DUY THÔNG
Sự sống vốn là huyền nhiệm ! Đó là lời khẳng định của hầu hết mọi tôn giáo. Sự sống là gì ? Nó đến từ đâu? Nó lớn lên thế nào? Hình hài ra sao ? Và nó đi đâu về đâu khi thân xác tuyệt diệt ? Trước những cật vấn cam go như búa bổ ấy, bằng kinh nghiệm sống con người có thể thực chứng được một phần tính huyền nhiệm của nó : Sự sống ấy không thể cầm nắm, sờ mó, chưng cất, chiết cấy, không thể chế tạo cũng như không thể áp đặt bất cứ điều gì lên nó. Một cách trọn vẹn nhất, chỉ con người mang sự sống thần linh siêu việt: được cấu tố và hòa điệu giữa hai nguyên lý: vật chất và tinh thần, thể xác và tâm linh. Các nhà khoa học hiện đại đã không ngần ngại áp dụng công nghệ hiện đại và khoa học tân tiến nhất để cho ra LÒ một sự sống hoàn hảo, và kết quả mà họ lãnh nhận được là sự thất bại hoàn toàn. Bằng chứng là quả trứng gà nhân tạo với đầy đủ thành phần các chất và tỉ lệ hàm lượng tương đương một quả trứng gà sống thực, cùng đặt trong một điều kiện và môi trường vô cùng lý tưởng, nhưng chưa đầy một nữa chu kỳ ấp nở thì quả trứng nhân tạo đã thối ung. Rồi gần đây hơn là nhân bản vô tính mà theo các chuyên gia vẫn gọi là “ Phi nhân tính ”. Bởi lẽ nếu không dựa vào sự phối ngẫu của hai bản tính khác giới đồng loài thì sản phẩm sẽ là một quái thai vô nhân tính, điều còn tệ hại hơn đó còn là sự phi Luân. Sự thậm tệ cả thể sự dung dưỡng của Thiên - Địa - Nhân như vậy nên không cách gì với bất cứ một lý do nào có thể cho phép đâm chồi nổi một mầm sống trọn vẹn cả. Chính sự bất lực ấy đã dẫn con người đến với khái niệm Sáng Tạo đúng nghĩa, tức là : “ làm cho hư vô bước ra hiện hữu” ! Không ! con người không thể sáng tạo, mà chỉ có chế tạo tức chế biến lại những gì đã có trước đó.
Một lần nữa, chúng ta hãy nại đến niềm tin của Công Giáo – một tôn giáo lớn nhất với Đức Tin vĩ đại bậc nhất. Giáo hội công giáo tin rằng chết không phải là hết nhưng mới thực sự là bước chuyển vĩ đại vào cõi Thiên Đàng hoặc bị luận phạt trầm luân. Chết là một biến cố dứt khoát, bất khả phản hồi “ người ta chỉ chết một lần mà thôi ” ( Dt 9, 27 ), không có sự “ tái đầu thai”, và nguyên ủy của sự chết là do “ hoa trái của tội lỗi ” mang lại. Chính Đức Kitô con Thượng Đế đã giáng lâm cứu độ giải thoát con người, trao trả tự do, danh dự, vương trượng và quyền bính của vị hoàng tử vốn đã tặng ban cho con người từ thuở khai thiên lập địa. Sấm ngôn Đức Chúa uy chấn vang lừng khắp cùng cõi địa cầu, đẩy lùi bóng tối sự dữ, đập tan gông cùm sự chết: “ Ta là Đường, là sự Thật và là Sự Sống ” ( Ga 14,6), và “ Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin ta sẽ không chết bao giờ ”. Thế nhưng trong thân phận mọn hèn con người, khi bị treo lơ lửng trần trụi trên cây thập tự, Ngài đã ca thán “ Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha ”. Chính Thượng Đế chứ không phải là con người, đã loan báo về một triều đại vinh hiển của sự sống bất tử, đó là sự sống nhắm vào Thiên Chúa. Sự sống ấy khởi xuất từ thần khí thì sẽ trở về với cội nguồn uyên nguyên là thần khí, vì “ chỉ có thần khí mới làm ra sự sống, còn vật chất thì ích gì ”, hơn nữa, Ngài không chỉ là sự sống vĩnh cữu mà còn là bản mẫu để có sự sống ấy, đó là khi con người nhắm dự phóng cuộc đời về cứu cánh tối hậu, từ hữu hạn về vô hạn, tự nhiên về ân sủng, bằng sự “ tín thác ” trong Thiên Chúa thì mọi sự được viên mãn. Đây chính là kinh nghiệm thần linh của nhà Thần Học vĩ đại Ausgustine: “ Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa và linh hồn con không ngừng khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa ”.
Như vậy, sự sống viên mãn thì nằm ở đời sau nhưng nó đã khởi sự và hoàn thành ở ngay đời này rồi. Đến đây tôi chợt nhớ một câu thơ chứa đựng thần học sâu thẳm của một triết gia nào đó: “ Tôi hỏi: Thưa Thượng Đế có phải trên kia bồng bềnh mây ngũ sắc là nền móng Thiên Đường ? Không ! Ngài bảo. Nơi ngươi đứng là nơi mà Thiên Đường đặt viên đá đầu tiên”. Kinh Thánh thì dạy rằng : “ Các con hãy là men là muốn là ánh sáng trần gian”, là men thì phải chịu vùi dập, muối để bị chà đạp, ánh sáng để thi thố giải bày mình ra chiếu sáng cuộc đời tăm tối, nói cách khác, đó là chấp nhận CHẾT đi chính mình để được hưởng kiến sự sống vĩnh cửu đời sau. Sau hết chính Đức Giêsu đã chết ê chề, nhục nhằn, bị lột nhẵn trần trụi trên thánh giá để đánh đổi vinh quang Phục Sinh, Ngài chiến thắng để được tôn vinh, và để mở lối vào sự sống sung mãn cho những kẻ đã an giấc ngàn thu. Chính kinh nghiệm ấy đã sống lại thuở nào trong vị tông đồ dân ngoại, biến một kẻ ngoại bắt bớ đạo thành một vị Đại tông đồ nhiệt thành mang tên Saint Paul, hăng hái làm chứng và sống chết cho chân lý: “ Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi ”.
Vậy thì chúng ta phải làm gì ? Chọn thái độ sống chết nào ? Thái độ lạc quan sống để quên chết hay là bi quan lo chết ? Dù bạn là ai, bạn chọn thái độ nào thì cái chết vẫn tức tưởi bủa vây bạn, cái chết vẫn không quên bạn dù bạn có quên nó ngày nào, vì thế có triết gia nói rằng : “ cuộc sống là trì hoãn cái chết ”. Và nói như Targore thì “ bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết ”, đó là thái độ đúng đắn nhất mà chúng ta có thể làm được. Vì mỗi người chỉ sống một lần, chết một lần, “ không ai có thể chết thay cho ai, mỗi người chết cái chết của riêng mình ” ( Martin Heidegger ), ở nơi cái chết ấy mỗi người phải tự đối diện với mình, và đảm nhận trách nhiệm cũng như một cái gì riêng có của đời người “ mỗi người chết cái chết của mình, cũng như mỗi người thở cái thở của mình ” ( Jean Paul Sartre ). Khi linh hồn rung lên giai khúc thống thiết và da diết nhất đòi bay về cõi siêu việt thì cũng là lúc mỗi người phải lên đường như đàn hạc tha hương nối nhau dập dình trên đôi cánh không mỏi bay về cõi tuyệt đích :
“ Ôi Thượng Đế ! Kính lạy người lần cuối.
Như đàn hạc hoài hương, ngày đêm hối hả bay về tổ ấm trên núi cao, xin cho đời tôi phiêu du tới quê hương vĩnh cửu ngàn thu ” ( Lời Dâng, Targore )
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Như đàn hạc hoài hương, ngày đêm hối hả bay về tổ ấm trên núi cao, xin cho đời tôi phiêu du tới quê hương vĩnh cửu ngàn thu ” ( Lời Dâng, Targore )
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét