| Nhà thơ Anh Vũ: Đã sống ngại gì bơ vơ |
| 25/04/2013 |
Nhà thơ Anh Vũ đang kể về
tập phê bình mới hoàn thành của mình
Khi chưa biết nhà, chẳng nghĩ nhà ông lại ở tận cái làng thuần nông, chỉ thích hợp cho bà con làm ruộng hơn là nghệ sĩ. Vậy mà nhà ông lại ở ngay cạnh cánh đồng. Nhưng mới chỉ đến cổng thôi đã thấy sự khác biệt với một vài hình thù tượng điêu khắc. Bước vào trong là cả một vườn tượng, chum vại, đất nung đỏ chói với nhiều hình thù lạ và đẹp mắt xen lẫn những cây hoa, cây cảnh tạo nên một không gian sống động, có hồn và gần gũi. Chả thế mà ông gọi đây là vườn bụt. Mới gặp ông đã thấy ngay chất nghệ sĩ. Không phải bởi mái tóc dài ngang vai mà ở phong thái ung dung, giản dị và hiếu khách. Tuy đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hi nhưng ông vẫn nhanh nhẹn hoạt bát lắm.
Khi đề nghị ông kể về cuộc đời và sự nghiệp thì ông chỉ nói "đại khái”, đại khái thế này, đại khái thế kia. Có khi phải hỏi đến mấy lần ông mới trả lời được hết ý. Hỏi ông bắt đầu làm thơ, nặn tượng khi nào, ông cũng chỉ nói đại khái khoảng năm này năm nọ chứ cũng chả nhớ rõ là năm nào. Đại khái là những thứ đang làm như làm thơ, nặn tượng hay khảo cứu, sưu tầm đồ cổ ông cũng chả học qua trường lớp nào cả.
Là thầy giáo nhưng có lẽ vì cái khí chất nghệ sĩ ngang tàng nên dù đang dạy rất tốt ở trường giáo dưỡng, đến năm 1972 ông quyết định sang Ty văn hóa Hà Bắc (cũ) dù có bị cắt sổ gạo. Chính ông là một trong những người thành lập Hội văn học nghệ thuật Hà Bắc, nay là Hội VHNT Bắc Giang. Nhưng được vài năm ông lại chuyển sang làm ở bảo tàng tỉnh bởi ông không thích sự nhàm chán, một phần cũng không thích những đấu đá ganh đua. Làm ở bảo tàng, Anh Vũ được tiếp xúc nhiều với các hình tượng điêu khắc dân gian, từ các hình điêu khắc tĩnh như ở điêu khắc đá hay động như ở điêu khắc gỗ đến các con nghê, con hạc, con rùa… ở các đình chùa.
Thế rồi niềm say mê với điêu khắc tượng, đất nung ngấm vào ông lúc nào không hay. Ông cũng có cái may là có người bạn thân là nhà điêu khắc Lê Liên, rồi quen biết với cả hai nhà điêu khắc Lê Công Thành, Nguyễn Hải nên ông cũng học tập được nhiều. Rồi ông cứ say mê miệt mài làm tượng, nặn đất. Cứ làm để đấy, chả bán chác hay triển lãm gì, ai biết, ai thích thì mua, không thì ông biếu. Số lượng ngày một nhiều lên, ông trưng bày khắp vườn nhà, từ cổng đến các kệ và cả trên các bờ tường rào. Ông tự nhận mình cũng chẳng tài cán gì nên cứ lấy công bù tài. Điêu khắc hiền lành, thô mộc thôi, làm ở tấm lòng và sự chân tình. Chính vì vậy mà các tác phẩm của ông trông rất có hồn. Nhất là tượng chân dung các văn nghệ sĩ, ông làm theo trí nhớ tưởng tượng, không có thì qua ảnh và lời kể nhưng quan trọng hơn là bằng tấm lòng, tình cảm của ông. Vào vườn bụt của ông thấy rất nhiều tượng các văn nghệ sĩ, chẳng hạn như tượng nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Nguyễn Bính, nữ sĩ Anh Thơ, nhà văn Kim Lân, nhạc sĩ Đỗ Nhuận… tất cả đều xuất phát từ tình cảm. Như vừa rồi tượng nhà văn Nguyên Hồng i lắm. Chỉ thế thôi cũng là phần thưởng, niềm tự hào của gã nghệ sĩ đa tài này rồi.
Tác phẩm điêu khắc chân dung tự họa mang tên "Tự Cười”
Một kỉ niệm nữa làm ông rất nhớ và tự hào. Đó là khi tỉnh Bắc Giang phát động cuộc thi làm tượng Đề Thám, ông tham gia, người ta không tin là ông biết làm tượng. Ấy vậy mà khi hoàn thành năm 1985, người con gái của Hoàng Hoa Thám là Hoàng Thị Thế từ Mĩ trở về ngồi ôm chân tượng vừa khóc vừa nói: "Đây mới là bố tôi!”. Hiện tượng Đề Thám được đặt tại khu tưởng niệm Hoàng Hoa Thám ở Cầu Gồ - Yên Thế. Cho đến nay, ở Bắc Giang có 8 tượng đài thì ông chiếm đến 3. Đó là tượng Đề Thám, tượng nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu, nhà sử học Ngô Sĩ Liên. Ông nặn nhiều tượng đất nung từ các nhân vật trong các tác phẩm văn học như Chí Phèo – Thị Nở, Lão Hạc, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, cụ cố Hồng… đến các nhân vật dân gian như chú Tễu, chú Phỗng và hàng loạt các tác phẩm, hình tượng ông sáng tác. Kể cả bản thân, ông cũng tự nặn cho mình một bức Tự Cười bằng đất nung đỏ au để lộ hàm răng sứt một cái trông rất ngộ nghĩnh.
Ông bảo các tác phẩm của mình là phi tỉ lệ, tức là không có tỉ lệ nào cả vì ông không được học qua trường lớp bài bản mà chủ yếu qua cảm nhận, tưởng tượng. Đặc biệt ông chỉ mê mỗi loại gốm mộc đất nung thô thô này thôi. Chứ ông không thích loại men sành cầu kì. Sinh ra từ làng quê Sặt nổi tiếng thuộc Từ Sơn – Bắc Ninh, rồi lại định cư ở nơi thuần nông Tân Mới này nên dường như cái chất giản dị, thô mộc, chân tình của người nông dân ngấm vào ông và từng tác phẩm của ông.
Sẽ là thiếu sót nếu như không nói đến một nửa còn lại của ông. Đó chính là người vợ, người bạn đời tri kỉ. Bà là Nguyễn Thị Phụng, người con gái thành Nam xinh đẹp có tài vẽ tranh, làm thơ. Quen nhau từ hồi học trung cấp mĩ thuật sư phạm, sau khi ra trường hai người làm đám cưới và cùng nhau xây lên một gia đình nghệ thuật hạnh phúc dù phải trải qua bao khó khăn, chiến tranh loạn lạc. Bà luôn là hậu phương vững chắc cho ông tự do sáng tác. Cả 6 con đều đã trưởng thành, hai người con trai theo nghề điêu khắc của ông, cô con gái Vũ Thị Thư chắc hưởng gen của mẹ nên nổi tiếng từ khi còn nhỏ, đã vẽ khoảng 5.000 bức tranh. Hiện chỉ có hai vợ chồng ở ngôi nhà thơ mộng này nên bà phục vụ ông là chính, có thời gian thì sáng tác, vẽ tranh.
Ngồi dưới hiên nhà nhìn ra vườn bụt, Anh Vũ vừa tiếp rượu vừa chuyện trò về thơ ca nghệ thuật đến cả buổi. Đến nhà ông, không chỉ ấn tượng về vườn tượng, về thú làm nghệ thuật hay thú sưu tầm đồ cổ, mà còn ấn tượng cả thú uống một loại rượu chân quê của ông. Có lẽ mải say mê với những thú ấy mà Anh Vũ "không nhớ mình đang sống, chỉ nhớ, mình đang yêu”. Và nhiều khi trong chuếnh choáng ông lại "không nhớ mình là ai, chỉ biết mình đang Người”. Thì cũng có sao, bởi với ông: "đã sống, ngại gì bơ vơ. Cốt nhất đừng thành vô cảm”. (Những câu thơ trong tập thơ của ông mới xuất bản 10/2012).
Trần Đức Hiển
|
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét