Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Truyện ngắn Thùy Linh:




Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắnHiển thị tất cả bài đăng

GIÓ MƯA GỬI LẠI

       - Anh về đi! - Chị giục, xiết chặt chiếc khăn dạ quàng trên vai vào người. 
- Đứng với anh thêm một lúc nữa.
Đôi chân bồn chồn đổi chỗ. Lúng túng anh đút tay vào túi áo khoác mầu khói, lấy ra bao thuốc lá, hai ngón tay thon mảnh nhón lấy một điếu. Rồi kẹp chiếc bật lửa zippo giữa hai ngón tay, ngón trỏ bật nắp một cách điệu nghệ, liền sau tiếng tách nho nhỏ, một nụ hoa lửa bùng lên. 

TIẾNG ĐÊM


Hoài chợt tỉnh giấc sau một cơn mơ. Không hiểu sao một tuần nay, đêm nào cũng vậy, giấc ngủ của Hoài trôi giữa hai bờ của suy nghĩ thực tại và những mộng mị ám ảnh nặng nề. Phù sa của đôi bờ cứ hoà chung vaò dòng sông ấy. Thường sau cơn ác mộng Hoài tỉnh giấc, sợ hãi thu mình trong bóng đêm, chập chờn xung quanh là những bóng hình quái đản, bước  ra từ cõi tăm tối, xa xăm của trí tưởng tượng. Cô trùm chăn kín đầu, không dám cựa quậy và thấy yên tâm hơn. Cũng có đêm cô ngồi dậy, tựa lưng vào tường nhìn ngọn đèn ngủ đỏ quạch để trên chiếc bàn sát đầu giường, nghe tiếng gà gáy sang canh từ xóm xa vọng về. Đôi mắt càng ráo hoảnh, lòng Hoài càng cồn lên nỗi tức giận. Cũng chẳng biết tức giận gì, chỉ muốn đập phá, gào thét cho đến lúc mệt nhoài ngã xuống.

ĐƯỜNG XA VẠN DẶM

Suýt nữa thì nó ngủ quên nếu cánh cửa không bị gió xô dập vào bờ tường. Vứt cái chân và cánh tay thằng em đang choàng gác ngang người, nó lồm cồm bò dậy. Thằng em vẫn nhũn người ngủ như giun chết. Đến ghét…Cứ động nằm xuống giường là giơ hai cái càng cua cắp chặt lấy nó. Một đêm dễ có năm sáu lần tỉnh giấc vứt bỏ hai cái càng ấy. Nhưng chỉ vừa thiếp đi lại bị cắp chặt như con mồi.

MỘT NGÀY


     Họ ngồi trong một quán vắng, ở cuối con phố vắng, chạy dọc thị xã vắng. Thiên hạ chưa muốn tỉnh để nhìn ngày mới mà phần lớn chẳng biết có gì đang đợi mình hôm nay, ngày mai...Trong từng chiếc giường, ẩn kín trong từng góc nhà, có lẽ giờ này người ta mới đang uể oải vươn mình trong chăn ấm sực. Còn vài phút nữa... 

TRỜI MƯA BONG BÓNG


Mặc cho loa nhắc rằng đã sắp hết giờ viếng, người ta vẫn đứng dồn lại trước nhà tang lễ. Túm năm, tụm bạ Chụm đầu vào nhau thầm thì. Câu chuyện chen chúc không còn khoảng trống. Lời người nọ cắn đuôi lời người kia lao xao. âm thanh giọng nói thấm vào nhau làm biến mất sắc thái của danh tính. Cái tai của anh từ sáng đến giờ bị thứ nước có 43%alc/vol dâng lên như thủy triều, ì oạp con sóng vỗ bờ.

CÁNH GIÓ ĐẦU ĐÔNG


Chị đã trở về thành phố của mình. Cái cách chị trở về như là cuộc gặp gỡ của hai người bạn lâu ngày không thấy nhau, vừa lạ vừa quen, muốn lại gần nhưng chưa thể, xa thì không đành lòng. Những hờn giận vu vơ chẳng thể nói. Những nhớ nhung nấp kín trong lòng dễ gì mà lôi ra. Chị muốn bắt đầu được làm lành với con đường ngày xưa chị thường qua, làm lành với cơn gió đông mùa này hay đổ về bất chợt, làm lành với tiếng ồn ào phố phường... Chị muốn tất cả chuyện đó diễn ra chậm rãi như thể ta ngồi nhấm nháp ly rượu lưu niên. Bởi thế chị đã đáp xuống sân bay lặng lẽ. Bởi thế chưa một người quen nào biết chị trở về này.

BÓNG CÂU QUA CỬA SỔ


Bà nói với anh chàng lái tắc xi lầm lì dừng ở ngã tư thứ nhất. Còn phải qua một ngã tư nữa mới tới đầu phố. Bà lững thững mộng du giữa đám xe máy chạy như thác sầm sập đổ theo các lòng đường. Loay hoay mất hai chặng đèn đỏ bà mới vượt qua ngã tư để sang đầu phố. 

CỔ TÍCH CHO ĐÀN ÔNG


"...à ơi, à ơi mẹ ru con mẹ ngủ ngon, lời ru đi vào trong mơ...".
Vừa xoa lưng bé Tũn chị vừa hát khe khẽ. Nhìn hàng mi con bé khẽ động đậy, chị biết rằng nó chưa ngủ. Từ ngày mẹ nó mất, nó vẫn trằn trọc như thế. Những ngày đầu nó còn khóc đòi mẹ. Khóc đến cạn hơi rồi lịm đi. Trong giấc ngủ thỉnh thoảng lại giật mình, cái giọng nhỏ kêu khào khào: "Mẹ ơi"...

TRỞ VỀ

Nó đói. Nó nhân ra điều này bởi một cơn buồn rười rượi vô cớ chợt tới. Không còn là sự dày vò thể xác, cơn đói chỉ còn là tâm trạng u buồn triền miên, phẳng lặng, một sự không hài lòng bản thân và không còn đủ sức nhắc nhở về sự no đủ đã qua. Trước đây, mỗi khi đói mà được ai mời, nó không giấu được sụ hoan hỉ. Nhưng khi ních căng dạ dày bởi lòng tốt của người khác thì nỗi tủi nhục cũng đầy ứ lên. Mỗi khi ghé mặt vào đĩa thức ăn người ta cho, nó cũng đành nghiêng lòng hắt cả nỗi tủi hổ của mình vào đó rồi nuốt ngược lại. Rồi nó chần chừ trước lời mời chào. Rồi nó bỏ lại lời mời chào sau lưng mình. Rồi nó lãnh đạm. Rồi nó mỉm cười thân ái từ chối không vấn vương. Bây giờ không ai mời nó nứa. Nó đã được bình đẳng với mọi người. Hay ít ra nó tự hãnh diện với bản thân mình như thế. 

NIỆM KHÚC CUỐI

                           (Tặng một người quen chưa hề nói chuỵên)

Cái chấm trắng mờ ảo, lung linh nhẹ lướt tới. Hai lớp kính cửa sổ loé sáng, tách nhẹ ra như vỏ trứng. Chấm trắng bay vào phòng, vụt trở thành hình người. Người đó quay mặt về phía tôi, gương mặt quen thuộc bình thản, rạng rỡ chưa bao giờ tôi được thấy, mỉm cười: "Đừng buồn nhé, chúng mình sẽ gặp lại". Người ấy muốn giơ tay vẫy chào, nhưng cánh tay buông thõng bất lực. Tôi cố nhổm dậy, lao đến, nhưng ai đó tóm chặt tôi kéo lại. Tôi thét lên: "Đợi em với". Hình người nhoà đi, biến thành chấm trắng, xé qua hai lớp cửa kính, lượn vờn trên những ngọn lá phong đang chuyển màu dâng ngang tầm cửa sổ và tan biến trong bầu trời phương Bắc mờ nhạt.

ĐỪNG RUNG CÂY MÙA LÁ RỤNG

Chiều nay Trang thấy buồn, nỗi buồn của kẻ thất bại. Tất cả mọi ý định dường như đều tẩy chay, để lại trong nàng nỗi rưng rưng mơ hồ, da diết.
       Trang khoá phòng khoác áo ra đi. Lúc này chỉ một ước muốn được sống giữa thiên nhiên. Thiên nhiên luôn thân ái chiều chuộng cái tính trầm cảm và nỗi buồn triền miên của nàng.

DÒNG SÔNG CHẢY XIẾT

         Tiếng gà gáy te te vọng lên khiến ông Bân tỉnh giấc. Con gà trống choai của cu Hiếu ở dưới nhà mua mấy tuần nay sáng nào cũng cất tiếng gáy nghe vừa thanh, vừa láu táu. Thường nó gáy vào canh tư cũng là lúc ông Bân tỉnh dậy. Giờ này ông không sao ngủ được. Nằm mãi tổ mỏi lưng.

CÁNH CỬA KHÔNG KHÉP KÍN

Nhìn quanh không thấy ai để ý, Aí lặng lẽ trở về phòng. Tiếng cười đùa của đám thanh niên tụ họp dưới sân bám riết lấy Aí.
Căn phòng nhỏ bé sáng mờ qua ánh hoàng hôn. Đơn giản và nghèo nàn quá đỗi. Chẳng có đồ đạc gì, chẳng có sự bài chí nào hết, rõ chẳng phải căn buồng của phụ nữ. Một chiếc giường đơn, một tủ gỗ con, cái bàn và hai chiếc ghế, và cái nồi, rổ rá, bếp dầu trong góc nhà. Với gần ấy thứ, Aí chẳng thấy cần thêm gì.

MẶT TRỜI BÉ CON CỦA TÔI

Tôi gặp cậu bé Nguyên lần đầu tiên ở nhà một người bạn. Tối hôm ấy đến chơi nhà Hà- đứa bạn thân nhất hồi tôi còn là sinh viên- thấy Hà đang ngồi chơi với cậu thiếu niên mười bốn tuổi mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình. Chẳng hiểu sao tôi bị cậu bé ấy thu hút suốt buổi nói chuyện. Có lẽ tại đôi mắt. Đôi mắt như mượn của người lớn lắp vào khuôn mặt còn đầy lông tơ, trông dè dặt và buồn mênh mang. Khi nó cười, chỉ khuôn mặt biến dạng đi, còn vẫn không xua được ánh buồn. 

ĐỘC THOẠI


Dứt buổi tập, đợi cho các diễn viên ra hết khỏi phòng, Nam ngồi lại bên chiếc dương cầm. Anh ngồi xuống ghế, lặng im một lúc rồi khẽ đưa ngón tay lướt trên các phím đàn. Anh mong có  phút giây thư thái như thế.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chúng ta cùng cười


Nguyễn Đoàn

Muốn sống được thì phải liều

Gia đình nọ có hai đứa con trai lớn, đều sắp lấy vợ. Ông bố chỉ có một căn hộ mới mua, không biết cho con nào, bèn gọi hai đứa lại, bảo mỗi đứa kể một câu chuyện thật buồn cười. Đứa nào có chuyện kể hay nhất, sẽ được căn hộ đó.
Người con cả kể: Có một cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch lớn, mỗi ngày xuất xưởng hàng vạn viên, công việc nhiều, làm không xuể. May sao một hôm đang đi kiểm tra chất lượng một mẻ gạch xây tường mới ra lò, bị một viên gạch rơi trúng đầu. Anh ta sửng sốt khi thấy đầu anh ta không bị vỡ mà viên gạch bị vỡ tan. Từ đó, anh ta không dùng máy nữa mà dùng ngay đầu mình để kiểm tra chất lượng sản phẩm từng mẻ gạch cho nhanh. Nghe nói chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch này kém hoài, nên đã một năm anh ta dùng đầu mình để kiểm tra chất lượng gạch, các viên gạch sản xuất ra đều bị vỡ mà đầu anh ta vẫn vô sự.
Nghe xong, ông bố cười hi hi.
Còn người con thứ hai kể: Một đập thủy điện có vốn đầu tư hơn hai trăm tỉ đồng đang được xây dựng ở Kon Tum dài tám mươi mét, thành bức tường bê tông của đập dày hơn một mét rưỡi. Để xây một con đập như vậy, lõi đập phải xếp đá hộc, bơm vữa xi măng, đổ bê tông liên tục với mác 150 để chịu được tác động lực ngoại lai của công trình, đến xe tăng húc cũng không đổ. Nào ngờ, sau gần bốn năm thi công sắp đưa vào sử dụng, có chiếc xe Ben chỉ tình cờ va quệt vào thành tường bê tông của đập đã làm cho sáu mươi mét thân đập bị đổ sập, vỡ vụn, nằm ngổn ngang dưới suối. Lạ hơn nữa là tường của đập bị sụp đổ hoàn toàn mà chiếc xe Ben gây nên sự cố chỉ bị "xây xát" nhẹ ở phần kính, tương tự như chuyện anh con vừa kể, viên gạch rơi trúng đầu cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch thì vỡ tan, còn đầu người cán bộ ấy lại không việc gì. Kiểm tra hiện trường, hóa ra lõi thân đập bê tông họ làm đâu có như yêu cầu thiết kế mà chỉ được làm bằng đất, cát và đá cùng “lơ thơ” những khung sắt gầy nhom.
Nghe xong, ông bố ôm bụng cười sặc sụa, bảo:
- Câu chuyện thằng cả kể hay, nhưng là chuyện bịa như thật, Nhưng câu chuyện thằng út kể hay hơn vì đó là chuyện thật mà như bịa. Vì vậy thằng hai được bố cho căn hộ mới mua. Đó là một căn hộ dành cho những người thu nhập thấp, nhưng bố cũng phải bỏ ra tất cả số tiền dành dụm bao năm mới có được đấy.
Nghe vậy, người con trai thứ hai sợ tái mặt, chắp tay vái bố xin không nhận căn nhà bố vừa cho. Anh ta bảo: Hu hu …bố ơi, nhà của bố cho là quý, nhưng bạn con cũng vừa mua một căn nhà dành cho những người thu nhập thấp. Nhà vừa trao tay đã xuống cấp, tường bị ngấm nước ẩm ướt, bẩn thỉu. Lan can thì chắp nối sơ sài, mối hàn xiêu vẹo, sống mà luôn cảm thấy bất an. Gia đình của một anh bạn khác ở quê cũng được chính quyền đưa vào diện cấp cho một trong số hàng trăm căn nhà vượt lũ dành cho các hộ dân nghèo tại địa phương nhưng không dám nhận, vì khiếp khi thấy chỉ một cơn dông, đã có 24 căn nhà vừa thi công hoàn thiện và 5 căn nhà chưa lợp mái bị sập, do những kẻ xây dựng đã rút ruột công trình để tham nhũng. Vì vậy, bố có ép, con cũng chả nhận nhà bố cho đâu, nguy hiểm lắm, bố ạ!
Ông bố cau mặt, mắng:
- Không ngờ con tôi lại hèn thế. Thế bố hỏi con, báo chí luôn đăng đường này, đường kia vừa làm xong đã hỏng, có cầu vừa xây xong đã sập, nếu con sợ thì chả lẽ ru rú ở nhà không dám đi đâu sao? Báo chí cũng đưa tin trường học này, trường học nọ vừa xây xong đã hỏng, nếu con sợ không cho các con của con vào học thì đành để chúng thất học à? Thời nay, muốn sống được phải liều, con ạ.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Trích TT:



11.
Chuyện đình làng tôi là cả một câu chuyện dài.
Nơi từng diễn ra bao nhiêu là hội hè, bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn ngót một ngàn năm. Viết đến mấy cuốn sách cũng không kể hết. Huống chi là chỉ kể trong câu chuyện này, một câu chuyện khác, chỉ có chút ít liên quan.
Tôi thì tôi chỉ nhớ những gì liên quan đến mình, đến tuổi thơ tôi..
Có năm nước lên ngập trắng một vùng, trừ những nhà có nền cao ráo mới không bị ngập. Hầu như gần hết cả làng chạy vào đình, nơi gò đất tự nhiên cao cao như một quả đồi.
 Mỗi nhà một góc, gác cái nong, tấm cót lên tường bao lơn của đình làm chỗ ở tạm. Tuy là chật chột không ai dám vào chính cung, thậm chí tam quan của đình thổi lửa nấu ăn. Chỉ có buổi tối người ta mới dám trải chiếu dọc hai bên tam quan làm chỗ ngủ qua đêm.

Lớp học ngoài đê lúc bấy giờ cũng phải chuyển vào trong đình. Ngôi trường dựng ngoài đê không dùng được vì sợ nó có thể lở xuống sông bất cứ lúc nào. Với lại đi lại khó khăn, học trò nhỏ như chúng tôi không tới chỗ đó được.
Ngoài thầy giáo Ất, về sau còn có hai ông thày nữa người dưới vùng xuôi lên. Trước khi chuyển l;ớp học vào đình, các thầy đã hô hào dân làng mang tre xoan ra chống chõi đề phòng gió bão đổ trường.
Bọn học trò chúng tôi lúc ấy hăng hái lắm. Người lớn trèo lên mái chằng buộc, đóng cọc, chăng dây. Học trò từng tốp vào làng xin tre. Những cây tre to chúng tôi phải hai đứa mỗi đứa một đầu khênh.
Mệt, nhưng mà rất vui.
Đối với trẻ con đôi khi có những tai họa chúng tôi tham gia vào như một trò vui, vì chưa ý thức hết được mối hiểm nguy. Cái chính do đầu óc thơ ngây chưa nghĩ đến, hoặc không quan tâm đến sự thua thiệt, được mất bản thân.
Lần ấy, không nhớ có đứa bạn nào khích bác, thách thức, tôi vác luôn cả hai cây sào phơi bánh đa của nhà mình ra để chống lụt cho trường. Mẹ tôi mắng tôi một trận nên thân, suýt nữa bà còn cho tôi mấy roi nếu hôm ấy bố tôi vắng nhà. Bố tôi bảo:
- Con sốt sắng với sự học như vậy là tốt, bố rất mừng. Nhưng cần cây que để góp với chúng bạn, nhà mình không thiếu. Cả rặng tre sau nhà cần mấy cây mà không được? Sao lại lấy sào phơi bánh của mẹ con?
Thấy bố nói thế, tôi toan bảo không nhờ được người chặt tre trong lúc cả làng bấn lên như thế này. Con chưa đủ sức tự mình chặt được.. Song lại thôi. Dù sao bố tôi cũng đã cảm thông, không quở phạt là may rồi.

Chúng tôi chỉ học nhờ trong đình có mấy ngày nước to. Những ngày ấy không thể nào quên. Bài giảng ngữ văn Thày giáo thêm vào chương trình về lịch sử và ý nghĩa ngôi đình. Chúng tôi biết thêm những chuyện mới chỉ lần đầu được nghe.
Không biết thày tìm hiểu ở đâu những câu chuyện, tình tiết đình làng tôi ngay cả người làng nhiều người chưa một lần nghe nói?
Bố tôi bảo: “ Đời người ngắn ngủi, không ai biết hết được mọi điều. Nhờ có sử sách ghi lại người đời sau mới biết được khi chưa có mình đã xảy ra những sự việc gì. Thày giáo là người ham đọc sách, tất nhiên thầy biết. Con phải noi gương, chịu khó mà học hỏi, sau này mới ra người hiểu biết, có ích cho đời!”
Chính nhờ câu chuyện của thầy, bọn trò chúng tôi thấy đình làng thật thiêng liêng. Không đứa nào dám trèo leo, đi lại tùy tiện, nói năng bậy bạ ở nơi thờ phụng trong đình.

Học trò vốn hay nghịch ngợm, hay vẽ bậy lên các bức tường, Nhưng ở đình tuyệt nhiên không đứa nào dám. Duy nhất có một lần thằng Mão trèo lên mái tam quan bắt tổ chim sẻ bị thầy phạt đứng úp mặt vào tường. Thày chỉ phạt nó mười lăm phút, không hiểu sao nó về ốm vật vã mấy ngày, sốt phát sảng. Bố nó phải làm lễ tạ ngoài đình mới khỏi.
Ai cũng bảo: “ chỗ thiêng liêng phạm vào bị các ngài hành cho như thế còn là nhẹ!”.
Sau này có ý nghĩ hay ám ảnh tôi: Hình như có một thế lực siêu nhiên nào đó, đình làng mới tồn tại đến ngày nay. Nhất là sau ngày hòa bình, không biết bao nhiêu đình chùa bị phá bỏ hay biến thành sân kho hợp tác? Đình làng tôi vẫn không hề bị một lần xâm phạm.

Ông Tú Ất can ngăn dân làng ngày tiêu thổ kháng chiến đã đành. Dân làng dẫu sao cũng con dân Nước Việt, dòng giống Âu Lạc không ai muốn xúc phạm nơi thờ tự thiêng liêng.
Đến cả khi quân Pháp tràn về chưa kịp xây đồn cũng không dám đóng quân trong đình.

Người già kể lại chúng chỉ ở trong đình mỗi một đêm, hôm sau phải tức tốc chuyển ra cánh đồng dựng trại. Đêm hôm đó tự dưng trời nổi cơn dông bão, cát bụi bay mù mịt, thổi tắt hết đèn đuốc. Thằng quan hai bị một mảnh ngói rơi trúng đầu, máu chảy tràn xuống mắt, không nom thấy gì. Hắn hốt hoảng bỏ chạy ra ngoài. Gần sáng cơn mưa mới tạnh. Đám lính tìm thấy hắn nằm co ro ngoài gốc cây gạo, thở thoi thóp..
Từ đó về sau, không lần nào hắn dám bước chân tới cửa đình nữa.
Những câu chuyện thêm thắt, tô vẽ sau này bọn lính đồn nghe càng hoảng sợ. Có đi càn quét đâu đó ngang qua chúng cũng không dám dừng lại trước cổng đình.

Tôi vẫn chưa quên câu chuyện trong đình có con rắn thần. Đêm hôm bọn lính đóng ở đó rắn thần xuất hiện. Cái lưỡi đỏ như lửa của rắn thần táp một cái là một mạng người. Những kẻ khác nom thấy cứng lưỡi, sợ đến nỗi sáng hôm sau điểm binh thiếu mất mấy người cũng không dám kể lại.
Đâu phải câu chuyện nào cũng có thể tùy tiện nói ra? Bọn lính dù có vô học, thô lỗ hay sàm sỡ chắc cũng phải biết điều này?


( Còn nữa..)

Cười tý cho đỡ nhạt mồm:


3 vị tướng người Nhật, Mĩ và Việt Nam thi xem quân đội của ai dũng cảm nhất.
Người Mĩ nói: Bây giờ tôi cho 1 tiểu đội lính của mình vào một căn phòng. Sau khi tôi thả 1 sợi lông gà chạm đất thì 1 phút sau lính của tôi sẽ tự sát hết.
Quả đúng như vậy, sau khi vị tướng người Mĩ thả sợi lông xuống đất và đi ra khỏi phòng thì nghe thấy tiếng cầu kinh của binh sĩ Mĩ và một phút sau tất cả đều tự sát hết.
Đến lượt vị tướng người Nhật nói:
Cần gì phải 1 phút. Chỉ cần sợi lông gà chạm đất là lính của tôi sẽ tự sát hết. Khi ông ta thả sợi lông rồi vừa bước ra khỏi phòng thì đã nghe thấy tiếng súng nổ và tất cả đều đã chết.
Đến lượt Vị tướng Việt thì ông cũng làm như vậy và ba vị tướng ngồi chờ.
Nhưng chờ đến nửa tiếng mà vẫn chưa nghe tiếng súng nên hai vị tướng kia cười chế diễu vị tướng Việt. Nhưng rồi ông cười khẩy và dẫn hai vị tướng kia vào phòng. Hai vị tướng kia há hốc mồm kinh ngạc vì tất cả các anh lính của chúng ta đều đang nằm dưới sàn nhà.... thổi lông gà để không cho nó chạm đất!

2.
Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm.
Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm trước nói sau.
Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc ko nói mà làm.
Người Trung Quốc lại sợ ai???
Xin thưa Trung Quốc sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói 1 đằng làm 1 nẻo…
Hôm qua bảo thứ trưởng bộ công thương nói không tăng giá xăng, hôm nay đùng một cái tăng 30% !
3.
Hội nghị đầu bờ của một tỉnh nọ được tổ chức ở một huyện X, sau khi kết thúc hội nghị, buổi trưa có tố chức liên hoan; Một phóng viên phỏng vấn một bác nông dân:
-Kết quả hội nghị là tốt đẹp, phải không bác. Bây giờ bác đã biết cách diệt rầy nâu rồi nhé, không còn sợ rầy nâu phá lúa nữa.
-Chúng tôi không sợ rầy nâu, chỉ sợ giầy đen thôi; Chỉ một bữa trưa nay thôi nó đã ngoạm mất gần 3 hecta lúa rồi.

!?
Ảnh của Tôi
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích TT của một tên hèn:

nhung-buc-anh-hiem-ve-viet-nam-thoi-phap-thuoc
 ( Mài răng cho trắng )


Cảnh hoang tàn bày ra trước mắt hai người không thể tin được. Bố tôi không dám tin ở mắt mình. Không lẽ nơi đây chính là nơi tổ tiên gây dựng, quê hương bản quán, nơi chôn rau cắt rốn của mình?
Thuyền về đến nơi, bố tôi không cập bến phía làng mình. Ông đỗ thuyền phía bên này sông để nghe ngóng tin tức. Chỗ cây gạo bị bom khoét một hố sâu. Cây gạo bị bom phạt, gục mất một nửa, cành lá xác xơ. Quán của bà cụ còng bán nước ngày trước còn lại dấu cái nền nham nhở. Mấy cái cột cháy dở chỉ còn nhô lên mặt đất vài phân.
Sau này về làng bố tôi mới biết là cụ đã chết bom trong trận càn của giặc lên núi Tam Đảo. Cái chết của cụ thật thê thảm, không có mặt con cháu đưa đám vì họ đã đi tản cư. Người ta tìm thấy xác bà cụ nát bấy, không rõ hình hài, thiếu đôi cánh tay. Tìm khắp xung quanh không thấy phần thi thể ấy của cụ. Người ta phải lấy cánh dâu tượng trưng để thay vào. Bây giờ phần mộ của cỏ đã mọc xanh um, cách lối xuống bến đò ngày xưa một quãng.
Sở dĩ bố mẹ tôi không muốn về làng ngay mặc dù rất nóng ruột, là có lý do. Thiên hạ đồn rằng những người ở vùng tự do về sẽ bị lính đồn bắt lên đồn xét hỏi. Đồn trưởng là tên quan hai người pháp rất sắt máu.
Dưới trướng của y còn có tên thượng sĩ Lâm, vốn là người ở vùng này còn khát máu hơn cả quan thầy..
Trước khi về quê, bố mẹ tôi đã được một người quen thông báo cho chuyện đó, cùng những bất trắc có thể xảy ra ở vùng tề.
Một vùng xôi đỗ, tranh giành ảnh hưởng giữa Việt Minh và quân đội viễn chinh. Ban ngày chính quyền sở tại làm việc cho Pháp, ban đêm che giấu hoạt động của Việt Minh. Tính cách “hai mang” ấy kéo dài cho đến khi chiến tranh Đông Dương lần một kết thúc. Người dân đứng giữa hai làn đạn. Hào lý phải uyển chuyển, tráo đổi như rắn, như lươn để tồn tại qua không biết bao nhiêu ngày khói lửa éo le.
Cũng chính vì lẽ đó, bố mẹ tôi không về nhà của mình, phải đỗ ở bờ bên này sông.
Chả gặp ai để hỏi thăm.
Bốn bề hoang vắng, thê lương không thể tưởng tượng được. Cánh đồng bỏ hoang, có lẽ lâu ngày không ai trồng cấy, cỏ ngập tràn lối đi.
Xa xa làng xóm yên ắng như không người ở.
Đến cả cánh chim bay trên trời cũng vội vã hốt hoảng, không  bay lượn thong thả hót ríu gian như thủa thanh bình. Xa xa đồn bốt tháp canh in bóng nên nền trời đang ngả bóng hoàng hôn.
Vùng tôi là vành đai của thành phố H, đầu mối trung tâm tỏa đi các nơi, cả đường đường sắt, đường bộ và đường thủy.
Trấn giữ được nơi ngã ba sông này cũng đồng nghĩa là kiểm soát được vùng trung du bắc bộ.
Từ đây có thể tấn công lên Tây bắc, Việt bắc, trở lại Hà Nội, Hải Phòng.. Vị trí trọng yếu như thế nên quân Pháp hết sức coi trọng. Hệ thống phòng thủ, đồn bốt dày đặc hơn bất cứ nơi nào.
Ngày đêm các ngả đường bị kiểm soát gắt gao. Đến và đi khỏi nơi này là chuyện tử sinh đối với nhiều hạng người.

Nhà ông thơ ký Long vốn trước ở trong làng. Từ ngày Tây tấn công chuyển ra ngoài bãi. Chỗ này xưa ông làm trại nuôi vịt, nhà cửa tạm bợ sơ sài. Nhưng được cái vắng vẻ ít người qua lại. Ba mặt giáp với hồ nước rộng, sen mọc dày xung quanh bờ, lan cả ra mặt nước.
Ông có chiếc thuyền sắt nhỏ, hễ có động là cả hai vợ chồng lên thuyền bơi ra giữa hồ. Mấy lần cả làng bị lính đồn lùa ra tập trung hết ngoài sân đình phơi nắng từ sáng tới trưa, vợ chồng ông vẫn thoát.
Đàn vịt hơn trăm con cũng không mất con nào. Hễ nghe tiếng súng, hay tiếng mõ, tiếng tù và báo hiệu từ xa chúng đã lục tục nối đuôi nhau núp dưới đám lá sen rậm rịt. Đó là nguồn thu nhập khá chắc chắn của vợ chồng ông vào thời buổi khó khăn này.
Dù thế sự có khốc liệt thế nào, con người ta cũng vẫn phải sống. Vẫn cần đến cái ăn, cái mặc..thậm chí vẫn cần lấy vợ, lấy chồng, sinh con, đẻ cái. Vẫn cần những nhu cầu sống khả dĩ nhất không thể thiếu.
Chiến tranh đâu phải ngày một ngày hai? Con người vẫn như cái cây, cần có đất đai để sinh tồn.
Lúc đầu dân làng tao tác theo nhau đi tản cư. Đến nơi ở mới, không phải ai cũng thích nghi và có thể sống được.
Lác đác có người quay về làng làm ăn như cũ.
Người ta gọi những người trở về là kẻ “dinh tê”, những kẻ theo “tề”.
Sự thực không phải hoàn toàn vậy.
Mấy ai ý thức được trong trăm vàn mục đích và lý do để trở về, thực ra nó là cái gì? Những người nông dân chân lấm tay bùn không nghĩ nhiều đến như thế.
Họ cần sống, thế thôi.
Bất cần kẻ cai trị mình là kẻ nào khi không có quyền chọn lựa. Trên thế giới này có lẽ ít có dân tộc nào cam chịu nhẫn nại và cơ khổ hơn dân tộc này.
Người trở lại như một cần thiết không thể khác khi hồi cư.
Nhưng với chính quyền của cả hai bên, sự ấy lại không thường.
Người vùng tự do cho là họ theo giặc nên mới quay đầu trở về. Người vùng tề lại nghi ngờ Việt Minh cho người trà trộn đi về hoạt động bí mật..
Cảnh tranh tối tranh sáng là vô cùng khó khăn, rắc rối cho người trở về nơi vốn là quê hương, bản quán của mình.
Ông thơ ký Loan vốn có họ bên đằng ngoại với mẹ tôi. Bố tôi chọn điểm đến đầu tiên trước lúc về nhà mình là vì lẽ này.

Chạng vạng tối, bố mẹ tôi mới lò mò đến trại của ông. Bao ngày xa cách gặp nhau đáng lẽ mừng mừng tủi tủi. Đằng này ông thơ ký Loan thấy bố tôi đột ngột lùi lại, mặt tái mét. Cứ như bố tôi là hiện thân của tai họa. Cái “tội liên quan” ở đất này chả khác gì tội phản nghịch, bố tôi hiểu điều này nên không lấy gì làm ngạc nhiên. Để ông trấn tĩnh lại bố tôi mới bảo:
- Bác đừng ngại, em định về làng làm ăn. Chỉ định ghé qua thăm, hỏi ý bác. Một chốc là đi ngay. Trước khi vào đây em đã có ý không để ai thấy, bác đừng lo. Hỏi xong là em đi..
Ông thơ ký nghe nói thế, mới lấy lại bình tĩnh, cười gượng:
- Đâu tôi đâu có lo sợ gì.. Chả qua gặp chú đường đột quá. Thế mới về tới à?
- Vâng.
- Còn các cháu?
- Em để chúng nó ở với bà bá trên mạn ngược. Về xem binh tình thế nào đã. Nếu ổn sẽ  đón chúng nó về sau..
- Chú dì tính thế cũng phải. Để tôi rửa qua cái chân rồi anh em nói chuyện.
Bà ký Loan váy nái, thắt bao xanh rung rúc, người phộp phạp, điềm tĩnh hơn chồng. Bà lấy tay quén quyết trầu hai bên mép, cầm miếng trầu ra tay, thong thả nói:
- Mình về nhà mình, có trộm cướp của ai đâu mà sợ? Quan quân có hỏi chán cũng chỉ đến thế, cơm đâu giữ mãi trên đồn, chú dì không phải sợ!
- Bầm mày nói thế không được. Nói thì nói thế chứ vẫn phải lo một tý. Việc này tôi đã có cách. Cứ để chú dì cơm nước nghỉ ngơi đã, bàn sau!
Bố tôi hỏi cách gì, ông không nói.

Sau này bố tôi kể: Tối hôm đó cơm xong, bố tôi theo ông thơ ký Loan đến nhà đoàn Nhiêu, anh em họ cũng là chân tay của thượng sĩ Lâm đóng đồn ở làng. Đoàn nhiêu bảo phải mất hai chục ngàn Đông Dương mới xong việc được.
Bằng số tiền dành dụm còn lại cuối cùng trong bọc mẹ tôi mang từ vùng tự do về.
Sáng hôm sau, đoàn Nhiêu dẫn bố tôi ra nhà hội đồng xin giấy, sau đó lên đồn. Mang theo đôi vịt mua của nhà bác thơ ký Loan.
Thượng sĩ Lâm đầu chải bóng nhẫy bi zăng tin, nhìn bố tôi từ đầu đến chân. Ông ta từng học với bố tôi một trường, đâu có phải người xa lạ? Nhưng lúc này phải thế. Nếu không quyền chức để làm gì?  Bố tôi ký vào tờ cam đoan rồi trở về ngay, đoàn Nhiêu nói là có việc ở lại đến chiều mới về.
Bố mẹ tôi phải dọn mấy ngày mới tàm tạm nhà cửa, bếp núc. Những đồ đạc quý giá hầu như chẳng còn thứ gì. Giường phản bàn ghế không biết ai mang đi đâu hết. Trong chạn còn sót mấy cái bát mẻ, hai cái nồi đất không có vung. Mấy đôi đũa đã mốc xì tự bao giờ..
Người trong xóm nghe tin bố mẹ tôi về đến hỏi thăm, mỗi người giúp cho một chút, cũng tiềm tiệm đủ.
Ông thơ ký Loan bảo:
- Người sống của còn chả việc gì phải lo..
Chợt nhớ mình lỡ lời, ông đến bên bàn thờ đốt cây đèn, thắp nén nhang cho ông bà nội tôi.
Đã lâu lắm nơi này không người hương khói.
Dân làng chỉ đến thắp nhang mấy ngày đầu, khi ông bà tôi mới mất. Người ta còn muôn việc phải lo. Lòng kính trọng, thương xót cũng chỉ cố được đến thế..

Nghe bác thơ ký kể, bố tôi giàn dụa nước mắt, không nói được thành lời.
Tối hôm đó, chờ cho đến khuya, bố tôi một mình lẻn ra vườn, nơi có cái hầm bí mật. May mà chỗ giấu bài vị, sắc phong, bát nhang, bộ cánh cửa của đình làng chưa ai đụng đến. Hồi cất giấu các thứ, bố tôi cẩn thận mang theo cối xay bột, cái nồi đồng điếu dùng làm bánh và vài thứ lạt vặt khác là đồ dùng của nhà.
Nhờ thế chỉ mấy hôm sau mẹ tôi lại có hàng mang ra chợ bán, ngoài cổng đình..


( Còn nữa..)





Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Góp ý với Nam dao và Nguyễn Mộng Giác về tiểu thuyết lịch sử

Hình ảnh động vui, hài hước


Không có gì thú vị bằng theo dõi một cuộc thảo luận văn chương (link) mà … không đi tới đâu hết. Người tham dự không ai muốn thắng ai, cũng không muốn đi đến một “chân lý” vĩnh viễn, áp dụng cho mọi trường hợp. Việc trao đổi ý kiến về vấn đề tiểu thuyết lịch sử giữa Nguyễn Mộng Giác và Nam Dao, từ chỗ khác biệt giữa hai quan điểm viết về lịch sử đã đưa đến nhiều đề tài văn chương thú vị khác, tuy đã cũ nhưng vẫn luôn luôn mới. Mới, có lẽ vì chúng gợi cho ta nhiều suy nghĩ, loay hoay tìm cách giải quyết để rồi tìm ra rằng không bao giờ có một dứt điểm. Vì nếu dứt điểm thì …buồn quá!
Tôi có một số suy nghĩ sau, gợi lên từ ý kiến của hai anh.
1. Tiểu thuyết/lịch sử
Thực tình mà nói, tôi không mấy thích từ “tiểu thuyết lịch sử”, mặc dù đây chỉ là một cách định danh để phân biệt với các thể loại tiểu thuyết khác. Tiểu thuyết là tiểu thuyết, lịch sử là lịch sử. Tiểu thuyết thì hư cấu mà lịch sử thì đòi hỏi sự xác thực. Nếu trong tiểu thuyết, ta có lấy một khung cảnh lịch sử với những nhân vật lịch sử và một số biến cố lịch sử, thì đó vẫn cứ là tiểu thuyết, nghĩa là vẫn là một tác phẩm hư cấu.
Nếu viết về một nhân vật lịch sử, biến nó thành ra một câu chuyện, nhằm mục đích động viên, giáo dục về lòng yêu nước chẳng hạn thì lại là một việc khác. Lúc đó, không ai xem nó là một tiểu thuyết. Mà chỉ là một loại “non-fiction” viết về một danh nhân.
Hai cuốn “Sông Côn mùa lũ” và “Gió Lửa” là những tác phẩm hư cấu theo nghĩa đúng nhất của từ này. Những nhân vật hiện diện và các sự kiện lịch sử xoay quanh các nhân vật đó chẳng có ý nghĩa gì về sử học để cho chúng ta phải bận tâm. Do đó, không thấy một nhà sử học nào lên tiếng để cải chính hay bài bác các tình huống diễn ra trong truyện. Một nhân vật lịch sử, dưới mắt một người viết tiểu thuyết, là một nhân vật y như bất cứ nhân vật nào khác mà người ta dựng nên. Quang Trung trong hai tiểu thuyết nói trên, chẳng khác gì những Tường, Ngô trong Mùa Biển Động hay Trọng Thức trong Gió Lửa. Người ta sử dụng những chi tiết của những nhân vật có thật để xây dựng một nhân vật hư cấu là chuyện bình thường. Đã vậy, người ta có quyền mượn những sự kiện lịch sử và thay đổi chúng (bằng cách dùng lại toàn phần hay một phần), thay đổi bản chất của biến cố. Nói một cách khác, trên lý thuyết, tác giả có quyền hư cấu lại toàn bộ các sự kiện lịch sử và quyền đó, theo tôi, là vô hạn. Chẳng khác gì lúc ta viết về một nhân vật vô danh, bình thường nào đó trong xã hội. Nếu phải đề ra một giới hạn thì giới hạn đó xuất phát từ cấu trúc nội tại của chính tác phẩm hơn là từ tính chính xác hay không của các nhân vật và sự kiện. Thay đổi một chi tiết lịch sử hay một nhân vật lịch sử, theo tôi, cũng nằm trong lãnh vực sáng tạo. Cái để ta phê phán ở đây không thuộc thẩm quyền của những sử gia. Tôn trọng hoàn toàn hay một phần như Nguyễn Mộng Giác hay không tôn trọng như Nguyễn Huy Thiệp hay Trần Vũ là quyền của mỗi tác giả trong khi viết. Tác giả có quyền hư cấu gia đình mình, bạn bè mình và xã hội mình đang sống cũng như chính mình, thì tại sao lại không có quyền hư cấu các biến cố và nhân vật lịch sử. Một nhân vật tiểu thuyết là một nhân vật hư cấu. Nó ra đời trong khung cảnh của tác phẩm và chỉ hiện hữu trong môi trường tác phẩm. Lôi “nó” ra khỏi tác phẩm để tra xét “nó” như tra xét một chi tiết cụ thể là hoàn toàn không thích hợp.
2. Tiểu thuyết và lịch sử
Nam Dao có một quan niệm chắc nịch về viết tiểu thuyết/lịch sử. Anh nói “Tiêu chuẩn hàng đầu của tôi là Tiểu thuyết. Sau là Lịch sử với bối cảnh và những con người của quá khứ” (14) (*). Theo anh, “trong Gió Lửa, cái khung lịch sử đã được sử dụng như phương tiện cấu tạo tiểu thuyết, và sau đó thì tiểu thuyết lại là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dự phóng cho chủ đề trên lịch sử (Gió Lửa nhằm giải thích một trong những nguyên nhân của những cuộc nội chiến là cái tương quan giữa con người VN và quyền lực)…” (13). Trong một đoạn khác, anh nói rõ hơn chủ đích của mình: “Còn viết tiểu thuyết lịch sử, có nghĩa là ít nhất đối với người viết, lịch sử chưa cáo chung: quá khứ còn mù mờ, hiện tại không chấp nhận được, và cái tương lai mong ước không chỉ là sự nối dài đơn điệu của hiện tại. Với tôi, tiểu thuyết lịch sử là một phản kháng toàn bộ và có ý thức của những cái đã thành lịch sử, để nhằm đến một tương lai khác với cái nối dài của quá khứ, kiểu nối đơn điệu máy móc, thụ động, không sinh khí” (15). Giải pháp thế nào? Nam Dao cho biết trong Gió Lửa, anh “bị những cơn nội chiến Việt Nam ám ảnh, và đề nghị tránh cái thảm họa đó trong tương lai bằng cách “cắt bỏ phần nhiễm độc trong tâm thức”, tức là một giải pháp văn hóa” (15). Nhà văn nhảy ra làm chính trị chăng? Anh không nói rõ. Nhưng theo tôi hiểu thì có lẽ: “không”. Anh nói: “Lẩn vào quá khứ để chiếm hữu và tái tạo lịch sử, tiểu thuyết là sự dấn thân của nhà văn nhăm phục sinh một hiện tại cần tháo gỡ hầu thoát khỏi những bế tắc tiêu vong. Vì thế, tiểu thuyết lịch sử hóa ra một tập hợp những dự phóng về một tương lai có thể có được”. Mặt khác, tiểu thuyết/lịch sử “tìm cách (những từ in nghiêng là do ND nhấn mạnh) đến với độc giả, thuyết phục họ, nếu không được thì quyến rũ, kích động suy tư, gây ra những nghi vấn để tạo cái nhu cầu xét lại những điều tưởng đã là “đinh đóng cột” cho độc giả, không chỉ bằng và qua lý luận, mà vận dụng tất cả, từ cảm xúc đến trực giác, thậm chí từ những yếu tố siêu linh đến những cái ta thường gọi là mê tín dị đoan, nghĩa là bằng tổng hợp những chất người, thứ chỉ tiểu thuyết mới chuyên chở nổi” (13). Nam Dao không nhận mình “văn dĩ tải đạo” khi viết tiểu thuyết nhưng nhấn mạnh rằng “văn chương không chỉ phục vụ cho nhu cầu ngóng chuyện thiên hạ, giải trí” (7). Hiểu một cách nào đó, theo tôi, nói như thế cũng là “văn dĩ tải đạo”. Chữ “đạo” ở đây, tôi hiểu là đường, nghĩa là một giải pháp, một lý thuyết cho những bế tắc hiện tại chứ không phải chỉ là chuyện luân lý, đạo đức.
Theo tôi, lịch sử (viết thường chứ không Lịch Sử viết hoa) không phải là một thực thể, mà là một giòng chảy liên tục, tự nhiên của cuộc sống con người. Sự va chạm giữa con người và con người tạo nên những biến cố. Lịch sử là tập hợp của vô vàn biến cố xảy ra, chứ không chỉ là những biến cố điển hình (được mệnh danh là biến cố lịch sử). Chúng có tác dụng xấu hay tốt, đối với cá nhân này, cá nhân khác, tập thể này hay tập thể khác, giai đoạn này hay giai đoạn khác, đó là việc của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, mỗi giai đoạn. Bất chấp chúng ta chống lại, chấp nhận hoặc phản kháng chúng hay không, thì chúng vẫn “thệ giả như tư phù bất xả trú dạ”. Các biến cố vẫn cứ tiếp tục xảy ra, hàng tháng, hàng ngày, thậm chí hàng giờ, hàng phút. Một biến cố điển hình, thực ra, là tổng hợp của bao nhiêu “biến cố” vô danh trước đó. Chẳng hạn như sự kiện 11/9 ở Hoa Kỳ vừa rồi: nó đâu có phải là một biến cố độc lập, một biến cố tự-nó, mà là hậu quả của một chuỗi những hành vi “bình thường” hay “bất thường” trước đó. Bất chấp khát vọng triền miên của con người về hòa bình, hạnh phúc trên trần gian, những chế độ độc tài vẫn cứ nảy sinh, tồn tại; những cuộc chiến tranh vẫn cứ xảy ra; những âm mưu vẫn cứ tiếp diễn; những tranh chấp vẫn cứ khai sinh. Ngay cả những người nắm quyền lực trong tay, có thể làm nên những quyết định “lịch sử”, vẫn chịu sự chi phối của vô số yếu tố không kiểm soát được. Với lượng thông tin giới hạn, ai mà biết động lực nào nằm đằng sau quyết định cấm đạo của vua Minh mạng? Ai biết cái gì nằm đàng sau bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ? Ai biết cái gì nằm đàng sau những quyết định “lịch sử ” của vua Quang Trung? Biết đâu, trong những quyết định về chiến tranh, hòa bình, cấm đạo, tàn sát, lại chẳng do những yếu tố tình cờ, nhỏ nhặt đúc kết lại (chẳng hạn một mối thù cá nhân, một cơn giận vợ, một cơn đau, một sự ích kỷ, một thái độ anh hùng rơm hay một cơn cao hứng…). Ai mà biết được công cuộc vận động của tổng thống Bush hiện nay để lật đổ Sadam Hussein thực sự xuất phát từ động cơ nào, trả thù cho cha hay bị áp lực từ một thế lực nào đó? Nếu người ta có thể xoay dòng lịch sử, ngay hiện nay, ai dám tiên đoán cái gì sẽ xảy ra nếu có chiến tranh với Irak? Và nếu có thì có thể tránh được không? Tóm lại, nói như Nam Dao – và tôi hoàn toàn đồng ý -, biến cố bị chi phối bởi những yếu tố ngẫu nhiên.
Vả lại, đàng sau mỗi một chiến công hiển hách, một sự nghiệp lẫy lừng bao giờ cũng chứa đựng một hay nhiều hay rất nhiều bi kịch. Và ngược lại, đàng sau những đau thương, tan nát của một thời kỳ lịch sử bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố tích cực hướng tới tương lai. Biến cố 30/4/1975 cho ta thấy rõ điều đó. Hay nói như Nam Dao, hiện tại nào cũng là “tổng hợp những thành tựu và những thất bại trong quá khứ” (16). Nói khác đi, hiện tại nào cũng là hậu quả của toàn bộ giòng lịch sử. Hiện tại không là nối dài của một hay hai hay một số quá khứ nào mà là nối dài của tất cả quá khứ. Nam Dao “phản kháng toàn bộ” những gì “đã thành lịch sử”. Nhưng trong lúc đó, nếu tiểu thuyết lịch sử chỉ có thể chọn một thời điểm lịch sử (như Gió Lửa chẳng hạn chỉ đề cập đến thời Quang Trung), liệu có phiến diện chăng? Phải chăng bây giờ đất nước trải qua cuộc nội chiến nên anh chọn thời điểm đó là thời điểm có nội chiến để đưa ra một lời giải cho hiện tại? Thực ra, như ta thấy, tuy cũng là nội chiến, nhưng tình hình hoàn toàn khác nhau. Cuộc nội chiến ngày xưa xuất phát từ những nguyên nhân khác. Cuộc nội chiến hiện nay do những yếu tố khác và sẽ dẫn đến một tương lai khác. Vậy hà cớ gì phải đi ngược lại quá khứ để tìm một giải pháp cho hiện tại? Và liệu chọn chỉ một quá khứ thôi có đủ để đưa ra một lời giải cho vấn nạn bức xúc hiện nay không? Và tôi tự hỏi, đã chắc gì những vấn nạn mà mỗi người chúng ta tự đặt ra (và tìm cách giải quyết) có thực sự phù hợp với những vấn nạn thực sự của xã hội và thời đại hay không?
Vả lại, giòng lịch sử, do mối liên hệ chằng chịt – hậu quả trực tiếp của văn minh và tiến bộ- biến chuyển cực kỳ nhanh chóng. So với thế giới rộng lớn ngày nay, thì hoàn cảnh lịch sử thời Quang Trung chẳng hạn, chẳng khác gì một loại “chuyện thường ngày ở huyện”. Một giấc mộng con. Trải qua hàng ngàn năm, bao nhiêu lý thuyết nhân văn, cứ theo giòng lịch sử, lần lượt trở nên những tờ giấy vụn, những công trình hư cấu thuần túy. Chúng có thể thúc đẩy giòng lịch sử nhưng giải quyết những vấn đề căn bản của lịch sử thì hầu như là điều bất khả. Giấc mộng bình đẳng của con người nhường bước cho những âm mưu trải dài trên giòng chảy lạnh lùng của lịch sử. Số phận của thế giới hiện nay tùy thuộc vào những tập đoàn tư bản, những tổ hợp kỹ thuật, chẳng còn nằm trong đầu óc chân chính của những triết gia, những nhà tư tưởng, những giáo chủ và các nhà văn. Trước tình huống đó, khái niệm lịch sử (như ta thường hiểu) dường như mất hết ý nghĩa của nó. Lịch sử (cái mà đôi khi ta tưởng có thể nắm bắt được) cứ hùng hục tiến tới, để lại đàng sau nó những tang thương dâu biển, những biến cố, những phẫn hận, những huy hoàng. Đồng thời “nó” cũng để lại cho chúng ta những anh hùng, những kẻ phản trắc, những nạn nhân và những kẻ cơ hội. Dường như “nó” mù lòa, điếc lác trước những kêu gào thống thiết của những nhà văn, nhà thơ, những nhà làm văn hóa, những nhà tư tưởng.
Nam Dao nhắc đến một giải pháp văn hóa. Theo tôi, có một tranh chấp giữa con người chính trị và con người văn hóa. Với tư cách là một con người văn hóa, tôi yêu sự công chính (và sự công chính áp dụng ngay cả đối với kẻ thù), yêu hòa bình, yêu sự hòa giải. Nhưng với tư cách chính trị gia (dù chọn lựa hay bắt buộc), công chính, hòa bình, hòa giải chỉ còn là chiêu bài, thủ đoạn. Những gì chúng ta chiêm ngưỡng về người anh hùng Quang Trung, thực tế, là những công trình chính trị của ông vì những gì ông thực hiện là thực hiện trong tư cách của một nhà chính trị.
Nói không quá, những quyết định lịch sử, thường là những quyết định “phi-văn hóa”. Một quyết định chiến tranh chẳng hạn thường được cân nhắc ngoài các tiêu chuẩn văn hóa và đạo đức thông thường. Bởi thế, thật khó mà đem tiêu chuẩn văn hóa để đánh giá những quyết định lịch sử. Lại càng khó nói đến chuyện mang văn hóa để tác động vào hướng đi của lịch sử. Tôi không tin một nhà văn hay nhà tư tưởng lại có thể vạch đường đi cho lịch sử. Cứ nghiệm lại những Marx, những Angel thì đã rõ.
Rốt cuộc, có lẽ cái thú của nhà văn chỉ còn là vọc giỡn trên sinh mệnh của những cá nhân, dù những cá nhân đó đã từng “làm nên lịch sử”. Kinh nghiệm sáng tác cũng như kinh nghiệm thưởng ngoạn văn chương, rốt cuộc, vẫn chỉ là những kinh nghiệm ảo. Nhà văn có thể để vào đó vô vàn mơ ước, vô vàn giải pháp, vô vàn cao vọng, nhưng lịch sử được quyết định bởi những yếu tố hoàn toàn khác. Đáng buồn thật, nhưng được cái, nhờ vậy mà nhà văn tự do. Những anh hùng, liệt nữ – những kẻ làm nên lịch sử (hay bị lịch sử “làm nên”) – không bao giờ có được cái tự do đó. Họ đáng được chiêm ngưỡng, nhưng thực tế, họ bị ràng buộc một cách nghiệt ngã vào giòng chảy của lịch sử, bị thúc đẩy bởi vô số yếu tố bất khả cưỡng chống. Dẫu sao, xin cảm ơn những anh hùng, những liệt nữ vô danh hay hữu danh – những người đã lưu lại bao nhiêu vết hằn bi tráng trên giòng lịch sử (Việt Nam và nhân loại). Nam Dao viết “Còn tôi, phải chăng tôi viết về một quê hương huyễn tưởng (ND nhấn mạnh), thứ quê hương của đứa con lãng tử trên bước đi hoang không có ngày về?” (22).
Thì thế, tiểu thuyết mà!
3. Nhà văn và nhân vật
Sau khi nhìn nhận mình là một con người ” thường thường bậc trung”, Nguyễn Mộng Giác viết : “Một người (…) như thế khó lòng sáng tạo ra những mẫu đời phi thường. Thay vì rán rướn lên tầm cao của những anh hùng liệt nữ, tôi lại kéo họ xuống thấp ngang tầm của tôi. Điều đó không tránh được. Dù tác giả có ngụy trang khéo léo cách nào, nhân vật tiểu thuyết vẫn luôn luôn là bản sao của chính người viết. Thế giới tiểu thuyết là bản ngã tác giả phóng chiếu ra ngoại giới, tạo thành một thế giới mang trọn bản ngã ấy. (…) Trong khi nhiều nhà văn khác thích chọn những mẫu người phi thường, khác thường, dị thường, bản tính khiến tôi thích chọn những mẫu người, mẫu đời bình thường, tầm thường” (11).
Tôi phần nào đồng ý với lời nhận xét của Nam Dao: “…nếu nhân vật tiểu thuyết lúc nào cũng là sự phóng chiếu của tác giả thì tôi e rằng không tránh được sự đơn điệu bởi tác giả thì chỉ là một cá thể với một số cá tính nhất định. Dĩ nhiên, tiểu thuyết là 100% chủ quan, người viết thể hiện cái Tôi (…). Nhưng cứ đơn cử Dos, ông ta đâu có đơn điệu. Thế có nghĩa là ông ta không chỉ phóng chiếu tính chất cá nhân của riêng mình lên nhân vật. Trong toàn bộ tác phẩm của nhà văn kỳ tài này, nhân vật đi từ mức thiên thần xuống mức quỷ sứ, lúc thế này, lúc thế khác, cứ như con thoi chạy giữa những thái cực của sự khả thể trong đời sống của con người nói rộng, chứ không bó vào một cái khung nào, kể cả phong cách tác giả” (19)
Thực ra, trong một đoạn sau, Nguyễn Mộng Giác lại nói: “Tôi cho các “ngài” tai to mặt lớn có tên trong lịch sử thực chất cũng chỉ là người tầm tầm như đa số chúng ta thôi, cái hào quang họ có không do thực chất của họ, mà do thứ quyền lực xã hội họ có trong tay, làm người khác phải run sợ khép nép” (19). Rõ ra là không phải Nguyễn Mộng Giác phóng chiếu cái “thường thường bậc trung” vào các danh nhân mà là do quan niệm của anh về các danh nhân. Chẳng phải anh muốn kéo họ về phe với mình mà là muốn đưa họ trở lại với vị trí mà họ có. Riêng người đọc như tôi thì nhìn khác. Nhà văn của chúng ta không “kéo” Nguyễn Huệ xuống mà chính là muốn ngấm ngầm “nâng” ông lên. Thay vì khoác cho ông một vòng hào quang của các chiến công, biến ông thành một thần tượng khô chết (đôi khi được dựng ngoài công viên) với những mỹ từ như hiển hách, phi thường, hoặc thành một siêu nhân xa cách với cuộc sống đáng có của một con người (như các bộ máy tuyên truyền chính trị thường làm), Nguyễn Mộng Giác “thường hóa” vị anh hùng của chúng ta, chí ít cũng để cho chúng ta hiểu được cái bi kịch gia đình mà ông phải đánh đổi để đứng trong cơn biến động lịch sử. Nguyễn Huệ ở đây mang dáng dấp của một trí thức bình dân hơn là phong cách của một anh hùng/áo vải/cờ đào như được mô tả đâu đó. Có thể đó là message tiềm ẩn trong “Sông Côn mùa lũ” chăng? (Tác phẩm văn chương nào, theo tôi, cũng chứa đựng ít nhiều message, có khi lộ rõ, có khi tiềm ẩn, lại có khi quanh co lắt léo và cũng đôi khi chẳng có gì . Nhưng chẳng có gì cũng có thể là một message!).
Trở lại vấn đề “phóng chiếu bản ngã”. Tất nhiên, một tác phẩm văn chương bao giờ cũng phảng phất cá tính, tâm hồn và cuộc sống của tác giả biểu lộ qua nhiều hình thái khác nhau: hơi văn, không khí truyện, tâm lý nhân vật, đối thoại và nhiều kết cấu vô thức khác xuyên suốt mạch văn. Cứ cho như thế giới tiểu thuyết “mang trọn bản ngã” ấy đi. Nhưng bản ngã -cái tôi ấy – là gì? Bản ngã của một cá nhân không phải là cái gì hoàn toàn sở hữu riêng biệt của cá nhân đó. Mà là một tổng hợp của nhiều yếu tố trong + ngoài: truyền thống gia đình, địa phương, văn hóa, học tập, môi trường, bạn hữu, hoàn cảnh, kinh nghiệm giao tiếp ngoại giới, vân vân. Bởi thế mà cái “chủ quan” của mỗi người bao giờ cũng chứa đựng một phần nào đó cái “khách quan”. Cái tôi vẫn chứa đựng nhiều yếu tố phi-tôi. Nhờ thế mà tôi có thể “nội hóa” một nhân vật lịch sử, hay một người quen nào đó thành “tôi” và ngược lại “ngoại hóa” tôi thành một anh A, chị C nào đó. Thậm chí, chia cắt tôi thành nhiều mảnh, mỗi mảnh là một nhân vật khác nhau. Sáng tác văn chương thường diễn ra như một cuộc nội chiến trong bản thân tác giả: một dành giựt giữa các yếu tố bản ngã và phi bản ngã. Về điểm này tôi có phân tích khá kỹ trong bài “(Những) nhân vật của tôi và tôi” (tạp chí Văn số 63&64, tháng 3&4/2002). Từ đó, mới có chuyện người đọc “chia xẻ” quan điểm, tâm tư, tình cảm cũng như nỗi đớn đau, phẫn hận – nghĩa là chia xẻ cái bản ngã hay phần nào cái bản ngã ấy của tác giả. Message của một tác phẩm, chính là phần đất chung ấy, cái phần phi-bản ngã ấy.
Lại cũng có trường hợp tôi gọi là hiện tượng “phóng rọi ngược” trong tác phẩm. Thay vì phóng rọi bản ngã, tác giả lại phóng rọi (nhiều khi là vô thức) cái phản-bản-ngã của mình vào tác phẩm. Kết quả là: (những) nhân vật trở nên khác hoặc đối nghịch – có khi đối nghịch hoàn toàn – với cá tính, nhân cách và quan điểm riêng tư của tác giả. Nhân vật thì anh hùng, cao thượng mà tác giả lại có cuộc sống hèn hạ, đê tiện; nhân vật thì hiền lương mà tác giả lại hung ác, bạo ngược; nhân vật thì bạo mà tác giả lại hiền…Không thiếu trường hợp, khi đọc truyện, ta hình dung tác giả là một con người như thế này, đến khi gặp lại tìm thấy tác giả là một con người hoàn toàn khác. Có thể tác giả khéo ngụy trang. Nhưng cũng có thể sự hình thành tác phẩm là một quá trình vô thức: bù đắp sự thiếu hụt của cuộc sống hay cá tính hay khát vọng của tác giả bằng cách tạo ra những nhân vật mà mình mong được trở thành nhưng vì một lý do nào đó, không thể hoàn tất ước nguyện trong đời sống thực. (Về điểm này, Nam Dao có bàn qua một vài khái niệm tương tự ở tr. 21)
Vả lại, dù có chủ đề như Gió Lửa hay “khơi khơi” như Sông Côn mùa lũ, quá trình hình thành một tác phẩm văn chương là một quá trình thuần lý. Mỗi tình tiết, mỗi nhân vật đều được chuẩn bị và chọn lựa kỹ càng. Nó khả tri. Và do đó, nó mới truyền đạt được. Và nhất định nó hàm chứa những yếu tố khách quan, đôi khi nằm ngoài cả ý định của chính tác giả.
4. Văn chương hiện thực và văn chương hư cấu
Định kết thúc phần góp ý ở đây thì tình cờ được đọc bài “Truth is another country” của Timothy Garton Ash in trên tạp chí “The Guardian” (có thể xem nguyên văn bài này trên mạng: nhanvan.com/tinvan). Bài viết nêu lên một số điểm khá lý thú dính dáng ít nhiều đến đề tài đang viết, nên tôi ghi lại vài ý chính sau đây.
Ash cho rằng tất cả những gì liên quan đến lãnh vực sự kiện và lãnh vực hư cấu đều thuộc về văn chương cũng như nước Đức và nước Pháp đều thuộc về Châu Âu vậy. Ông gọi lãnh vực sự kiện là “literature of fact” (văn chương hiện thực) thay vì từ “non-fiction” thường dùng vì có chữ “fact” trong đó khiến cho cụm từ rõ nghĩa hơn và lãnh vực hư cấu là “literature of fiction” (văn chương hư cấu). Biên giới giữa hai lãnh vực đó là biên giới mở, không cắm mốc, không vạch đường biên.
Lịch sử hay phóng sự thuộc loại văn chương hiện thực vì giá trị của chúng hoàn toàn căn cứ trên các sự kiện thu tóm được. Để tạo ra thứ văn chương hiện thực, những người viết sử hay phóng sự thường phải làm việc chẳng khác gì những nhà viết tiểu thuyết. Họ chọn lọc. Họ soi sáng sự kiện này nhưng bỏ qua sự kiện khác. Họ tưởng tượng. Không có một tác phẩm lịch sử hay phóng sự nào hay mà lại không được viết ra bằng một thứ tình cảm tưởng tượng nào đó đối với những người (hay những việc) mà họ viết về. Những người họ đề cập đến đều là những người có trong thực tế, nhưng họ nặn những người đó thành nhân vật với cá tính và nhân cách theo cách minh giải riêng của họ. Thành thử, khi viết một cái gì, tất cả chúng ta đều có một tiểu thuyết gia ở trong đầu (we all have a novelist in our heads).
Tóm lại, theo Ash, văn chương nằm ở hai bên biên giới phân chia hiện thực và hư cấu. Và người viết (nhà văn, sử gia…) thường đứng ở ngay đường biên.
Phải chăng, viết là một cách vượt biên?
Vậy thì: tiểu thuyết/lịch sử hay tiểu thuyết-lịch sử hay tiểu thuyết lịch sử? Hay chỉ là tiểu thuyết?



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích TT của một tên hèn:




Tranh của Wifredo Lam


Thực ra mà nói, trên sông không hẳn vắng vẻ hoàn toàn. Vẫn thỉnh thoảng có những chiếc thuyền gỗ lớn xuôi ngược. Đó là những thuyền chúng tôi không mong đợi chút gì, thuyền buôn muối, buôn vôi, củ nâu hay song mây qua lại. Những chiếc thuyền có buồm căng mầu nâu, có những chiếc buồm nắng mưa bạc phệch, cột buồm to và vững chãi.

Cho đến lúc ấy tôi chưa hề bước lên những chiếc thuyền như thế một lần. Chỉ là phỏng đoán thế thôi. Thực sự thuyền chở gì tôi không biết và không quan tâm. Những chiếc thuyền ít khi ghé vào bờ, chẳng thể hy vọng gì ở chúng vào lúc này.
Khi chiếc thuyền nan từ xa tới chúng tôi mới thực sự để ý. Càng mừng hơn khi thấy nó quay mũi nhằm chỗ chúng tôi đang đứng để vào bờ.
Đời người có những khi may mắn bất ngờ, không hẹn trước.
Từ dưới thuyền có ba bốn người đội nón lá rộng vành, áo tả pủ cúc tết bằng vải bước lên bờ. Ai cũng đeo bao tượng gạo chéo qua vai. Có vẻ như họ không phải người vùng này. Để phân biệt họ là Việt Minh, thương lái hay Việt gian rất khó. Họ đều có vẻ ngoài nhang nhác giống nhau. Riêng có một người để râu dài, đội mũ cát chỉ đeo túi dết không mang ruột tượng gạo.
Người chèo đò hẵng còn trẻ ở lại dưới thuyền. Anh ta tìm chỗ buộc thuyền. Chợt nhìn thấy chúng tôi người này có vẻ ngần ngại, lưỡng lự một lúc rồi tiến lại chỗ chúng tôi:
- Các em đang làm gì ở đây?
- Dạ đi lấy củi về ạ!
- Sao không về còn đứng đây?
- Bị trôi mất mảng.. – Chị tôi ngập ngừng trả lời.
Anh ta nhìn chúng tôi một lúc lâu không nói gì rồi quay xuống thuyền tát nước rò rỉ, đọng trong thuyền.
Tôi đoán đoàn người này vừa qua một chuyến đi dài vì thấy trên thuyền có cả bếp đun và một ít củi. Còn một mớ rau để trong cái rổ con chỗ cuối sạp thuyền. Bộ quần áo chưa khô phơi trên sợi dây giáp mui thuyền..
Tôi đoán là anh này ở lại trông thuyền. Mấy người kia lên bờ giải quyết việc gì đấy, chắc chưa đi ngay.
Một ý nghĩ nảy ra trong đầu. Tôi bảo chị tôi đưa chùm dâu da chị hái hồi chiều. Chị bảo: “Đừng ăn bây giờ, chưa cơm nước gì ăn vào xót ruột”. Tôi nói tôi không ăn, cầm chùm dâu da xuống thuyền. Anh trai tôi chưa hiểu chuyện gì, đi theo.
Tôi đưa mời người khách lạ chùm dâu da. Anh ta bảo tôi cứ giữ lấy.Tôi nói: “bọn em ăn nhiều rồi. Anh cứ cầm lấy, để em tát nước cho”. Anh ta cười không nói gì đưa tôi cái bù đề làm bằng mo cau dùng tát nước. Anh trai tôi thấy vậy cũng mó tay phụ giúp. Một loáng, nước trong lòng thuyền đã cạn. Chúng tôi ngồi lại gần người chủ thuyền. Tôi lân la hỏi. Anh bảo anh có việc, không nói việc gì. Tôi cũng không hỏi thêm. Tôi biết người ta đã không muốn nói, thì đừng gặng hỏi. Bố tôi nhiều lần dặn tôi điều này. Kể cả trước đây bố không dặn, tôi cũng không hỏi thêm vì tôi đoán người coi thuyền hình như có việc cần giữ kín.
Tôi lảng ra chuyện khác:
- Em nom anh quen quen?
- Tao cũng nghĩ thế. Ngay từ đầu tao đã ngờ ngợ, lại không tiện hỏi. Nguyên tắc bí mật bọn mày hiểu không?
Là sao? Đúng là nói phét gặp dịp! Chả nhẽ tôi đã gặp anh ở đâu rồi?
Chợt anh ta hỏi:
- Chị em tên là gì?
- Dạ chị Nhiên ạ!
- Không lẽ là người quen thật..?
Rồi anh kể, “chục năm trước, anh có theo một ông thầy giáo dạy học dưới Phong Châu. Anh có quen một gia đình có cô con gái cũng tên Nhiên. Nhưng lúc đấy cô bé còn nhỏ lắm. Nhưng mà có nét hao hao giống chị em. Không nhẽ..?”
Tôi hỏi:
- Có phải ở trang Khả Lãm phải không?
- Sao chú em biết?
- Thì chính là làng em mà. Anh bảo anh quen nhà ai ở đó?
- Nhà ông lý Chẩn..
Thì ra anh chính là chú tiểu đồng đi cùng ông giáo Tú ở phần đầu câu chuyện này, ghé quán bà còng mua ba xu kẹo bột năm xưa.
Chỉ có điều anh giờ đã trở thành chàng trai cứng cáp, dày dạn phong sương.
Khi anh đến làng cùng ông giáo Tú tôi còn quá nhỏ, không nói làm gì. Ngay đến chị tôi lúc đấy đã có ý thức, cũng không nhận ra, vì anh thay đổi quá nhiều.
Mười năm, với một đời người tuy không dài nhưng có biết bao nhiêu sự kiện? Nhất là trong buổi tao loạn, giặc dã này!
Người ta thường nói trẻ con và thiếu nữ lớn nhanh như cỏ dại, anh không nhận ra được chúng tôi cũng là chuyện bình thường.
Tôi đang định hỏi tên anh cho dễ nói chuyện, anh như đoán được, tự nói ngay;
- Anh tên là Bình..
Chúng tôi như kẻ buồn ngủ gặp được chiếu manh. Anh bảo tôi gọi chị xuống thuyền, anh tranh thủ đưa sang bên kia sông. Phần anh vẫn phải quay lại chỗ này.. Chúng tôi mừng hết chỗ nói.
Ba chị em xếp củi xuống thuyền. Chị tôi phụ với anh cùng bơi. Không biết hai người nói chuyện gì, thỉnh thoảng nhìn lại thấy chị thỉnh thoảng cứ cui cúi đầu, vẻ lúng túng, xấu hổ lắm.
Ngồi đằng mũi thuyền tôi và anh trai tôi thì thầm bàn tán với nhau.
Thật là may. Gặp được người quen cũ ra tay giúp đỡ, hay vì chị gái mình có chút nhan sắc nên anh ấy cảm tình?  Có đàn ông nào khi gặp người con gái đẹp, lại dịu dàng mà lại quay mặt đi?
Anh tôi cứ nhất mực kết luận như thế nhưng tôi không đồng tình. Cũng có thể là do cả hai lý do ấy, nhưng kết luận rằng chỉ vì chị gái mình có chút nhan sắc mà anh ấy muốn làm quen là hồ đồ. Không có gì tệ bằng lòng tốt bị hiểu sai, biết đâu người ta chỉ do lòng cảm thông trước cảnh cơ nhỡ vào khi này của chúng tôi?
Cuộc tranh cãi của anh em tôi chưa kết thúc, thuyền đã sang tới bến. Không rõ chị tôi nói câu gì đó, thấy anh Bình giở cuốn sổ nhỏ ra ghi. Có lẽ là địa chỉ chỗ nhà bá tôi ở. Anh bảo khi nào có điều kiện anh sẽ ghé chơi.
Dứt lời anh vội vàng quay thuyền, bơi về phía bên kia.
Lúc bấy giờ tôi không hề biết rằng về sau con người này có tác động không nhỏ tới số phận của bản thân mình.
Tạo hóa không hiểu vô tình, hay cố ý đã cài cắm, “lập trình” như cách nói sau này về cuộc gặp gỡ tình cờ  của anh Bình với chúng tôi hôm ấy?




( Còn nữa..)




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ Lư Sơn :


Niềm quên lãng của chúng ta





Vì cái gì mà những người Việt chúng ta hôm nay phải tránh né khi cầm bút
tránh né một vết thương nhức nhối không bao giờ khép miệng

Sự thật là chối bỏ
chúng ta chối bỏ một quê hương
chối bỏ một mối tình



Chúng ta bị buộc phải yêu một quê hương khác bằng một tình yêu khác
Chúng ta ta bị buộc phải làm một con người khác bằng một thân phận khác
Vì chính những sai lầm của chúng ta
vì chính những niềm tin khủng khiếp của chúng ta
nó buộc chúng ta làm Ngụy , làm Cách mạng
nó chia chúng ta thành yêu nước và bán nước
để điên cuồng bắn vào nhau
nó biến chúng ta thành thời đại .
Thời đại hay là chính chúng ta ?

Chúng ta xoi vào vết thương rách toạc của quá khứ bằng niềm tự hào vay mượn
hân hoan nhìn vết thương tuôn chảy nhân cách đến giọt cuối cùng
và thảng thốt kêu lên :
chúng ta mất mát !

Chúng ta mang nỗi mất mát không thể tha thứ của quá khứ mà đi vào tương lai
mơ một Nobel văn chương cho người Việt
tại sao không ?
mặc dù chúng ta thừa biết :
những cây bút của chúng ta
không còn chảy mực
không còn nhức nhối
không còn trằn trọc
không còn thiết tha
không còn khắc khoải
không còn rung động
không còn tình yêu
không còn nhân cách

Chúng ta muốn quên
và chúng ta cố ý quên
quên ngòi bút và quên chính người cầm bút
Chúng ta thừa biết :
người cầm bút không thể nào quên được
chúng ta thừa biết :
người ta chỉ có thể quên những gì người ta nhớ mãi
Chúng ta còn nhớ mình là người Việt
còn vương vấn với vận mệnh của quốc gia Việt Nam hôm nay
bởi vì chúng ta đã không thể nào quên được
những gì đã khiến Việt Nam thành một Việt Nam hôm nay
những gì đã khiến mình là mình hôm nay

Vì cái gì mà chúng ta muốn quên ?
và hi vọng thời gian sẽ là liều thuốc quên thần hiệu
mặc dù chúng ta thừa biết :
làm sao một người cầm bút có thể quên được chính mình ?
hơn thế
những sai lầm ta nỡ quên đi đó
sẽ là những sai lầm khủng khiếp mà chúng ta và con em chúng ta sẵn sàng mắc lại
sẵn sàng gây hậu quả khó lường

Người cầm bút có những vết thương
ngoài vết thương da thịt
những vết thương sâu thẳm trong tâm hồn
mang nỗi đau vời vợi trong tim
đọng vào ngôn ngữ
làm nên văn chương
một thứ ngôn ngữ vượt không gian/thời gian qui ước của con người
không gian không nhốt được văn chương
thời gian không là phương thuốc trị bệnh văn chương
chúng ta là những người cầm bút
trước hết chúng ta là con người
Chúng ta phải sống
Đúng !
Nhưng sống để làm gì ngọn bút của tôi ơi .
Phần nhận xét hiển thị trên trang