Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

ĐỘNG RỒ


Hình ảnh

            Truyện ngắn


Mẹ nó, tình hình này mà cứ ngồi làm thơ chẳng hóa ra ngu xuẩn và độc ác vô trách nhiệm lắm sao?
Nhân dân vợ mình nó bảo “Anh cứ như người trên trời, lở đến tận đít rồi mà vẫn cứ ngồi ỳ ra đấy mà thơ với chả phú. Chả trách tay “Hiệu” nó  vờ hỏi thơ là là ấy nhỉ?” ông tưởng nó không biết thơ là gì đấy phỏng? Chẳng qua nó muốn nhắc nhẹ ông có đầu óc thực tế một chút. Nó lo cho em, giáo viên dưới quyền nó có ổn định cuộc sống mới có điều kiện “biết điều” với sếp. Cả tập thơ năm ngoái tài trợ được ba triệu bạc! tưởng được nhiều lắm phỏng? Có mà đong gạo mua cháo ăn mới đủ. Không có con này dài lưng ra, hết ở trường về là lao vào chuồng lợn, chạy ra vườn. may còn tý đất các cụ để lại còn có chỗ đào ngoáy, không thì khốn cả lũ, lấy đâu tiền nuôi con ăn học” Rồi nó dịu giọng: “ Thôi mình ạ, đừng có theo tàu bay giấy nữa. Đừng có phổng mũi lên mỗi khi có người giới thiệu nhà nọ nhà kia nữa.. Mình còn nhớ hôm về quê, các bác ấy hỏi mình làm gì? Em bảo nhà em là nhà thơ, các bác ấy biểu lộ thế nào mình nhớ không? Hôm ấy em cứ ngượng tím cả mặt. Cứ như thể mình làm cái nghề gì đó mờ ám, dại dột không bằng ấy”.
Nghe đến đây Tuân giận tím người. Đến như “nhân dân” vợ mình, một thời thần tượng mình còn nghĩ thế, chả trách thiên hạ coi thường là phải. Bằng chứng là thơ bây giờ chỉ còn giá trị đọc góp vui cho đám cưới và chia buồn chỗ đám ma. In rõ là đẹp, bán chả ma nào mua. Một lần gặp thằng bạn từ thủa chăn trâu cắt cỏ mình tặng nó. Mấy hôm sau có việc ghé vào thăm, thấy nó để ngay dưới chân cầu thang. Tập thơ của mình còn in dấu chân trẻ con dẫm lên thế mới đau chứ?
Vợ chồng giận nhau mấy ngày nay vì chuyện thơ phú này. Nguyên do tại  bảo: “ Tới đây có lẽ tôi phải ra tập sách nữa, không có anh em người ta kỳ kèo. Ông hội trưởng từ năm kia năm kìa đã ra quy ước “sau ba năm tài trợ, không ra sách là cắt”. Mà mình cũng gần đến cái ngưỡng ấy rồi. Nhân dân vợ giãy nảy lên, như dẫm phải cứt:
- Mình định bán tôi đi để in sách chắc?
Tuân nạc mỡ:
- Nếu mình đồng ý, ai mua mình bán tạm mấy hôm!
Nói là nói chơi thế, nào ngờ nhân dân vợ tưởng thật, tru tréo lên :
- Tưởng rằng có ăn có học, có nhân cách, có tư cách, không ngờ không bằng thằng quét chợ. Ai động vàovợ nó, vác búa đinh làm việc ngay. Chỉ được cái mã. Thơ phú gì? Tưởng báu lắm đấy hả? Con này không đời nào làm cái chuyện xấu xa ấy vì thơ phú của ông đâu. Chẳng thà ông cờ bạc, còn có canh được canh thua. Đằng này thơ phú có thấy được cái gì bao giờ đâu?
Tuân cãi:
- Nhà giáo như mình nói thế sao ổn? Nó là giá trị phi vật thể, tồn trường mãi mãi, sao lại so với việc cờ bạc cá độ được?
- Xời, còn khuya nhé. Bao nhiêu ông gỉ ông gì, thơ ca lừng lẫy một thời. Đến nay còn chả ai nhắc đến, cái ngữ mình..
Không đợi cho nhân dân ấy hết câu, Tuân sừng xộ:
- Nói năng cho cẩn thận. Thằng này đói khổ lầm than thế nào cũng chịu được, làm nhục là không có được. Ai cho phép cô xúc phạm tới các vị ấy?. Cô đừng có vơ đũa cả nắm. Còn mấy ông làm vè diễn ca thì nói làm gì. Thời nào mà chẳng có? Triều đình bao giờ cũng cần có kẻ ca xướng, đám cưới cần có “em si”. Có người lo dẫn chương trình, dù chẳng có thực quyền gì. Mấy vị ấy ăn cơm chúa phải múa tối ngày là việc của họ. Tôi là nhà thơ tự do.. Cô đừng có mà..
Cả đêm đó Tuân không chợp được mắt. Trở mình bên nào cũng không ổn. cứ như nằm trên chông trên gai  chứ không phải giường đệm nhà mình. Nhân dân ấy ôm gối vào nằm
 với đứa con gái. Ngoài trời mưa hùng hục, như ném sỏi xuống vườn, ném đá xuống sông. Phía  sông lở ùm ùm, hậu quả của việc nhân danh khai thác cát sỏi để đào vàng sa khoáng. Còn có thông tri từ trên phủ đánh về: “Người nào, nhà nào ngăn cản việc khai thác cát xây dựng là vi phạm, phải xử lý. Nếu có xảy ra sạt lở, lý trưởng, chánh tổng phải có bổn phận báo lên bản phủ rồi bàn cách giải quyết”
Nửa đêm có tiếng la hét thất thanh. Nhân dân vợ quên cả giận, lay Tuân gọi:
- Này, này.. Dậy xem ngoài kia có chuyện gì? Hình như bên hàng xóm đổ nhà hay có ai chết í..
Tuân giả vờ ngủ say. Đây là lần đầu tiên trong đời anh “Thấy cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”. Như mọi khi, chưa cần vợ gọi đã nhao ra ngoài đó rồi. Đang giận, buồn hết cả chân tay, Tuân như kẻ ngoài cuộc. Nằm một lúc tự nhiên thấy nhói trong ngực, Tuận chạy bổ ra ngoài..

Đêm phố Pủ băng keo dán miệng hũ. Tối không nom thấy gì. Đi một quãng mới thấy lửa sáng một chòm. “Nhân vật” Tài cởi trần, quần lửng, cầm bó đuốc, mồ hôi ròng ròng. Thấy Tuân nhân ấy hỏi:
- Bao giờ có điện hả chú? Mưa như thế này lại mất điện, đến là khổ!
Tuân gắt:
- Tao cũng như mày, biết gì hơn mà hỏi?
Cái thằng beo ăn ba ngày không hết thịt, không chịu vào khiêng vác đỡ người ta. Lại đứng đây mà cầm đuốc ra vẻ chỉ đường! Bực. Tuân bảo nó:
- Mày khỏe, vào xem có gì nặng vác đỡ. Nhà Bá Bành nhiều đồ quý cẩn thận kẻo hư của nó.
- Con nói thật với chú, khuân vác con không ngại. Nhưng lão này rẻ người, con ghét. Có bữa gặp lão người đường, chào, lão còn không thèm trả lời.. Nhân ấy nói có vẻ hờn.
Tuân bảo:
- Lúc í khác, bây giờ khác. Mày cứ giúp lão rồi lão ấy sẽ hối hận. Đưa cây đuốc đây tao cầm cho.
Nhân dân Tài có vẻ miễn cưỡng, nhưng rồi cũng hòa vào đám đông. Nom dáng nó khật khừ có vẻ miễn cưỡng, tội nghiệp.
Chả cứ lão Bá Bành, làng này có ai ưa nó? Mặc dầu nó nhanh nhảu, mồm mép, ai nhờ gì cũng hung húc làm, nhưng lại có tính tắt mắt, nên cả phố đề phòng. Không ai thích nó đến nhà.
 Tuân cũng không thích nó, nhưng anh không ghét nó theo cách người ta ghét. Chẳng qua đói ăn vụng, túng làm càn. Từ đời bố mẹ nó đã trộm cắp vặt thế rồi. Nhà nó nghèo, bố ham cờ bạc, mẹ nghiện quà vặt lại đông em, lấy đâu ra có? Cũng không ai như bố nó... Trước ngày mở đường, cả khu vườn gần mẫu đất đổi cho người ta lấy cái bè nuôi cá lồng. Thằng cá lồng bảo lồng cá của nó có ngót ngàn con sắp sửa được bán cá thịt. Đếm cua trong lỗ, mua cá dưới ao, đến lúc xong giấy tờ mới trắng mắt. Lại đang dịch. Cả nhà nó được mấy bữa cá rán, cá luộc rồi cho người ta. Bố nó buồn. Ốm rồi chết.
Đám ma bố nó là đám lạ lùng nhất xưa nay.Quan tài kê dập dềnh dưới cái bè cá nó đang ở bây giờ. Lúc khiêng lên, một anh sơ í, tụt chân. Suýt nữa cả bọn cùng cái quan tài văng ra thăm Hà Bá.
Rồi nó lấy vợ, đẻ con. Cứ như giống cỏ dại chẳng ai chăm bón mà vẫn tươi tốt. Mới tí tuổi đã ba đứa con. Ruộng nương chẳng có, cả nhà trông vào cái đò nan. Từ ngày Bá Bành ra cái đò máy, nhà nó đói nặng. Kể ra nó còn chút quân tử, chút nhân tính nó mới đến đây. Giờ thì đang è vai ra khiêng cái tủ gỗ sưa Bá Bành mới mua về..
Phải người khác, với kẻ làm đổ niêu cơm nhà mình, liệu có làm được như thế không?
Đúng là thời bây giờ cá lớn nuốt cá bé. Ngành nghề gì cũng vậy, yếu thế là thiệt. Tuân cứ day dứt mãi chuyện này. Có lần anh bảo với Bá Bành:
- Đằng nào bác cũng thuê người chạy đò, bác thuê luôn thằng Tài cho nó kiếm miếng nuôi vợ con nó?
Lão cười kha kha:
- Chú xúi dại anh đấy à? Thuê nó có khác gì gửi cá miệng mèo? Được đồng nào liệu nó có đưa cho mình không, hay lại bớt xén? Chú thương tình cho nó bớt đám nương để nó sinh nhai có phải tốt hơn không?
Lão đá quả bóng sang sân nhà mình. Chót nói, mình phải cho nó một đám. Ai ngờ cấy được đám lúa, chưa kịp gặt, nghe người ta bày dại. Bùi tai, nó bán sắm bộ kích đêm đêm đánh cá. Được vài hôm bị đoàn xã bắt lên quận, tịch thu mất. Lại trắng tay. Từ ấy nó ngại, luôn tánh mặt, không dám gặp Tuân. Nhưng cũng từ đấy, trộm vặt buồng cau trái chuối ở đâu không nói, vườn nhà Tuân thì không. Cũng còn có chút tự trọng, chút khí phách. Khí phách của loại công dân hạng ba ở phố Pủ này. Giá mà Bá Bành giúp nó, chút nhân tâm ấy, chưa chắc nó dám tơ hào.?
 Nhưng bá Bành thì có bao giờ nghĩ đến ai? Lão còn muốn nuốt tất cả vào bụng. Người đàng hoàng không bao giờ xử trí như thế. Không bao giờ dòm ngó đất đai của nhà hàng xóm, coi vợ hàng như vợ mình. Lão là kẻ không đàng hoàng, không cứ nhân vật Tài không ưa, nhân dân mình và nhân dân các nơi đều không thích. Chẳng qua sống chung với lũ. Lão gặp hoạn nạn phải cứu mà thôi
Nửa đêm, cả dãy taluy cao ngật ngưỡng đổ ụp xuống. Cái nhà ba từng của lão trật móng đổ rầm, nghe như động đất. Mưa mấy ngày liền, đất bở, nhão ra như bùn. Ngôi nhà Bá Bành chênh vênh.. Chớp mắt đã thành tương. Tivi, tủ lạnh chả biết có dùng được không? Còn cái xế hộp bốn chỗ bẹp dúm, bẹp gió.
Ai cũng than trời mưa ác quá. Thực ra còn có chút nguyên nhân từ con người. Bá bành hẳn hoi, tình tiết đã không xảy ra não nề đến thế..
**
Cụ tổ Vân Sản ngày xưa là người thích tiết canh chó sói và hay ăn thịt mèo. Trong khi đó cụ bà nghiện bánh đúc và đôi khi có ăn thịt thỏ. Thời ấy các con vật kể trên còn rất nhiều ở vùng này. Đêm đêm còn có tiếng chó sói hú trong rừng sâu. Thỉnh thoảng người ta còn bắt gặp ma cà rồng trong khe núi. Hai cụ tổ làm nghề lái đò dọc và kiêm cả đò ngang con sông Khúc Thủy này.
Bạn bè của họ là lão Sinh Khai lông ngực rậm như cái chổi lúa giấu trước bụng. Lão cao to, mắt xếch, râu quai nón che kín gần hết mặt. Không ai biết lão làm nghề gì. Chỉ lâu lâu mới thấy xuất hiện, mang theo một cuốn sách dày chi chít chữ và một con dao nhọn với sợi dây thừng. Người nói lão là nhà truyền giáo, kẻ bảo làm lục lâm thảo khấu ở rừng phía bên kia núi. Cũng có người bảo lão chẳng qua là kẻ vô công rồi nghề, nói phét nói lác kiếm cơm thiên hạ. Con người này có ảnh hưởng ghê gớm với cụ tổ Vân Sản bởi những bài hát ngô nghê, mà cực kỳ nguy hiểm thời ấy. Những lời ca khuyếch trương và gợi óc tò mò về một nơi cực lạc. Phải băng qua địa ngục có quỷ canh vạc dầu và  vua ma xó cưa người như cưa ống nứa..
Những nhân dân, nhân vật.. kinh khủng ấy là của một thời đã qua. Không có xuất hiện một lần nữa về sau. Một thời nơi đây còn hoang sơ, tăm tối và quá ư thanh vắng. Con người có thể chơi thân với hổ, báo và các loại thú dữ vì  xung quanh quá tẻ nhạt và đơn điệu, u mê, trì trệ vv..
Bá Bành là hậu duệ thế hệ thứ ba. Cha ông ta có rất nhiều con, nhưng loạn lạc, đói kém, bất đồng, bệnh hoạn chết mất khá nhiều. Giờ còn anh thứ ba điếc lác, chẳng giống ai ở làng Bắc Cụp.  Chỉ còn hai anh em Bá Bành và Thọ Ruộng còn ở cạnh nhau.
Nhiều năm  giữa họ không xảy ra điều gì. Thọ vợ tên là Ruộng thường ốm đau luôn, kinh tế lúc nào cũng moi mói. Lại luôn bị kẻ khác bắt nạt vì tính “đã yếu lại hay ra gió”, ham mê bài bạc, gạ gẫm người này người kia. Thời gian dài Bá Bành là chỗ che chắn cho y. Không có ông anh, bọn chúng dỡ nhà, chiếm đất mất rồi. Mỗi lần Thọ Ruộng bí, phải bán ruộng vườn, ông anh lại bỏ tiền ra mua giá cao hơn người ngoài, nói là để giữ cho em, “Bao giờ chú ấy khá để chú ấy chuộc lại”. Việc mua bán này Thọ ngấm ngầm làm, không cho vợ con biết. Vẫn nói dối là mình chưa có điều kiện canh tác cho bác ấy làm, khi nào dùng đến thì lấy về. Đến khi vỡ lở ra mới sinh chuyện. Đấy là chuyện phần sau. Nhưng chuộc lại cách nào và khi nào là điều chưa hề xảy ra. Ai cũng bảo nhà ấy anh em như chân với tay. Tình nghĩa ruột thịt thật là cảm động!
Bá Bành giỏi làm ăn, con cái dễ bảo, bóp mồm bóp miệng, chịu nhẫn nhục bao năm, giờ giàu lên mỗi ngày. Mua thêm đất, tạo thêm trâu mở rộng bốn phương tứ hướng say mê đến nỗi quên cả chuyện về lâu về dài sẽ tới đâu? Bất chấp đến sự ganh tị đề phòng của xung quanh. Tạo ra một nghịch lý: Không phải phú quý sinh lễ nghĩa. Sự giàu có lại tạo thêm rất nhiều kẻ thù!
Sự đời xưa nay giàu ăn uống, khó cãi nhau. Ông em gia cảnh vì thế mà luôn lộn nhộn trong nhà, vợ con mỗi người một phách. Phàm xưa nay nhà nào đổ cũng bởi tự dột nát, mối mọt từ bên trong.  Giường cột vững chãi, gió bão chưa chắc đã đổ?
Nếu không có chuyện thằng em thay đổi cung cách, chưa chắc đã có chuyện xích mích giữa hai anh em.
Nhà Chúa cho “mở rộng” lô đề, hợp pháp hóa trò vè trước nay bị nghiêm cấm. Có một gã  tự bên kia sông Khúc Thủy đến “mở đường” cho Thọ Ruộng làm ăn.
Ngày ngày Thọ Ruộng kê cái bàn con ra gốc cây tùng. Nhàn. Rủng rinh. Tiền  như nước. Có tiền, Thọ Ruộng đặt vấn đề chuộc lại miếng vườn trước đây bán lại cho ông anh. Bá Bành chỉ mặt: “Đồ ăn cháo đá bát!”. Tuyệt tình. Anh em không nhìn mặt nhau nữa. Gặp không hỏi, chào không thưa. Ngày giỗ cụ Vân Sản nhà nào có nhà nấy cúng..
Thọ Ruộng hận không đòi chuộc lại đất. Con vợ xui:
- Mình xuống tấn phát. Cho ông ấy biết tay!
Hôm sau thuê máy xúc, đào thành taluy cao tới mười mét, nói là cho ngang với bến xuống sông, tiện tắm giặt. Nhà Thọ Ruộng được đám đất rộng, tương đối rộng, tha hồ trồng su hào bắp cải. Nhà Bá chênh vênh như trứng treo đầu đũa. Ba mặt khúc mắc với laan bang từ trước, còn lối duy nhất bây giờ cũng tịt, không có lối ra.
Đang cùng mặt bằng với nhau, giờ thành hai cấp. Nhà Thọ Ruộng nhà gỗ giỡ xuống lại dựng, không vấn đề gì. Nhưng nhà Bá bành xây cao tầng mới là cái chết. Mưa lớn ròng rã nửa tháng, đất mềm nhũn ra, chỗ cao nhao xuống chỗ thấp.. việc phải xảy ra đã xảy..
Nhà đổ không bởi động đất mà là do anh em nhà này động rồ.
Tuân đang đứng cầm đuốc soi cho đám người xúc đất bới đồ đạc của nhà Bá Bành. Nhân dân Tài thỉnh thoảng chạy qua cười nhen nhen như để khoe công, cậy sức. Chợt.. có một bóng đen vụt qua, Tuân bỗng buốt nhói sau gáy, mắt tối xầm, rồi không nhìn thấy gì nữa..

Đất dưới chân Tuân lở ùm ùm. Nước chảy xiết không thể tưởng tượng được. Anh bám được đám bèo lục bình, hoa xanh tím xanh tái. Rất lâu đám bèo ấy  trôi qua nhiều xứ sở không cửa, không nhà. Không cả chó cắn mèo kêu, chứ đừng nói chim kêu vượn hót. Quang cảnh điêu tàn như thể “Hai trăm năm sau vắng bóng con người”. Không có gì sất.
Bèo cứ thế trôi đi..Chợt bè tấp vào một gò đất lầy lội và ướt át. Trên đỉnh gò mấp mé nước, sách từng chồng xếp cao như một quả đồi. Những quyển sách bìa xanh, bìa đỏ, bìa vàng như mới vừa in xong, chưa từng có ai đọc, xô dồn cả đống.
Tuân kêu ú ớ:
- Sách của tôi, ai có thuyền mau tới đây…Sách mà mất đời còn nghĩa gì nữa..Sách ..sách..
Vợ Tuân đang ngồi chườm vết đau đang bị xưng u lên của chồng. Nhân dân ấy buột miệng:
- Đúng là động rồ. Đau thế này còn sách với chả vở!
Nhân vật cu Tài bảo:
- Hay để cháu cõng chú ấy lên bệnh viện. Nói mớ thế này chắc nguy mất?
Nhân dân vợ gói ghém quần áo chuẩn bị đi thì Tuân mở mắt he hé:
- Không sao đâu, đi làm gì. Vài hôm sẽ khỏi. Nhưng mà tôi làm sao thế này?
- Không biết đứa nào đánh trộm. Không có anh cu Tài phát hiện ra sớm, nằm đó chắc đi rồi!
- Tôi có làm gì ai đâu mà có người đánh?
Nhân dân vợ bảo:
- Không đi thì cứ nằm yên, cho nó đỡ đau, đừng hỏi nhiều nữa. Chắc là có đứa thù oán hay hiểu lầm chứ tự nhiên ai gây với mình?

Năm, bảy, chín, mười.. người nhìn nhau, đã xảy ra chuyện gì mấy ngày nay nhỉ?
***
Cơn lũ đột ngột chấm dứt như khi bất ngờ xảy ra. Trời trong xanh trở lại, chỉ còn những đám mây trắng xốp, nhẹ nhàng trôi chậm dãi về phía chân trời. Dòng sông thản nhiên trong trẻo như chưa hề có trận lũ nào qua đây.
Tuân vẫn còn chút uể oải sau lần bị đả thương vừa rồi. Anh ghét nhất là cứ phải nằm dài như những ngày vừa qua. Nhân dân vợ vẫn ngày ngày tất tả đến trường. Ngành giáo dục ngày càng eo hẹp về thời gian. Những lúc rảnh rỗi như trước đây không còn nữa. Thời buổi người khôn của khó, chả nghề nào là không có cạnh tranh. Lão “hiệu” từ ngày được trao thêm quyền theo quy định mới, ngày càng cay nghiệt ra mặt. Thì có ở đâu bệnh quan liêu cửa quyền không thò mũi vào? Nay điều chuyển, mai kiểm tra đột suất theo kiểu “rang lạc”, chị em nóng mày, nóng mặt.. Ai không ăn cánh, trái ý lão là bị điều chuyển đến phân hiệu xa, đi lại khó khăn. Buổi họp “hiệu” luôn chì chiết theo lối mẹ chồng nàng dâu, muốn nói sao thì nói. Cái mục đích vụ lợi, bắt người khác phải cung phụng mình, xà xẻo công quỹ của lão ai cũng biết, mà không dám hó hé. Có người khiếu tố lên trên. Trên về, điều tra lại “vô tang vô cứ”. Làm sao có được “tang”, “cứ” bởi những vụ mơ hồ như thế? Lão lại khôn như lươn, trườn như rắn, “trên kín, dưới bền”, một tốp theo đuôi nịnh hót thì làm gì được “hiệu” nào? Thế là thêm “tội phá rối tổ chức, làm mất uy tín lãnh đạo”. Lại bị chú ý, đày đặt, không mở mắt ra được!
Tất nhiên nhân dân vợ Tuân không dại gì lấy trứng chọi đá, nhưng căng thẳng ở trường khiến nàng không vui.
Về nhà nét mặt lúc nào cũng căng thẳng, dầu dĩ, bực bội vô cớ. Các con còn nhỏ chẳng giúp được việc gì, “nhà thơ” cứ nằm ườn ra đấy coi sao tiện?
Không biết thời các ông Tản Đà, Nguyễn Bính sống thế nào?  Các vị ấy làm gì, ăn gì mà làm thơ hay “ngây ngất con gà tây” như thế? Tuân bây giờ chữ nghĩa vón cục như bị cám để lâu ngày. Lâu lắm anh chả nặn ra được bài nào. Viết cái gì? Về cái gì luôn là cái Nhân dân nhà thơ này day dứt trong lòng.
Thôi thì lúc này ra phía bờ sông xem lũ đợt vừa rồi sụt lở ra sao. Nhân dân vợ nói đúng. Có thực mới vực được đạo. Ngồi đơm đó ngọn tre, mơ hão có khi đói cả nhà. “Sức này còn cấy lúa trồng khoai, còn chăm được mảnh vườn. Khỏe lên, vào rừng kiếm thuốc nam cũng là cách sinh nhai đáng kể. Chả làm được việc to tát gì, ít ra cũng biết vì nhân dân vợ, nhân dân con mà quên mình”!
Đang ngồi tỉ tê nội trạng như thế thì Đội Dư vào. Đội phụ trách bảo an của phố Pủ này. Thực tình mà nói, Tuân không có ác cảm nhưng cũng không thích đội. Con người đội luôn khó hiểu. Cái nghĩ bên trong và cái lời bên ngoài là hai cực trái ngược nhau. Đã dốt lại luôn làm ra vẻ nguy hiểm, quan trọng. Tình nghĩa gì mà đội Dư đến?

Thực ra đội Dư không có ác cảm và cũng không có toan tính gì với Nhân dân Tuân cả. “Gã ý là nhà thơ, tính gàn gàn một chút, nhưng thẳng tính và tốt bụng. Bất cứ ai nhờ vả việc gì là tay ấy không từ nan, sốt sắng giúp ngay. Chính vì thế mà nhiều khi mang vạ vào thân”. Đã có lần đội nói với nhân dân ấy, vì biết nhân ấy ưa thẳng thắn:
- Ông làm thơ thì cứ làm, sáng tác nhiều thơ ca bất hủ, ra nhiều tác phẩm có giá trị văn học nghệ thuật cho mai sau. Lịch sử và nhân dân sẽ ghi nhận điều đó. Đừng có mà rỗi hơi tham gia những việc không phải của mình. Việc đó có “ông trên” lo. Gái góa lo chuyện triều đình có ích gì? Hai nữa những chuyện trong quận trong phủ hàng ngày chĩa mũi vào làm gì? Không phải đầu cũng phải tai. Đơn từ khiếu kiện dính vào làm gì?  Ai có thân người đó lo. Đúng sai có xã ủy, có chánh tổng, người ta chuyên về việc này.. Kỳ đà cản mũi chả có bao giờ là cái hay cả. Đừng như mấy ông nhà thơ ở Y ở X, ban đầu “phản đối tiêu cực, giúp đỡ dân oan, sau rồi bất bình chuyện biển, đảo, biên giới”..Rồi nói với nhau:
“ Đấy là xu hướng của kẻ sĩ, của người có tâm, bao nhiêu anh tài đi trước làm gương rồi..”  Đi quá trớn lúc nào không hay.. Nhiều bài học nhỡn tiền ra đấy, có ích lợi gì cho mình, hay chỉ khổ vợ khổ con? Hiền sĩ với cả lương tâm là cuộc chơi không đơn giản. Không phải ai chưa lượng sức mình cũng có thể dí mũi vào! Tôi nói thế, ông thấy có phải không?
À thì ra lâu nay đội có “để ý” mình đến việc này. Mà mình đâu có làm gì, đội lại nói như thế nhỉ?
Tuân định tranh luận nói để cho đội nắm rõ. Nghĩ lại, anh thôi. Con người như Đội nói thế nào ấy nhỉ? Đó là khối lý luận rắn chắc, khó bề thay đổi, đã lập trình sẵn trong đầu, trong tim. Một vài lời phải trái, chả xoay chuyển được tình hình. Nó như một ngôi nhà đã định hình. Móng có chỗ đổ beton, có chỗ là móng đất. Mái thì chỗ mái bằng, chỗ lợp ngói, có chỗ lợp gianh. Tường chỗ xây, chỗ vẫn thưng vách nứa, hỏng chỗ nào sửa chỗ ấy. Hình thái tư tưởng ấy, sự cảm hóa, biến chuyển chỉ là không tưởng. Mà người xưa nói rồi, “đã không đồng quan điểm, tranh luận không bao giờ chấm dứt”. Không khác đấm bị bông, đánh bùn sang ao!
Tốt nhất là không tranh luận. “Càng tranh luận càng dễ xa nhau”. Nói gì thì nói, mình với đội vẫn cùng ăn ở, sống chết ở phố Pủ này. Đội mà cay mũi, chả hay gì.
Đội Dư có lẽ cũng nghĩ như thế. Nên bảo:
- Nói thật với chú, anh đã từng qua “cao học chính trị”, lý luận anh không thiếu. Nhưng không gì bằng sống tình cảm với nhau. Một trăm cái lý, không bằng một tý cái tình..
Rồi đội nói ra mục đích đến đây của mình.
Đội bảo thằng lớn con nhà Bá Bành nghi Tuân xúi dục nên Thọ Ruộng mới làm ra nhẽ ấy. Nó bảo mấy lần đơn từ Thọ Ruộng đều nhờ Tuân viết hộ. Nó nói thẳng với đội: “ Chú chả phải mất công điều nghiên điều nghiếc gì nữa. Nói cho chú biết việc ấy cháu làm đấy. Phải chú tức thế, chú có làm không? Có chú, cháu ở đây cháu không dấu. dưng mà chú lập biên bản, hay báo lên trên là thằng này không nhận đâu nhé! Lời nói gió bay mà!”
Đội vừa mừng vừa bực. Mừng là cuối cùng cũng tìm ra manh mối. Hung thủ đã tìm ra được. Nhưng bực là nó nói trắng trợn, lại chả có “tang”, có “cứ” nào để buộc tội nó, đem ra xử lý. Cha con Bá bành xưa nay ngang ngược, đểu cáng ở vùng này ai không biết, nhưng lại cực kỳ xảo quyệt, thâm hiểm, luôn biết che dấu hành tung. Gây với cha con nó không chừng khốn cả mình!
Nghĩ. Nghĩ đi nghĩ lại. Đội bảo:
- Có chắc là ông ấy xúi giục, đơn điếc không? Tao nghi lắm. Người như ông ấy không chắc đã làm việc này. Mày nghi oan cho người ta, xử lý đểu, kiểu xã hội đen như thế là bậy. Theo chú mày nên đến nhà xin lỗi ông ta. Hoàn cảnh ông ấy cũng khó khăn, nhà mày có điều kiện, “thường” cho người ta một chút tiền máu, mới phải con người cháu ạ!
Nó  ngẫm nghĩ một lát rồi giãy nảy:
- Làm thế có khác gì lạy ông tôi ở bụi này? Các ông có cớ để xích cổ thằng này lại à?
Còn việc bồi thường nhẽ ra không nên làm vì hai nhẽ: Một là ông ấy có làm những việc kia thì đây là trừng phạt cần thiết để “dạy cho bài học” về sau. Hai là cũng để dè chừng kẻ khác, vì trong việc này nhất thiết phải có kẻ làm. Dưng mà chú đã nói thế, để chú dễ hành xử với bên ngoài, cháu đồng ý. Chú tìm cách xoa dịu rồi đưa cho chú ấy giúp, còn cháu ra mặt thì không đâu!
Nó dứt khoát như thế, móc túi đưa đội ba triệu bạc.

Đây là lần đầu tiên đội nói với nhân dân Tuân theo kiểu thành thực. Đặc thù công việc của đội nó vậy chứ đội chẳng phải là xấu xa gì. Quan tòa và lưu manh xưa nay vẫn gần và dễ hiểu nhau. Bảo như thế là tốt, là xấu còn tùy quan điểm mỗi người. Chưa bao giờ khó xử lý vụ việc như vụ này. Bồi thường cho nạn nhân mà nạn nhân không được biết hung thủ là ai? Hung thủ chỉ là cái bóng vô hình!
Nghe xong câu chuyện, Nhà thơ nhân dân cười như mếu:
- Bác đã nói thế, em còn nói gì được nữa? Nhưng mà tiền thì em không nhận đâu. Em không thể nhận tiền mà không biết của ai, đưa cho mình vì việc gì? Như thế nó mờ ám, không nên.
- Thế chú vẫn dứt quyết đi kiện à?
- Bác buồn cười, như bác nói, kiện ai? Kiện củ khoai trong chùa à?

Nhân dân vợ đứng đấy nghe rõ câu chuyện. Không thấy nhân dân ấy bảo sao. Nhưng nhìn vào đôi mắt, Tuân biết nhân dân ấy bảo:
- Đúng là điên, động rồ. Bị đau mà không nhận bồi thường là cớ làm sao?

Đội Dư chả biết nói thế nào. Đội kéo hai, ba điếu thuốc lào liền. Điếu ục là loại điếu không nên hút như vậy. Bởi thế đội say chỏng gọng, rớt dãi nhểu ra thành dòng bên mép, giơ cả  chân tay lên trời!
=====

Không có nhận xét nào: