DHG
Truyện ngắn
Người ta bảo : “Phàm những anh thuận tay triêu, đập niêu không vỡ, đánh vợ không xong..” Đồ đốt ấy chả nên trò trống gì cả!
Nhưng xem ra thời nay nhiều câu ca dao, ngạn ngữ không còn đúng nữa. Sự đời nhiều đổi thay, ngay cả đến trục trái đất còn bị lệch so với ngày trước thì việc đó cũng không lấy gì làm lạ.
Lão Vận là một ví dụ:
Lão mắt trắng, môi dày, trề ra mà lại thâm, cầm dao hay cầm bút đều thuận tay trái, nửa đời không chơi với ai, bỗng dưng thay đổi.
Ở cái làng Hạng Môn này, bao nhiêu năm nay có ai thấy lão đi đến đâu bao giờ?
Đầu năm chí cuối, hoạ hoằn mới thấy nhà lão có khách.
Mụ vợ xách cái bị cói đi chợ mua nửa cân thịt, nửa cân đậu và nửa chai rượu. Tất cả để trong cái bị cói kín bưng không ai biết bên trong còn có những gì?
Bây giờ đồ nhựa nhiều, thúng mủng làn nhựa xanh, đỏ, tím, vàng không thiếu, đẹp “Dã man” như lối bọn trẻ con hay nói. Nhưng vợ chồng lão tuyệt đối không dùng vì sự trống trải, sơ hở của nó. Nó trái ngược với phương châm “Đóng cửa đi ăn mày”.
Có gì bên trong người ngoài biết ngay, lại dễ bị mất. Cứ dùng cái bị cói “Truyền thống cách mạng” lâu đời cho nó chắc ăn. Vừa bền vừa rẻ, vừa bảo đảm an ninh lương thực, không bị hư hao.
Màu mè làm gì dễ bị người ta nhòm ngó. Ở đâu chứ ở vùng quê, kín đáo, bí mật là cái tuyệt hay. Giàu nghèo không ai biết, đỡ phiền hà. Không ai hỏi vay, hỏi mượn, trộm cướp không dòm là “ tuyệt vời và trên cả tuyệt vời”!
Nói lão không chơi bời với ai kể ra cũng chưa hẳn là đúng. Dù cố đỉn đến đâu cũng phải có bạn.
Bạn bè không có, có thể gọi là kiếp người được chăng?
Đến như gà vịt, trâu bò còn có bầy đàn, có bạn. Con nào khác đàn chúng nó xúm vào đả cho bỏ mẹ, đánh cho bằng chết.
Huống hồ con người, cũng phải có người để câu trò câu chuyện, nhờ cậy nhau lúc khó khăn?
Nói lão không có bạn là bởi lão không chơi với ai được lâu. Khi cần chơi một thời gian, khi không là thôi. Như thế gọi là chơi bạn thì quả là vô lý. Như vậy là lợi dụng, là lừa đảo chứ đâu phải bạn bè?
Xã có ba thôn. Đầu xã là làng Tiền Môn, giữa Trung Môn và cuối cùng là làng của lão là Hạng Môn. ( Thực ra lúc mới đầu, hội đồng nhân dân quyết định đặt tên làng thứ ba này là Hậu Môn, vì có tiền, phải có hậu. Nhưng rồi chợt nhớ ra như vậy không được nhã cho lắm, mới gọi chệch ra là Hạng Môn).
Nói cho ngay cả ba thôn này Lão Vận đều có bạn. Hoặc là một kiểu quan hệ từa tựa như vậy theo cách hiểu và lối sống của lão.
Khi mới chân ướt chân ráo đến đất này lão làm quen và kết nghĩa với ông Nhơn gù người làng Tiền Môn. Lúc ấy trâu bò chưa có, giống vốn cũng không, vợ chồng con cái còn nhai sắn bâm. ( Loại củ mì đào để sót, ăn hay sượng, đắng). Vợ chồng lân la làm quen. Bà vợ ông Nhơn gù xa quê lâu ngày nhầm nhem có họ hàng với nhau ở quê cũ. Vợ lão tinh ý, nhận đón lấy ngay. Tết giỗ gia đình này cả vợ lẫn chồng lão đều rất chu đáo. Tất nhiên chỉ chu đáo cái mồm chứ của cải lễ lạt đâu có gì? Ông bà Nhơn bỏ qua chuyện này. Ông vất vả từ tấm bé, mồ côi cha mẹ, nên rất xuê xoa và thích chia sẻ cho người còn khó hơn mình.
Thôi thì giống má, lợn gà cho không thiếu thứ gì. Còn trâu cày muốn mượn bao nhiêu tuỳ ý.
Mụ vợ lão mỏ nhọn, dẻo như kẹo kéo, một điều mẹ hai điều bố, ông bà Nhơn không nuôi ngày nào, tự dưng được gọi thế ai không sướng? Có mớ khoai, nải chuối cũng cố mà vượt sông mang sang cho cháu bằng được.
Làng Trung Môn Vận kết bạn với anh Sơn tính dơ dở, chỉ được mỗi cái có sức khoẻ không hay kỳ kèo, ai lợi dụng cũng mắc. Chỉ cần cút rượu nhắm với củ khoai nướng là cày hùng hục cả buổi, chủ nhà giục nghỉ vẫn cố làm thêm một lúc.
Cái vườn nhà Lão vận ngày xưa vốn là khu mả quân Cờ Đen, gai góc bỏ hoang lâu ngày. Bao nhiêu gốc cây to một mình Sơn đánh bật gốc lên hết. Những bụi gai đùm đũm, gai mắc hùm không còn sót bụi nào. Các đống tổ mối to như cái mả thằng ăn mày, cứ cuốc chim, anh ta đánh bay bằng hết.
Bây giờ cái vườn vuông như miếng tiết là nhờ không biết bao nhiêu mồ hôi của tay Sơn này đổ vào đấy?
Thật buồn.
Cả Ông Nhơn Gù lẫn Sơn Cả đẫn bây giờ đã thành người xa lạ với người tưởng chừng con chấy cắn đôi, gắn bó suốt đời. Chỉ thiếu mỗi nước cắt máu ăn thề chứ không thiếu lời lẽ hứa hẹn nào. Chừng ấy con người vẫn sống chung một xã, nhưng trong ý thức vợ chồng Vận, họ đã không tồn tại.
Ông bà Nhơn con cái lớn lên không nối được nghiệp nhà, phá phách đến không còn gì, bỏ bố mẹ già ở lại, lập nghiệp mãi trong Lâm đồng. Hàng năm chả còn thấy vợ chồng Vận vác mặt tới nhà. Năm bà Nhơn mất, vợ chồng Vận cũng không thấy viếng chứ đừng nói chịu tang mẹ “Kết nghĩa”!
Sơn cả đẫn vợ bỏ, nhà đằng trước đằng sau vách thủng thông thống, tiện đường ruồi muỗi hoạt động. Lại thêm tật nghiện rượu. Có hôm ngã cả xuống mương vì quá chén. Mấy lần con anh ta đi viện, đến mượn nóng, lão Vận thề sống thề chết “Tôi mà có đồng nào trong nhà, tôi không làm người”. Từ đấy không vướng mắc gì nữa, mà đành xa nhau..
Những thành phần “Phức tạp” ấy, lão Vận quan hệ làm gì? Có ai vô tình nhắc đến quan hệ xưa kia với những người này, là lão biện luôn lý lẽ như vậy.
Ở đời người ta phù thịnh, mấy ai phù suy?
Ngay đến bà mẹ nuôi lão từ trong trứng nước, lấy vợ lo liệu cho lão ngày còn non nớt, đến khi bà cụ qua đời lão chỉ hành lễ chiếu lệ.
Sau thì “ dứt khoát quan điểm” quay lưng một trăm tám mươi độ. Không theo đám con cháu cụ như luật lệ từ xưa tới nay: “ Cha sinh không tày mẹ dưỡng”, bố mẹ nuôi qua đời thì theo con cháu người nuôi mình đời đời kiếp kiếp. Sống tết, chết giỗ.
Nghe nói anh em cùng mẹ đẻ ra lão bây giờ khá giả, lão lần hồi tìm về. Không biết có phải hòn đất to bừa đi bừa lại thế nào cũng vẫn nổi lên trên, hay giai cấp địa chủ lại bắt đầu ngóc đầu dậy hay không? Đám anh em lão dưới quê đến thời đổi mới, bỗng chốc thành ông chủ nhờ có cái nghề cổ truyền từ xưa và nhờ cả việc kinh doanh mạo hiểm vốn là truyền thống họ Bùi, dòng họ huyết thống của lão.
Bây giờ lão thực hiện “Hai mươi sáu chữ vàng”theo như lão nói. Không ai biết đó là những chữ gì? Chỉ nhớ mấy câu đầu đại khái như thế này: “ Thấp nhảy, cao luồn, làm tớ thằng khôn..vv”
Sở dĩ phải nói dài dòng như trên là vì những biểu hiện gần đây của lão rất khác cả về tinh thần lời văn lẫn cung cách khu xử.
Gặp lão bây giờ, không ai nghĩ lão từng có quãng đời trước kia. Từng hàn vi, hèn hèn, đêu đểu mà ai cũng từng khinh, từng coi thường. Đi ăn đám trong làng lão thường được xếp ngồi với đàn bà, trẻ con ngồi dưới bếp. Hoặc khi lão hềnh hệch vừa cười vừa nói, vừa mở miệng là y như có người chẹn họng, chế nhạo..
Lão đã là một con người khác. Chỉ duy thuận tay triêu là vẫn như ngày nào. Còn thì tất cả thay đổi hoàn toàn. Không phải kiểu một con trâu đất hoá thành con ngựa hồng. Thay đổi ấy không có giá trị gì mấy. Đây là sự thay đổi của chú bìm bịp đổi lốt thành con công!
Cũng bởi thế nhân xưa nay hễ ai có quyền, có tiền là luôn trọng nể, lão bắt đầu lên đời nhờ khu đất mả quân cờ đen giờ có giá. Con đường mới mở qua làng Hạng Môn như một phép mầu. Một kẻ không có trong tầm mắt nhiều người bỗng được nhiều kẻ chú ý.
Ở đâu có mật, ở đấy có ruồi, cho dù mật ấy có khi khó lòng ruồi được ăn.
Xem tuồng Thị Kính, Thị Mầu, thấy các vị câm, điếc lên ngồi chiếu trên là bởi cái nhẽ ấy. Không biết các nhà xã hội học khi nghĩ đến “ bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc” có nhớ đến tính “ đặc thù” này không?
Nếu lão gặp may mắn, vận đến chả ai nói làm gì. Thậm chí người ta còn mừng cho lão giàu có lên. Cả đời lão ăn mắm hút dòi, hy sinh đời bố, củng cố đời con, giờ khá giả, ai mà trách cứ làm gì?
Nhưng giàu không sang, giàu đểu mới đáng nói. Cần phải nói.
Nhưng xem ra thời nay nhiều câu ca dao, ngạn ngữ không còn đúng nữa. Sự đời nhiều đổi thay, ngay cả đến trục trái đất còn bị lệch so với ngày trước thì việc đó cũng không lấy gì làm lạ.
Lão Vận là một ví dụ:
Lão mắt trắng, môi dày, trề ra mà lại thâm, cầm dao hay cầm bút đều thuận tay trái, nửa đời không chơi với ai, bỗng dưng thay đổi.
Ở cái làng Hạng Môn này, bao nhiêu năm nay có ai thấy lão đi đến đâu bao giờ?
Đầu năm chí cuối, hoạ hoằn mới thấy nhà lão có khách.
Mụ vợ xách cái bị cói đi chợ mua nửa cân thịt, nửa cân đậu và nửa chai rượu. Tất cả để trong cái bị cói kín bưng không ai biết bên trong còn có những gì?
Bây giờ đồ nhựa nhiều, thúng mủng làn nhựa xanh, đỏ, tím, vàng không thiếu, đẹp “Dã man” như lối bọn trẻ con hay nói. Nhưng vợ chồng lão tuyệt đối không dùng vì sự trống trải, sơ hở của nó. Nó trái ngược với phương châm “Đóng cửa đi ăn mày”.
Có gì bên trong người ngoài biết ngay, lại dễ bị mất. Cứ dùng cái bị cói “Truyền thống cách mạng” lâu đời cho nó chắc ăn. Vừa bền vừa rẻ, vừa bảo đảm an ninh lương thực, không bị hư hao.
Màu mè làm gì dễ bị người ta nhòm ngó. Ở đâu chứ ở vùng quê, kín đáo, bí mật là cái tuyệt hay. Giàu nghèo không ai biết, đỡ phiền hà. Không ai hỏi vay, hỏi mượn, trộm cướp không dòm là “ tuyệt vời và trên cả tuyệt vời”!
Nói lão không chơi bời với ai kể ra cũng chưa hẳn là đúng. Dù cố đỉn đến đâu cũng phải có bạn.
Bạn bè không có, có thể gọi là kiếp người được chăng?
Đến như gà vịt, trâu bò còn có bầy đàn, có bạn. Con nào khác đàn chúng nó xúm vào đả cho bỏ mẹ, đánh cho bằng chết.
Huống hồ con người, cũng phải có người để câu trò câu chuyện, nhờ cậy nhau lúc khó khăn?
Nói lão không có bạn là bởi lão không chơi với ai được lâu. Khi cần chơi một thời gian, khi không là thôi. Như thế gọi là chơi bạn thì quả là vô lý. Như vậy là lợi dụng, là lừa đảo chứ đâu phải bạn bè?
Xã có ba thôn. Đầu xã là làng Tiền Môn, giữa Trung Môn và cuối cùng là làng của lão là Hạng Môn. ( Thực ra lúc mới đầu, hội đồng nhân dân quyết định đặt tên làng thứ ba này là Hậu Môn, vì có tiền, phải có hậu. Nhưng rồi chợt nhớ ra như vậy không được nhã cho lắm, mới gọi chệch ra là Hạng Môn).
Nói cho ngay cả ba thôn này Lão Vận đều có bạn. Hoặc là một kiểu quan hệ từa tựa như vậy theo cách hiểu và lối sống của lão.
Khi mới chân ướt chân ráo đến đất này lão làm quen và kết nghĩa với ông Nhơn gù người làng Tiền Môn. Lúc ấy trâu bò chưa có, giống vốn cũng không, vợ chồng con cái còn nhai sắn bâm. ( Loại củ mì đào để sót, ăn hay sượng, đắng). Vợ chồng lân la làm quen. Bà vợ ông Nhơn gù xa quê lâu ngày nhầm nhem có họ hàng với nhau ở quê cũ. Vợ lão tinh ý, nhận đón lấy ngay. Tết giỗ gia đình này cả vợ lẫn chồng lão đều rất chu đáo. Tất nhiên chỉ chu đáo cái mồm chứ của cải lễ lạt đâu có gì? Ông bà Nhơn bỏ qua chuyện này. Ông vất vả từ tấm bé, mồ côi cha mẹ, nên rất xuê xoa và thích chia sẻ cho người còn khó hơn mình.
Thôi thì giống má, lợn gà cho không thiếu thứ gì. Còn trâu cày muốn mượn bao nhiêu tuỳ ý.
Mụ vợ lão mỏ nhọn, dẻo như kẹo kéo, một điều mẹ hai điều bố, ông bà Nhơn không nuôi ngày nào, tự dưng được gọi thế ai không sướng? Có mớ khoai, nải chuối cũng cố mà vượt sông mang sang cho cháu bằng được.
Làng Trung Môn Vận kết bạn với anh Sơn tính dơ dở, chỉ được mỗi cái có sức khoẻ không hay kỳ kèo, ai lợi dụng cũng mắc. Chỉ cần cút rượu nhắm với củ khoai nướng là cày hùng hục cả buổi, chủ nhà giục nghỉ vẫn cố làm thêm một lúc.
Cái vườn nhà Lão vận ngày xưa vốn là khu mả quân Cờ Đen, gai góc bỏ hoang lâu ngày. Bao nhiêu gốc cây to một mình Sơn đánh bật gốc lên hết. Những bụi gai đùm đũm, gai mắc hùm không còn sót bụi nào. Các đống tổ mối to như cái mả thằng ăn mày, cứ cuốc chim, anh ta đánh bay bằng hết.
Bây giờ cái vườn vuông như miếng tiết là nhờ không biết bao nhiêu mồ hôi của tay Sơn này đổ vào đấy?
Thật buồn.
Cả Ông Nhơn Gù lẫn Sơn Cả đẫn bây giờ đã thành người xa lạ với người tưởng chừng con chấy cắn đôi, gắn bó suốt đời. Chỉ thiếu mỗi nước cắt máu ăn thề chứ không thiếu lời lẽ hứa hẹn nào. Chừng ấy con người vẫn sống chung một xã, nhưng trong ý thức vợ chồng Vận, họ đã không tồn tại.
Ông bà Nhơn con cái lớn lên không nối được nghiệp nhà, phá phách đến không còn gì, bỏ bố mẹ già ở lại, lập nghiệp mãi trong Lâm đồng. Hàng năm chả còn thấy vợ chồng Vận vác mặt tới nhà. Năm bà Nhơn mất, vợ chồng Vận cũng không thấy viếng chứ đừng nói chịu tang mẹ “Kết nghĩa”!
Sơn cả đẫn vợ bỏ, nhà đằng trước đằng sau vách thủng thông thống, tiện đường ruồi muỗi hoạt động. Lại thêm tật nghiện rượu. Có hôm ngã cả xuống mương vì quá chén. Mấy lần con anh ta đi viện, đến mượn nóng, lão Vận thề sống thề chết “Tôi mà có đồng nào trong nhà, tôi không làm người”. Từ đấy không vướng mắc gì nữa, mà đành xa nhau..
Những thành phần “Phức tạp” ấy, lão Vận quan hệ làm gì? Có ai vô tình nhắc đến quan hệ xưa kia với những người này, là lão biện luôn lý lẽ như vậy.
Ở đời người ta phù thịnh, mấy ai phù suy?
Ngay đến bà mẹ nuôi lão từ trong trứng nước, lấy vợ lo liệu cho lão ngày còn non nớt, đến khi bà cụ qua đời lão chỉ hành lễ chiếu lệ.
Sau thì “ dứt khoát quan điểm” quay lưng một trăm tám mươi độ. Không theo đám con cháu cụ như luật lệ từ xưa tới nay: “ Cha sinh không tày mẹ dưỡng”, bố mẹ nuôi qua đời thì theo con cháu người nuôi mình đời đời kiếp kiếp. Sống tết, chết giỗ.
Nghe nói anh em cùng mẹ đẻ ra lão bây giờ khá giả, lão lần hồi tìm về. Không biết có phải hòn đất to bừa đi bừa lại thế nào cũng vẫn nổi lên trên, hay giai cấp địa chủ lại bắt đầu ngóc đầu dậy hay không? Đám anh em lão dưới quê đến thời đổi mới, bỗng chốc thành ông chủ nhờ có cái nghề cổ truyền từ xưa và nhờ cả việc kinh doanh mạo hiểm vốn là truyền thống họ Bùi, dòng họ huyết thống của lão.
Bây giờ lão thực hiện “Hai mươi sáu chữ vàng”theo như lão nói. Không ai biết đó là những chữ gì? Chỉ nhớ mấy câu đầu đại khái như thế này: “ Thấp nhảy, cao luồn, làm tớ thằng khôn..vv”
Sở dĩ phải nói dài dòng như trên là vì những biểu hiện gần đây của lão rất khác cả về tinh thần lời văn lẫn cung cách khu xử.
Gặp lão bây giờ, không ai nghĩ lão từng có quãng đời trước kia. Từng hàn vi, hèn hèn, đêu đểu mà ai cũng từng khinh, từng coi thường. Đi ăn đám trong làng lão thường được xếp ngồi với đàn bà, trẻ con ngồi dưới bếp. Hoặc khi lão hềnh hệch vừa cười vừa nói, vừa mở miệng là y như có người chẹn họng, chế nhạo..
Lão đã là một con người khác. Chỉ duy thuận tay triêu là vẫn như ngày nào. Còn thì tất cả thay đổi hoàn toàn. Không phải kiểu một con trâu đất hoá thành con ngựa hồng. Thay đổi ấy không có giá trị gì mấy. Đây là sự thay đổi của chú bìm bịp đổi lốt thành con công!
Cũng bởi thế nhân xưa nay hễ ai có quyền, có tiền là luôn trọng nể, lão bắt đầu lên đời nhờ khu đất mả quân cờ đen giờ có giá. Con đường mới mở qua làng Hạng Môn như một phép mầu. Một kẻ không có trong tầm mắt nhiều người bỗng được nhiều kẻ chú ý.
Ở đâu có mật, ở đấy có ruồi, cho dù mật ấy có khi khó lòng ruồi được ăn.
Xem tuồng Thị Kính, Thị Mầu, thấy các vị câm, điếc lên ngồi chiếu trên là bởi cái nhẽ ấy. Không biết các nhà xã hội học khi nghĩ đến “ bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc” có nhớ đến tính “ đặc thù” này không?
Nếu lão gặp may mắn, vận đến chả ai nói làm gì. Thậm chí người ta còn mừng cho lão giàu có lên. Cả đời lão ăn mắm hút dòi, hy sinh đời bố, củng cố đời con, giờ khá giả, ai mà trách cứ làm gì?
Nhưng giàu không sang, giàu đểu mới đáng nói. Cần phải nói.
***
Khu mả quân cờ đen vốn là khu đất chung của cả làng. Nghe đồn thế thôi chứ thực ra không có mồ mả nào trên mặt đám đất này cả, có chăng ở dưới tầng lớp đất đá rất dày tạo nên một cái hang sâu bên dưới.
Tướng Lưu Vĩnh phúc một thời gian đóng đại bản doanh ở chỗ này vì lợi thế bí hiểm của khu này.
Dọc bờ sông vách đá dựng thành, thế đất chênh vênh, bên dưới có cái hàm ếch rộng chứa được vài ngàn người chìm sâu mặt nước một đầu một với. Có một khe nhỏ nằm khuất sau những bụi cây ùm tùm, có lối nhỏ đi xuống cái hầm tự nhiên này. Chính nhờ cái hàm ếch bí mật ấy mà bao nhiêu lần quân Pháp tấn công, lực lượng của Lưu Vĩnh Phúc vẫn vô sự. Đạn pháo, đạn bắn thắng chẳng ăn thua gì với lớp đất đá phủ trên mặt dày hàng mét.
Khi núng thế, quân tướng cờ đen rút cả xuống hầm, Pháp đi họ lại lóp ngóp bò lên dựng trại mới. Người Pháp dùng mọi cách vẫn vô hiệu. Từ căn cứ này quân Cờ đen đã nhiều lần làm cho quân Pháp thất điên bát đảo. Sau rồi Pháp phải dùng kế hiểm, đầu độc nguồn nước, hàng trăm quân cờ đen trúng độc chết thảm dưới cái hàm ếch này.
Sau này có người mò gỗ lòng sông mò vào chỗ này còn thấy hàng đống xương cốt nằm bên dưới khu nhà lão Vận ở bây giờ.
Người ta kiêng chỗ đất có nhiều tử khí, không ai đến ở. Một vài người ở nơi khác không biết, đến ở được thời gian tự nhiên sinh bệnh lạ mà chết. Từ đó khu đất mấy héc ta bỏ không.
Cũng một phần đất bị rỗng bên dưới, lớp đất mặt cằn cỗi. Cứ vừa mưa xong là ráo hoảnh, khô cong chẳng trồng cấy được hoa màu.
Hồi giải tán HTX, người ta chia cho bà cụ Quế làm vườn rừng. Bà cụ vốn quê ở đàng xuôi, gặp khó khăn mới lên đây, vẫn là chân nâng, chia cho thế nào chịu thế vì chẳng có thế lực gì ở nơi mới đến ở này. Chứ đất cằn cỗi ấy, trồng cây gì cho nên rừng?
Cụ là người chịu khó, chăm bón mãi khu đất hồi sinh dần. lại lập thêm cái miếu nhỏ nơi gần ngay chỗ gềnh nước. Có người khuyên cụ chả nên dựng miếu thờ làm gì. Đám tử sĩ ấy là người nước ngoài. Họ sang đây cũng nhăm vào âm mưu thôn tính láng giềng của họ. Lập đền họ sẽ thành ma thiêng, không cẩn thận sẽ quấy phá làng nước. Nhưng cụ bảo “Dù sao họ cũng là con người, bây giờ thành ma đói ma khát, không ai cúng tiến cũng tội lắm”. Sau đó cụ vẫn làm. Chỉ là cái miếu nhỏ bằng tre nứa, cụ thắp nhang ngày rằm mồng một. Không biết miếu có thiêng không?
Vợ chồng Vận bấy giờ còn rớt mùng tơi, chưa được như bây giờ, lân la đến hỏi mượn. Lâu ngày không ai nhắc đến chuyện này, lão Vận nghiễm nhiên là chủ của miếng đất ấy.
Năm xã làm bìa đỏ, Vận khai luôn khu ấy vào diện tích của lão.
Không ai ngờ miếng đất chó ỉa ấy có ngày có giá. Con đường mở ngang qua, người các nơi kéo về, giá đất lên mỗi ngày..
Lão Vận có ăn, có để, xây nhà tầng mua xe hơi cũng là nhờ đất cả.
Cụ Quế và con cháu cụ lấy làm mừng. “Nhà nó con mày, con nuôi, lại làm con nuôi nhà nghèo, được như bây giờ cũng mừng cho nó, thật là ông trời có mắt, chả bỏ ai bao giờ..” Đi đâu cụ cũng nở mặt, nở mày khoe với dân làng như thế.
Lẽ ra quan hệ giữa hai nhà phải mỗi ngày một bền chặt hơn mới phải. Không ai nghĩ có ngày vợ chồng Vận lại xoay lưng lại.
Ngày trước lão Vận thường có câu cửa miệng : “ Quan hệ láng giềng Việt Nam Trung Quốc chỉ có mười sáu chữ vàng, quan hệ hai nhà phải hơn hẳn. Phải hai mươi sáu chữ mới bõ, có khi còn hơn..”
Đấy là lúc trong làng có tin đồn ông giáo Kha con trai cụ sẽ lấy lại đám đất ngày trước mẹ mình cho mượn. Vận sớm tối qua lại, vợ chồng nắn vai, đấm lưng cho cụ Quế,ra chiều thắm thiết.
Sự thực ông giáo cũng có lúc nghĩ đến, nhưng rồi lại cho qua. Tiền bạc, đất đai quý thật, nhưng tình người, liêm sỉ còn quý hơn, với lại đã nhận anh em, thành người một nhà rồi, giở rói ra làm gì? Không khéo bị kẻ xấu lợi dụng, chia rẽ tình cảm tốt đẹp từ trước đến nay? Ở đâu chứ ở nông thôn chuyện đâm bị thóc, chọc bị gạo vẫn thường hay xảy ra. Người ta làm việc này với nhiều lý do. Cũng có khi chẳng vì lý do gì cả, chỉ xuất phát từ cái ác bản tâm vốn là tật xấu bẩm sinh của mỗi con người. Ông giáo cứ suy bụng mình mà nghĩ như thế.. Mẹ đã cho mượn rồi, không lẽ bây giờ thấy đất có giá, đòi lại?
Không ngờ vợ chồng lão Vận không nghĩ như vậy. Lão đánh tiếng đất cát của lão “ có bìa đỏ đàng hoàng”, lão “chả vướng mắc gì với ai cả”!
Ông giáo buồn. Hở cơ là lợn ăn khoai. Bây giờ có đòi lại chưa chắc đã được. Mấy ông uỷ ban xã ra vào cơm bữa nhà Vận, chắc gì họ đã vô tư ủng hộ mình?
Hai mươi sáu chữ vàng, chả biết còn chữ nào không? Ông nghĩ mãi mà không ra đó là những chữ nào, ngoài chữ “tham”, chữ đểu?
Thôi thì chuyện cũ qua rồi, không thèm nhắc đến nữa. Nhưng lão Vận ngày càng quá thể.
Từ khi bà cụ Quế mất, lão không qua lại. Không phải máu mủ ruột thịt, lão làm vậy mặc lão, ông không quan tâm. Có gặp ngoài đường, đám xướng, chỉ hỏi nhau chiếu lệ.. Chỉ đến khi Vận ngang ngược quá, ông mới để ý đến..
***
Khu mả quân cờ đen vốn là khu đất chung của cả làng. Nghe đồn thế thôi chứ thực ra không có mồ mả nào trên mặt đám đất này cả, có chăng ở dưới tầng lớp đất đá rất dày tạo nên một cái hang sâu bên dưới.
Tướng Lưu Vĩnh phúc một thời gian đóng đại bản doanh ở chỗ này vì lợi thế bí hiểm của khu này.
Dọc bờ sông vách đá dựng thành, thế đất chênh vênh, bên dưới có cái hàm ếch rộng chứa được vài ngàn người chìm sâu mặt nước một đầu một với. Có một khe nhỏ nằm khuất sau những bụi cây ùm tùm, có lối nhỏ đi xuống cái hầm tự nhiên này. Chính nhờ cái hàm ếch bí mật ấy mà bao nhiêu lần quân Pháp tấn công, lực lượng của Lưu Vĩnh Phúc vẫn vô sự. Đạn pháo, đạn bắn thắng chẳng ăn thua gì với lớp đất đá phủ trên mặt dày hàng mét.
Khi núng thế, quân tướng cờ đen rút cả xuống hầm, Pháp đi họ lại lóp ngóp bò lên dựng trại mới. Người Pháp dùng mọi cách vẫn vô hiệu. Từ căn cứ này quân Cờ đen đã nhiều lần làm cho quân Pháp thất điên bát đảo. Sau rồi Pháp phải dùng kế hiểm, đầu độc nguồn nước, hàng trăm quân cờ đen trúng độc chết thảm dưới cái hàm ếch này.
Sau này có người mò gỗ lòng sông mò vào chỗ này còn thấy hàng đống xương cốt nằm bên dưới khu nhà lão Vận ở bây giờ.
Người ta kiêng chỗ đất có nhiều tử khí, không ai đến ở. Một vài người ở nơi khác không biết, đến ở được thời gian tự nhiên sinh bệnh lạ mà chết. Từ đó khu đất mấy héc ta bỏ không.
Cũng một phần đất bị rỗng bên dưới, lớp đất mặt cằn cỗi. Cứ vừa mưa xong là ráo hoảnh, khô cong chẳng trồng cấy được hoa màu.
Hồi giải tán HTX, người ta chia cho bà cụ Quế làm vườn rừng. Bà cụ vốn quê ở đàng xuôi, gặp khó khăn mới lên đây, vẫn là chân nâng, chia cho thế nào chịu thế vì chẳng có thế lực gì ở nơi mới đến ở này. Chứ đất cằn cỗi ấy, trồng cây gì cho nên rừng?
Cụ là người chịu khó, chăm bón mãi khu đất hồi sinh dần. lại lập thêm cái miếu nhỏ nơi gần ngay chỗ gềnh nước. Có người khuyên cụ chả nên dựng miếu thờ làm gì. Đám tử sĩ ấy là người nước ngoài. Họ sang đây cũng nhăm vào âm mưu thôn tính láng giềng của họ. Lập đền họ sẽ thành ma thiêng, không cẩn thận sẽ quấy phá làng nước. Nhưng cụ bảo “Dù sao họ cũng là con người, bây giờ thành ma đói ma khát, không ai cúng tiến cũng tội lắm”. Sau đó cụ vẫn làm. Chỉ là cái miếu nhỏ bằng tre nứa, cụ thắp nhang ngày rằm mồng một. Không biết miếu có thiêng không?
Vợ chồng Vận bấy giờ còn rớt mùng tơi, chưa được như bây giờ, lân la đến hỏi mượn. Lâu ngày không ai nhắc đến chuyện này, lão Vận nghiễm nhiên là chủ của miếng đất ấy.
Năm xã làm bìa đỏ, Vận khai luôn khu ấy vào diện tích của lão.
Không ai ngờ miếng đất chó ỉa ấy có ngày có giá. Con đường mở ngang qua, người các nơi kéo về, giá đất lên mỗi ngày..
Lão Vận có ăn, có để, xây nhà tầng mua xe hơi cũng là nhờ đất cả.
Cụ Quế và con cháu cụ lấy làm mừng. “Nhà nó con mày, con nuôi, lại làm con nuôi nhà nghèo, được như bây giờ cũng mừng cho nó, thật là ông trời có mắt, chả bỏ ai bao giờ..” Đi đâu cụ cũng nở mặt, nở mày khoe với dân làng như thế.
Lẽ ra quan hệ giữa hai nhà phải mỗi ngày một bền chặt hơn mới phải. Không ai nghĩ có ngày vợ chồng Vận lại xoay lưng lại.
Ngày trước lão Vận thường có câu cửa miệng : “ Quan hệ láng giềng Việt Nam Trung Quốc chỉ có mười sáu chữ vàng, quan hệ hai nhà phải hơn hẳn. Phải hai mươi sáu chữ mới bõ, có khi còn hơn..”
Đấy là lúc trong làng có tin đồn ông giáo Kha con trai cụ sẽ lấy lại đám đất ngày trước mẹ mình cho mượn. Vận sớm tối qua lại, vợ chồng nắn vai, đấm lưng cho cụ Quế,ra chiều thắm thiết.
Sự thực ông giáo cũng có lúc nghĩ đến, nhưng rồi lại cho qua. Tiền bạc, đất đai quý thật, nhưng tình người, liêm sỉ còn quý hơn, với lại đã nhận anh em, thành người một nhà rồi, giở rói ra làm gì? Không khéo bị kẻ xấu lợi dụng, chia rẽ tình cảm tốt đẹp từ trước đến nay? Ở đâu chứ ở nông thôn chuyện đâm bị thóc, chọc bị gạo vẫn thường hay xảy ra. Người ta làm việc này với nhiều lý do. Cũng có khi chẳng vì lý do gì cả, chỉ xuất phát từ cái ác bản tâm vốn là tật xấu bẩm sinh của mỗi con người. Ông giáo cứ suy bụng mình mà nghĩ như thế.. Mẹ đã cho mượn rồi, không lẽ bây giờ thấy đất có giá, đòi lại?
Không ngờ vợ chồng lão Vận không nghĩ như vậy. Lão đánh tiếng đất cát của lão “ có bìa đỏ đàng hoàng”, lão “chả vướng mắc gì với ai cả”!
Ông giáo buồn. Hở cơ là lợn ăn khoai. Bây giờ có đòi lại chưa chắc đã được. Mấy ông uỷ ban xã ra vào cơm bữa nhà Vận, chắc gì họ đã vô tư ủng hộ mình?
Hai mươi sáu chữ vàng, chả biết còn chữ nào không? Ông nghĩ mãi mà không ra đó là những chữ nào, ngoài chữ “tham”, chữ đểu?
Thôi thì chuyện cũ qua rồi, không thèm nhắc đến nữa. Nhưng lão Vận ngày càng quá thể.
Từ khi bà cụ Quế mất, lão không qua lại. Không phải máu mủ ruột thịt, lão làm vậy mặc lão, ông không quan tâm. Có gặp ngoài đường, đám xướng, chỉ hỏi nhau chiếu lệ.. Chỉ đến khi Vận ngang ngược quá, ông mới để ý đến..
***
Hôm Vận sang bàn với ông giáo Kha về việc xây tường rào, ông giáo đồng ý ngay. Đáng lẽ phải ra tận nơi xem bờ cõi như thế nào đã rồi hãy gật đầu. Đằng này chưa biết ngô khoai như thế nào, đã đồng ý. Một là lúc đó ông đang bận phải vội đến trường. Giờ giấc cô hiệu trưởng mới về làm ngặt lắm. Nghe nói cô vốn con nhà làm bún, nên trong tư duy của cô có vấn đề. Nghề nào cũng có di căn của nghề ấy từ đời cha mẹ. Làm bún mà không bóp nặn, làm sao ra thành sợi? Xét nét, soi móc vì lợi riêng phần nhiều hơn là về chất lượng giảng dạy của giáo viên. Bao năm nay chất lượng giáo dục là cái gì bất biến, đâu phải mỗi chốc quyết tâm của một cá nhân thay đổi được? Đêm ngày, mối lo canh cánh bên lòng. Nghĩ đến khẩu hiệu “Trường học thân thiện..”Mà buồn cười.
Thành ra lúc ông em sang bàn vấn đề xây tường rào ông không hỏi rõ làm như thế nào. Bao nhiêu năm nay hai nhà ở gần nhau có lần nào vướng mắc bờ cõi, chỉ có nhà Vận gây nên. Ông bận việc nhà trường, vườn tược không để ý mấy. Con cái đầu óc chúng để mãi đâu dưới Hà Nội, Sơn Tây, có đứa nào chú ý đến vườn vọc mà tranh lấn?
Vợ chồng nhà Vận lại khác. Quanh quẩn suốt ngày ngoài vườn, trồng cây sát vào tận cõi. Giống dứa trồng làm hàng rào vừa tổ làm chỗ ở cho rắn, vừa gây nên chuyện cãi nhau. Lúc đầu trồng chính giữa, về sau trùm cả sang hai bên. Nhà Vận có thì giờ, cây nào sang pheng bỏ ngay. Phía bên nhà ông giáo cứ để nguyên, không đụng tới. Một hai năm sau hàng dứa lấn sang phía nhà ông giáo cả mét. Hai bà vợ giằng co mãi mới cắm được cọc mốc mới. Biết là phần bên nhà mình bị lấn vài bước chân, ông giáo cho qua. Vợ phàn nàn ông bảo : “ Giàu về sào về mẫu, giàu đâu đến xén bờ?”. Nhưng cái trò gặm nhấm dần theo kiểu tằm ăn lá luôn làm cho vợ ông bực tức. Hai vợ chồng lâu nay bất hoà với nhau cũng vì chuyện đó. Bây giờ nó chủ động bàn xây rào, có tranh chấp cũng chỉ xảy ra một lần cho nó xong đi. Xây một lần, từ nay về sau đỡ phải cãi nhau về bờ cõi .
Lôi thôi chuyện này không bõ dân làng cười chê mà mình lại vướng bận đầu óc, khó xử trong gia đình.
Sáng hôm đó ông bận, ở lại họp sau khi hết giờ, mãi quá trưa mới về. Vợ ông có việc bận bên ngoại không có nhà.
Khi về đến nhà thấy vợ chồng Vận đon đả chạy sang, ti tét cười:
- Bác xem em cho thợ làm thế này có được không?
Thôi chết rồi, được cái gì mà được?
Bức tường xây sang đến nửa mét phần đất nhà ông!
Ông bảo:
- Chú thím cho làm thế này không được, bây giờ mới xây còn thấp, cho phá ra xây lại đi. Tôi thế nào cũng được, nhưng bà ấy nhà tôi về lại sinh chuyện đấy.
Vợ Vận ngọt nhạt :
- Bác nói, em đồng ý là có sang bên bác một ít thật. Nhưng vì thế đất không làm chỗ ấy không được, vướng đá không đào được móng. Thôi thì chỗ anh em có thiệt của bác chút ít, bác bỏ quá cho. Không phải vợ chồng em tham, cố ý xây lấn sang. Tại là tại đất thôi bác ạ..
- Chú thím tưởng tôi không biết đất chỗ ấy như thế nào sao? Sang tôi cả nửa mét chứ có ít đâu? Nếu phải chú thím có chịu không? Ai dám cho hàng chục triệu bây giờ kể cả anh em ruột? Anh em đồng ý không thể cò kè như người ta, nhưng cũng phải vừa phải thôi chứ?
Vận vờ gãi đầu, cặp môi thâm sì trễ hẳn ra, đôi mắt làm ra vẻ đờ đẫn:
- Chết thật, thấy đám thợ báo cáo thế, em cũng nghĩ chả chi.. Thôi bây giờ thế này bác ạ.
Vận ghé tai ông giáo nói nhỏ vài câu. Như thế, như thế.. Làm ra vẻ muốn lấy lòng riêng ông anh, không cho vợ biết. Còn vợ Vận ra dáng không bằng lòng:
- Tốn mấy tạ xi măng, lại còn công thợ, gạch cát.. bác bảo không được phá đi làm lại, ai chịu chỗ này?
Ông giáo Kha thấy cũng khó giải quyết. Một phần Vận đã có ý riêng. Nó sẽ tính theo giá thị trường bù đắp lại cho mình một số tiền. Phải bán đất bất đắc dĩ như thế này là điều ông không muốn. Nhưng giữ được hoà khí giữa hai nhà, chẳng gì anh em “ lá lành đùm lá rách”, “lọt sàng xuống nia”có đi đâu mà thiệt. Giằng co, kiện cáo nhau ra xã, lên huyện như nhiều đám anh em ruột, bố con gần đây ở đất này ông giáo không muốn. Dù chẳng biết “Hai mươi sáu chữ vàng” trong phương châm của thằng em là những chữ gì, ông cũng muốn giải quyết dứt một lần cho xong một sự đã rồi!
Bức tường xây xong. Mãi không thấy vợ chồng Vận nói gì đến khoản tiền bù đắp lại cho phần đất lấn sang?
Giáo Kha bảo con gọi vợ chồng Vận sang.
Ông nhắc chuyện tiền nong, Vận cười hì hì:
- Hôm ấy bác chả bảo em thôi chót rồi, cứ làm đi là gì? Bây giờ em làm gì có tiền trả cho bác? Với lại hồi mẹ còn sống vẫn bảo với em “ Tao định cho mày từ chỗ ấy, nhưng sợ vợ chồng nó không nghe”. Bây giờ có làm cũng là theo ý cụ thôi chứ bác đâu có mất thêm gì?
Thành ra lúc ông em sang bàn vấn đề xây tường rào ông không hỏi rõ làm như thế nào. Bao nhiêu năm nay hai nhà ở gần nhau có lần nào vướng mắc bờ cõi, chỉ có nhà Vận gây nên. Ông bận việc nhà trường, vườn tược không để ý mấy. Con cái đầu óc chúng để mãi đâu dưới Hà Nội, Sơn Tây, có đứa nào chú ý đến vườn vọc mà tranh lấn?
Vợ chồng nhà Vận lại khác. Quanh quẩn suốt ngày ngoài vườn, trồng cây sát vào tận cõi. Giống dứa trồng làm hàng rào vừa tổ làm chỗ ở cho rắn, vừa gây nên chuyện cãi nhau. Lúc đầu trồng chính giữa, về sau trùm cả sang hai bên. Nhà Vận có thì giờ, cây nào sang pheng bỏ ngay. Phía bên nhà ông giáo cứ để nguyên, không đụng tới. Một hai năm sau hàng dứa lấn sang phía nhà ông giáo cả mét. Hai bà vợ giằng co mãi mới cắm được cọc mốc mới. Biết là phần bên nhà mình bị lấn vài bước chân, ông giáo cho qua. Vợ phàn nàn ông bảo : “ Giàu về sào về mẫu, giàu đâu đến xén bờ?”. Nhưng cái trò gặm nhấm dần theo kiểu tằm ăn lá luôn làm cho vợ ông bực tức. Hai vợ chồng lâu nay bất hoà với nhau cũng vì chuyện đó. Bây giờ nó chủ động bàn xây rào, có tranh chấp cũng chỉ xảy ra một lần cho nó xong đi. Xây một lần, từ nay về sau đỡ phải cãi nhau về bờ cõi .
Lôi thôi chuyện này không bõ dân làng cười chê mà mình lại vướng bận đầu óc, khó xử trong gia đình.
Sáng hôm đó ông bận, ở lại họp sau khi hết giờ, mãi quá trưa mới về. Vợ ông có việc bận bên ngoại không có nhà.
Khi về đến nhà thấy vợ chồng Vận đon đả chạy sang, ti tét cười:
- Bác xem em cho thợ làm thế này có được không?
Thôi chết rồi, được cái gì mà được?
Bức tường xây sang đến nửa mét phần đất nhà ông!
Ông bảo:
- Chú thím cho làm thế này không được, bây giờ mới xây còn thấp, cho phá ra xây lại đi. Tôi thế nào cũng được, nhưng bà ấy nhà tôi về lại sinh chuyện đấy.
Vợ Vận ngọt nhạt :
- Bác nói, em đồng ý là có sang bên bác một ít thật. Nhưng vì thế đất không làm chỗ ấy không được, vướng đá không đào được móng. Thôi thì chỗ anh em có thiệt của bác chút ít, bác bỏ quá cho. Không phải vợ chồng em tham, cố ý xây lấn sang. Tại là tại đất thôi bác ạ..
- Chú thím tưởng tôi không biết đất chỗ ấy như thế nào sao? Sang tôi cả nửa mét chứ có ít đâu? Nếu phải chú thím có chịu không? Ai dám cho hàng chục triệu bây giờ kể cả anh em ruột? Anh em đồng ý không thể cò kè như người ta, nhưng cũng phải vừa phải thôi chứ?
Vận vờ gãi đầu, cặp môi thâm sì trễ hẳn ra, đôi mắt làm ra vẻ đờ đẫn:
- Chết thật, thấy đám thợ báo cáo thế, em cũng nghĩ chả chi.. Thôi bây giờ thế này bác ạ.
Vận ghé tai ông giáo nói nhỏ vài câu. Như thế, như thế.. Làm ra vẻ muốn lấy lòng riêng ông anh, không cho vợ biết. Còn vợ Vận ra dáng không bằng lòng:
- Tốn mấy tạ xi măng, lại còn công thợ, gạch cát.. bác bảo không được phá đi làm lại, ai chịu chỗ này?
Ông giáo Kha thấy cũng khó giải quyết. Một phần Vận đã có ý riêng. Nó sẽ tính theo giá thị trường bù đắp lại cho mình một số tiền. Phải bán đất bất đắc dĩ như thế này là điều ông không muốn. Nhưng giữ được hoà khí giữa hai nhà, chẳng gì anh em “ lá lành đùm lá rách”, “lọt sàng xuống nia”có đi đâu mà thiệt. Giằng co, kiện cáo nhau ra xã, lên huyện như nhiều đám anh em ruột, bố con gần đây ở đất này ông giáo không muốn. Dù chẳng biết “Hai mươi sáu chữ vàng” trong phương châm của thằng em là những chữ gì, ông cũng muốn giải quyết dứt một lần cho xong một sự đã rồi!
Bức tường xây xong. Mãi không thấy vợ chồng Vận nói gì đến khoản tiền bù đắp lại cho phần đất lấn sang?
Giáo Kha bảo con gọi vợ chồng Vận sang.
Ông nhắc chuyện tiền nong, Vận cười hì hì:
- Hôm ấy bác chả bảo em thôi chót rồi, cứ làm đi là gì? Bây giờ em làm gì có tiền trả cho bác? Với lại hồi mẹ còn sống vẫn bảo với em “ Tao định cho mày từ chỗ ấy, nhưng sợ vợ chồng nó không nghe”. Bây giờ có làm cũng là theo ý cụ thôi chứ bác đâu có mất thêm gì?
Gớm thật. Nó còn mượn cả lời bà mẹ đã qua đời mà Kha biết chắc không khi nào mẹ anh lại nói như vậy. Cụ là người thế nào cả vùng này biết, làm gì có chuyện mẹ anh nói lập lờ như vậy? Nhưng bây giờ nói ra thiên hạ sẽ cười. Mình là người có tóc, có ăn có học, chả gì cũng là ông giáo! Còn nó trọc đầu, đâu biết xấu hổ là gì? Có trơ trẽn thế chứ trơ trẽn nữa nó cũng không ngại!
Làm to chuyện làng xóm có cười là cười mình, già đời mà ngu. Mình còn dám vác mặt đi đâu?
Giận giun người, giáo Kha không nói được câu nào, chỉ phẩy tay “ Tao biết, thôi về đi”
Hai vợ chồng Vận cám ơn rối rít, líu tíu bảo nhau về.
Ai cần chúng nó cảm ơn?
***
Đến nửa năm, hai nhà không qua lại.
Một buổi sáng chủ nhật, Giáo kha rảnh rỗi đi thăm vườn, thấy bên nhà Vận người đông lố nhố. KHông biết vợ chồng nhà này lợi dụng cơ hội mở cửa, còn bùng ra việc gì nữa đây?
Tiếng hô hét vang cả một góc vườn. Nhìn kỹ thấy những cột bê tông mới dựng rất cao. Làm lán, làm nhà đều không phải?
Hôm sau xuống trường, đi qua Kha mới thấy ngoài cổng nhà Vận treo cái biển to tướng “ Nhận hàn xì, sửa chữa xe ô tô”.
Một kẻ nhai cơm không vỡ, thoắt cái lên làm ông chủ. Thật là trời đất đảo điên, loạn tất cả rồi.
“Có lẽ hắn đang triển khai nốt những chữ cuối của hai mươi sáu chữ kia”. Kha nghĩ bụng.
Thời buổi này ai có khả năng, xin cứ việc.
Mình chẳng bận tâm làm gì. Ông giáo nghĩ vậy.. vẫn ngày hai buổi cắp ô đến trường.
Chưa bao giờ nghành giáo dục lại căng như bây giờ. Gần như không có lúc nào thảnh thơi. Hết chuyện chuyên môn, lại đến chuyện đấu đá nội bộ. Đơn kiện công khai, đơn thư nặc danh làm nóng lên trường ổ từng giờ. Hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Tranh luận, thảo luận cứ um xùm hết ngày này qua ngày khác.
“Mật ít ruồi nhiều”, công việc khó khăn, người ta tìm cớ cho số giáo viên cũ có tuổi nghỉ sớm. Thế mới có cơ hội nhận người mới vào. Và tất nhiên người mới phải có “ thủ tục đầu tiên”. Ai nấy phải gồng mình lên mới theo kịp các lối “ cải cách”phát sinh mỗi ngày mỗi nhiều.. Giáo Kha đâu còn thì giờ để tâm chuyện khác..
Nhưng dù vô tâm đến đâu, ông giáo cũng buộc phải chú ý.
Xưởng của nhà Vận chả có giờ giấc nào. Có khi cả ngày chả ai đến sửa chữa gì vì xe ô tô ở đất này có được bao nhiêu cái? Có hỏng người ta ra thành phố, ai sửa chỗ phọt phẹt này làm gì? Thiếu phụ tùng, mấy thằng con nhà Vận lại hớt hải ra thành phố mua về từng cái vì chưa đủ vốn đầu tư. Thường là phụ tùng luộc lại, dính hàng nhái, hàng rởm.. Nhưng nổ lốp, thủng săm làm ở đây tiện hơn. Thường xe quá trọng tải, xe chở gỗ lậu chạy về đêm để đỡ bị kiểm soát. Đến xưởng của Vận họ đỗ lại cho nó kín đáo.
Chỉ khổ mấy nhà xung quanh nửa đêm tiếng xe rú ga ầm ĩ, tiếng búa đập tháo lốp nghe muốn rách màng nhĩ.
Ở Khu dân cư có nền nếp, những công việc này đã bị cấm. Có mở xưởng cũng phải xa nơi dân cư bảo đảm không ô nhiễm môi trường. Tiếng ồn cũng là thứ ô nhiễm ảnh hưởng sức khoẻ không kém ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước.
Cả ngày tất bật công việc nhà trường, buổi trưa buổi tối muốn yên tĩnh nghỉ ngơi cũng không xong. Thức dậy ngồi soạn bài, tiếng động như búa đập vào óc, không sao tập trung được.
Lắm lúc Kha tự thán : “ Không biết kiếp trước mình có nợ nó gì không mà kiếp này nặng nợ như thế?” Hết phải chia sẻ miếng cơm, tấm áo lúc nó còn nhỏ, lớn lên cái gì nó cũng được phần hơn. Mẹ mình luôn sợ thiên hạ đánh giá là “Coi con đẻ hơn con nuôi” nên cái gì cũng bù trì hơn cho nó.
Giờ mẹ mất đi rồi, tưởng đâu việc ai người đấy làm, không còn liên quan. Ai ngờ nó luôn như cái dằm trong thịt, thỉnh thoảng va vào lại tấy lên.
Phải như người ngoài đã dễ giải quyết. Anh giáo chỉ cần báo chính quyền, cứ theo đúng luật là cái xưởng của Vận phải chuyển chỗ khác hoặc đóng cửa.
Đến như quán Karaoke còn phải có tường cách âm mới được hoạt động, còn bị quy định giờ giấc. Từ mười giờ đêm trở đi phải im lặng đảm bảo yên tĩnh chung. Huống hồ búa đập ầm ầm bất cứ thời gian nào, ai chịu nổi?
Nhưng anh giáo không nói đã có người khác nói.
Một hôm người của sở môi trường đến yêu cầu lập biên bản. Người ta đi rồi, vợ Vận cứ vóng vót chĩa sang nhà giáo Kha mà chửi. Không gọi tên, nhưng người trong làng ai cũng biết mụ chửi người nào.
Luật pháp cho phép người dân được làm những điều luật không cấm nhưng lại thiếu sót rất cơ bản. Luật không cấm đã đành, còn việc ảnh hưởng, gây hại đến người khác thì sao?
Thằng con nhà Vận khôn khéo hơn mẹ nó. Nó sang xin lỗi, có gì bác bỏ qua. Kha tức đầy bụng mà đành cắn răng. Không lẽ ra cãi nhau với đàn bà trẻ con sao?
Mọi chuyện rồi đâu vào đấy. Thòi buổi bất cứ việc gì khó, biết bôi trơn là cũng xong. Trong hai mươi sáu chữ vàng của nhà Vận chắc là có con chữ để lo việc đó. Xưởng vẫn hoạt động không kể giờ giấc.
May mà lượng xe không có nhiều, nếu không hàng xóm sẽ bị phát điên lên vì tiếng ồn..
Làm to chuyện làng xóm có cười là cười mình, già đời mà ngu. Mình còn dám vác mặt đi đâu?
Giận giun người, giáo Kha không nói được câu nào, chỉ phẩy tay “ Tao biết, thôi về đi”
Hai vợ chồng Vận cám ơn rối rít, líu tíu bảo nhau về.
Ai cần chúng nó cảm ơn?
***
Đến nửa năm, hai nhà không qua lại.
Một buổi sáng chủ nhật, Giáo kha rảnh rỗi đi thăm vườn, thấy bên nhà Vận người đông lố nhố. KHông biết vợ chồng nhà này lợi dụng cơ hội mở cửa, còn bùng ra việc gì nữa đây?
Tiếng hô hét vang cả một góc vườn. Nhìn kỹ thấy những cột bê tông mới dựng rất cao. Làm lán, làm nhà đều không phải?
Hôm sau xuống trường, đi qua Kha mới thấy ngoài cổng nhà Vận treo cái biển to tướng “ Nhận hàn xì, sửa chữa xe ô tô”.
Một kẻ nhai cơm không vỡ, thoắt cái lên làm ông chủ. Thật là trời đất đảo điên, loạn tất cả rồi.
“Có lẽ hắn đang triển khai nốt những chữ cuối của hai mươi sáu chữ kia”. Kha nghĩ bụng.
Thời buổi này ai có khả năng, xin cứ việc.
Mình chẳng bận tâm làm gì. Ông giáo nghĩ vậy.. vẫn ngày hai buổi cắp ô đến trường.
Chưa bao giờ nghành giáo dục lại căng như bây giờ. Gần như không có lúc nào thảnh thơi. Hết chuyện chuyên môn, lại đến chuyện đấu đá nội bộ. Đơn kiện công khai, đơn thư nặc danh làm nóng lên trường ổ từng giờ. Hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Tranh luận, thảo luận cứ um xùm hết ngày này qua ngày khác.
“Mật ít ruồi nhiều”, công việc khó khăn, người ta tìm cớ cho số giáo viên cũ có tuổi nghỉ sớm. Thế mới có cơ hội nhận người mới vào. Và tất nhiên người mới phải có “ thủ tục đầu tiên”. Ai nấy phải gồng mình lên mới theo kịp các lối “ cải cách”phát sinh mỗi ngày mỗi nhiều.. Giáo Kha đâu còn thì giờ để tâm chuyện khác..
Nhưng dù vô tâm đến đâu, ông giáo cũng buộc phải chú ý.
Xưởng của nhà Vận chả có giờ giấc nào. Có khi cả ngày chả ai đến sửa chữa gì vì xe ô tô ở đất này có được bao nhiêu cái? Có hỏng người ta ra thành phố, ai sửa chỗ phọt phẹt này làm gì? Thiếu phụ tùng, mấy thằng con nhà Vận lại hớt hải ra thành phố mua về từng cái vì chưa đủ vốn đầu tư. Thường là phụ tùng luộc lại, dính hàng nhái, hàng rởm.. Nhưng nổ lốp, thủng săm làm ở đây tiện hơn. Thường xe quá trọng tải, xe chở gỗ lậu chạy về đêm để đỡ bị kiểm soát. Đến xưởng của Vận họ đỗ lại cho nó kín đáo.
Chỉ khổ mấy nhà xung quanh nửa đêm tiếng xe rú ga ầm ĩ, tiếng búa đập tháo lốp nghe muốn rách màng nhĩ.
Ở Khu dân cư có nền nếp, những công việc này đã bị cấm. Có mở xưởng cũng phải xa nơi dân cư bảo đảm không ô nhiễm môi trường. Tiếng ồn cũng là thứ ô nhiễm ảnh hưởng sức khoẻ không kém ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước.
Cả ngày tất bật công việc nhà trường, buổi trưa buổi tối muốn yên tĩnh nghỉ ngơi cũng không xong. Thức dậy ngồi soạn bài, tiếng động như búa đập vào óc, không sao tập trung được.
Lắm lúc Kha tự thán : “ Không biết kiếp trước mình có nợ nó gì không mà kiếp này nặng nợ như thế?” Hết phải chia sẻ miếng cơm, tấm áo lúc nó còn nhỏ, lớn lên cái gì nó cũng được phần hơn. Mẹ mình luôn sợ thiên hạ đánh giá là “Coi con đẻ hơn con nuôi” nên cái gì cũng bù trì hơn cho nó.
Giờ mẹ mất đi rồi, tưởng đâu việc ai người đấy làm, không còn liên quan. Ai ngờ nó luôn như cái dằm trong thịt, thỉnh thoảng va vào lại tấy lên.
Phải như người ngoài đã dễ giải quyết. Anh giáo chỉ cần báo chính quyền, cứ theo đúng luật là cái xưởng của Vận phải chuyển chỗ khác hoặc đóng cửa.
Đến như quán Karaoke còn phải có tường cách âm mới được hoạt động, còn bị quy định giờ giấc. Từ mười giờ đêm trở đi phải im lặng đảm bảo yên tĩnh chung. Huống hồ búa đập ầm ầm bất cứ thời gian nào, ai chịu nổi?
Nhưng anh giáo không nói đã có người khác nói.
Một hôm người của sở môi trường đến yêu cầu lập biên bản. Người ta đi rồi, vợ Vận cứ vóng vót chĩa sang nhà giáo Kha mà chửi. Không gọi tên, nhưng người trong làng ai cũng biết mụ chửi người nào.
Luật pháp cho phép người dân được làm những điều luật không cấm nhưng lại thiếu sót rất cơ bản. Luật không cấm đã đành, còn việc ảnh hưởng, gây hại đến người khác thì sao?
Thằng con nhà Vận khôn khéo hơn mẹ nó. Nó sang xin lỗi, có gì bác bỏ qua. Kha tức đầy bụng mà đành cắn răng. Không lẽ ra cãi nhau với đàn bà trẻ con sao?
Mọi chuyện rồi đâu vào đấy. Thòi buổi bất cứ việc gì khó, biết bôi trơn là cũng xong. Trong hai mươi sáu chữ vàng của nhà Vận chắc là có con chữ để lo việc đó. Xưởng vẫn hoạt động không kể giờ giấc.
May mà lượng xe không có nhiều, nếu không hàng xóm sẽ bị phát điên lên vì tiếng ồn..
Đầu vào to hơn đầu ra, không ai ngăn cản, xưởng của Vận tạm thời đóng cửa. Vận lại vác cái mặt bí sì sang ngồi nhà Kha hàng giờ. “Hai mươi sáu chữ vàng” lại được Vận nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Kha nghe rác tai, nhưng đành phải chấp nhận nghe, dù chưa hiểu đó là những chữ gì?
**
Khu đất mả cờ đen lại một lần nữa rộ lên, ầm ầm xe chạy. Nhà Vận vừa liên doanh liên kết được với một vị mới nhận anh em được mấy ngày.
Thực ra ông này vì bí chỗ làm ăn đến lân la làm quen trước. Một lần nữa mối quan hệ với nhà ông Nhơn gù trước đây được hâm nóng lại. Người này là cháu họ gọi bà Nhơn bằng cô già. Bà Nhơn không còn nhưng người cháu vẫn thường qua lại. Ông ta có nghề chế biến tinh bột, mấy năm nay đặt xưởng làm ở xã trên. Dân tình trên ấy đề nghị chính quyền địa phương trục xuất ông ta vì tội làm ô nhiễm môi trường, tôi không quản lý được người làm gây rối an ninh trật tự.
Đang lúc đường cùng không biết chuyển máy móc phương tiện đi đâu, muốn bán không được vì không ai có sẵn hàng trăm triệu thì gặp con cả cụ Nhơn gù đi mua trâu. Hai người thức gần trắng đêm trò chuyện. Sáng hôm sau ông ta tìm đến nhà Vận.
Vừa mới thất bát chuyện mở xưởng sửa xe ô tô, đang bí chưa biết xoay sang nghề gì, bố con nhà Vận như đang khát gặp nước.
Trưa hôm đó, nhà Vận mổ gà đãi khách, mời cả Kha sang. Ông giáo đoán ngay là thể nào cũng có việc gì đó, nhưng vì bài soạn chưa xong, máy vi tính chưa quen dùng, bài soạn xong tự nhiên nhảy phông chữ khác, mò mãi chưa ra, nên không sang. Với lại sống với Vận bao năm ở đây, ông không lạ mỗi khi Vận mời ai. Gọi là âm mưu thì hơi quá, nhưng có tính lợi dụng thì đã hẳn. Nhà Vận làm gì có chuyện thết đãi ai bao giờ mà không được lợi? Nếu hôm ấy Kha có mặt đã không xảy ra chuyện.
Chuyện đời xưa nay tham thì thâm, cầu lợi người ta có khi không được, thiệt vào thân.
Sau bữa rượu hai bên làm hợp đồng kinh tế. Nhận nhau làm anh em. Lần này không có chuyện vái trời thắp nhang, nhưng cũng rất cảm động qua cái nắm tay lâu, lời nói nghẹn ngào của Vận.
Thấy bên kia bỏ vốn đầu tư máy móc, lợi nhuận chia đôi vợ chồng Vận đồng ý ngay. Nói gì thì nói, công việc làm trên đất nhà mình, mình nắm đằng chuôi, chả sợ ai đưa mình vào đời, có gì phải lo? Vợ chồng Vận nghĩ thế.
Thế rồi chặt vườn mía non, thuê máy ủi san mặt bằng. Vay mượn ngân hàng, chuẩn bị vào vụ..
Theo tinh thần hợp đồng, năm đầu tiên số tiền lời chi vào việc hoàn vốn mua thiết bị.
Năm sau hai bên chia nhau.
Suốt ngày máy chậy ầm ầm, nước thải lênh láng ra đường. Ruồi muỗi ở đâu bay về từng đàn, cả làng sặc sụa mùi hôi thối vì bã sắn, bã đao đắp đống lâu ngày. Cây vườn nhà Vận tự dưng vàng lá, rụng trơ cành. Nước thải giàu axit ngấm sâu xuống đất, nước giếng cũng đã có mùi khang khác.
Ông giáo Kha có hôm không có việc gì cũng phải đến trường soạn bài vì tiếng ồn không sao tập trung đầu óc được.
Cả xóm thôn mất ngủ, nhưng rồi cũng quen..
Gần hết vụ trong thôn tự dưng xuất hiện những căn bệnh lạ. Người ta nghi do ô nhiễm nguồn nước.
Xưởng chế biến bột bị đình chỉ. Lần này dù khéo “Bôi trơn” đến đâu cũng không lại. Cấm là cấm!
Bố con lão bạn kết nghĩa chuồn về quê. Lão đã trút được cái ách cho vợ chồng nhà Vận. Khi mang đến, máy móc tính khấu hao gần bằng giá lúc mua mới, lại khéo léo lúc bán bột dưới dưới xuôi, ăn cả hai mang, lão đâu có mất gì?
Vợ chồng nhà Vận thiệt vườn mía non, thiệt góp vốn mua nguyên liệu mà chưa lấy lại đồng nào. Bây giờ ôm đống sắt vụn, chắc không dùng được việc gì ngoài việc bán cho đồng nát. Làm nữa người ta không cho làm. Muốn chế biến tinh bột phải ra nơi không có dân cư và tiện nguồn nước. Một chỗ như thế đào đâu ra? Lại nữa, máy móc không phải thứ dùng suốt đời, nó đã hết hạn xử dụng cần bảo dưỡng, tu chỉnh lại.
Vợ chồng nhà Vận một phen lục đục, nghiến ngầm nhau. Mụ vợ chửi bóng chửi gió, bắn tin ra ngoài:“Việc này chỉ có ông giáo Kha ghen ăn, tức ở, lắm chữ mới ra nông nỗi”.
Kha giận tím, giận tái, không lẽ lại đôi co? Ông nghĩ mình không có ý ấy, mình không làm không cần thanh minh.
Hàng tháng trời gặp Kha ngoài đường, cả nhà Vận vênh mặt, không thèm hỏi.
***
Tự nhiên sáng nay lại thấy Vận sang nhà, nhen nhen cười như từ xưa tới giờ chưa xảy ra chuyện gì. Giáo Kha thấy phân vân, không biết sẽ có chuyện gì đây. Chẳng nhẽ nó sang chơi không có việc gì? Ông biết quá người em mình bao nhiêu năm nay rồi, đạo làm anh phải vậy. “Có dung kẻ dưới, mới là người trên”. Làm anh mà lèm nhèm cố chấp còn ra gì?
Còn cả tháng nữa mới tới ngày giỗ cụ Quế. Mấy tháng trước giỗ cụ ông chả thấy vợ chồng nó nói chuyện gì. Mời cũng không đến vì lúc ấy xưởng chưa tan, lấy cớ bận việc.
Lần này lại thấy góp sớm cả tháng khiến Kha băn khoăn, không nhận không được. Hẳn là lại còn việc gì khác?
Quả nhiên Kha đoán không sai.
Sau một hồi, Vận nói:
- Bác có miếng đất phần trăm ở gần nghĩa địa bỏ lâu không làm, kỳ này cho em mượn thời gian..
- Chú mượn làm gì? Vườn nhà chú rộng như da giời như thế vẫn còn thiếu hay sao mà hỏi tôi? Chỗ ấy tôi không làm vẫn cho người ta cấy rẽ mấy năm nay, chứ có bỏ không đâu?
- Em biết thế. Vườn nhà em rộng thật, nhưng có việc không làm được. Bác biết rồi còn gì. Xin bác cứu em keo này, nếu không nhà em chết mất. Máy móc mua rồi, không làm nữa, lấy gai nhể gai chỉ còn nước xách bị ăn mày thôi bác ạ!
- Nhưng mà chỗ ấy gần nghĩa địa, sợ dân làng không đồng ý. Mà biết đâu duy tâm duy vật chưa rõ thế nào..Gần mồ mả người ta làm động chạm, uế tạp đã yên được à?
- Việc ấy em tính rồi, cả ai thắc mắc đâu. Còn về đường âm em sẽ có lễ tạ hẳn hoi..
Giáo Kha không nói, chỉ nghĩ trong bụng “ Cứ có lễ tạ là chuyện bậy bạ cũng làm được sao?”. Làm được hay không là việc của nó, nhiều lời làm gì. Mình cứ dứt khoát ngay từ đầu. Chuyện khi trước mượn đường xuống bến sông, chuyện mượn đất.. của mình đã mấy lần biến thành của vợ chồng nhà nó, chắc nó vẫn nhớ.
Thấy Kha dứt khoát, Vận trều cặp môi thâm, làm như sắp khóc:
- Anh em như chân với tay, “Hai mươi sáu chữ vàng”, mà bác xử thế này chắc vợ con em chết đói mất..
Đang giận, Kha cũng phải phì cười:
- Cần gì phải lắm chữ thế? Quan hệ quốc tế thắm thiết cũng chỉ đến mười sáu chữ là nhiều mà chưa đâu vào đâu. Anh em nhà chỉ cần một chữ là đủ!
Vận mở to mắt:
- Chữ gì a bác?
- Chữ TÂM. Một chữ ấy bằng vạn chữ khác chú ạ!
- Ấy thế mà em chẳng nghĩ ra. May mà chưa nhờ thợ khảm bức hoành phi, nếu không lố quá bác nhỉ. Nói thật chữ nghĩa em có biết mù tịt gì đâu. Chẳng qua thời buổi nếu người ta biết mình không có chữ ắt sẽ bắt nạt, mới nói tàm tạm như thế, đã đâu vào đâu.. Bác về bàn với bác gái, cho em mượn miếng đất em đã nói, người ta trả bao nhiêu em cũng trả bấy nhiêu. Chữ nào thì chữ, làm ăn là cứ phải sòng phẳng phải không bác?
**
Khu đất mả cờ đen lại một lần nữa rộ lên, ầm ầm xe chạy. Nhà Vận vừa liên doanh liên kết được với một vị mới nhận anh em được mấy ngày.
Thực ra ông này vì bí chỗ làm ăn đến lân la làm quen trước. Một lần nữa mối quan hệ với nhà ông Nhơn gù trước đây được hâm nóng lại. Người này là cháu họ gọi bà Nhơn bằng cô già. Bà Nhơn không còn nhưng người cháu vẫn thường qua lại. Ông ta có nghề chế biến tinh bột, mấy năm nay đặt xưởng làm ở xã trên. Dân tình trên ấy đề nghị chính quyền địa phương trục xuất ông ta vì tội làm ô nhiễm môi trường, tôi không quản lý được người làm gây rối an ninh trật tự.
Đang lúc đường cùng không biết chuyển máy móc phương tiện đi đâu, muốn bán không được vì không ai có sẵn hàng trăm triệu thì gặp con cả cụ Nhơn gù đi mua trâu. Hai người thức gần trắng đêm trò chuyện. Sáng hôm sau ông ta tìm đến nhà Vận.
Vừa mới thất bát chuyện mở xưởng sửa xe ô tô, đang bí chưa biết xoay sang nghề gì, bố con nhà Vận như đang khát gặp nước.
Trưa hôm đó, nhà Vận mổ gà đãi khách, mời cả Kha sang. Ông giáo đoán ngay là thể nào cũng có việc gì đó, nhưng vì bài soạn chưa xong, máy vi tính chưa quen dùng, bài soạn xong tự nhiên nhảy phông chữ khác, mò mãi chưa ra, nên không sang. Với lại sống với Vận bao năm ở đây, ông không lạ mỗi khi Vận mời ai. Gọi là âm mưu thì hơi quá, nhưng có tính lợi dụng thì đã hẳn. Nhà Vận làm gì có chuyện thết đãi ai bao giờ mà không được lợi? Nếu hôm ấy Kha có mặt đã không xảy ra chuyện.
Chuyện đời xưa nay tham thì thâm, cầu lợi người ta có khi không được, thiệt vào thân.
Sau bữa rượu hai bên làm hợp đồng kinh tế. Nhận nhau làm anh em. Lần này không có chuyện vái trời thắp nhang, nhưng cũng rất cảm động qua cái nắm tay lâu, lời nói nghẹn ngào của Vận.
Thấy bên kia bỏ vốn đầu tư máy móc, lợi nhuận chia đôi vợ chồng Vận đồng ý ngay. Nói gì thì nói, công việc làm trên đất nhà mình, mình nắm đằng chuôi, chả sợ ai đưa mình vào đời, có gì phải lo? Vợ chồng Vận nghĩ thế.
Thế rồi chặt vườn mía non, thuê máy ủi san mặt bằng. Vay mượn ngân hàng, chuẩn bị vào vụ..
Theo tinh thần hợp đồng, năm đầu tiên số tiền lời chi vào việc hoàn vốn mua thiết bị.
Năm sau hai bên chia nhau.
Suốt ngày máy chậy ầm ầm, nước thải lênh láng ra đường. Ruồi muỗi ở đâu bay về từng đàn, cả làng sặc sụa mùi hôi thối vì bã sắn, bã đao đắp đống lâu ngày. Cây vườn nhà Vận tự dưng vàng lá, rụng trơ cành. Nước thải giàu axit ngấm sâu xuống đất, nước giếng cũng đã có mùi khang khác.
Ông giáo Kha có hôm không có việc gì cũng phải đến trường soạn bài vì tiếng ồn không sao tập trung đầu óc được.
Cả xóm thôn mất ngủ, nhưng rồi cũng quen..
Gần hết vụ trong thôn tự dưng xuất hiện những căn bệnh lạ. Người ta nghi do ô nhiễm nguồn nước.
Xưởng chế biến bột bị đình chỉ. Lần này dù khéo “Bôi trơn” đến đâu cũng không lại. Cấm là cấm!
Bố con lão bạn kết nghĩa chuồn về quê. Lão đã trút được cái ách cho vợ chồng nhà Vận. Khi mang đến, máy móc tính khấu hao gần bằng giá lúc mua mới, lại khéo léo lúc bán bột dưới dưới xuôi, ăn cả hai mang, lão đâu có mất gì?
Vợ chồng nhà Vận thiệt vườn mía non, thiệt góp vốn mua nguyên liệu mà chưa lấy lại đồng nào. Bây giờ ôm đống sắt vụn, chắc không dùng được việc gì ngoài việc bán cho đồng nát. Làm nữa người ta không cho làm. Muốn chế biến tinh bột phải ra nơi không có dân cư và tiện nguồn nước. Một chỗ như thế đào đâu ra? Lại nữa, máy móc không phải thứ dùng suốt đời, nó đã hết hạn xử dụng cần bảo dưỡng, tu chỉnh lại.
Vợ chồng nhà Vận một phen lục đục, nghiến ngầm nhau. Mụ vợ chửi bóng chửi gió, bắn tin ra ngoài:“Việc này chỉ có ông giáo Kha ghen ăn, tức ở, lắm chữ mới ra nông nỗi”.
Kha giận tím, giận tái, không lẽ lại đôi co? Ông nghĩ mình không có ý ấy, mình không làm không cần thanh minh.
Hàng tháng trời gặp Kha ngoài đường, cả nhà Vận vênh mặt, không thèm hỏi.
***
Tự nhiên sáng nay lại thấy Vận sang nhà, nhen nhen cười như từ xưa tới giờ chưa xảy ra chuyện gì. Giáo Kha thấy phân vân, không biết sẽ có chuyện gì đây. Chẳng nhẽ nó sang chơi không có việc gì? Ông biết quá người em mình bao nhiêu năm nay rồi, đạo làm anh phải vậy. “Có dung kẻ dưới, mới là người trên”. Làm anh mà lèm nhèm cố chấp còn ra gì?
Còn cả tháng nữa mới tới ngày giỗ cụ Quế. Mấy tháng trước giỗ cụ ông chả thấy vợ chồng nó nói chuyện gì. Mời cũng không đến vì lúc ấy xưởng chưa tan, lấy cớ bận việc.
Lần này lại thấy góp sớm cả tháng khiến Kha băn khoăn, không nhận không được. Hẳn là lại còn việc gì khác?
Quả nhiên Kha đoán không sai.
Sau một hồi, Vận nói:
- Bác có miếng đất phần trăm ở gần nghĩa địa bỏ lâu không làm, kỳ này cho em mượn thời gian..
- Chú mượn làm gì? Vườn nhà chú rộng như da giời như thế vẫn còn thiếu hay sao mà hỏi tôi? Chỗ ấy tôi không làm vẫn cho người ta cấy rẽ mấy năm nay, chứ có bỏ không đâu?
- Em biết thế. Vườn nhà em rộng thật, nhưng có việc không làm được. Bác biết rồi còn gì. Xin bác cứu em keo này, nếu không nhà em chết mất. Máy móc mua rồi, không làm nữa, lấy gai nhể gai chỉ còn nước xách bị ăn mày thôi bác ạ!
- Nhưng mà chỗ ấy gần nghĩa địa, sợ dân làng không đồng ý. Mà biết đâu duy tâm duy vật chưa rõ thế nào..Gần mồ mả người ta làm động chạm, uế tạp đã yên được à?
- Việc ấy em tính rồi, cả ai thắc mắc đâu. Còn về đường âm em sẽ có lễ tạ hẳn hoi..
Giáo Kha không nói, chỉ nghĩ trong bụng “ Cứ có lễ tạ là chuyện bậy bạ cũng làm được sao?”. Làm được hay không là việc của nó, nhiều lời làm gì. Mình cứ dứt khoát ngay từ đầu. Chuyện khi trước mượn đường xuống bến sông, chuyện mượn đất.. của mình đã mấy lần biến thành của vợ chồng nhà nó, chắc nó vẫn nhớ.
Thấy Kha dứt khoát, Vận trều cặp môi thâm, làm như sắp khóc:
- Anh em như chân với tay, “Hai mươi sáu chữ vàng”, mà bác xử thế này chắc vợ con em chết đói mất..
Đang giận, Kha cũng phải phì cười:
- Cần gì phải lắm chữ thế? Quan hệ quốc tế thắm thiết cũng chỉ đến mười sáu chữ là nhiều mà chưa đâu vào đâu. Anh em nhà chỉ cần một chữ là đủ!
Vận mở to mắt:
- Chữ gì a bác?
- Chữ TÂM. Một chữ ấy bằng vạn chữ khác chú ạ!
- Ấy thế mà em chẳng nghĩ ra. May mà chưa nhờ thợ khảm bức hoành phi, nếu không lố quá bác nhỉ. Nói thật chữ nghĩa em có biết mù tịt gì đâu. Chẳng qua thời buổi nếu người ta biết mình không có chữ ắt sẽ bắt nạt, mới nói tàm tạm như thế, đã đâu vào đâu.. Bác về bàn với bác gái, cho em mượn miếng đất em đã nói, người ta trả bao nhiêu em cũng trả bấy nhiêu. Chữ nào thì chữ, làm ăn là cứ phải sòng phẳng phải không bác?
Không muốn kéo dài mất thì giờ, Kha nói mình có việc phải đi.
Vận nói với theo:
- Vậy là bác đồng ý cho em mượn rồi à?
!
====
Vận nói với theo:
- Vậy là bác đồng ý cho em mượn rồi à?
!
====
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét