Quang Tấn
(HQ Online)- Ông là Trần Quân Bảo, sinh năm 1934 ở Hà Nội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng Tổng cục Công nghiệp quốc phòng. Ông là người có tuổi thơ gắn liền với quần đảo Hoàng Sa từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước.
Tuổi thơ gắn liền với biển
“Vào cuối năm 1938, bố tôi là Trần Văn Phước (1906-1978), cán bộ chuyên môn kỹ thuật về vô tuyến điện do Pháp đào tạo được cử ra quần đảo Hoàng Sa. Ông giữ chức vụ Trạm trưởng Trạm vô tuyến điện của đảo. Mẹ tôi và 3 anh em tôi được đi theo bố và trở thành những cư dân Việt Nam đầu tiên sinh sống và làm việc ở quần đảo Hoàng Sa từ năm 1938 đến cuối năm 1940” - ông Trần Quân Bảo cho biết.
Chia sẻ về căn nguyên chuyển từ đất liền ra biển đảo xa xôi sinh sống, ông Bảo chia sẻ: “Tôi và gia đình ra đảo ở là do bố tôi đã đánh một ông chủ người Pháp do gã đã phỉ báng, bôi nhọ người Việt Nam. Sau hành động này, ông bị mất việc tại Sở Vô tuyến điện Đông Dương và bị điều chuyển nhận nhiệm vụ ở đảo Hoàng Sa từ năm 1938-1940”.
Những ký ức về lần đầu tiên lênh đênh trên biển vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí người lính già năm nay đã ngoài 80 tuổi.“Ngày đó tôi mới 5 tuổi, biết gia đình được chuyển ra đảo sinh sống tôi rất háo hức. Chúng tôi được đưa ra đảo bằng một chiếc tàu chở hàng. Con tàu này chỉ thiết kế 1 khoang phía trên cho người dân và các thuyền viên ở, còn lại các khoang phía dưới được sử dụng để chứa thực phẩm và các đồ dùng thiết yếu khác cho người dân sinh sống ngoài đảo. Hơn một ngày lênh đênh trên biển, qua những ô cửa sổ hình tròn bên mạn tàu, tôi được biết đến biển cả rộng lớn”- ông Bảo kể.
"Hoàng Sa kìa!" - đó là câu nói đầu tiên của cậu bé Trần Quân Bảo khi nhìn thấy vùng đất nằm giữa bốn bề sóng biển. Nhìn thấy đảo từ xa, ấn tượng đầu tiên của tôi với nơi đây là những “cột điện” cao vút và những ngôi nhà mái bằng khác hẳn với một Hà Nội cổ kính, trầm mặc của những năm 30, 40. Ông đã được bố giải thích những “cột điện” chính là cột ăng-ten để truyền thông tin về đất liền, cũng chính nơi bố ông và gia đình sẽ làm việc và sinh sống trong thời gian trên đảo.
Còn những ngôi nhà mái bằng là để chứa nước mưa, chúng được thiết kế có phần trũng ở giữa mái và có ống nước để dẫn xuống phía chứa dưới nền nhà. Số nước này là tài sản “vô giá” ngoài đảo, nước mưa được sử dụng rất tiết kiệm trong sinh hoạt, chúng còn được dùng để đổi lấy lương thực, thực phẩm của các tàu đánh cá của Nhật Bản khi đi ngang qua đảo”- ông Bảo vừa kể vừa chỉ vào bức tranh cụ Phước - bố ông đã chụp vào những năm 30, 40 của thế kỷ trước.
Ở đảo một thời gian, cậu bé Trần Quân Bảo nhận ra rằng cuộc sống ngoài đảo khác xa so với cuộc sống ở Hà Nội cổ kính. Trong ký ức của ông, Hoàng Sa những năm 30, 40 chỉ có sóng biển, cát trắng và ngọn hải đăng. Ở đó cũng không có điện như Hà Nội và không thể được bố mẹ đưa đi dạo chơi.
Thời đó, thú vui của anh em ông chỉ là những lần đi bắt ốc "tai tượng", những con ốc hương xinh xắn, đầy màu sắc. Nhưng bù lại, ông được người dân trên đảo rất yêu quý, thường cõng bế. Họ chỉ cho anh em ông những chiếc tàu thường xuyên đi ngang qua đảo, đó chủ yếu là những con tàu vào để trao đổi nước ngọt lấy hàng hóa, thực phẩm.
Ông Bảo cho biết thêm: "Thời ấy, thực phẩm của người dân trên đảo chủ yếu là các loại sản vật từ biển và đồ khô của người Pháp như thịt muối, xúc xích. Mọi người đều ăn theo thực đơn chung xoay quanh vài món như thịt muối, trứng muối, hải sản và các loại củ quả. Thời ấy chỉ thèm được ăn một bữa rau cũng không có vì tàu trong đất liền ra đảo chỉ có thể mang được các loại củ quả.
Nhận thức về chủ quyền biển đảo
Ông Bảo kể tiếp: Thời tôi sống tại Hoàng Sa, ở đó thường xuyên có 2 lá cờ, một là của nhà nước phóng kiến thời vua Bảo Đại nền vàng gạch đỏ, một là của Pháp. Thời điểm đó trên đảo có khoảng 80-90 người nhưng chỉ có một vài công chức. Ngoài bố tôi là Trạm trưởng Trạm Vô tuyến điện còn có một người phục vụ máy nổ, một người quản lý kho thực phẩm, một người làm thiên văn; người làm thư ký, văn thư cho lính đồn và khoảng 60 phu (có nhiệm vụ xây dựng nhà cửa, đường xa và khuân vác đá để xây dựng càu tàu, kè đá và đi nhặt phân chim để phơi khô làm phân hữu cơ) và 20 lính khố xanh. Tất cả sinh hoạt của người dân trên đảo đều nghe theo tiếng kèn vì ở đó không có đồng hồ, mọi sinh hoạt đều dựa theo mặt trời. Trong trường hợp bão thì không có khái niệm về thời gian, mọi người đều ở trong nhà với chiếc đèn bão.
Chỉ cho tôi tấm ảnh mà bố ông chụp trên đảo tại Hoàng Sa những năm 1938 - 1940, ông Bảo cho biết: "Trong thời gian ở Hoàng Sa, tôi chưa ý thức được ý nghĩa của việc gia đình ra mình sinh sống ở đảo. Sau này tôi mới hiểu rằng, việc bố tôi làm việc trên đảo và chụp lại những cảnh vật xung quanh đã góp phần làm bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.
Trong bức thư của mình được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, ông Bảo chia sẻ rằng: “Những điều tôi được thấy, được biết trong hai năm gia đình tôi ở Hoàng Sa là những bằng chứng khẳng định, từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước trên đảo đã có nhiều công trình xây dựng kiên cố và cộng đồng người Việt Nam, trong đó có gia đình tôi đã từng sống và làm việc trên quần đảo Hoàng Sa thân yêu của Tổ quốc Việt Nam chúng ta”.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét