khói mù mịt một lúc rồi tắt máy. Chỉ
là người chạy xe ôm thử xe. Anh ta nói loại xe này của Liên Bang Đức, coi xấu
nhưng đảm bảo số rách luôn, khỏi chê! Xe chạy qua nhiều con phố rộng, trên vỉa
hè thỉnh thoảng có người bán thứ gì đó bày trên miếng ni lông bên các gốc cây
to. Cảnh tượng không khác mấy lối phố Đường Thành hay Phùng Hưng ngoài Hà Nội.
Cũng là bán hàng lén lút, cò con, cũng thấp thoáng người đeo băng đỏ dẹp đường,
Qua nghĩa địa Tây một quãng, nhà cửa thưa thớt là tới con hẻm gần trường đua
Phú Thọ. Khổng Minh Không người nhà của Hùng ở khu vực này, Khải trả tiền xe rồi
rẽ vào hẻm. Rất may là Khổng Minh Không có nhà vì hôm nay là chủ nhật. Anh làm ở
Chi cục Kiểm lâm đóng trên Biên Hoà. Không sáng đi làm, bữa trưa ăn ở cơ quan,
chỉ tối mới về.
ó
ó ó
Trước
nhà có cái tủ kính hai ngăn, bên trong bày bán thuốc lá Mai và Hải Vân, loại
thuốc hút nặng, khói đen, ngái hơn thuốc lá Cửu Long hay Sông Mã trước đây có ở
Miền Bắc. Mấy lọ kẹo gói giấy trang kim, kẹo Me xừng vụn. Ngồi sau tủ kính là một
ông già ngoài năm mươi tuổi, ông mang cặp kính dày phải tới ba Điốp, tay cầm cuốn
sách dày cộp. Khải chỉ nhác qua biết ngay là cuốn “Tư bản luận” bộ Pi da ma ông
khoác trên người kẻ sọc xanh rất ăn ý với vẻ bề ngoài của ông: cái đầu hói phất
phơ vài đám tóc thưa vát ngay trên trán. Bộ dạng ấy nom ông rất giống một viên
chức cao cấp chế độ mới, trong lúc thư nhàn. Nhưng Khải đã lầm. Bộ dạng ông có
vẻ e dè, ít nói. Suốt bữa cơm ông chỉ dăm ba câu chiếu lệ, khác hẳn bà vợ mau mồm
mau miệng. Cả hai vợ chồng ông là dân Bắc di cư sau hiệp Giơ ne vơ 1954. Ông là
sỹ quan quân y trong quân đội Sài Gòn vùng Bốn Chiến Thuật, vừa đi học tập cải
tạo trở về. Ông được về sớm hơn mọi người là vì mức độ can dự vào cuộc chiến và
cũng vì có hai người con gái trong đội biệt động thành chống lại chế độ cũ. Người
con gái lớn bây giờ là vợ Khổng Minh Không, họ đã có đứa con gái lên năm tuổi.
Cô em cũng lấy chồng bộ đội, cả hai đã ra quân hiện đang sống trên Phước Bình.
Khải
đưa lá thư Hùng gửi cho Không. Anh ta đọc lá thư suy nghĩ rất lâu rồi mới nói:
-
Tôi với anh Hùng là con cô con cậu. Năm ngoái anh ấy cũng có vào trong này
chơi. Tình hình năm nay cũng không khá hơn năm trước. Có phần khó khăn hơn. Nhà
nước nếu không thay đổi không biết sẽ còn đi tới đâu? Vấn đề công ăn việc làm
bây giờ là khó khăn và là công việc phải lo hàng đầu ở thành phố này. Nếu bác
có hồ sơ giấy tờ thì có thể xin tạm một việc nào đấy, chẳng hạn làm bảo vệ cơ
quan, sau đó dần dần tìm việc khác. Nhưng bác có mỗi cái thẻ căn cước thì thêm
cái bằng Đại học vào nữa cũng bằng thừa. Vùng mới giải phóng, giữ gìn trật tự
an ninh xã hội là biện pháp cấp thiết nhất trong lúc này… Bác cứ ở đây chơi ít
bữa em sẽ liệu sau. Bác Hùng đã có thư như thế thì em cũng ráng sức.
Hôm
sau, hai anh em xuống quận sáu rồi lên cảng Sài Gòn. Không có những người bạn
cùng đơn vị ra quân làm ở những nơi đó. Tình hình cũng không khả quan hơn. Chiếc
xe sáu bảy của Không lại một lần nữa vòng xuống quận Nhà Bè. Có một khu kinh tế
đang được xây dựng ở vùng đầm lầy này. Nhìn cảnh sống và làm việc của di dân từ
nhiều miền tới đây mà ngao ngán. Những căn nhà lợp lá dừa nước, vách cũng đan bằng
cùng thứ lá, chật chội. Những con đường sình lầy… Không bỏ ý định kiếm một chút
việc cho Khải ở đây. Trên đường về Khổng Minh Không cười khôi hài:
-
Em đúng là Khổng Minh Không! Chẳng có được cái tài cán gì lo giúp được cho bác.
Còn một nước cuối cùng ngày mai em xin nghỉ việc cơ quan một hai buổi lên chỗ
chú Lân anh em cọc chèo với em xem có được việc gì không?
Khải ái ngại khi thấy Không vất vả với
mình quá. Chỉ là người dưng nhưng cậu ta rất nhiệt tình. Nhưng cũng không còn
cách nào khác. Đành phải nhờ Không xin phép cơ quan lên Đa Kia là nơi Lân vừa
nhận trách nhiệm xây dựng một nông trường. Biết đâu Khải sẽ có được một công việc
trong lúc cơ nhỡ này?
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét