Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Thơ luôn khó hiểu, bởi vì khó hiểu mới là thơ!

Giết đi rồi sẽ nhận được khẩu phần.

Ngoài kia người ta không ngừng la hét, trong nơi tối tăm này ta vẫn tiếp tục sinh hạ những đứa con. Những đứa con của đêm có mắt như sao trời và muôn màu sắc trên da lấp lánh.

Người con gái đeo gông ấy lại mang hoa ra đứng ở bờ sông. Người con gái đi tìm người đàn bà đeo gông đã chết.

Ta nói với em rằng hãy nhìn vào những đứa con của ta. Những đứa con có muôn màu sắc trong mắt. Ta bắt đầu dạy chúng cách gọi tên ta, ta nói nói với chúng rằng hãy bắt đầu tưởng tượng đến hình hài của ta. Em thấy đấy, chúng nhìn ta, chúng trọ trẹ những tràng âm thanh kỳ quái trong lòng bàn tay ta.

Chúng chưa thể gọi được tên ta.
Chúng gọi tên bóng tối rồi rúc mình trong lớp lông ẩm thấp của đêm.

Trên phố, con trâu quay lại ngửi vào xác người thợ cày.
Linh hồn người thợ cày mắc kẹt rồi than khóc trong ống khói.

Ta nói với lũ con của ta hãy học cách ước mơ.
Đừng gặm vào những song sắt đó, đừng làm cái điều bất khả kia.
Hãy học cách tưởng tượng để được nhìn thấy ta.

Giết đi rồi sẽ nhận được khẩu phần.
Ngoài kia người ta vẫn không ngừng hô lên như thế.

Người con gái đeo gông đang ăn những bông hoa ngoài bờ sông. Người con gái ngồi xuống và bắt đầu hát những bài ca từ khởi thuỷ.

Trăng, lửa, nước, khí và tự do không tới.
Người con gái ấy nói rằng ta không có thực.
Ta đã đánh lừa người đàn bà đeo gông đã chết. Người đàn bà đã chết vì đấu tranh cho sự hiện hữu của ta.

Ta là tên mắc đoạ.

Ngày tháng trôi qua, những đứa con của ta vẫn trọ trẹ những tràng âm thanh vô nghĩa. Chúng không nhìn thấy ta và chúng không thể gọi được tên ta. Ta sờ lên thân thể trần truồng của chúng. Những đứa con của mặt đất tội tình.

Những đứa con mang vác trên thân thể bệnh hoạn của chúng nhiều vết thương sâu.
Vết thương trên đỉnh tóc, vết thương trong mắt và vết thương trong linh hồn.

Ngoài phố kia, đám người đó đứng lại bên xác người thợ cày.
Họ cùng nhau hát lên những thần khúc tăm tối.

Con trâu đã bị xé nát bởi đói và khát, bởi tủi nhục của thân phận và đớn đau của hiện tồn.

Hoa đã nở trên máu của trâu và nước mắt của người.

Khi vôi được ném vào thì những đứa con của ta đã chết.
Chúng chết mà chưa một lần gọi được tên ta.
Trên những cái miệng nhỏ bé kia là máu.

Và hoa đã nở trên máu con ta.
Những bông hoa yếu ớt trong vùng lầy của vôi và đêm tối.

Ta lại cô đơn thầm thì với những vết thương của ta.
Ta thầm thì với em như bao lần ta đã thì thầm.

Nhưng bây giờ em đã bỏ đi, em trườn qua lỗ thủng nhỏ bé trên trần nhà lao rồi biến mất ở chỗ giao nhau giữa tối và sáng.

Đừng bỏ ta đi.

Ôi, con ốc sên nhỏ bé.

Nếu em trườn tới bờ sông thì hãy canh giữ cho đôi mắt của cô gái ấy, đừng để lũ dòi bọ làm tổ trong hốc mắt của người con gái ấy nghe em.

Và hãy thì thầm với cô gái về những vùng đất thênh thang trong lửa.
Về những ước mơ xanh tươi trong mỗi giấc mơ.
Về những bờ sông xanh thẳm và về hình dạng tật nguyền của ta.

Hình dạng tật nguyền của tự do bát ngát...

DA Tuyet 



Nổi lửa lên em...

Nguồn: nhặt trên Net.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đăng lại thì đọc lại, sao không?

GÁI ĐỒ SƠN, CẶP BA CHỤC 
(Nhớ anh Định quá đưa lại bài cũ)
----
Khi tôi trở thành phóng viên báo Lao Động thì anh Nguyễn An Định ( tên bút danh là Chu Thượng chuyên giữ mục Sự kiện bình luận) đã là một nhà báo lừng lững, lừng lững với cả nghĩa bóng và nghĩa thực về thân xác.
Lần nào ra Hầ Nội tôi cũng ghé phòng nhỏ của ông ở 51 Hàng Bồ. Lần nào cũng thấy ông đang hý hoáy viết. Ổng ngẩng lên, nhướn đôi mắt sau chiếc kính trắng hỏi nhạt phèo:- Bọ đấy à. Ra lúc nào hả mày.
Rồi cũng những động tác được coi là rất nhạt phèo, ông gấp giấy tờ, nhìn tôi, lại những câu hỏi nhạt phèo và tiếng cười khùng khục:- Đéo mẹ. Chú mày vào ra liên tục ấy nhỉ.
Nhưng sau đó, tiếng ông bỗng ấm áp hẳn lại:
-Này. Chú mày sướng nhỉ. Chơi gái miền cát chán lại ra chơi gái Hà Nội. Trông ấy, một nhát bao nhiêu ấy nhỉ? Phải rồi, tao nghe chúng nó kháo nhau, mày quảng bá rằng, trong quê mày, 500 ngàn làm được gái nửa làng. Hục Hục Hục..
Ông cười trong cổ họng.
-Rượu nhá.
Ông coi tôi như em, có khi như đồng nghiệp ngang bằng phải lứa. Có hôm ông hỏi:
-Mày thấy tao mần Sự kiện bình luận thế nào? Mỗi ngày một nhát trông được đấy chứ. Nhẩy?
Tôi nói tỉnh queo:
-Cũng là hóng hớt thế sự.
Anh Chu Thượng phì một tiếng:
-Đéo mẹ. Báo nước mình thế thôi. Phục vụ tuyên truyền mà, nói theo ý mình răng được? Mà thằng Hoàn ( Tổng biên tập Phạm Huy Hoàn) nhát bỏ mẹ. Đọc của tao xong, gọi :- Định ơi, hãm cái mồm mày xuống chút đi. Bài này in nguyên xi, ngày mai nó đâm tao thủng mặt.
Anh Định cười:-Cái thằng Hoàn mặt rỗ nhằng rỗ nhịt, lại còn sợ đâm cho rỗ thêm...Uống đi chú. Rượu này lão Duyệt ( Ông Phạm Thế Duyệt khi đó đang là ủy viên thường vụ Bộ Chính trị) bạn rượu của tao, hôm qua cho đấy. Lão Duyệt này giỏi lắm, vụ nào khó gỡ, Trung ương cử lão đi, êm ả ngay. Như vụ nổi loạn ở Thái Bình, không có lão xuống, ăn cứt. Tao muốn viết chân dung về lão, một vị lãnh đạo cao cấp nhưng đến với dân rất ngọt, rất chân thành mày ạ. Hôm nào tao đưa mày đến nhà lão uống rượu.
Có bữa ông dẫn tôi về nhà, cho lên gác hai. Ông mang ra từng tập báo Lao Động dày cộp lưu trữ nhiều năm rồi, lần giở cho tôi xem những bài ông viết. Lần đầu tiên tôi ngồi với ông cả buổi để nghe ông khoe về nghề. "Mày thấy tao viết thế nào?". Tôi gật gù:" Bác là một cây bút lớn'. Ông nheo mắt nhìn tôi:"Mày học cái lối nói ấy từ bao giờ. Tao không thích."Tôi cười:" Trong những cái bác viết, em thích nhất là Tản mạn...". Ông đăm chiều:" Ừ..Tản mạn là viết cho mình mày ạ...".Ông hẹn tôi sẽ vào Quảng Bình chơi."Trong đó ăn cái gì là ngon hả mày?". Tôi khoe, nếu ông vào, tôi sẽ mời ông lên thuyền , đi ngược sông Son, nướng cá chình trên thuyền, nhậu. Ông hất mặt lên:"Chúng mày biết đéo gì món ăn. Miền Trung tao quý mày và thằng Trần Đăng. Nhưng cả hai thằng chúng mày lại đếch biết nhậu. Chán chết. Nhẩy?". Rồi cuối buổi chia tay, tôi xịu mặt với ông:"Anh chẳng khen bài em viết bao giờ...". Ông nhìn khói thuôc đang bay lòng vòng trong phòng, lẩm bẩm:"Viết cho mình chứ viết cho ai mà đòi người khác phải khen mới có hứng. Đừng cơ hội".
Một lần khác, tôi ra, anh Định kéo vào phòng, chốt cửa cẩn thận. Tôi chột dạ. Bỏ mẹ, chắc là có đứa thối mồm nào trong cơ quan nói xấu tôi rồi.
Anh Định rót rượu, im lặng nhìn tôi:
-Mày năm nay bao nhiêu tuổi Vinh?
-Dạ em 45
-Tuổi này, hồi đó, tao đánh chết tươi tay Hải Bộ trưởng Bộ công nghiệp vì tham ô, sau đó tao lại đứng ra chỉ huy đánh tiếp vụ lão Ngô Xuân Lộc phó Thủ tướng, cứ là giãy đành đạch. Mày biết vụ đó chứ, nhẩy.
-Dạ biết chứ.
-Bây giờ chúng mày hèn bỏ mẹ. Thằng nào cũng hèn. Điều tra đéo gì toàn mấy vụ lẻ tẻ. Phóng viên đéo gì gặp mấy lão chức to tham nhũng lại thưa anh là sao. Phải đập bàn với chúng nó, trợn mắt trợn mũi với chúng nó. Sợ đéo gì. Nó sai, phải vạch mặt. Cùng lắm nó trù mình, nó cho mình rời cơ quan thì mình cứ viết, ngon. Chúng nó rời khỏi ghế, làm được đéo gì mà sống.
Tôi ngờ ngợ hôm nay anh Định có vẻ nói hơi hơi bất mãn. Anh hạ giọng:
-Tao sắp chết. Thằng Tôn Thất Bách nói tao sống khoảng 2 năm nữa. Ung thư rồi mày ạ. Buồn nhỉ.
Tôi thấy miệng đắng chát. Giọng tôi run bắn:
-Không cách gì chữa được sao anh. Rồi chết à?
-Đéo mẹ. Thằng này hỏi ngu thế. Ung thư thì chữa thế chó nào được.
Im lặng.
Rồi anh bật lên một tiếng:
-Buồn nhỉ.
Một năm sau.
Tôi đang lặn lội giữa vùng lũ quét huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh thì nghe anh gọi điện thoại:
-Bọ đấy à. Mày viết gì viết kinh thế. Vào vùng lũ, ngày nào cũng có bài, kinh nhỉ? Xong việc chưa. Ngày mai sinh nhật tao 60. Đéo gì đâu, chẳng qua anh em thấy tao sắp chết nên quyết định tổ chức sinh nhật cũng là chia tay tao về hưu. Mày ra được không?
Tôi như chực khóc:
-Em ra...
-Tao ăn chơi cả đời, món nào cũng xơi, nhưng vẫn chưa nghe con lợn rừng khi chọc tiết nó kêu thế nào mày ạ...Một bát tiết canh lợn rừng cũng hay, nhỉ.
-Em sẽ xách lợn rừng còn sống ra.
-Đéo mẹ. Nói thế thôi, đem cả con lợn rừng ra thì cực lắm mày ạ.
Tôi nhảy xe đò vào Đồng Hới. Mua vé tàu xong, tôi tìm đến quán thịt rừng. May quá, vẫn còn một con lợn rừng chừng 20 kg nhốt trong chuồng. Tôi mua, cho vào bao tải, lên xe ôm đến ga.
Tàu SE đến.
Tôi xách cái bao đựng con lợn lên tàu. Từ khi bắt lợn đến khi ra sân ga, con lợn ngủ im. Nhưng chẳng hiểu sao, khi bước vào dãy toa sáng boong, con lợn bắt đầu kêu rú lên. Tôi hoảng hốt và ngượng. Thôi kệ. Nhưng sau đó nhân viên lái tàu kéo cổ tôi xuống, cùng với câu chửi:
-Địt mẹ mày... Tàu du lịch chứ có phải tàu chợ đâu mà mày xách cả lợn lên hả.
Tôi nhẹ nhàng:
-Anh ạ. Anh thông cảm. Em sẽ đưa xuống toa ăn cũng được. Anh thông cảm cho em.
-Thông cảm con cặc.
-Anh ạ. Em là Nguyễn Quang Vinh.
-Vinh Vinh con cặc. Biến
-Dạ. Em là phóng viên báo Lao Động.
Nhân viên sững lại nhìn tôi rồi nhảy vào toa ngay. Chưa đến một phút, trưởng tàu xuống. Tôi nói luôn:
-Thưa anh. Tôi quá biết tàu du lịch không thể đưa lợn lên được. Nhưng anh có biết tác giả Chu Thượng ở mục Sự kiện bình luận không?
-Biết. Thằng này trẻ mà. Em nó năm nay bao nhiêu tuổi ấy nhỉ? Em mày à?
-Dạ không. Bác Chu Thương năm nay 60.
-Úi giời
-Bác ấy bị ung thư. Ngày mai là ngày sinh nhật cuối cùng của bác ấy, tròn 60...Bác ấy rất muốn được nhìn thấy con lợn rừng bị chọc tiết. Em là phóng viện lớp sau, em thương bác ấy, em đề nghị...
Trưởng tàu nói to với nhân viên:
-Mang con lợn này xuống toa ăn. Quà cho bác Chu Thượng thì con voi cũng chở. Chúng mày không biết Chu Thương à.
Một nhân viên láu táu:
-Dạ biết. Bác ấy chuyên làm thơ châm biếm phải không ạ.
Thoát. Con lợn nằm trong bếp tàu du lịch. Còn tôi thì lẻn ngay vào toa lét tàu, cởi bộ áo quần đang mang trong người vì con lợn đái ướt từ thân người xuống chân, hôi òm.
Hôm sau, anh Định đã nghe tiếng lợn rừng kêu khi bị chọc tiết, đã ăn bát tiết canh lợn rừng nóng hổi cùng anh em trong cơ quan.
Anh Định nheo nheo mắt nhìn tôi, lại đưa cho tôi điếu xì gà:
-Đéo mẹ, thằng Bọ này, ngu thế, lại mang cả lợn rừng ra cho tao...
Anh nói vậy nhưng ánh mắt anh vui đáo để.
Bữa nhậu đó chúng tôi ăn nhậu với anh Định, hát hò với anh Định, rồi ôm anh Định khóc như mưa. Tôi lại nghe tiếng anh Định chửi:
-Đéo mẹ chúng mày, khóc chó gì khóc lắm thế...Sinh-nhật-tao-cơ-mà ...
Nhưng lần này thì tiếng anh nghẹn lại.
Anh Định về hưu nhưng hàng ngày vẫn đến tòa soạn tiếp tục chuyên mục Sự kiện bình luận. Anh giữ chuyên mục này cho đến ngày ra đi mãi mãi.
Trước ngày anh mất khoảng một tháng, tôi ra.
Anh nhìn tôi cười khù khụ. Tôi thì thấy buồn vì trông anh hốc hác vô cùng.
-Tao vừa đi nghỉ Đồ Sơn lên mày ạ. Gái dưới đó nhiều lắm. Sắp chết rồi, đéo làm gì được nhưng vẫn hỏi giá. Hóa ra rất rẻ. Chúng mày nói thế nào, làm đéo gì có chuyện một nhát trăm này trăm nọ. Tao vừa khoe với thằng Chính Béo ( tức Nguyễn Đức Chính- Bút danh Lý Sinh Sự- Phó tổng biên tập Lao Động), tao bảo thằng Chính Béo khi nào xuống Đồ Sơn thì cứ mạnh dạn chơi gái, rẻ lắm, gái dưới đó một cặp có ba chục mày ạ.
Rồi anh cười khùng khục.
Đó là tiếng cười cuối cùng tôi nghe thấy ở anh.
Tháng sau anh đi. Tôi không kịp ra với anh.
Mỗi lần nhớ anh tôi lại tự nói với mình:-Phải viết đến lúc chết như anh Định.
Nhưng lại nghe anh nói bên tai:
-Chết thế đéo nào được, chúng mày hèn lắm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔNG TƯỢNG ĐÁ


Thái bá Tân 

Thơ cổ Triều Tiên có một bài thâm thúy, khiến đọc xong, ta cứ suy nghĩ lan man mãi.

Một ông mù
Dắt một ông mù khác qua cầu.

Cầu thì hẹp, sông thì sâu
Nhiều lần suýt ngã.

Thế mà bên đường, ông tượng đá
Còn ngửa mặt lên cười.

Tôi cũng thế. Không chỉ vì tôi là người đọc mà còn là người dịch nó ra tiếng Việt cách đây mấy chục năm. Thỉnh thoảng đọc lại, tôi thường nghĩ lan man đủ chuyện, tùy hoàn cảnh, tâm trạng và mức độ cảm nhận. Lúc đầu tôi nghĩ về sự không hoàn thiện của cuộc đời, về sự nhạo báng trâng tráo của con người với nỗi đau đồng loại. Rồi tôi nghĩ có thể ông tượng đá chỉ cười trời, cười chính bản thân mình, hay đơn giản bỗng dưng thích thì cười chứ chẳng liên quan gì đến việc hai ông già mù dắt nhau qua chiếc cầu chênh vênh, phía dưới là dòng nước xiết. Còn hôm nay đọc lại lần nữa trước khi đưa bài thơ yêu thích vào cuốn sách sắp in, tôi chợt thấy những kiểu suy luận trên chỉ mang tính chủ quan áp đặt. Thay vào đó, nó bỗng gợi tôi nhớ (không hiểu sao mãi đến giờ tôi mới nhớ) rằng ở quê tôi, ngay đầu làng, cũng có một ông tượng đá như thế. Cũng ngửa mặt lên trời và cười. Cũng bên chiếc cầu và dòng sông.

Thực ra, gọi sông thì hơi quá. Nó chỉ là con kênh nhỏ, Kênh Nhà Lê, chạy suốt từ phía nam Bắc Bộ tới Hà Tĩnh. Lòng kênh hẹp, lại nông nên chỉ khi nước lên thuyền mới đi lại được. Ðoạn chảy qua làng tôi có những hai chiếc cầu, cầu Thượng và cầu Hạ. Cầu Thượng được đổ xi măng từ lâu để ô tô ngược lên các huyện phía trên. Còn cầu Hạ trước chỉ là chiếc cầu khỉ với dăm cây phi-lao bắc ngang trên những thanh ray cắm đứng xuống nước làm giá đỡ. Gần đây nó được xây lại, có hai trụ hẳn hoi, nhưng lòng cầu chỉ rộng khoảng mét rưỡi.

Ông tượng đá đứng không xa cầu Hạ, trên nền một ngôi đền cổ bị người ta phá làm trụ sở ủy ban xã cái thời rộ lên phong trào chống mê tín dị đoan. Có lẽ trước đây ông mang một ý nghĩa thiêng liêng nào đó, một vị thần hay phật chẳng hạn mà bây giờ đời sống mới chẳng ai còn nhớ. Dân làng, nhất là bọn trẻ, chỉ đơn giản gọi ông là "ông tượng đá". Cạnh ông có một con voi, một con ngựa cũng bằng đá nguyên khối. Cả ba cùng hướng về dòng sông và chiếc cầu. Ðó là tất cả những gì sót lại từ ngôi chùa mà người ta không thể hoặc chưa kịp đập đi lấy đá xây nhà. Sau này, khi có chủ trương khôi phục lại chùa chiền, lễ hội, người ta định đưa ông cùng con voi, con ngựa về đặt trên sân trụ sở ủy ban xã làm vật trang trí, nhưng thấy nặng quá nên thôi.

Con voi và con ngựa trông thật buồn, dường như chúng đang thiu thiu ngủ và chẳng mấy quan tâm đến thời cuộc, cũng chẳng khó chịu khi bọn trẻ trong làng hàng ngày cưỡi, ném đất bùn hay vẽ bậy lên người chúng. Con voi ở tư thế quì, cụt cả hai ngà, bên hông phải có vết sứt lớn. Con ngựa thì đứng, cái đuôi cụp vào bụng do vậy còn nguyên, hai tai vểnh lên, lại mảnh nên tất nhiên bị mất từ lâu. Ông tượng đá cũng bị bôi bẩn đầy người. Chim còn đến ỉa cả lên đầu. May người ông cao vượt quá tầm với, đứng khoanh tay ôm chiếc bụng phệ, mũi lại tẹt nên còn nguyên vẹn, ngoại trừ ít vết xước nhỏ phía dưới.

Ở ông, ít ra trong tình trạng hiện nay, chẳng toát lên điều gì linh thiêng. Mọi người chỉ coi ông là phiến đá dựng đứng có hình người ngồ ngộ. Nếu quả linh thiêng thần thánh thì chắc ông đã chẳng cho phá ngôi đền thờ ông, hoặc chí ít cũng cưỡi lên voi ngựa bỏ đi từ lâu để khỏi chịu cảnh ngày đêm mưa nắng và lũ dân làng vô lễ xúc phạm. Cũng có thể ông từ bi, thoát tục đến mức không thèm để ý những điều vụn vặt ấy, nên chỉ ngửa mặt lên trời mà cười. Cười gì thì không ai biết, có lẽ cả người tạc ra ông cũng vậy. Trông ông có vẻ hiền, không xỏ xiên thâm ác. Ít ra không cười những người đi qua cầu Hạ chẳng may rơi xuống sông. Ngày xưa điều này thường xảy ra, đặc biệt với lũ trẻ chúng tôi khi mỗi ngày hai lần đi học phải qua nó. Ðược cái cầu không cao, nước lại nông nên chẳng đứa nào chết đuối.

Tôi chưa đến Cămpuchia để biết nụ cười bí ẩn của tượng đá Bayon thế nào, chứ cái cách cười của ông tượng đá làng tôi thì chẳng có gì đặc biệt. Thậm chí nhạt phèo. Có kẻ tục tĩu còn bảo cười đểu. Ai nghĩ gì, mặc, bao năm nay ông đã và chắc sẽ còn tiếp tục nhiều năm nữa đứng đấy, và cười. Chẳng sao. Người ta tạc ông để cười thì ông cứ việc cười. Một nụ cười vô hại. Dần dần chẳng mấy ai quan tâm đến ông, kể cả việc vì sao ông cứ ngửa mặt lên trời mà cười mãi.

Vậy mà ở làng tôi lại có người luôn bị ám ảnh và khó chịu bởi nụ cười vô hại ấy.

Ðó là lão Kền. Lão sống một mình, không vợ con, thân thích, không nhà cửa, và ăn uống cũng không nốt. Vì lão sống bằng rượu. Không thể để trong làng có người chết đói, người ta dựng cho lão chiếc chòi giữa đồng để trông hoa màu và ao cá hợp tác. Hàng tháng lão đến ủy ban xã nhận mấy cân gạo, gọi là tiền công cũng được mà trợ cấp nghèo đói cũng được. Phần lớn số gạo ấy lão đem đổi lấy rượu ở cửa hàng mụ Tám Béo. Cần thức ăn, lão xuống sông mò hến, bắt tôm. Không có gạo thì lão ra cánh đồng mà lão được giao nhiệm vụ canh giữ để bẻ ngô, moi khoai về ăn. Vì vậy lão cứ sống bình yên như mọi người lương thiện khác.

Gọi là "lão" vì vẻ ngoài tiều tụy và lối sống bê tha chứ không hẳn vì tuổi tác. Lão chưa đến năm lăm, tức cùng tuổi tôi và từng cùng tôi học hết cấp hai. Sau đó tôi lên tỉnh học tiếp, còn lão thì ở nhà giúp ông bố làm ruộng. Mẹ lão chết từ lâu, để bố lão, cũng nghiện rượu nặng, sống một mình với thằng con duy nhất. Trước lão cũng bình thường như bao người khác, không hiểu do đâu nên cơ sự này. Có người bảo vì lão không lấy được cô Mật làng bên mà thất tình, đâm ra rượu chè. Có người lại nói lão bị quỷ ám, bằng chứng là không chỉ bê tha mà còn dở người, thường nói những câu rất kì cục. Lão thích trích dẫn lời người xưa và rất mê đọc sách, một việc lạ với những người như lão ở vùng quê heo hút thế này. Nhưng có một nguyên nhân hiển nhiên mà ai cũng biết, đó là cái chết của bố lão. Mà lão thì yêu bố lắm. Sau khi bố chết, dường như lão không muốn sống nữa. Thế là bắt đầu buông thả.

Thỉnh thoảng về quê, tôi có gặp lão. Theo phép lịch sự, tôi thường dừng lại chuyện trò với lão một chốc. Dẫu sao cũng là bạn học cũ với nhau. Lão còn học giỏi hơn tôi cơ đấy. Lão hay nói, không ít câu chí lý. Thực tình tôi thấy ở lão chẳng có gì khác thường ngoài mùi rượu, mùi mồ hôi nồng nặc và đôi mắt lúc đờ đẫn lúc chợt lóe sáng như mắt người điên. Một lần lão mời tôi "vào nhà" uống rượu, và tôi đã ngồi với lão trong cái chòi chơ vơ giữa đồng cả tiếng đồng hồ. Lão thắp nến, rót rượu ra hai chiếc bát mẻ. Lúc ấy mới xế chiều và trời còn nắng. Tôi hỏi sao phải thắp nến, lão bảo thế uống rượu ngon hơn, mới đúng kiểu người xưa. Chúng tôi chỉ nói chuyện tào lao. Tôi né tránh đời riêng của lão, còn lão thì cố lái câu chuyện sang văn chương. Hóa ra lão biết khá nhiều điển tích cũ, cả ta lẫn tàu, không hiểu đọc được ở đâu. Thấy vậy, tôi tặng lão tập Thơ cổ phương đông tôi mới in, làm lão cuống lên vì mừng. Bài thơ cổ Triều Tiên kia lão đọc từ đấy, và cũng từ đấy mới xảy ra những chuyện rắc rối sau này.

Chắc bài thơ phải tác động lên lão mạnh lắm. Suốt ngày hôm ấy và liên tiếp mấy ngày sau lão chỉ đọc và suy nghĩ về nó. Lão nghĩ tới cái đêm xa xưa nọ, khi bố lão uống rượu say đi qua cầu Hạ ngã xuống sông chết đuối, mấy ngày sau người ta mới thấy xác nổi lên. Lão hình dung hai ông già mù trong bài thơ Triều Tiên cũng có thể dễ dàng rơi xuống sông và chết như bố lão. Rồi lão nghĩ tới sự đểu cáng của ông tượng đá thấy vậy còn "ngửa mặt lên cười". "Ðồ mất dạy, - lão lầm bầm. - Ông mà ở đó thì ông đập vỡ mặt, xem còn cười nữa không". Bỗng dưng lão nghĩ tới ông tượng đá bên cầu Hạ, cách chòi của lão không xa. Cũng chiếc cầu, dòng sông. Cũng ông tượng đá ngửa mặt cười. Chỉ khác là bố lão không mù và một mình khi qua cầu. Nhưng bố lão lại chết. Thế mà thằng người đá này còn cười. Ðến bây giờ vẫn cười. "Ðồ đểu! Ðồ bất nhân! - lão chửi to thành tiếng. - Không biết từ ngày ấy đến nay bố mày khổ chưa đủ hay sao mà mày còn cười?"

Rồi lão ngất ngưỡng ra sông, đến đứng trước bức tượng. Ðể tỏ thái độ khinh bỉ, lão tụt quần tè luôn một bãi, còn cố vẩy thật cao cho nước đái té lên. Nhưng ông tượng đá không thèm để ý, vẫn ngửa mặt lên trời cười như bao năm nay. Ðiều này càng làm lão càng thêm tức. Trên trời là khoảng không bao la màu xám, chẳng có gì đáng cười.

- Mày cười bố mày đó hả? - lão quát to vào cái mặt phè phè, má xệ, mũi tẹt và cái miệng cười ngoác đến mang tai của ông tượng. Ông không thèm đáp. Lão lần nữa nhắc lại câu hỏi hỗn xược của mình, trừng trừng nhìn lên với vẻ đầy hăm dọa. Bất chợt lão thấy bức tượng khẽ nhíu mày gật đầu. Lão giật mình. Hay lão nhầm? - Sao, mày thật sự cười bố mày đó hả? - lão lại hỏi, cốt để kiểm tra điều vừa phát hiện. Thật lạ lùng, lần này lão cũng thấy bức tượng gật đầu.

Lão đứng đớ người một lúc, không biết phải làm gì. Rồi như một thằng điên thực sự, lão vừa luôn tay ném đất đá vào ông tượng, vừa chửi bới ầm ĩ:

- Ðược lắm. Thế thì cười đi, cười nữa đi này! Chắc ngày xưa mày cũng cười đểu như thế khi bố tao rơi xuống sông! Này, này, cười nữa đi! Không khéo chính mày làm bố tao chết. Thế mà giờ còn dám ngửa mặt cười!

Một lúc sau, phần vì thấm mệt, phần tỉnh rượu không còn hăng như trước, lão hổn hển bỏ về chòi, vẫn không ngớt lảm nhảm chửi. Bây giờ thì lão tin chắc cách này hay cách nọ thằng người đá kia có liên quan đến cái chết của bố lão.

Ðêm ấy lão đem hai cân gạo cuối cùng đến cửa hàng mụ Tám Béo đổi lấy rượu, uống say khướt rồi lại ra sông. "Chuyến này phải cho hắn biết tay!" Lão thủ sẵn chiếc gậy tre khá dài. Tới nơi, sau khi quát hỏi lại những câu ban chiều và tưởng (vì trời tối lão không nhìn thấy) ông tượng đá vẫn gật đầu, lão liền lấy gậy vụt lia lịa, chốc chốc dừng lại chửi rủa hoặc nhổ nước bọt vào ông, hệt như ngày xưa người ta đánh và nhổ nước bọt vào tượng đồng vợ chồng Tần Cối trong tư thế quì trước mộ Nhạc Phi cạnh chân núi Thê Hà, ở Hàng Châu bên Trung Quốc. Tượng Tần Cối được dựng lên để người đời làm nhục tên gian thần. Còn người ta tạc ông người đá này để ông cười, thế mà lão lại đánh ông.

Suốt mấy đêm liền lão đánh ông như thế, nhưng sáng nào ra nhìn, lão vẫn thấy ông thản nhiên cười như không có gì xảy ra. Mặc dù tự lão cũng nhận thấy phần nào sự phi lí của việc mình làm, nhưng lâu dần thành quen, lão cứ bị nụ cười hồn nhiên kia ám ảnh, ngày càng tức giận một cách vô lối. Cuối cùng một tối nọ, thay cho việc mang gậy như mọi lần, lão đem theo một chiếc búa và cứ nhè vào cái miệng đang cười của ông tượng mà đập. "Cho mày hết cười nhé! Hết cười con nhé!"

Hôm sau lão dậy sớm ra xem thế nào. Ông tượng đá tội nghiệp đã bị đánh một trận nên thân. Cái miệng bao năm nay cười vô tư đến thế bây giờ bị dập nát, rách một miếng sâu nghiêng xuống bên phải, trông như ông đang khóc. Mà quả thật ông đang khóc. Vậy là ông tượng cười bị lão biến thành ông tượng khóc. Ngửa mặt lên trời mà khóc. Suốt đời phải khóc.

- Cười nữa đi con! Cứ cười nữa cho bố mày xem nào! - lão nói với vẻ thích thú cay độc.

Lão hả hê lắm. Nụ cười mà lão cho là cười đểu nay không còn ám ảnh lão nữa. Thậm chí lão coi như trả được món thù cho bố. Rồi lão tụt quần, tè một bãi, loạng choạng bước về chòi.

Lũ trẻ chăn trâu là những người đầu tiên phát hiện ra ông tượng khóc. Lúc đầu chúng thấy buồn cười, sau đoán có chuyện nghiêm trọng, bèn chạy báo với ông công an xã. Ông này nhanh chóng tìm ra thủ phạm là lão Kền.

Một chốc sau thì gần nửa làng có mặt, tò mò ngắm nhìn ông tượng với nụ cười quen thuộc bây giờ đang khóc. Trông ông thật tội. Cảnh vật xung quanh ông, cả con voi và con ngựa đá, vì thế mà trở nên buồn hơn rất nhiều. Dân làng cũng vậy. Họ bắt đầu nguyền rủa lão già gàn dở. Có người đề nghị đập nát mặt lão. Mụ Tám Béo thì tuyên bố từ nay không cho lão uống rượu nữa. Bây giờ mọi người mới nhận thấy việc hàng chục hay thậm chí hàng trăm năm nay có ông tượng đá đứng cười trên đất làng mình kể cũng vui, chí ít chẳng hại gì. Nay bỗng dưng ông ấy khóc, khóc một cách thê thảm, lại không biết bao năm nữa mới thôi, mà ở ngay trên chính mảnh đất vốn chẳng có nhiều điều vui này. Thế thì thật không ổn. Không coi được. Ðó là điềm gở. Biết đâu tai họa sẽ chẳng thi nhau ập xuống làng?

Ðể trừng phạt lão Kền cái tội "Phá hoại di tích văn hóa tín ngưỡng", người ta quyết định từ tháng tới sẽ cắt phần gạo trợ cấp cho lão. Nhưng lão chẳng sống đến cái "tháng tới" ấy để chịu hình phạt nghiêm khắc của làng. Chưa đầy mười ngày sau người ta thấy lão nằm chết còng queo trên cầu Hạ (chứ không phải rơi xuống sông, vì hai bên cầu có thanh chắn). Bà y sĩ trưởng trạm y tế xã đến khám, kết luận lão đột tử khoảng mười hai giờ đêm tối hôm trước, do uống quá nhiều rượu, lại bị cảm lạnh đột ngột. Cô hộ lý đi cùng bà, về đồn khắp làng rằng lúc chết, miệng lão méo xệch, giống hệt miệng ông tượng đá. Có thể đúng thế thật, mà cũng có thể cô phịa ra để răn đe mọi người đừng làm điều ác, ít ra cũng đừng bao giờ tìm cách xóa đi một nụ cười. Ấy là người ta suy diễn thế thôi chứ cô này, với học vấn lớp bảy cộng hai, chưa chắc có được cách tư duy triết lí kiểu ân oán như vậy.

Phần tôi, tôi cũng thấy mình phần nào có lỗi trong việc này. Ðáng lẽ tôi không nên tặng lão Kền tập thơ kia để đầu óc bệnh hoạn của lão có cớ suy luận theo cách tai hại ấy. Suy cho cùng, đó chỉ là một trong biết bao bài thơ khác trong tập. Nó là tác phẩm xinh xắn, đẹp một cách cổ điển và gợi đôi chút triết lí nhẹ nhàng, nhưng chẳng đáng suy diễn những điều đao to búa lớn. Lại càng chẳng đáng vì nó mà để mất một nụ cười, dù chỉ là nụ cười của một ông tượng đá. Các bạn thử đọc lại xem nhé:

Một ông mù
Dắt một ông mù khác qua cầu.

Cầu thì hẹp, sông thì sâu,
Nhiều lần suýt ngã.

Thế mà bên đường, ông tượng đá
Còn ngửa mặt lên cười.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Trích TT thằng khờ viết:



( Hà Nội xưa )


Ông mất một chuyến hàng gần đồi Cây Me, phía dưới Phủ Đoan. Hôm ấy trời đã nhá nhem tối. Như mọi lần bố tôi còn phải đi bộ gần chục cây số nữa mới đến nhà quen, nghỉ lại qua đêm, sáng mai đi sớm. Đột nhiên đoàn Nhiêu kêu đau bụng. Bố tôi đoán tại ông ta tiếc rẻ, cố ăn chiếc bánh chưng mang theo đã bị thiu. Bánh do mẹ tôi gói, rất cẩn thận. Nếu để bên ngoài thoáng gió, bánh ít nhất cũng được hai ba ngày. Đằng này gói kỹ để trong bọc nên mới chóng thiu như vậy. Bố tôi đã bảo bỏ, ông Nhiêu không nghe. Đúng là
“Bệnh theo miệng mà vào, họa theo miệng mà ra”. Đau bụng giữa chốn đồng không mông quạnh thế này, thuốc kiếm đâu bây giờ? Hộp dầu cù là mọi lần mang theo, giờ tìm không thấy. Chả biết rơi chỗ nào? Bố tôi hỏi: “Liệu có cố đi thêm quãng nữa được không?” Ông ta bảo: “Đau cứng ruột thế này, không đi được đâu. Ông để ý xem có nhà nào gần đây, tôi nghỉ đỡ đau rồi mới đi tiếp được”. Nhìn quanh, làng xóm cách một quãng khá xa. Cơn đau của ông Nhiêu mỗi lúc một dữ dội, không thể đứng lên được nữa. Bố tôi dìu ông vào một gốc cây gần đấy. Ông vơ nắm lá khô nhen lửa. Đây là việc cấm kị trong lúc đi đường, nhưng không thể làm khác được. Có tý lửa cơn đau của ông ấy sẽ đỡ hơn. Ông tìm xung quanh xem có thứ lá cây gì có thể đỡ cơn đau cho người bạn đường.Tuyệt nhiên chỉ toàn cây cơm nguội, cây chó đẻ..những thứ cây không làm thuốc được. Giá như có đám ngải cứu rừng, hay cây máu chó.. thì chả cần đi đâu xa, bố tôi khắc biết cách..
Đành để ông Nhiêu nằm lại bên gốc cây gạo gần đó, bố tôi tìm đường vào làng phía xa kia.
Vào xóm bố tôi may mắn tìm được nhà một bà cụ ở một mình ngay cuối làng. Bà lão ở một mình, nom phúc hậu, đưa bố tôi hộp dầu cù là dùng dở của bà. Lại còn bới thêm nhánh gừng, vặt nắm lá trầu không bảo mang ra đánh gió.
Các chuyến trước bố tôi mang thuốc tây lại không xảy ra chuyện. Lần này sợ bọn lính làm khó dễ dọc đường hai người lại không mang. Thuốc tây bấy giờ là thứ hàng cấm không được mang vào vùng tự do. Nếu bị tây bắt dọc đường, coi như gặp án tử hình. Chuyến này đi chỉ có vải vóc, xà phòng, kim chỉ lặt vặt với mấy cây thuốc lá đựng trong tay nải. Bố tôi không ngờ chính vì mấy cây thuốc lá này, khi trở ra bố tôi không thấy đoàn Nhiêu đâu. Nếu chỉ có kim chỉ một ít vải không đáng tiền, chưa chắc bọn lính đã để mắt đến. Thuốc lá bấy giờ là thứ quý, lại là thuốc lá ngoại, đắt tiền làm gì chúng bỏ qua?
Chỗ gốc cây ông Nhiêu nằm giờ người không thấy đâu, cả hai cái tay nải màu gụ cũng biến mất!
Chuyện gì đã xảy ra?
Bố tôi thấy tiếng quát tháo, kêu khóc văng vẳng phía xa. Đèn đuốc sáng rực phía ấy. Thì ra đoàn Nhiêu gặp đám lính đi tuần. Ông ta bị chúng lôi về đồn. Vừa bị đau bụng lại thêm đau đòn, ông ta vừa van lạy vừa kêu la thảm thiết. “Bất nhân như lính..”, ông có kêu thế chứ kêu nữa đâu có ích gì? Chúng vẫn lôi xềnh xệch, quật báng súng túi bụi vào lưng, vào mông ông ta.
Bố tôi hớt hải, lọ mọ đi theo sau, cách xa tụi lính một quãng. Ông nghe rõ tiếng tên sĩ quan nói mồn một:
- Bố đợi con mãi, bõ công phục mấy ngày hôm nay. Đúng mày là “giao thông” cho Việt Minh, chúng ông bắt được còn kêu la nỗi gì?
Đoàn Nhiêu vẫn “Con cắn rơm cắn cỏ lạy các quan, con chỉ đi buôn kiếm thêm đồng mua gạo cho các cháu, quan thương tình tha cho. Con còn ít tiền..”
Tên quan cười ha hả:
- Định đút lót quan đồn kia đấy, cứ về đồn ta nhận cả thể..”

Bố tôi lặng lễ đi theo một quãng nữa, theo bản năng, không chủ đích.. Chợt nhớ có đi theo đến đồn chắc cũng không làm cách nào cứu được đoàn Nhiêu ra..
Hàng họ coi như đã mất. Rơi vào tay bọn này khác nào cá bón miệng mèo? Vào thời buổi khan hiếm khó khăn này, cầm chắc là mất đứt.
Thôi thì người sống của còn, chỉ mong đoàn Nhiêu không bị làm sao. Nếu có chuyện gì về làng bố tôi biết ăn nói với vợ con ông ta thế nào? Hai người cùng đi với nhau, giò còn một người trở về là nghĩa làm sao?
Bố tôi không ngờ sự việc này, đến cải cách ruộng đất biến thành cái tội nặng. Đoàn Nhiêu bấy giờ trong ban cốt cán. Ông ta buộc cho bố tôi cái tội “ Thông đồng với giặc, báo tây phục bắt giao thông của ta tiếp tế cho vùng tự do”.
Ở đời có những khi trớ trêu đến như vậy, gắp lửa bỏ bàn tay như thể chuyện đùa. Lòng tốt, lòng tin chả là gì nếu gửi không đúng chỗ. Nó trở thành tai họa cho chính mình. Ông ta năn nỉ mãi bố tôi mới cho đi. Nghĩ là có bạn đi đường, vợ con ông ấy có thêm đồng tiền bát gạo, ngờ đâu nông nỗi?

Đêm đó bố tôi xin nghỉ nhờ nhà bà cụ vừa nói để nghe ngóng tình hình. Bà cụ mang trong buồng ra cái nồi đất nhỏ, không có vung:
- Nhỡ bữa, nhà chả còn gì, còn mấy củ khoai thày ăn cho đỡ dạ..
Bố tôi cảm động ứa nước mắt. Ông chỉ là người qua đường, đâu có quen biết bà lão dù chỉ một lần?
Đây có lẽ là phần ăn của cụ để dành đến sáng hôm sau? Bố tôi ngần ngại chưa dám ăn. Bà nói mãi ông mới cầm lên một củ. Miếng khoai tắc nghẹn trong cổ, không sao nuốt được.
Bố tôi kể cho bà cụ nghe chuyện xảy ra vừa rồi.
Bà lão cứ lẩm bẩm “rõ khổ”, “rõ khổ..”.
Mãi sau bà mới kể, lính đồn đã phục suốt mấy ngày nay. Có kẻ nào đó báo “sắp có chuyến hàng lớn tiếp tế lên vùng tự do”. Kẻ đó còn nói đấy là chuyến hàng cực kỳ quan trọng. Có một ông Việt Minh cấp gì đấy to lắm, chuyên hút thuốc lá loại sang, Cáp tan hay salem gì đấy. Việt Minh phải cử một tổ, cứ hai tháng một kì chuyển từ vùng tề lên cho ông ấy nên chúng mới phục. Có lẽ hai người bị chúng nó theo từ mãi dưới kia rồi cũng nên..”
Bố tôi bảo:
- Không phải đâu cụ ạ. Chắc bọn chúng tung tin để dễ bề ăn cướp của người buôn. Chắc gì đã phải như họ nói?
Bà cụ chẹp miệng:
- Có hay không người như già, như các ông chả thể nào biết được. Có điều tai vạ rơi vào ai người đó phải chịu. Cái tóc cái tội mà, thời loạn này biết cái nào đúng cái nào sai? Thôi cứ để sớm mai, già có đứa cháu bị bắt lính đóng trên đồn, nhờ nó dò hỏi xem binh tình thế nào?
Bố tôi cả đêm không chợp được mắt dù cả ngày đi đường rất mệt. Ông chỉ mong sao cho trời chóng sáng. Còn ít tiền mang theo trong người, bố tôi đưa cả cho cụ, nhờ người lính kia nói khéo, bảo lãnh cho đoàn Nhiêu ra.
Gần trưa hôm ấy, bà lão dẫn đoàn Nhiêu về, mặt mày xưng húp. Quần áo ông ta bết máu, hàng bị tịch thu hết, chỉ về có người không!
Tuy vậy bố tôi rất mừng, cảm ơn bà lão rối rít. Sau này bà cụ là chỗ thân tình, bố tôi lâu lâu lại lên thăm,coi như mẹ của mình.

Chờ trời tối hẳn, bố tôi và đoàn Nhiêu mới quay trở về làng. Đấy là chuyến cuối cùng bố tôi lên  rừng Việt Bắc.
Ở trên này, may nhờ bá tôi thương, tôi và anh trai vẫn cắp sách tới trường. Chị Nhiên tôi lấy chồng cách đó ít lâu, trước khi quân Pháp mở cuộc tấn công vào mùa thu năm ấy ít ngày.





( Còn nữa..)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài thơ đúng lúc:

CON CHIM XÒE QUẠT
Nguyễn Minh Khiêm

Xòe Quạt ra và hót
Mê mẩn và đắm say
Buổi sáng nào cũng như là buổi sáng đẹp nhất
Dù hôm qua vừa bị những con chim săn mồi vồ trật
Dù hôm qua vừa bị những viên đạn bắn trượt
Dù hôm qua vừa thoát ra khỏi một tấm lưới
Dù ngoài kia rất nhiều chiếc lồng không đang hau háu nhìn lên
Xòe Quạt ơi Xòe Quạt!
Sống giữa bao nhiêu kẻ thù
Sống giữa bao nhiêu nguy hiểm bủa vây rình rập
Mày vẫn thanh thản sống
Mày vẫn hót say sưa
Có thể chết bất cứ lúc nào
Có thể bị nhốt bất cứ lúc nào
Nhưng không hề lẩn trốn
Không hề đánh mất mình
Dù một giây mình sống.

10.6.2013


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vịn vào câu thơ mà sống:


TÌNH DUYÊN NGUYỄN NGỌC KÝ

TUY HÒA


Bị liệt hai tay từ nhỏ, Nguyễn Ngọc Ký đã dùng chân để viết chữ, để vượt lên số phận nghiệt ngã và trở thành một tấm gương về nghị lực sống. Hành trình từ một cậu bé tật nguyền ở vùng quê Hải Hậu – Nam Định đến một nhà thơ – nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký đã được chính ông viết trong cuốn hồi ký “Tôi đi học” đã in và hai cuốn hồi ký “Tôi học đại học” và “Tôi dạy học” sắp ra mắt. Với một chút cơ duyên quen biết Nguyễn Ngọc Ký, tôi cảm thấy tình duyên của ông cũng khiến nhiều người trong chúng ta ngạc nhiên và trân trọng.

Trong căn nhà khang trang được xây dựng trên miếng đất do quận Gò Vấp – TPHCM ưu ái dành tặng ông, nhà thơ – nhà giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Ký tuổi 62 vẫn cần mẫn với tư cách…một nhà tư vấn tâm lý qua điện thoại. Tên tuổi và sự chân thành đã giúp ông làm một chuyên gia gỡ rối vướng mắc cho hàng trăm người mỗi ngày. Điện thoại nhà ông được nối thẳng với tổng đài 1080, hễ ai có tình huống gì khó giải quyết thì…đầu dây nghe vang một giọng ấm áp: “Xin chào, Nguyễn Ngọc Ký đây!”. Câu chuyện giữa tôi và ông cứ liên tục đứt quãng vì những cuộc a-lô trợ giúp. Tôi quan sát, thấy cách Nguyễn Ngọc Ký làm nhà tư vấn tâm lý cũng thật kỳ thú. Cái điện thoại được đặt trên giường, khi có chuông reo, ông nằm vật ra giường và lấy chần kẹp cái ống nghe đặt vào tai và nhẹ nhàng khuyên giải khách hàng đang gọi tới: “Đừng khóc, đừng khóc! Nước mắt để dành khóc mẹ, khóc cha. Còn yêu đương trai gái phải ứng xử bằng cách khác…”

Nguyễn Ngọc Ký dùng chân pha trà và rót trà, rồi cười: “Bây giờ tớ về hưu rồi. Làm tư vấn mỗi phút được 900 đồng. Vừa giúp người vừa giúp mình, mỗi tháng kiếm được mấy triệu!”. Ánh mắt tinh tế của ông nhìn thoáng qua, dường như đã đọc được sự thắc mắc trên khuôn mặt tôi, nên thổ lộ tiếp: “Cuộc sống hiện đại ngột ngạt lắm, dửng dưng lắm. Người ta gọi đến tớ, chưa hẳn để nhận lời khuyên bảo nào đâu, mà chủ yếu muốn có một người thành tâm nghe bản thân tâm sự. Có cuộc tư vấn kéo dài 275 phút đấy!”. Có vẻ không khí đã cởi mở, tôi khơi gợi: “Ông gỡ rối tình duyên cho thiên hạ, còn tình duyên của ông thì sao?”. Nguyễn Ngọc Ký bật cười sảng khoái: “Tình duyên của tớ nhiều phen cũng éo le lắm, nhưng trời thương cho cưới vợ hai lần, đứt tình cô chị lại nối duyên cô em!”.

Nguyễn Ngọc Ký kể: “Năm 1970, tớ tốt nghiệp đại học sư phạm. Không biết từ đâu cụ Phạm Văn Đồng hay tin, cho mời vào phủ Thủ tướng gặp mặt. Sau khi nghe tớ trình bày dự định về lại quê nhà dạy học, cụ Phạm  Văn Đồng hỏi ngay: “Thế chưa có kế hoạch cưới vợ à?”. Tớ lúng túng thưa: “Hoàn cảnh cháu thế này, làm một giáo viên bình thường đã khó, dám mong gì chuyện làm chồng, làm cha!”. Cụ Phạm Văn Đồng vỗ vai động viên: “Nghĩ vậy là sai. Cháu cần phải có vợ hơn ai hết. Về, lấy vợ đi. Nếu cháu không tự tìm vợ được, thì trở lên đây, bác mai mối cho!”. Như được tiếp thêm nghị lực, tớ vừa chăm chỉ lên lớp giảng bài vừa lặng lẽ thăm dò các cô giáo đang độ tuổi như mình!”

Ngừng lại, dùng ngón chân kẹp tách trà đưa lên miệng uống một ngụm, đuôi mắt Nguyễn Ngọc Ký nheo nheo đầy ẩn ý: “Thời đó tớ ngố lắm. Chả biết tỏ tình ra sao, cứ thấy ai có vẻ hợp với mình thì tối về làm một bài thơ, hôm sau mang ra…bưu điện xã để gửi, chứ cũng không dám đưa tận tay! Thơ tình gửi đi mấy bận mà chẳng thấy hồi âm gì. Lúc tưởng chừng nản chí rồi thì một cô gái bất ngờ xuất hiện. Cô ấy theo anh trai từ huyện Nam Trực xuống nhà tớ chơi. Như kiểu chúng ta hay nói là tiếng sét ái tình ấy, tớ bám theo tỉ tê liền…”. Tôi chen ngang: “Lại…làm thơ phải không?”. Nguyễn Ngọc Ký đáp gọn: “Dĩ nhiên!” và đặt cái tách trà xuống bàn, bồi hồi nhớ lại: “Nàng đi rồi, tớ thao thức mãi, hôm sau gửi cho nàng bài thơ, ngoài bì thư ghi rõ “Gửi Nhiễu thương yêu”! Nàng nhận được, hôm sau lặn lội 30 cây số đường quê qua thăm tớ ngay!”. Tôi tò mò: “Bài thơ viết gì mà có sức mạnh dụ dỗ ghê gớm vậy?”. Nguyễn Ngọc Ký ngâm nga: “Tối nay hai đứa bên thềm. Trời không trăng, đất dịu hiền lặng im. Khuya về thăm thẳm màn đêm. Vẫn đôi mắt ấy ánh lên sắc hồng. Đây của em cả tấm lòng. Muốn dâng anh trọn giữa vòng yêu thương. Đây của anh cả quê hương. Muốn dâng em hết bốn phương đất trời”.

Tuy nhiên, tình trong như đã, mà mặt ngoài chưa yên. Bố của cô Nhiễu kiên quyết từ chối, khi nghe tin cô gái định lấy Nguyễn Ngọc Ký. Một người bạn thân tên là Cách vừa chở Nguyễn Ngọc Ký đến đầu ngõ thì bố của cô Nhiễu đã xua tay: “Không ai hoan nghênh. Ở đây không có Ký - Cách gì hết!”. Vừa buồn vừa tủi, Nguyễn Ngọc Ký than thở với nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Vốn là hàng xóm của gia đình cô Nhiễu, nhà thơ Đoàn Văn Cừ khảng khái: “Cháu cứ yên tâm, để bác nói cho!”. Kéo bố của cô Nhiễu sang nhà uống rượu, “thi nhân Việt Nam” nức danh với bài thơ “Chợ Tết” mềm mỏng giải bày: “Người đời, ai cũng chết, chỉ có nhà thơ không chết, ông ạ! Cậu ấy tuy thua thiệt, nhưng là nhà thơ đấy! Hơn nữa, tên cậu ấy là Ngọc Ký, có nghĩa chữ viết trên đá, quý giá lắm. Chúng ta tuy viết bằng tay, nhưng chữ của chúng ta không thể có nhiều người muốn xin bằng chữ của cậu ấy viết bằng chân!”. Nể uy nhà thơ Đoàn Văn Cừ và nghe cũng xuôi tai, bố của cô Nhiễu đồng ý cho tổ chức đám cưới.

Nguyễn Ngọc Ký tiếp tục tường trình mối tình lâm ly: “Nếu không có nhà thơ Đoàn Văn Cừ thì không ai có thể lay động được bố của cô Nhiễu. Khi biết cô Nhiễu viết cho tớ mấy câu thơ “Dù cho sống gió phũ phàng. Lòng em vẫn đứng vững vàng bên anh”, ông bố đã vác gậy rượt đánh. Thấy chị bị đòn, em gái của cô Nhiễu tên là Đậu thương chị ốm yếu đã ôm lấy chị để đỡ bớt roi vọt cho chị! Mối tình giữa tớ và cô Nhiễu thì cô Đậu đã chứng kiến và đồng cảm ngay từ đầu. Do vậy, khi đã thành vợ tôi, cô Nhiễu vẫn thường nửa đùa nửa thật: “Nếu mai này em có mệnh hệ gì, thì Đậu sẽ thay em chăm sóc anh!”.

Cuộc hôn nhân với cô Nhiễu đã mang lại cho nhà thơ – nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký một mái ấm hạnh phúc với ba người con lần lượt ra đời và dần dần thành đạt. Năm 1994, bà Nhiễu bị tai biến mạch máu não. Lúc nằm tại bệnh viện ở Hà Nội, tưởng mình không qua khỏi lưỡi hát tử thần, bà Nhiễu gọi chồng và em gái đến cạnh giường, dặn dò mạch lạc: “Anh Ký ơi, cái Đậu không may chồng mất sớm, phải một mình nuôi hai con, anh hãy yêu thương nó như đã từng yêu thương em… Đậu ơi, anh Ký là cả cuộc đời chị, em giúp chị đỡ đần những năm tháng còn lại của anh ấy… Hai người ở lại, hãy vì một người vắng mặt mà nương tựa nhau sống tiếp nhé!”.

Định mệnh dẫu trái ngang cũng có những độ lượng nhất định. Cơn tai biến chỉ làm bà Nhiễu liệt nửa người, chứ chưa nhẫn tâm bắt bà rời khỏi thế gian. Năm 1995, Nguyễn Ngọc Ký đưa vợ vào TPHCM sinh sống và tận tụy chăm sóc bà. Sự xúc động bỗng hiện ra trong giọng kể bùi ngùi của Nguyễn Ngọc Ký: “Hai vợ chồng tớ còn lại một cánh tay thôi. Những lúc tớ tắm rửa và thay quần áo dùm vợ, bà Nhiễu lại nhắc đến Đậu. Suốt 6 năm chịu đựng sự dày vò của bệnh tật, vợ tớ cứ giục kêu Đậu từ Nam Định vào sống chung. Tớ ngần ngại nên cứ ậm ừ cho qua chuyện. Đến năm 2001, lúc hấp hối, vợ tớ ráng sức hỏi một câu duy nhất: “Cái Đậu đã vô chưa?”. Chỉ khi thấy cô Đậu đứng bên tớ khóc nức nở, vợ tớ mới thanh thản nhắm mắt!”

Tôi nhìn tấm ảnh bà Nhiễu trên bàn thờ, và tin rằng bà đã cười mãn nguyện từ giã dương gian khi biết người chồng cực nhọc của mình đã tục huyền với người em gái lận đận của mình. Bà Đậu vừa đi chợ về, thấy chồng có khách liền nhanh nhẹn gọt trái cây mang ra chiêu đãi. Bà Đậu có khuôn mặt phúc hậu giống hệt chị ruột. Năm 2002, nhà thơ – nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký và bà Đậu đã tổ chức một lễ cưới đơn giản, trước sự chứng kiến của bạn bè và người thân. Bà Đậu đã làm theo di nguyện của chị, chu đáo chăm sóc miếng ăn giấc ngủ cho ông chồng đặc biệt. Ngoài việc bếp núc, mỗi tuần bà Đậu đều “hộ tống” nhà thơ – nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký đi giao lưu ở các trường học. Căn phòng đọc sách và viết lách của ông Nguyễn Ngọc Ký, nhờ bàn tay của bà Đậu mà ngăn nắp và gọn gàng. Tôi hỏi bà Đậu: “Từ ngày chính thức làm vợ chồng đến nay, nghe nói thầy Ký làm nhiều bài thơ tặng cô lắm phải không?”. Bà Đậu cười, một nụ cười chất phác và hiền lành. Ông Nguyễn Ngọc Ký thay vợ trả lời bằng cách trầm bổng đọc hai câu thơ: “Bên nhau cau thắm trầu xanh. Vì chưng nghĩa nặng mà thành duyên sâu!”

Lúc nhà thơ – nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký tiễn ra cửa, tôi thấy bà Đậu đang cắm hoa lên bàn thờ. Bên cạnh tấm ảnh của bà Nhiễu, có một tấm ảnh người đàn ông quá cố chính là chồng cũ của bà Đậu! Hai người đã khuất được thờ chung, để mỗi ngày khói hương bịn rịn chứng kiến mối tình tốt đẹp của hai người đang sống bình yên!
                                 

Nguồn: lethieunhon.com
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn có buồn không khi đọc bài thơ khỉ gió này?

Những khuôn mặt đá tảng


 Lỗ rỗ như đá ong 
Lầm lì như đá tảng 
Những khuôn mặt xác ướp 
Cứ năm năm một lần 
Lại xuất hiện trên Đoàn Chủ Tịch
Các nhà văn của nhân dân 
Bắt đầu băng bó nỗi buồn của mình 
Bằng những đài từ . . . rách nát 
Những đài từ được sát trùng bằng giấy bạc 
Bằng kinh phí năm năm 
Bằng tỉ tỉ giọt mồ hôi 
Của những người cùng khổ
Các nhà văn của nhân dân 
Lầm lì như đá tảng 
Lầm lì như . . . súng đạn 
Như con rắn trườn mình trong lau sậy 
Cứ năm năm lại phục kích một lần 
Văn chương lại rít lên 
Trên Đoàn Chủ Tịch
Các Nhà Văn của nhân dân 
Lại ùn ùn xông lên đăng đàn và tham luận 
Những bản tham luận xếp hàng 
Chờ đến phiên . . . báo cáo 
Ngôn ngữ lại rống lên như một đàn bò
Chỉ có nhân dân là vẫn sống trong sương mù 
Chờ các nhà văn bật đèn lên . . . dẫn dắt 
Tác phẩm của chúng tôi đâu 
Tiếng nói của chúng tôi đâu 
Hỡi các Nhà Văn – Nhà Thơ yêu quý 
[cứ năm năm các anh lại tụ họp nhau ngồi chơi 
Và . . . tham luận] 
Cứ năm năm các anh anh lại . . . đòi ăn 
Và nhân dân thắt ruột 
Các anh đã mạo nhận quá nhiều 
Khuôn mặt của Nhân Dân!

Thư của loài chim báo bão



Mùa của những cơn mưa ngậm mưa trên hè phố
Những cơn gió vuốt ngược trong mái hiên sầu thảm
Mùa những bước chân đi nhanh – nhanh lên gió
sẽ không về kịp đâu – nếu bão tràn lên – sông rác
trời sẽ đen trên tường tím rêu buồn
em nói rằng : em sẽ không bao giờ thôi yêu tôi
cho dù đôi môi em sẽ không bao giờ xanh nữa
em nói như một bức thư tình không bao giờ được viết
như một cơn bão ngoài kia – — áp thấp
nhiệt đới đang lên – trong một đĩa nhạc buồn
Chúng tôi đang tới đây – hỡi những cư dân thành phố
Chúng tôi báo rằng: sẽ có một cơn giông du đời
một cơn bão đêm đang cuồn cuộn về trong giấc ngủ
sẽ có nhiều giấc mơ – nhiều giấc mơ . . . khủng khiếp
chúng tôi là . . . điềm gỡ của những . . . giấc mơ
Chúng tôi hú lên – giọng hú của màu vàng tang tóc
Chúng tôi thổ huyết tươi từng ngôi sao đỏ chói
Chúng tôi bay lên . . . bay lên
trên những cột cờ gươm giáo
trên những giấc mơ của một thời súng đạn
chiến tranh . . . chiến tranh và cả những nỗi buồn
Trên những tháp ăngten cao cao kia – chúng tôi đến
Chúng tôi bơ vơ – vì biển ở ngoài kia . . . rộng quá
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi . . . gãy cánh
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi đang . . . giẫy chết
Chúng tôi là con thú cuối cùng của chủ nghĩa . . . hoang vu
Mùa của nụ cười nở trên những đôi môi . . . héo úa
Em lại nói – em sẽ không còn – yêu tôi- nhiều hơn thế nữa
những con chim báo bão lại bay về
trên những chung cư . . . sắp sập
và em yêu ơi – tôi lại yêu em . . . tràn ngập
mặc những con chim bay kia – đang báo bão tràn về !
N. T . C




Phần nhận xét hiển thị trên trang