Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

Gặp gỡ Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, phía Mỹ cam kết làm tốt công tác chuẩn bị để chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama đạt kết quả cao nhất.

(NLĐO)- Gặp gỡ Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, phía Mỹ cam kết làm tốt công tác chuẩn bị để chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama đạt kết quả cao nhất.


Trong chuyến thăm Mỹ tháng 7-2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama thỏa thuận thiết lập mối quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Mỹ
Trong chuyến thăm Mỹ tháng 7-2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama thỏa thuận thiết lập mối quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Mỹ
Ngày 18-3, trong khuôn khổ chuyến thăm, làm việc tại Mỹ, Đại tướng Trần Đại Quang , Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã tiếp kiến bà Avril Haines, Phó Cố vấn An ninh quốc gia, ngài Antony Blinken, Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao và ngài Michael Vickers, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ.
Bà Avril Haines, ngài Antony Blinken và ngài Michael Vickers nhiệt liệt hoan nghênh, bày tỏ coi trọng và đánh giá cao chuyến thăm, làm việc tại Mỹ của Bộ trưởng Trần Đại Quang và Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Công an Việt Nam trong việc thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước phát triển.
Ba quan chức cấp cao Mỹ coi đây là bước khởi đầu tốt đẹp cho các hoạt động thiết thực kỷ niệm 20 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Đồng thời, chuyến thăm của Bộ trưởng Trần Đại Quang còn tích cực tạo tiền đề cho chuyến thăm chính thức Mỹ của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, các đoàn lãnh đạo cấp cao Việt Nam và chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Barack Obama.
Phía Mỹ khẳng định chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử trong việc nâng tầm quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Mỹ nói chung, quan hệ giữa Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa với Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Các cơ quan chức năng Mỹ cam kết sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng Việt Nam làm tốt công tác chuẩn bị để chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đến Việt Nam đạt kết quả cao nhất, tương xứng với tiềm năng và cơ hội hợp tác của hai bên.
Bộ trưởng Trần Đại Quang hội kiến Ngài Michael Vickers, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ
Bộ trưởng Trần Đại Quang hội kiến Ngài Michael Vickers, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ
Bộ trưởng Trần Đại Quang cảm ơn bà Avril Haines, ngài Antony Blinken và ngài Michael Vickers và các cơ quan chức năng Mỹ đã tổ chức chu đáo, trọng thị để chuyến thăm, làm việc tại Mỹ của Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Công an Việt Nam đạt được kết quả tốt đẹp.
Đồng thời bày tỏ vui mừng trước sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, môi trường, y tế, hợp tác nhân đạo, giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng, an ninh trong thời gian qua, nhất là từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện (tháng 7-2013).
Bộ trưởng Trần Đại Quang mong muốn các đối tác Mỹ tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để quan hệ hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật Mỹ với Bộ Công an Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm tiếp tục phát triển, góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước; có các biện pháp hỗ trợ thiết thực để giải quyết hậu quả chất độc da cam/dioxin, rà phá bom mìn và tích cực tham gia giải quyết vấn đề người Việt Nam mất tích trong chiến tranh.
Phía Mỹ cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã tích cực giải quyết nhân đạo vấn đề quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam; thống nhất tăng cường hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mạng, bảo đảm an ninh mạng; duy trì và mở rộng cơ chế đối thoại song phương về các vấn đề liên quan đến an ninh của hai nước, nhất là trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Các quan chức cấp cao Mỹ hoan nghênh phía Việt Nam đã chủ động dự thảo các Hiệp định Tương trợ tư pháp hình sự, Dẫn độ tội phạm, Hiệp định chuyển giao người bị kết án phạt tù...; cam kết các cơ quan chức năng Mỹ sẽ tích cực nghiên cứu, đàm phán để tiến tới ký kết trong các chuyến thăm sắp tới của lãnh đạo cấp cao hai nước.
Phía Mỹ ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người; cho rằng Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam là một trong những bản Hiến pháp tiến bộ trên thế giới trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Hai bên cũng đã trao đổi thẳng thắn một số vấn đề còn khác biệt về nhận thức, cách tiếp cận, trong đó có vấn đề quyền con người; nhất trí tiếp tục thông qua đối thoại xây dựng để tăng cường hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau; bày tỏ tin tưởng quan hệ Việt Nam-Mỹ tiếp tục phát triển, góp phần tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

E rằng "Dân trí" về MO!

BỰC!
Cái tin 14 người chết vì vụ sập giàn giáo ở Hà Tĩnh cứ đeo đẳng mãi thôi. Tang thương và oán giận. Giận kẻ cố tình coi nhẹ tính mạng người lao động bao nhiêu, giận anh em công nhân không biết bảo vệ mình bấy nhiêu. Điều gì đã làm cho họ "hèn" đến như vậy? Dân trí ư? hay miếng cơm manh áo đã làm họ sợ ông chủ đến mức nhìn thấy giàn giáo lung lay mà vẫn nhắm mắt trèo lên? Họ đúng là đã mang thân làm nô lệ ngay trên đất quê mình? Để rồi giờ này chẳng ai chịu trách nhiệm về cái chết của họ ngoài gia đình!
Rồi lại biết thêm có cái ÔNG CỤC TRƯỞNG CỤC AN TOÀN LAO ĐỘNG! Hỏi cái ông này sinh ra là để thống kê các vụ tai nạn lao động à? Ông ấy đã làm gì để góp phần giảm thiểu TNLĐ hay chỉ để trả lời phỏng vấn của báo, đài? Cho cái ông này với cái ông BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG vào một rọ được rồi!
Vụ lấp sông Đồng Nai, chính quyền Đồng Nai bảo "không ảnh hưởng đến giòng chảy"! Phát biểu NGU. Mình chẳng hiểu biết mấy về địa chất... mà chỉ biết đơn giản với bất kỳ con sông nào thì bên này "bồi" bên kia ắt sẽ "lở". Các ngài lấp bên này nghĩa là các ngài cho nó "bồi nhân tạo" bên kia sẽ lở tự nhiên. Chưa nói đến các hệ lụy khác sẽ ập đến! Thế mà các nhà khoa học phải tốn bút tốn giấy mới khiến cho chúng nó tạm dừng việc lấp sông.
* Ảnh bà con trồng dưa Quảng Nam bị mất trắng trước đợt lũ sớm những ngày qua ( bài và ảnh Biên Cương )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI ĐỜI CÓ MUÔN VẠN LÝ



Truyện ngắn HG

( Ảnh chỉ mang tính minh họa )

Hôm nào giờ này, con bé mới được về. Hai bên hàng phố đã lên đèn. Các nhà hàng ăn uống đã sắp đóng cửa vì đã muộn. Những dịch vụ khác người ta cũng thu dọn đồ nghề. Lác đác vài bàn bán chè nóng vỉa hè đã dọn hai bên đường..Chưa hôm nào lão chủ cho nó về sớm hơn hôm nay. Mặc dù khi nó vào làm lão chủ hứa như đinh đóng cột rằng: “bảo đảm ngày làm tám tiếng theo quy định.. Cháu sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm như cơ quan nhà nước, không phải lo..” 
Nghề phục vụ, “thượng đế khách hàng” chủ yếu tranh thủ thời gian  “cứng”, sau giờ làm việc, nên đi sớm về muộn làm sao mà tránh được?
Đấy là “đặc thù riêng” của cửa hàng công ty lão. Cũng chả thể trách lão được, có phải mình lão đâu? Ai bỏ tiền ra thuê người chả tận dụng thời gian, tận dụng sức lao động của nhân viên? Lúc đầu con bé  thấy gò bó, khổ sở, miễn cưỡng, lâu dần rồi cũng quen.

Làm thì làm, nó biết cũng chả trông mong gì nhiều “triển vọng” ở nơi này, như ông bạn vong niên của bố giới thiệu.  Nghề ảnh cũng như rất nhiều nghề đang xã hội hóa, chả còn nhiều lợi ích như ngày xưa. 

Máy ảnh, máy quay bán rẻ  như khoai, ai cũng có thể mua. Tự động hóa, kỹ thuật số.. chả cần học hỏi nhiều, chỉ cần chỉ dẫn sơ sơ, "mù"về ảnh cũng có thể làm được. Rồi Aipon Ai pác nhan nhản có đủ tính năng kết nối mạng intenet. Thích người ta đưa lên lưu lại trên mạng dung lượng hàng trăm mê ga bai. Lúc nào sướng thì xem, tùy thích. Đâu có như hồi bố nó thập thõm làm phó nháy, có lúc in ảnh “đếm” bằng ánh sáng đèn dầu. Khi ấy, nghề ảnh là nghề sang trọng, hái ra tiền. Bố kể: "Người ta xếp hàng từ sáng tới trưa để chụp tấm ảnh kỷ niệm. Phần vì đời sống chồng chất khó khăn, công nghệ ảnh như một bù đắp sự thiếu thốn cái ăn cái ở, giúp người ta chút niềm vui nho nhỏ, đặng chút thư thái trong lòng.  Nó trở thành “mốt”, nhà nào khá giả lịch lãm mới có được mấy khung ảnh lớn treo trong nhà. Nó như sự thể hiện đẳng cấp của thời kỳ khó khăn. Nhưng bây giờ thì xưa rồi “Diễm ơi”. Chả mấy người còn chuộng chụp thật nhiều ảnh treo lên tường. Có chăng những bức kỷ niệm người ta cũng chỉ dán anbum, cất vào hộc tủ. Chỉ còn những đám cưới là chẳng thể đừng. Dù muốn dù không cũng phải có tấm hình lớn treo lên ngày đại hỉ. Thêm số người chụp ảnh thẻ dán hồ sơ các loại. Mà thứ này đâu có đáng mấy tiền?
Nói chung kỹ nghệ ảnh càng phát triển, thu nhập của các cửa hàng làm nghề này càng teo dần, trong khi đầu tư thiết bị lại tốn kém hơn ngày xưa rất nhiều.
Đại loại sơ qua vài nét như thế, nó chỉ làm mấy buổi là hiểu ra ngay. Nhưng nó vẫn phải chấp nhận, cho dù đồng lương quá bèo, trong lúc không công ăn việc làm. Chẳng qua như một bước đệm, chả nhẽ ngồi không, ăn bám bố mẹ mãi?

 Cái không may của rất nhiều đứa có hoàn cảnh như nó vào lúc này chứ không phải chỉ có nó là một mình kém may mắn. Kết quả của nền đào tạo thiếu gắn bó thực tế, đòi hỏi, nhu cầu thời đại, chỉ chú trọng đầu vào, ít để tâm đến đầu ra. Một nền giáo dục đi trên mây.. đang ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết chưa có cách khắc phục.
Không ít cơ sở kinh doanh, sản xuất tỏ ra thất vọng khi phỏng vấn tuyển người làm. Nói gì đến cơ sở nghiên cứu, phát minh?
Hệ quả là hàng ngàn sinh viên ra trường như nó trở thành bơ vơ, ít nơi muốn nhận, chả thể bấu víu vào đâu. 

Khủng khoảng, suy thoái lại thêm vào, như một tai nạn kép làm không ít người trẻ lo lắng cho ngày mai của mình.

Bốn năm miệt mài, ăn đói, nhịn khát, ở chật chội theo “Sê ry con nhà nghèo” để theo hết chương trình đại học. Ra trường đúng vào giai đoạn kinh tế suy trầm, chưa biết khi nào mới gượng dậy. Chỗ nào người ta cũng rục rịch giảm biên chế với tỷ lệ “Ra ba, vào một”. Công ty ngoài chả thấy mở thêm, cứ teo đi, tuyên bố phá sản như sung rụng cuối mùa. Tỉnh quê nhà nó lại chả có đường sắt, đường biển, đường không lại càng không, lại không phải vùng kinh tế trọng điểm chả được ưu tiên gì. Cơ sơ sản xuất, kinh doanh có đếm trên đầu ngón tay chưa hết. Một nơi như thế, không dễ có được việc làm. Thôi thì có còn hơn không, chả vui vẻ gì, vẫn phải chấp nhận..

Ngay đến Hà nội, cũng còn khó kiếm việc huống chi là nơi này. Còn chút an ủi cho bản thân, so với công việc làm ở kinh thành trước đây, bây giờ thu nhập có kém hơn, nhưng được cái gần nhà. Bố mẹ trên nhà có bề gì chỉ cần chưa đến nửa giờ là nó đã có mặt ở nhà. Với lại chỗ ăn, chỗ ở dù sao trên này cũng thoải mái hơn. Không phải ba bốn đứa con gái chen chúc nhau thuê cùng một phòng hơn chục mét vuông. Người không quen đến chịu hơi người đã muốn ốm.

Nhà cô nó ở cuối thành phố, nơi hơn chục năm trước chỗ này cực vắng về đêm. Chỗ đó gần “vườn thánh” kề nhà thờ, bên bãi tha ma, có rất nhiều ngôi mộ vô chủ.
Những người già kể rằng năm 1945 chính là nơi người ta gom xác người chết đường chết chợ về chôn chung trong các mộ tập thể.
Đêm đêm thường có những loạt đạn bất thình lình nổ lúc gần sáng làm cho cư dân gần đấy choàng tỉnh giấc. Đấy là  khi các phe nhóm thanh toán lẫn nhau, người Nhật, người Pháp thủ tiêu tù cộng sản. Còn chuyện chém giết vặt về đêm của bọn cờ bạc, xã hội đen xảy ra trên quãng đường sát bờ sông này cũng không hề hiếm.  Chuyện cướp giật, hãm hiếm thường xảy ra chỗ đầu non, cuối bãi này.

Bây giờ thì khác.  Cái thị xã tranh tre nứa, lá ấy đã lên thành phố. Nhà cửa nhiều thêm, tràn cả ra khu ngày xưa vắng vẻ này. Nhìn bề ngoài đó là sự thay đổi ghê gớm. Thực ra  người dân công ăn việc làm cuộc sống cũng chẳng thay đổi bao nhiêu. Cô chú nó ngày trước đãi sỏi dưới sông, gánh cát lên bờ. Nay các công việc ấy có máy móc làm theo băng chuyền. Đội quân cát sỏi đông đảo mấy chục năm có từ thời bao cấp như có phép màu mất dạng, biến đi đâu hết. Người quay ra chạy xe ôm, kẻ bán hàng rong, người theo chân cửu vạn cho xe đường dài. Riêng  cô chú nó chuyển sang nghề khác. Ai cần bốc xếp hàng, lau dọn nhà..linh tinh đủ thứ việc hai người nhận làm. Mà việc thì lúc có lúc không. Ngồi rỗi cả buổi gần tối có người gọi bốc xi măng, giữa trưa có người kêu chuyển đồ.. nói chung công việc chả có giờ giấc nào nhất định.

Trời lất phất mưa bay. Chưa năm nào đầu năm mưa phùn kéo dài đến thế. Có hôm về muộn gặp bữa mất điện nó cứ thấy gợn gợn. Ngoài vườn thánh đom đóm ra nhiều vô kể. Đúng ra phải hơn tháng nữa mới là mùa đom đóm, chả hiểu vì sao lại có sớm như vậy. Người ta bảo thời buổi bây giờ đảo nghịch nhiều quy luật thiên nhiên và cả quy luật đời sống con người. Nó không tin lắm. Nhưng những con đom đóm xanh lét to lớn hơn bình thường chập chờn nơi mộ địa khiến nó có chút hoang mang dù ở đây đã gần ba tháng trời rồi. Ngày còn sống, bà nội vẫn bảo: “Ma thì có ma tốt ma xấu, cũng như con người ở dương gian, chả có gì phải sợ. Người xấu luôn gặp ma xấu và ngược lại. Làm việc tốt sẽ gặp điều tốt, trần sao âm vậy chả việc gì phải sợ hãi khi mình sống ngay thẳng, không độc ác hay làm hại ai..”

(Còn nữa..)

 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghệ thuật là phương thuốc chữa bệnh tinh thần

tumblr_nii72m0Ft11qinh1vo1_r1_500

“Chúng ta đều biết nghệ thuật không phải là sự thật, nghệ thuật là sự giả dối giúp ta tìm ra sự thật hoặc ít nhất là sự thật mà ta cần phải hiểu. Người nghệ sĩ cần phải biết cách thuyết phục mọi người tin vào sự thật trong lời nói dối của mình.”  – Pablo Picasso
“Mục đích thực thụ của nghệ thuật không phải là tạo ra những thứ đồ vật đẹp… Đó là một phương pháp để thấu hiểu, một con đường xâm nhập thế giới và tìm ra vị trí của một người ở trong đó.”- Paul Auster
“Thế giới cần đến tất cả các kiểu trí óc.” – Temple Grandin
Tối nọ tôi lang thang ở nhà sách, xem vu vơ qua một vài bức vẽ ký hoạ, lướt qua vài dòng bình luận về tác phẩm và tác giả và có một bình luận như thế này, tôi nhớ đại khái thôi vì lúc ấy tôi không mang theo điện thoại để chụp ảnh và cũng không có giấy bút bên cạnh để viết lại. Tác giả đã không ngừng lặp đi lặp lại nét vẽ nhẹ nhàng tìm đặc điểm trên gương mặt cô gái để tự làm cảm động chính mình.
Kỳ quặc, lúc ấy tôi đã nghĩ như vậy, chỉ là một bức tranh, vẽ sao cho thật đẹp, thật giống là được rồi không phải hay sao? Một lời bình luận như thế này có vẻ quá khoa trương nhưng không thể phủ nhận rằng sâu bên trong tôi cảm thấy chấn động. Sau một lúc suy nghĩ về câu nói trên tôi lấy một cuốn sách khác, hướng dẫn vẽ ký hoạ dành cho người mới bắt đầu, giở từng trang xem người hướng dẫn kỹ thuật vẽ ký hoạ màu cần phải như thế nào, tôi thấy chân dung khuôn mặt người đàn ông rất bình thường được vẽ với nhiều loại màu sắc khác nhau trông vô cùng quái lạ, trừu tượng và cũng rất ấn tượng, bên dưới là lời khuyên dành cho tác giả đại loại là khi vẽ cần đơn hoá suy nghĩ của chính mình hoặc thậm chí không được suy nghĩ gì ngoài việc phải hoàn thành một mạch cho xong bức tranh, đôi khi nên dừng lại nếu không cảm thấy có hứng thú muốn vẽ tiếp v.v…
Thì ra bên dưới mỗi một bức vẽ đều có cái tôi của hoạ sĩ, mỗi một bức tranh đều được truyền thần, mỗi một loại màu mà tác giả sử dụng đều có khí chất và mục đích riêng, khắc hoạ hay nhấn mạnh những đặc điểm mà tác giả cảm thấy muốn truyền tải thái độ của mình. Tự hỏi, thật sự không biết điều gì diễn ra bên trong bộ não của tuýp người nghệ sĩ này, hứa hẹn sẽ có nhiều cuộc đổ bộ vào nhà sách và viện bảo tàng thường xuyên.
Cũng tối đó tôi mơ thấy đại dương nổi sóng gió, nước cuồn cuộn xoáy giữa đêm tối, tôi đứng từ xa nhìn và cảm thấy rất hào hứng. Sau một lúc, tôi thấy hai chiếc thuyền thật to đâm sầm vào nhau vỡ tan tành, không những không sợ mà còn cảm thấy hào hứng hơn. Sáng hôm sau, mọi thông tin về biểu tượng “biển” và “đại dương” được tôi khai thác triệt để, phần lớn thông tin đều cho rằng có nhiều điềm xấu vì các biểu tượng như “sóng cuộn” “bão tố” “đêm tối” “thuyền vỡ” trong giấc mơ nhưng tôi tin những thứ đó không đúng với riêng mình. Một lúc sau tôi tra thấy những chú giải này, tôi không dịch vì không muốn làm sai lệch ý nghĩa có trong đoạn văn (tôi không tự tin lắm về khoản dịch dọt của mình).
“It is said that the dream about the sea symbolizes endless opportunities in front of the dreamer. There are many things that the person is able to achieve, the only thing that is needed is the effort. The dream also represents the wholeness of human, therefore the changes of the sea, shows the changes in the mind or the health.”
Lý giải như thế vô cùng phù hợp vì dạo đó tôi bỗng dưng thích thú ghi chép lại những tưởng tượng về nhiều loại hình ảnh khác nhau trong đầu khi nhìn lên trời hoặc những thứ vằn vện trên nền nhà. Điều khác biệt giữa tôi lúc ấy với tôi trước đó nữa là sự tò mò muốn tìm hiểu xem cái gì đang diễn ra bên trong vì có lúc tôi hơi sợ hãi với những gì mình tưởng tượng và nghĩ rằng mình sắp điên. Đỉnh điểm là lần nọ tôi lấy hết can đảm đến bệnh viện yêu cầu, phải nói là năn nỉ để họ cho tôi làm trắc nghiệm nhân cách xem tôi có bình thường như mọi người hay không, kết quả là tôi chỉ hơi khác với chuẩn một chút xíu thôi.
Trước đây tôi vẫn biết thế giới là một nơi vô cùng đa dạng và phong phú, là một nơi mà theo tôi con người không cần thiết phải có siêu năng lực như dị nhân, một nơi thường được miêu tả là sự chồng chéo hỗn độn của thiên đường và địa ngục, cùng lúc tồn tại cả thiên thần và ác quỷ. Là nơi mà con người có thể trải nghiệm cuộc sống của mình cùng lúc ở cả hai thế giới, thế giới thực và thế giới tưởng tượng.
Thế giới nội tâm và thế giới bên ngoài, nghệ thuật chính là nơi hai thế giới gặp nhau nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy kinh ngạc vì điều đó, ý tôi muốn nói về sự khác nhau giữa cái biết và cái cảm nhận. Trước đây tôi chỉ biết nhưng bây giờ tôi mới có khả năng cảm nhận. Trong một chốc tôi cảm thấy thế giới là một xứ sở kỳ diệu nếu mọi người dám tha thứ cho bản thân và tha thứ cho nhau để có thể sống thực với bản ngã của mình.
Khi đó thế giới sẽ còn hỗn loạn hơn nữa nhưng là hỗn loạn trong sự thống nhất vì mọi người đều hài lòng với vị trí của mình dù mỗi một cá nhân riêng lẻ đều đặc biệt quái lạ không giống với những người còn lại, điều đó cũng có nghĩa là ai cũng đẹp và độc đáo, không có ganh tị, không có sợ hãi. Thế giới sẽ tràn ngập màu sắc và tôi nghĩ rằng thật là phi lí khi con người với 60 năm cuộc đời lại không chịu cởi mở để tiếp nhận mọi thứ do chính con người sáng tạo ra.
Lúc đó con người không chỉ mới thực sự có khả năng thực hiện phép màu bởi họ biết cách lắng nghe trực giác. Con người có khả năng tiên đoán về tương lai của mình bằng cách thực hiện nó, ai đó đã nói câu này nhưng tôi muốn bổ sung thêm rằng, con người thực sự có thể tiên đoán tương lai của mình bằng cách lắng nghe trực giác, hiểu rõ chính mình muốn gì rồi thực hiện nó.
Samsung nói rằng: “You decide your life.” Nhưng tôi nghĩ hơi khác một chút thế này: “You design your life.” Lúc đầu bên trong sẽ có những xung động, những thôi thúc rất nhẹ, rất mơ hồ nhưng nếu con người lắng nghe và làm theo thì dần dần nó sẽ dẫn ta đến với những mục tiêu ngày một cụ thể hơn, cảm giác sẽ ngày một mạnh mẽ hơn cho đến khi con người quay đầu nhìn lại quá khứ họ có thể hiểu được rằng mọi thứ diễn ra đều có lí do cả.
Nghệ thuật là phương thuốc cho những căn bệnh tinh thần. Trước đây, một người bạn đã cười cợt trên lời dạy của một giảng viên rằng đã dạy tâm lý học thì không nên đem văn học vào để làm dẫn chứng. Tôi có thôi thúc muốn táng hắn một cái vì sự ngu dốt của hắn, hắn không hề biết nguồn gốc ra đời của phân tâm học là từ văn học, một nhà văn với trực giác của mình có thể thấy được nhiều hơn một nhà tâm lý học với cái tôi vô cảm kèm theo cái đầu tràn đầy lý thuyết sáo rỗng.
Có rất nhiều trường hợp sinh viên tâm lý đem bệnh nhân ra làm trò cười, sinh viên y khoa đem thi hài ra làm trò chơi là chuyện bình thường (vì chúng vô cảm), những loại như vậy tôi nghĩ không có tư cách mở miệng chứ đừng nói đến chuyện phê phán ai. Tôi đã từng trông thấy nhiều bức tranh do bệnh nhân vẽ, rất cầu kỳ, rất đẹp. Trong số họ không ít người là thạc sĩ, tiến sĩ, là tri thức bỗng dưng ngày nọ họ mất trí, vậy thôi. Không có thông báo gì cả.
Chỉ đáng tiếc là nước mình còn nghèo, dân không đủ ăn còn nói gì đến nghệ thuật. Hôm nọ tôi nghe lỏm được câu chuyện của những quý bà nói với nhau về chuyện học hành của con cái họ, mấy chục ngàn đô chỉ để học ngoại ngữ rồi gì đó cũng lại về ngoại ngữ, không thấy nói gì đến nghệ thuật để tinh thần con trẻ phát triển lành mạnh. Thật đáng buồn vì những người nghệ sĩ được miêu tả như người mê mê tỉnh tỉnh, mơ mơ màng màng, đầu óc ở trên mây, chân không chạm đất v.v… Nếu không có họ, cuộc sống thực sự là vô nghĩa đấy.

Quyên Quyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ở xứ mình cái gì mà không "lạ" kia chứ?

Băng rôn “lạ” xuất hiện trên đường phố Lạng Sơn


Nguyễn Dương
Dân Trí - Băng rôn có nội dung “Để có hai miếng bít tết cần 15.000 lít nước” xuất hiện trên đường phố Lạng Sơn khiến nhiều người ngỡ ngàng, không hiểu nội dung tuyên truyền là gì; cơ quan chức năng cũng... bối rối.

Mới đây trên đoạn đường Lê Lợi, thuộc phường Vĩnh Trại (TP Lạng Sơn) đã xuất hiện dải băng rôn màu đỏ treo ngang đường có dòng chữ “Để có hai miếng bít tết cần 15.000 lít nước”. Tấm băng rôn này khiến nhiều người đi đường và người dân địa phương khi đọc đều tỏ ra băn khoăn, không hiểu nội dung tuyên truyền là gì.

Anh Nguyễn Văn Bắc (35 tuổi, ở phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn) cho biết: “Tấm băng rôn này xuất hiện ở đây được hơn 1 tuần rồi nhưng chả ai hiểu nó muốn nói về cái gì. Nhiều người nghĩ đó là công thức nấu ăn, làm bít tết. Mà có 2 miếng bít tết cần những 15.000 lít nước thì cũng thật khó tin”.

Phóng viên hỏi một số người dân khu vực này và cả người đi đường, tất cả đều “bó tay” không hiểu nội dung dải băng rôn trên.

Trao đổi với báo chí, ông Hà Ngọc Minh – Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa (Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lạng Sơn) - cũng tỏ ra... ngỡ ngàng, khó hiểu với nội dung của dải băng rôn trên và nhận thiếu sót về lỗi buông lỏng trong việc quản lý tuyên truyền.

Ông Minh cung cấp thông tin thêm, “tác giả” của dải băng rôn khó hiểu trên là của Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) TP Lạng Sơn.

Đại diện lãnh đạo Phòng TN-TM TP Lạng Sơn giải thích: “Băng rôn đó là do đơn vị tôi treo theo văn bản chỉ đạo của Sở TN-MT Lạng Sơn về tổ chức các hoạt động về Ngày Nước Thế giới 2015. Trong văn bản có đưa ra 8 thông điệp tuyên truyền, trong đó có câu “Để có hai miếng bít tết cần 15.000 lít nước”. Bản thân khi tôi đọc cũng không hiểu nội dung tuyên truyền là gì. Sai sót của lãnh đạo Phòng là không chọn câu tuyên truyền gần gũi, dễ hiểu với người dân nên mới xảy ra sự cố đó. Phòng sẽ rút kinh nghiệm với những lần sau”.

Theo ông Lương Văn Nhất - Trưởng Phòng Tài nguyên nước và Khí tượng Thủy văn (Sở TN-MT tỉnh Lạng Sơn): Thông điệp “Để có hai miếng bít tết cần 15.000 lít nước” được lấy từ văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hưởng ứng Ngày Nước thế giới 2015 (22/3) với chủ đề “Nước và phát triển bền vững”. Thông điệp này nhằm tuyên truyền cho người dân biết về tầm quan trọng của nước trong đời sống xã hội.  Hàm ý nội dung của băng rôn trên là muốn nói, để sản xuất ra được hai miếng bít tết thì qua mọi công đoạn, mọi yếu tố thì cần phải mất 15.000 lít nước. Đây là lượng “nước ảo” để nói lên vai trò to lớn của nước.

Ông Nhất cũng thừa nhận, đây là thông điệp của thế giới nên khi áp dụng vào Việt Nam thì sẽ ít người hiểu. Nếu giải thích rõ hơn, cụ thể và gần gũi hơn với người dân thì sẽ hiệu quả hơn.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Nhà văn Nguyễn Quang Hà: Mắt không dùng khúc xạ để nhìn nhau


 Tượng đài liệt sĩ Đại đội Ngô Gia Tự được nhà văn Nguyễn Quang Hà
dựng thờ trong sân vườn nhà ông



LÊ TRUNG VIỆT

NVTPHCM- Thỉnh thoảng tôi phải dừng bút, khi ông nói rằng cái này cháu đừng đưa vào bài báo nhé. Sự thật thường nằm khuất lấp trong bóng tối, ở đời cái ác vốn nhiều hơn cái thiện, nên ngoài pháp luật, người ta cần đến chữ nghĩa để phơi bày nó, mà đã chạm đến chữ nghĩa thì lắm điều tế vi…

Sản nghiệp văn chương ông đồ sộ, nhưng ông là con người của những điểm nóng với chất báo chí hừng hực, dù rằng các tiểu thuyết Con nợ, Vùng lõm, Thời tôi mặc áo lính… từng làm nóng văn đàn. Bây giờ về Huế, hỏi chuyện ông cựu bí thư tỉnh ủy khai man lý lịch anh hùng, thiên hạ đều bảo: hỏi nhà văn Nguyễn Quang Hà, là rõ.

“Năm 1967 mình xung phong đi bộ đội, 1969 về xây dựng phong trào xã Phong An - xã của ông Mãn bây giờ - lúc đó ông Mãn mới là giao liên, biết nhau từ đó. Khi ông Mãn được phong Anh hùng, một bữa mình về Phong An giỗ một liệt sĩ, anh em cựu chiến binh nói: Mi không viết thì ai viết bây giờ? Mình nói mọi người tập hợp tư liệu rồi mình viết Về lại Phong Điền, từ đó cựu chiến binh bắt đầu khiếu kiện lên trung ương”.

Chuyện sau đó, thiên hạ chắc đã rõ, rằng những người nông dân một thời cầm súng kia đã bị dọa giết, ngay cả ông trưởng tộc của ông Mãn cũng bị nắn gân bởi đã cả gan kiện cựu bí thư tỉnh ủy. Liền sau đó, ông Hà viết thêm mấy bài nữa. Chuyện ông Mãn bị truất bỏ danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, là chưa từng có tiền lệ ở xứ mình. Để làm được việc này, ông và các cựu chiến binh đất Phong Điền đã vượt qua bao nhiêu lớp phòng thủ, khó hơn một trận công đồn.

Ở đây tôi xin nói lại với một đồng nghiệp trong một tranh luận, khi anh cho rằng, thắng thì có thắng nhưng không vẻ vang, bởi tại sao không viết khi ông Mãn còn đương nhiệm? Có hai lẽ, là biết ông Mãn giả dối, nhưng báo chí cần chứng cứ. Nhân chứng còn đó, mà chừng đó thì đâu có đủ, phải lấy được bản kê khai thành tích của ông Mãn. Ông Hà lấy được. Còn con đường nào để tờ giấy giả dối kinh thiên động địa kia đến tay ông, đó là chuyện ly kỳ.

Lẽ thứ hai, là ông Mãn ăn lộc nước, quyền to, giàu có, đứng trên hơn một triệu dân Thừa Thiên-Huế, nói toàn lời vàng ý ngọc, nhưng khi về hưu, ông lộ ra là giả dối, thì sao im lặng được. Mặc dù vậy, thắng ông Mãn đâu phải dễ dàng. Tất nhiên bạn cũng như bao đồng nghiệp, dư luận, thảy đều gật là ông Hà dũng cảm. Tôi thì nói với ông Hà, là đương đầu phen này, chấp nhận tuẫn nạn, bởi thua là ông chết, mà khả năng thua thì nhiều.

Đó là một người luôn đi đến tận cùng của sự thật. Một nhà nghiên cứu văn học ở Huế nói với tôi như thế khi đánh giá về ông. “Văn giới xứ mình, từ 60 tuổi trở đi hoặc gác bút, hoặc làm… thiền sư, chỉ nói điều minh triết, răn đời, lấy chữ nhàn làm bè bạn, có đâu như chú rước toàn thị phi, xông vào hòn tên mũi đạn”.

Tôi nói điều này, bởi ông đã 73 tuổi, bảy lần đại phẫu trong và ngoài nước, đại tràng bị cắt hết vì chứng ung thư. Hình như ông thoát chết vì “đức thắng số”. “Đại đội Ngô Gia Tự của mình 155 anh em, chết hết 122 người. Có lần ở Phong Điền, một bà già vì cứu mình đang nằm dưới hầm, đã chấp nhận bị giặc tra tấn, chúng nó lấy tấm tôn quấn bà lại và đốt hai đầu cho nóng dần, bà quyết không khai, khi giặc đi rồi, mình mở nắp hầm lên, bà chết, thịt dính vào tôn… Biết bao nhiêu trường hợp như thế.

Mình nợ đồng đội và dân, nên mình viết. Viết để trả nợ, như một mệnh lệnh, mình không nghĩ để lại hậu thế những áng văn hay, nhưng mình phải làm phận sự của người lính-nhà văn còn sống với chuyện hôm qua và hôm nay”.

Tôi có đọc một luận văn thạc sĩ về tiểu thuyết chiến tranh của ông. Tác giả luận văn không hề chạm đến một chữ mà tôi cho rằng đây là điều khó bỏ qua: nỗi buồn. Khi đối diện với sự thật cay đắng và giải quyết nó, cái đọng cuối cùng chính là nỗi buồn mênh mông, dù rằng thế giới mỹ cảm, hình tượng văn học, tình huống truyện, chi tiết hàm ngôn lẫn hiển ngôn trong tác phẩm của ông, thường không nhắc đến nỗi buồn, mà chỉ có những đối thoại và thông tin với những nhu cầu riết róng cần phải giải quyết cả trong thời chiến lẫn thời bình. Ông gật.

Vẫn lợn cợn trong tôi ý nghĩ, sao chỉ mỗi ông lên tiếng trong khi đó là đề tài “hot”, ăn khách, dẫu biết là các tòa soạn vẫn ngại, ông không viết, nói như dân gian là “có chết ai đâu”, “êm êm rứa” mà qua cầu. Tôi nhớ ngược lại một thời tạp chí Sông Hương in bài ký Luận chứng về một tâm hồn đa cảm, làm nổi sóng dư luận ở Huế, viết về cái nghèo, nạn quan liêu, nỗi đau khổ của dân Phong Sơn-Phong Điền, mà nhức nhối nhất là sự uất ức, có lẽ phải dùng từ này, của ông, về việc những người dân một thời đổi máu mình nuôi cán bộ, lại bị chính quyền dối lừa, hứa hão, sống trong cơ cực, đói nghèo. Ông viết thẳng tay, vạch mặt chỉ tên cụ thể lãnh đạo huyện.
Nhà văn Nguyễn Quang Hà và vợ - Võ Thị Quỳnh

Đất Phong Điền nuôi ông trong chiến tranh, như duyên tiền định, bám riết cho mãi đến giờ với chuyện ông Hồ Xuân Mãn làm hồ sơ giả, cũng kê khai từ Phong Điền, nên tôi bật câu hỏi: “Sứ mệnh nhà văn hiện nay là gì?”. “Phải viết về xã hội này, nỗi đau của nhân dân. Nhà nước đang nợ dân”. Tiểu thuyết Con nợ của ông đưa in, sáu nhà xuất bản đều… lắc, bởi sợ, đến Nhà xuất bản Hội Nhà văn, họ nói ai chứ ông Hà viết thì in ngay. Ông đã được bảo chứng bằng chính uy tín của mình.

“Tại sao nhiều người không dám viết?”. “Nhà văn không ngại đụng chạm, nhưng viết thì không ai in, rồi cũng phải có tiền để sống chứ”. Tôi nhớ nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói: “Văn chương ăn nhau ở cái cốt lõi, ấy là cái sự thật. Sự thật rành rành mà viết không thật được, ấy là vì cái lòng mình vẫn chưa thành thật. Hay nói huỵch toẹt ra là còn giả dối, sợ hãi”. Ông Hà dám đương đầu và đi tìm sự thật để phơi bày, bởi ông mang nguyên cả dũng khí của người lính vào sinh ra tử trong chiến tranh đi vào thời bình, qua năm tháng, máu can trường ấy không cạn, không phai.

Tín nghĩa. Có lẽ nên dùng từ này để nói về văn-chất trong ông. Ông có gì mất không? “Đời cầm bút thì không có gì để mất. Thời mình làm Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, báo bán được lắm. Nhà văn hãy đứng về điều đúng”. Chút tự hào hiếm hoi lộ ra ở ông. “Các nhà văn hiện giờ đang ở đâu?”. “Đang lửng lơ, chưa mạnh dạn viết”. “Vì thế sẽ không có gì phải phân bua khi người ta nói rằng văn học, nhà văn nước mình, giờ như… bị chìm đi”.

“Nhà văn thiếu chỗ dựa để tránh đòn roi. Đây là điều đau đớn cho người viết. Như chuyện đó, sai rành rành vậy mà ông Mãn vẫn kiện, nhưng chỗ báo in mấy bài mình viết họ không sợ, để rồi ngày hôm sau khi tòa soạn nhận được đơn của ông, là có quyết định của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang”. “Có lẽ chú cô đơn…?”. “Không, mình đứng về lẽ phải và nhân dân mà. Mình không sợ gì cả, không sợ trả thù, chỉ lo tỉnh không phát triển được”.

Nếu ai đó biết đoạn đời buồn tủi của ông thuở vào đời rồi ra lính, hẳn sẽ ưu tư với nỗi âu lo có vẻ “bao đồng” trên. Đậu đại học mà không được đi học, vì vướng lý lịch gia đình. Tan tiếng súng, trở về cố hương nơi đất Bắc, thì người vợ ở quê chẳng chung tình. Ông đã vượt lên chính mình, hành xử tha thiết với cuộc đời, như một giáo sư văn học ở Huế nói: Nguyễn Quang Hà viết bằng tấm lòng chân thật, không vụ lợi, cay cú ăn thua, một đời cầm bút xông vào giông bão, chỉ vì nhân dân, không trang viết nào lộ chuyện thù hằn cá nhân, chua chát số phận mình.

Cô Quỳnh nói: “Anh thay áo mà chụp ảnh chứ”. Tôi chưa kịp xua tay thì ông đã lên tiếng: “Thôi, thế này cũng được”. Nắng đã đứng nơi góc sân, cười trên mấy giò lan rừng, gãy khúc long lanh ngũ sắc tạt xuống tượng đại đội Ngô Gia Tự thẳng đứng như lời thề của người lính trước giờ xung trận. Tượng thờ ông lập ra để hàng ngày thắp nhang cho đồng đội mà máu xương đã tan vào đất.

Cô Quỳnh hẳn sẽ khổ nhiều với ông? “Không - cô cười như mặc nhiên chấp nhận một thái độ sống, một cách hành xử, quan niệm đạo đức, thẩm mỹ hằng có ở nhà văn - Mình làm vợ cũng lo, nhưng mình tin không gì có thể bước qua được sự thật. Đây là vụ cam go nhất. Mà cũng quen rồi, cách đây 15 năm ổng chống tiêu cực, họ ném lời đe dọa vào cửa, cựu chiến binh đến nhà, mang theo đá, nói: góp thêm đá cho anh chiến đấu, rồi cũng nhờ anh em liệt sĩ đại đội Ngô Gia Tự phù hộ nữa”… Tôi nhớ thơ ông có câu “Đường chân thật như bị băm nát - Khi mắt dùng khúc xạ để nhìn nhau”. Nhưng, ông lại nhìn thẳng…



Phần nhận xét hiển thị trên trang

KIẾP BÈO




Cách đây không lâu lắm thành phố C. còn có một nhánh sông cắt ngang. Dù chỉ là một nhánh phụ của con sông cái nhưng vì chảy ngang qua thị thành, nó đã trở thành một nơi chốn thần tiên cho cả tuổi thơ lẫn những đôi lứa đang kỳ hò hẹn. Dọc theo bờ sông mọc đầy cây bần là bãi tắm tuyệt vời nhất cho những đứa trẻ trong thành phố những buổi chiều. Sau đó, một vài người đến cất những căn nhà lá nhỏ ngay trên mặt sông để làm nơi sinh sống. Họ là những người nghèo khổ, tha phương cầu thực chớ không phải là dân bản địa và vì không tiền mua đất, họ phải làm liều dù ai cũng biết rằng khu đất ấy là đất công.
Thế nhưng, thành phố dần phát triển, đất hẹp người đông, nhu cầu về chỗ ở ngày một cao đã làm cho mỗi tấc đấc trở thành tấc vàng thật sự. Vậy là những cái đầu thực dụng nhìn thấy nhánh sông chảy băng qua thành phố cùng với bãi bờ của nó cả một diện tích rộng nếu được lấp đầy. Cũng không khó gì lắm để ra đời dự án thổi cát từ sông cái lên lấp nhánh sông “không cần thiết” tạo ra một mặt bằng rộng dùng cho việc lập chợ, kinh doanh. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng cũng không ai phản đối gì vì những người ngụ cư dọc theo hai bờ sông đều là dân sống bất hợp pháp. Tôi có một người bạn là kỹ sư xây dựng cũng được huy động vào đội ngũ tham gia công trình này.

* * *
Hưng kể, vì được chỉ đạo phải làm thật nhanh kể từ ngày có lịnh thi công, đội ngũ công nhân và kỹ sư gần như phải làm suốt ba ca. Có đêm, Hưng phải ngủ lại và một đêm kia, sau một chầu bia tối kéo dài tận khuya, anh thức dậy và thấy mình ngủ một mình trên võng buộc tạm vào lan can chiếc cầu mà họ dự tính sẽ giật sập trong tuần tới vì dòng sông bên dưới đang cạn dần.
 Chầu nhậu đã làm Hưng khát khô cổ và cảm thấy thèm thuốc nhưng trong túi không có sẵn hộp quẹt. Bỗng dưng Hưng nghe có tiềng thì thầm nho nhỏ như có ai đó đang trò chuyện. Anh dụi mắt, bước ra khỏi võng và vô cùng ngạc nhiên khi thấy nơi bến sông trước mặt, có một dãy ghe nhỏ che mui kín đang đậu. Từ những chiếc ghe nhỏ ấy, phát ra tiếng rì rầm và có cả ánh sáng yếu ớt của những chiếc đèn hột vịt. Dù rất ngạc nhiên vì nhánh sông ngoài kia đã gần như bị bít để thổi cát vào, những căn nhà dọc bờ sông đã giải tỏa và ghe xuồng không cách nào vào được đây nhưng không hiểu sao lúc ấy Hưng vẫn trỗi dậy, bước ra khỏi võng và đi lần xuống bến với ý nghĩ xin mồi thuốc.
Dưới bến có chừng năm bảy chiếc ghe đang neo đậu và hầu như tất cả đều chưa ngủ. Hưng bước tới chiếc ghe gần nhất và dưới ánh trăng anh nhìn thấy một ông cụ mặt bộ bà ba nâu, đầu chít khăn rằn đang ngồi đốt thuốc bên chiếc hỏa lò nhỏ le lói ánh than hồng. “Chào bác! Hưng cất tiếng”.
Ông cụ gật đầu đáp lại nhưng không hỏi gì với khách. Hưng bước đến gần hơn và nói: “Bác cho cháu mồi nhờ điếu thuốc... -Được, cậu cứ lên đây”. Ông già đã lên tiếng.
Hưng bước lên sạp phía mũi ghe, nói: “Cháu ngủ gần đây, nghe tiếng trò chuyện nên cháu mới...” “Được mà. Ngồi hút thuốc uống trà cho vui đi cậu. Gia đình chúng tôi cùng mấy bà con quanh đây sắp sửa dời đi nhưng còn đợi con nước”.
Rồi ông quay nhìn vô trong mui, lên tiếng: “Lục Bình, con đem thêm gói trà cho cha mời khách”.
Hưng hơi tò mò nhìn theo ánh mắt ông lão. Anh thấy bên trong khoang ghe được ngăn lại bằng một tấm màn vải kẻ ca rô mà người nhà quê ưa dùng. Từ trong ấy có một cô gái vén màn chui ra. Cô gái một tay cầm gói trà còn tay kia vén tóc lại cho gọn gàng và khẽ gật đầu chào khách. Hưng bàng hoàng. Dù ánh trăng không tỏ lắm nhưng anh cũng kịp nhận ra là cô gái quá đẹp. Bộ đồ bà ba màu xanh lá tuy rộng nhưng vẫn nhìn rõ một vóc dáng thanh thoát, rất ít gặp ở những cô gái con nhà thương hồ. Không hiểu sao Hưng lại chăm chú nhìn cô như vậy, thậm chí anh còn nhận thấy hình như gương mặt cô có một nét u buồn sâu kín. Khi cô lui vào trong khoang ghe, khuất sau tấm màn, Hưng nghe như có tiếng đối đáp nho nhỏ giữa cô gái cùng một người khác nữa.
Chiếc ấm trên hỏa lò bắt đầu sôi và ông lão nhắc ra, rót nước vào một chiếc ấm đất màu gan gà. Vẫn nghe thấy tiếng người thì thầm, Hưng đánh bạo hỏi: “Xóm ghe mình hôm nay thức khuya để dời đi đâu hả bác?
Mắt ông lão dường như tối lại: “Cả xóm đã bàn nhau nhưng chưa biết là sẽ đi đâu. Chúng tôi đã định cư đây bao đời rồi, giờ thật là khổ.”
Tiếng thì thầm trong khoang ghe bỗng chuyển thành tiếng nức nở, ông lão bảo Hưng: “Thôi, uống nước đi cháu. Chúng tôi cũng sắp sửa nhổ sào”.
Rồi ông quay vô, trầm giọng: “Chuẩn bị đi bà ơi. Ông hắng giọng, nói thêm. “Còn con Lục Bình, cha đã nói là phận mình bọt bèo thì mình đành phải chịu. Sao còn thương cảm hoài vậy!”
Không dằn lòng được nữa, Hưng hỏi: “Cô nhà có chuyện chi mà không vui vậy bác?” “À, Lục Bình là con gái út nhà tôi. Trước đây chúng tôi có hứa hôn với họ Hà. Thế nhưng gần đây không hiểu sao đất đai nhà cửa của dòng họ ấy bỗng bị mất sạch. Cha con ly tán, họ hàng thất lạc. Thằng con rể tương lai cũng bị vạ lây. Giờ đây, chúng tôi cũng phải ra đi. Chuyện nhơn duyên lỡ dở như vậy nên mấy ngày nay con Lục Bình nó khóc lóc hoài. Cả hai vợ chồng tôi khuyên can mấy cũng chưa nguôi”
Hưng rùng mình, uống vội ngụm nước rồi từ giã ông cụ. Khi anh bước lên bờ, dưới ánh trăng huyền hoặc, Hưng vẫn nhìn thấy cái thân hình nhỏ bé buồn bã của ông cụ in đậm trên nền của hàng cây và bên tai Hưng vẫn vang lên tiếng nức nở của người con gái...
Sáng hôm sau, Hưng giật mình tỉnh lại khi có người lay gọi. Anh bàng hoàng thấy mình nằm ngủ ngay trên thành cây cầu sắp sửa bị phá đi, cách xa chiếc võng của mình chừng mười mét. Anh chàng công nhân trẻ cười:
- Hồi đêm xỉn dữ hả anh Hưng? Về không tới võng mà...
Hưng ngồi dậy, anh tựa vào lan can cầu nhìn xuống dòng sông đang cạn. Dưới ấy, từng đám lục bình đang theo con nước đẩy đưa giạt dần về phía sông cái. Có một nhóm lục bình nhỏ còn vướng vào chân cầu vì nước đã cạn lắm. Hưng đi vòng xuống bến, gỡ cánh bèo và nhẹ nhàng đẩy nó ra xa, nhập vào đám lục bình lớn trước con mắt ngạc nhiên của người công nhân trẻ.
* * *
Chúng tôi ngồi bên nhau trong công viên bên bờ sông, trước mặt tôi những cánh bèo vẫn giạt từng đám trong cơn nước kiệt. Giọng Hưng bùi ngùi: “Sau đó mình xin chuyển công tác. Mình cảm thấy như có gì đó sai lầm, và như thể có lỗi với tuổi thơ của mình. Và còn một lý do nữa, đó là nỗi ám ảnh không nguôi về cái đêm nửa hư nửa thực ấy. Mình vẫn nhớ rất rõ cô gái ấy tên là Lục Bình, vẫn nhớ màu áo xanh cô ấy lay động dưới ánh trăng khi đem gói trà ra, và nhớ rất rõ ánh mắt buồn của ông cụ và cách nói chơn chất như người vùng quê cách đây cả vài chục năm. Nhớ tiếng nức nở của cô con gái cùng câu chuyện lạ lùng về dòng họ Hà bị xiêu tán, nó cũng giống như một lời cảnh tỉnh”.

Đêm đó khi chúng tôi trở về, Hưng chở tôi chạy ngang qua khu đô thị mới. Dòng sông xưa giờ đã mất tích. Chỗ chiếc cầu đá mà cách đây hai mươi năm chúng tôi còn thi nhau leo lên rồi nhảy ùm xuống dòng nước mát gần như không còn có thể nhận ra. Thay vào đó là những tiếng nhạc xập xình phát ra từ các quán cà phê mới đang thi nhau mở hết công suất.

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục- đã xuất bản 2008 và tái bản 2014)
Phần nhận xét hiển thị trên trang