Trước tiên, xem ở kia.
Không gì hấp dẫn hơn là xem sự ngu của con người: đó là điều mà Flaubert đã làm. Nhưng vẫn có thể đẩy lên hơn: không gì hấp dẫn hơn là xem sự ngu của những con người hiểu biết. Thời củachúng ta là thời như thế nào? là thời của những biểu nghĩa lộn ngược. Bọn không viết đúng được tên "Nietzsche" thì sẽ suốt ngày trầm ngâm nhắc đến Nít, các nhà đạo mạo đến cả trong những trò hủi sẽ liên mồm "công chính" và "chơi đẹp", các sư đoàn Nhạc Bất Quần thì ra rả "danh môn chính phái", đám bựa thì bựa cho nó giống người trí tuệ nhưng lại chính qua đó thể hiện chẳng giống mấy: đâu phải ai cũng trở thành Diogène được, và còn thêm một đám ếch ộp thượng lưu, cái gì cũng thượng niu thượng niu: thượng niu kêu miu miu.
Tôi nghĩ Heinrich Heine sẽ đồng ý với tôi.
Như từng nói, chắc phải hơn một lần, "lý thuyết văn học" đối với tôi hoàn toàn không phải ngồi liệt kê người này và người kia, ai thuộc trường phái nào, người nào nói gì, Lotman thì I la mã 2 Ả rập A hoa b nhỏ. Không, lý thuyết không phải là như vậy. Lý thuyết là một bình diện, là một nơi từ đó ta có một phối cảnh đặc thù để nhìn vào một khối vừa đồng nhất vừa không đồng chất - cái khối ấy là văn chương. Tôi nhớ đến Henri Bergson, khi bình luận một cuốn sách của Paul Janet, Bergson nói đến ảo tưởng của triết gia tưởng rằng triết học thì đồng nghĩa với có phần này, phần kia, rồi lại phần nọ và thêm phần khác nữa, và cứ đi hết những cái đó thì tức là triết lý: không, đó không phải là triết học, đó là rác.
Làm thế nào để lý thuyết hóa lịch sử, tức là đưa lịch sử đi vào pha lý thuyết? (tôi không nghĩ lịch sử và lý thuyết xa nhau như người ta vẫn hay tưởng) Heinrich Heine mang tới một gợi ý tuyệt vời về riêng khía cạnh này.
Dưới đây sẽ là một số trích đoạn từ Thú nhận của Heine, viết khi đã sang Pháp sống từ lâu (một thời gian ngắn sau đó, Heine sẽ qua đời). Những "lời chứng" của Heine sẽ cho thấy một điều tưởng chừng hết sức bình thường, một nhà lãng mạn thì nghĩa là như thế nào. Nhưng nếu đọc Heine bằng một con mắt hơi khác đi, sẽ thấy những gì Heine nó những tầng ý nghĩa rất khác; đấy chính là bởi vì, dẫu chỉ một phần, và tất nhiên hoàn toàn không chủ ý, Heine đã dễ dàng đi vào pha của lý thuyết, nhập vào nhịp của nó.
nhân tiện: đã tiếp tục Cô gái mắt vàng: đoạn mở đầu ấy là một kiệt tác đích thực
Một người Pháp nhiều trí tuệ - mới cách đây vài năm thôi, nói như vậy hẳn sẽ gây ra trùng ngữ - từng có hôm định nghĩa tôi là một romantique défroqué [một thầy tu nếu hoàn tục thì gọi là “défroqué”, bỏ áo chùng, rời đạo về với đời; ở đây, từng có nhà phê bình dùng cụm từ này để nói Heinrich Heine tương tự, trong địa hạt “lãng mạn”]. Tôi thì vốn dĩ rất yêu quý mọi hình thức của trí tuệ, và dẫu câu nói có thể chứa đựng ác tâm tới mức nào, nó vẫn khiến tôi cảm thấy hết sức thư thái. Nó đúng. Mặc cho các cuộc thập tự chinh tàn hại mà tôi từng thực hiện chống lại chủ nghĩa lãng mạn, tôi vẫn cứ là một nhà lãng mạn, và tôi là lãng mạn ở một mức độ còn cao hơn bản thân tôi có thể hình dung. Sau khi đâm những nhát chết người vào sở thích thơ ca lãng mạn ở Đức, tôi đã cảm thấy len lỏi vào trong tôi một niềm hoài nhớ vô tận đối với bông hoa xanh [a, đây là ám chỉ Novalis; xem thêm ởkia] mọc lên ở miền đất của giấc mơ lãng mạn, và tôi đã nâng cây đàn lia cổ xưa nhiệm mầu lên, cất một khúc ca trong đó tôi gieo mình vào các yêu kiều quá đà nhất, vào những ánh trăng ngất ngây nhất, vào những con sơn ca phấn hứng cao độ nhất và điên nhất, vào cái phong cách mà trước kia người ta từng yêu quý vô cùng. Tôi biết đó là “khúc ca rừng thẳm tự do cuối cùng của chủ nghĩa lãng mạn” [Heine đang tự trích dẫn mình] và tôi là nhà thơ cuối cùng của nó: cùng tôi biến mất đi trường phái cũ của Đức về thơ trữ tình và cùng lúc tôi đã khánh thành trường phái mới, thơ trữ tình Đức hiện đại. Người Đức rồi sẽ gắn cho tôi biểu nghĩa nhân đôi này trong lịch sử văn chương. Tôi thấy thật không thoải mái nếu nói quá nhiều về điều này, nhưng tôi hoàn toàn có thể nói rằng tôi xứng đáng được nêu tên rất nhiều trong lịch sử chủ nghĩa lãng mạn Đức. Ở tư cách ấy, trong cuốn sách Về nước Đức của tôi, nơi tôi đã gắng sức viết một lịch sử thật đầy đủ về trường phái lãng mạn đó, lẽ ra tôi đã phải viết riêng một nghiên cứu về chính tôi. Vì đã không làm việc này, tôi đã để lại trong cuốn sách một lỗ hổng mà tôi chẳng biết làm cách nào để sửa chữa. Viết một chuyên khảo về bản thân mình chắc hẳn phải là một công trình đầy rẫy cạm bẫy, một công việc bất khả. Hẳn tôi sẽ trở thành một kẻ phô trương và một kẻ hỗn hào nếu có ý định nêu bật lên những gì tôi thấy là tốt đẹp ở tôi, và một thằng điên đích thị nếu bày ra trước mắt tất cả mọi người những khiếm khuyết mà tôi có thể ý thức được - và rồi, với lòng tin tốt đẹp nhất, thành thực nhất trên đời, không ai có thể nói sự thật về bản thân hết. Cho đến giờ phút này chẳng ai làm được, cả thánh Augustin, giám mục ngoan đạo Hippone, lẫn đến cả con người Genève Jean-Jacques Rousseau, ông ta thì còn kém hơn hẳn so với những người khác, ông ta cứ hay tự nói mình là người của sự thật và tự nhiên thế nhưng, xét cho cùng, lại còn đạo đức giả và hay vờ vịt hơn cả những người đương thời.
(còn nữa)
Gaston Bachelard: Nước và các giấc mơ
Hugo Friedrich: Cấu trúc thơ hiện đại
Gaston Bachelard: Không khí và mộng
Roger Caillois về Montesquieu
Roland Barthes: "Sociologie và socio-logique"
Leo Spitzer: Phong cách của Marcel Proust
Jean-Pierre Richard: Hiểu biết và dịu dàng ở Stendhal
Thơ Mới: cấu trúc
Sur Barthes (1)
Roland Barthes: "Michelet, Lịch Sử và Chết"
Roland Barthes: "Văn hóa và bi kịch"
Octavio Paz về André Breton
Jean Paulhan: Les Fleurs de Tarbes
George Steiner: Râu Xanh
Maurice Merleau-Ponty: Văn xuôi thế giới
Lý thuyết văn học và triết học
Michel Foucault: "Thư viện huyền hoặc" (về Flaubert)
Albert Béguin: Tâm hồn lãng mạn và giấc mơ
Nghiên cứu văn học: con đường lý thuyết
Nhìn lại lý thuyết
Không gì hấp dẫn hơn là xem sự ngu của con người: đó là điều mà Flaubert đã làm. Nhưng vẫn có thể đẩy lên hơn: không gì hấp dẫn hơn là xem sự ngu của những con người hiểu biết. Thời củachúng ta là thời như thế nào? là thời của những biểu nghĩa lộn ngược. Bọn không viết đúng được tên "Nietzsche" thì sẽ suốt ngày trầm ngâm nhắc đến Nít, các nhà đạo mạo đến cả trong những trò hủi sẽ liên mồm "công chính" và "chơi đẹp", các sư đoàn Nhạc Bất Quần thì ra rả "danh môn chính phái", đám bựa thì bựa cho nó giống người trí tuệ nhưng lại chính qua đó thể hiện chẳng giống mấy: đâu phải ai cũng trở thành Diogène được, và còn thêm một đám ếch ộp thượng lưu, cái gì cũng thượng niu thượng niu: thượng niu kêu miu miu.
Tôi nghĩ Heinrich Heine sẽ đồng ý với tôi.
Như từng nói, chắc phải hơn một lần, "lý thuyết văn học" đối với tôi hoàn toàn không phải ngồi liệt kê người này và người kia, ai thuộc trường phái nào, người nào nói gì, Lotman thì I la mã 2 Ả rập A hoa b nhỏ. Không, lý thuyết không phải là như vậy. Lý thuyết là một bình diện, là một nơi từ đó ta có một phối cảnh đặc thù để nhìn vào một khối vừa đồng nhất vừa không đồng chất - cái khối ấy là văn chương. Tôi nhớ đến Henri Bergson, khi bình luận một cuốn sách của Paul Janet, Bergson nói đến ảo tưởng của triết gia tưởng rằng triết học thì đồng nghĩa với có phần này, phần kia, rồi lại phần nọ và thêm phần khác nữa, và cứ đi hết những cái đó thì tức là triết lý: không, đó không phải là triết học, đó là rác.
Làm thế nào để lý thuyết hóa lịch sử, tức là đưa lịch sử đi vào pha lý thuyết? (tôi không nghĩ lịch sử và lý thuyết xa nhau như người ta vẫn hay tưởng) Heinrich Heine mang tới một gợi ý tuyệt vời về riêng khía cạnh này.
Dưới đây sẽ là một số trích đoạn từ Thú nhận của Heine, viết khi đã sang Pháp sống từ lâu (một thời gian ngắn sau đó, Heine sẽ qua đời). Những "lời chứng" của Heine sẽ cho thấy một điều tưởng chừng hết sức bình thường, một nhà lãng mạn thì nghĩa là như thế nào. Nhưng nếu đọc Heine bằng một con mắt hơi khác đi, sẽ thấy những gì Heine nó những tầng ý nghĩa rất khác; đấy chính là bởi vì, dẫu chỉ một phần, và tất nhiên hoàn toàn không chủ ý, Heine đã dễ dàng đi vào pha của lý thuyết, nhập vào nhịp của nó.
nhân tiện: đã tiếp tục Cô gái mắt vàng: đoạn mở đầu ấy là một kiệt tác đích thực
Thú nhận
Viết trong mùa đông 1854
Tựa
Tôi đã viết những trang sau đây để đưa vào một ấn bản mới của cuốn sách Về nước Đức [tức De l’Allemagne, một cuốn sách rất lớn của Heine;chúng ta sẽ sớm đến với nó] của tôi. Vì cho rằng nội dung của chúng hẳn sẽ khiến đồng bào tôi quan tâm, tôi cũng cho in các Thú nhận này bằng tiếng Đức, trước cả khi ấn bản tiếng Pháp được in. Sự cẩn trọng đó tôi buộc phải làm vì sợ những người có ngón tay khéo léo gọi là các dịch giả, những kẻ, ngay khi tôi vừa thông báo trên báo chí Đức về việc xuất bản một tác phẩm mới [cụ thể hơn: Heine cho đăng Dieux en exil trên tờ Revue des Deux Mondes ngày 1 tháng Tư năm 1853; Heine cũng cho đăng thông báo trên Deutsche allgemeine Zeitung là tờ Blätter für literarische Unterhaltung sẽ đăng bản tiếng Đức của tác phẩm đó, do chính Heine dịch], đã cả gan túm lấy phần đầu cuốn sách của tôi đăng bằng tiếng Pháp trên một tờ tạp chí Paris, rồi biến nó, riêng lẻ, thành một cuốn sách mỏng bằng tiếng Đức [cuốn sách được in tại Berlin, nhà xuất bản Gustav Hempel, dưới nhan đề Die verbannten Götter von Heinrich Heine. Aus dem Französischen. Nebst Mitteilungen über den kranken Dichter; đó là trước khi Heine kịp cho in bản của mình, Die Götter im Elend], như thế không chỉ gây tổn hại cho danh tiếng văn chương của tác giả mà còn làm sụt giảm tài sản của anh ta. Bọn vô lại này còn đáng khinh hơn cả tên cướp đường, hắn thì còn can đảm phơi bày cho những mạo hiểm giá treo cổ, còn lũ người kia, với sự yên ổn của bọn hèn nhát mặc sức khai thác những lỗ hổng trong luật định về báo chí của chúng ta, lại có thể lột mất từ tác giả khốn khổ một món nhỏ nhoi đến thế và khó kiếm đến thế, chẳng hề bị trừng trị. Tôi sẽ không dài dòng về trường hợp đặc biệt nêu lên ở đây; sự bất lương, tôi xin thú nhận, đã chẳng làm tôi ngạc nhiên cho lắm: từng nhiều lần tôi có kinh nghiệm đáng buồn với nó rồi, và lòng tin, hay tín ngưỡng cũ kỹ mà có hồi tôi đặt vào sự trung thực Đức đã dính không ít đạn chì vào cánh. Tôi sẽ không che giấu rằng tôi vẫn hay trở thành, trong kỳ lưu trú tại Pháp, nạn nhân của cái tín ngưỡng mê tín ấy. Thật là lạ, trong số bọn lừa đảo mà tôi từng gặp, hỡi ôi, để mà chịu thiệt, mới chỉ có độc một người Pháp, thêm nữa tên lừa đảo đó lại có gốc tác từ một trong những lãnh thổ Đức trước đây bị cướp mất khỏi Đế Chế Đức và ngày nay những người ái quốc của chúng tôi đang đòi lại. Nếu tôi phải, như một Leporello [nhân vật nhạc kịch của Mozart] nhà dân tộc chí, lập ra một danh sách có kèm tranh minh họa đám bất lương đã lần lượt nẫng túi của tôi, thì chắc chắn mọi đất nước văn minh đều sẽ có nhiều đại diện, nhưng vòng nguyệt quế hẳn sẽ được trao cho tổ quốc của tôi, trong địa hạt này nó nổi bật theo một cách thức khó tin nổi, và hẳn tôi có thể biến điều này thành một bài hát mà điệp khúc sẽ như sau:
Mais en Allemagne mille et trois! [tiếp tục dẫn chiếu đến Don Giovanni của Mozart: chế từ câu “Ma in Ispagna son gia mille e tre]
Những tên bất lương Đức được đặc trưng hóa bằng một tính cách đậm đặc tình cảm, thứ vốn dĩ đã dính chặt lên da thịt bọn chúng. Đó hoàn toàn không phải lũ khốn với cái đầu lạnh, mà là đám cặn bã rất nhạy cảm. Bọn chúng có trái tim, bọn chúng cảm thông ở mức độ mạnh mẽ nhất với số phận những người bị chúng lột túi, bọn chúng bám chặt lấy vạt áo chúng ta. Các hiệp sĩ xuất chúng trong công nghiệp của chúng tôi chẳng hề là đám người ích kỷ thuần túy đi ăn cắp cho chính bọn họ, bọn họ chỉ khát khao vươn tới Mammon xấu xa nhằm làm điều thiện; vào những giờ thư nhàn của bọn, khi công việc làm ăn của bọn họ, chẳng hạn như điều hành Công ty chiếu sáng bằng khí đốt các khu rừng Bohême, vẫn còn để lại cho bọn họ chút rảnh rang, thì bọn họ bảo trợ các nghệ sĩ piano và nhà báo, và bên dưới áo gi-lê thêu đủ mọi màu cầu vồng óng ánh của bọn họ, một số có trái tim, và trái tim ấy bị mọi nỗi khổ đau cõi đời cắn rứt. Nhà công nghiệp từng in thành sách tác phẩm được nhắc tới ở trên trong một thứ gọi là bản dịch, đã cho đính kèm theo đó một ghi chú về tôi, trong đó ông ta đau đớn than thở cho tình trạng sức khỏe đáng buồn của tôi và, thông qua góp nhặt đủ mọi loại bài báo, cung cấp những tin tức gây nhiều cảm động nhất về khía cạnh thảm hại hiện thời của tôi, thành thử ở trong đó tôi bị miêu tả từ chân lên đến đầu và một người bạn của tôi, vốn dĩ rất trí tuệ, sau khi đọc cái thứ đó đã cảm thán: Đúng thật, chúng ta đang sống trong một thế giới lộn ngược, bây giờ thì chính kẻ cắp lại đi đăng thông báo tìm con người trung thực mà hắn đã lột đồ.
Viết tại Paris, tháng Ba năm 1854
(còn nữa)
Gaston Bachelard: Nước và các giấc mơ
Hugo Friedrich: Cấu trúc thơ hiện đại
Gaston Bachelard: Không khí và mộng
Roger Caillois về Montesquieu
Roland Barthes: "Sociologie và socio-logique"
Leo Spitzer: Phong cách của Marcel Proust
Jean-Pierre Richard: Hiểu biết và dịu dàng ở Stendhal
Thơ Mới: cấu trúc
Sur Barthes (1)
Roland Barthes: "Michelet, Lịch Sử và Chết"
Roland Barthes: "Văn hóa và bi kịch"
Octavio Paz về André Breton
Jean Paulhan: Les Fleurs de Tarbes
George Steiner: Râu Xanh
Maurice Merleau-Ponty: Văn xuôi thế giới
Lý thuyết văn học và triết học
Michel Foucault: "Thư viện huyền hoặc" (về Flaubert)
Albert Béguin: Tâm hồn lãng mạn và giấc mơ
Nghiên cứu văn học: con đường lý thuyết
Nhìn lại lý thuyết
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét