Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Câu chuyện khó tin về một anh hùng dân tộc biến thành kẻ phản quốc

Lịch sử tràn đầy những chuyện thú vị khó tin, đôi khi là hoàn toàn không thể tưởng tượng, khơi lên những cảm giác trái ngược. Lúc được muôn người sùng bái như anh hùng dân tộc, lúc bị người người phỉ nhổ.

Mùa hè năm 356TCN, một người dân thành phố Ephesus của Hy Lạp có tên là Herostratus đã đốt cháy Đền thờ nữ thần Artemis. Khi bị tra tấn, hắn đã thú nhận hắn làm việc đó hoàn toàn chỉ để hắn trở nên bất tử và con cháu hắn sẽ nhớ đến tên tuổi hắn. Ngoài án tử hình, Herostratus còn bị tuyên một hình phạt sau khi chết là làm tên tuổi hắn bị lãng quên. Ở La Mã cổ đại, bản án đó gọi là Damnatio memoriae.
Tuy nhiên, sử gia Cổ Hy Lạp Theopompus đã ghi lại cho đời sau cả về tội ác, lẫn hình phạt của hắn và như vậy, Herostatus vẫn đạt được mục đích của hắn.
Ngay cả tên một tên tội phạm, người ta cũng đã chẳng thể quên nổi, còn nếu cần lãng quên tên tuổi một vị anh hùng dân tộc thì sao?
Chẳng hạn như Benedict Arnold, rõ ràng là một người anh hùng chân chính của nước Mỹ.
Một sĩ quan chói sáng mà George Washington đánh giá cao, trong trận đánh Bemis Heights đã chặn đứng cuộc đột kích của quân Anh, truy đuổi họ và bằng các hành động quyết liệt của mình đã đưa quân đội hoàng gia Anh đến chỗ thất bại. Chỉ 10 ngày sau, quân Anh đã đầu hàng ở Saratoga, còn bản thân trận đánh được coi là sự kiện bước ngoặt trong Chiến tranh giành độc lập của nước Mỹ.
Vào cuối trận chiến, một viên đạn bắn trúng chân Arnold và giết chết con ngựa của ông. Khi ngã, con ngựa làm gẫy cái chân đó của Arnold. Vết thương quá nặng nên ông buộc phải rời khỏi quân đội.
Sau khi bình phục, người anh hùng được muôn người thừa nhận (người thực sự là cứu tinh của nước Mỹ) được bổ nhiệm làm tư lệnh quân quản Philadelphia, thủ đô tương lai của nước Mỹ, nơi ông ta đã bắt đầu cuộc sống xa hoa, lấy vợ, nhưng sau đó nhanh chóng bị cáo buộc lạm quyền và làm giàu phi pháp.
Sự túng thiếu tiền bạc đã đẩy Arnold đi đến sự phản bội trắng trợn và đã định giao nộp cho quân Anh pháo đài West Point lấy 20.000 bảng Anh, nhưng sự phản bội của ông ta đã bị khám phá. Arnold kịp chạy sang phía quân Anh, làm chuẩn tướng Anh, dẫn quân đánh lại quân cách mạng Mỹ, rồi được nhận 55.000 USD và chuyển sang Anh, nơi ông ta chết 20 năm sau đó.
Đó chính là câu chuyện một người anh hùng tầm cỡ dân tộc đã biến thành một kẻ phản bội dân tộc.
Người ta kể rằng, khi Benedict Arnold dẫn quân của Vua Anh tấn công lại những đồng bào cũ của mình ở Virginia, trong số các tù nhân của ông ta có một sĩ quan can đảm và dí dỏm. Đáp lại câu hỏi của Arnold: “Người Mỹ sẽ làm gì ta nếu bắt được ta?”, viên sĩ quan nọ trả lời: “Họ sẽ cắt cái chân đã từng bị thương khi ông đã chiến đấu vẻ vang vì sự nghiệp tự do, và chôn nó với nghi lễ quân đội, còn các phần còn lại của cái xác sẽ bị treo lên giá treo cổ”.
Cái chân của Benedict Arnold được tôn vinh. Còn Benedict Arnold mãi mãi là kẻ phản bội.
Chính điều đó gần như đã được thực hiện. Năm 1887, người ta đã dựng một tượng đài nhỏ cho một cái chân của Benedict Arnold, nhưng không ghi tên ông ta. Mặt sau, tượng đài có ghi: “Để tưởng nhớ “người lính xuất sắc nhất” của Lục quân lục địa, người đã bị thương ở nơi này trong cuộc tấn công của (tướng Anh) Burgoyne vào đồn phía tây ngày 7/10/1777, đã giành được chiến thắng cho đồng bào mình trong trận đánh quyết định của Cách mạng Mỹ, giành cho bản thân mình quân hàm thiếu tướng”.
Một sự công bằng kỳ lạ của người Mỹ dành cho người anh hùng-phản bội Benedict Arnold của họ.
Theo VIETNAMDEFENCE.COM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ bỏ cấm vận vũ khí

media

Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hiệp Hội Châu Á (Asia Society) ở New York ngày 24/09/2014. Ảnh chụp từ video công bố trên mạng asiasociety.org
    Việt Nam hoan nghênh các nỗ lực của Hoa Kỳ hướng tới việc bãi bỏ cấm vận vũ khí sát thương, đồng thời, Hà Nội tìm cách trấn an rằng động thái này không làm gia tăng căng thẳng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông và Bắc Kinh không có gì phải lo ngại.
    Hôm qua, 24/09/2014, phát biểu trước Hiệp hội Châu Á, một tổ chức nghiên cứu, tại New York, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh nhận định rằng việc Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam là một việc làm bình thường. Ông nói : « Cách nay gần 20 năm, chúng tôi đã bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và trong năm 2013, chúng tôi đã có quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ. Như vậy, quan hệ giữa hai nước đã bình thường và lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là không bình thường ».
    Tuy nhiên, Ngoại trưởng Việt Nam đồng thời trấn an là Trung Quốc không có gì phải lo ngại cả. Bởi vì, theo ông Phạm Bình Minh, cho đến nay, nếu không mua vũ khí của Hoa Kỳ thì Việt Nam vẫn mua của các nước khác. Vậy, « tại sao Trung Quốc phải lo ngại » về việc Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận.
    Mặc dù Ngoại trưởng Việt Nam thừa nhận là các tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, tại Biển Đông, đã gây ra những căng thẳng trong khu vực, nhưng ông gạt bỏ nhận định cho rằng việc Mỹ bãi bỏ cấm vận vũ sát thương đối với Việt Nam sẽ làm cho Trung Quốc khó chịu.
    Tháng Tám vừa qua, tướng Mỹ Martin Dempsey đã công du Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, một Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ thăm Việt Nam, kể từ năm 1971. Tướng Dempsey tuyên bố, việc Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương sẽ giúp tăng cường sức mạnh hải quân Việt Nam.
    Nhiều quan chức Mỹ cho biết, có thể đợt bán vũ khí đầu tiên bao gồm máy bay do thám P-3 Orion, qua đó giúp Việt Nam nâng cao khả năng tuần tra và bảo vệ vùng duyên hải.
    Tháng 10, Ngoại trưởng Việt Nam sẽ công du Washington và hội đàm với đồng nhiệm Hoa Kỳ John Kerry

    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

    Gs Joseph Nye, cha đẻ của học thuyết “sức mạnh mềm” nổi tiếng ngạc nhiên khi “Trung Quốc hi sinh ảnh hưởng to lớn ở khu vực vì những bãi đá hoang” ở biển Đông.

    .. Mặc dù dưới những bãi đá hoang này là nhiều nguồn lợi, như dầu khí, song cái giá Trung Quốc phải trả đắt đỏ hơn nhiều. Chính nước này đã đẩy nhiều nước trong khu vực vào vòng tay của Mỹ.
    LTS: Tuần Việt Nam xin giới thiệu nội dung trong Hội nghị Diễn đàn Toàn cầu Boston tại trường Harvard bàn về xây dựng giải pháp cho Hòa bình và An ninh ở Thái Bình Dương tổ chức ngày 17/09 vừa qua. Từ Hội nghị này, Diễn đàn Toàn cầu Boston sẽ xây dựng phác thảo Sáng kiến và tiếp tục thảo luận với các học giả, các nhà lãnh đạo chính phủ và lãnh đạo doanh nghiệp, từ đó đưa ra thảo luận tại Hội nghị vào ngày 5/11/2014 , sau đó sẽ tiếp tục hoàn thiện để chính thức công bố Sáng kiến về Nền tảng cho Hoà bình và An ninh ở Thái Bình Dương vào ngày 12/12/2014.
    Hội nghị trực tuyến xây dựng nền tảng cho Hòa bình và An ninh ở Thái Bình Dương là một hoạt động quan trọng của Diễn đàn Toàn cầu Boston, quy tụ các học giả nổi tiếng của Harvard, các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp, kết nối từ Boston tới Washington, Tokyo, Hà Nội và Bonn.
    Hội nghị do Gs Michael Dukakis, cựu ứng viên Tổng thống Mỹ, Chủ tịch Diễn đàn Toàn cầu Boston dẫn dắt. Tham dự hội nghị có ông Michael Fuchs, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ; Cha đẻ thuyết quyền lực mềm GS Joshep Nye, Cựu Thủ tướng Úc – Kevin Rudd, Cựu Đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc, Hiệu trưởng trường Luật và Quan hệ quốc tế Fletcher , Stephen Bosworth, –Cựu Đại sứ Mỹ tại Đức, Giáo sư JD Bindenagel , Cựu Đại sứ Nhật tại Mỹ Ichiro Fujisaki ....
    Sai lầm đắt giá của Bắc Kinh
    Phát biểu tại Hội nghị, Gs Joseph Nye cho rằng trên thực tế, Trung Quốc đã nhận ra rằng nếu cứ dựa vào sức mạnh cứng như quân sự, kinh tế, những thứ nước này đều có thì sẽ gây ra nguy cơ đẩy những chủ thể bị đe dọa thành lập liên minh chống lại mình. Nhưng nếu Bắc Kinh có thể kết hợp sức mạnh mềm và sức mạnh cứng để lôi cuốn các nước khác thì có thể ngăn chặn sự hình thành liên minh như trên.
    Năm 2007, tại Đại hội Đảng lần thứ 17, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nhấn mạnh rằng Trung Quốc cần phải tăng cường sức mạnh mềm. Kể từ đó, nước này đã không tiếc tiền của đầu tư vào các công cụ khuếch trương ảnh hưởng như CCTV.
    Châu Á, Thái Bình Dương, Harvard, Trung Quốc, quyền lực mềm
    GS Joshep Nye (ngoài cùng) trao đổi với Cựu Ứng viên Tổng thống Michael Dukakis. Ảnh: BGF
    Tuy nhiên, theo GS Joseph Nye, khi Bắc Kinh sử dụng sức mạnh cứng để răn đe các nước trong khu vực, như trường hợp họ sử dụng sức mạnh cưỡng bức đe dọa đẩy Philippines ra khỏi bãi cạn Scaborough, hay hành xử khiêu khích gần đây ở Biển Đông, chiến lược của Trung Quốc hoàn toàn phản tác dụng. “Trung Quốc không những không lôi cuốn được các nước khác, mà ngược lại, tinh thần phản đối Trung Quốc thậm chí còn dâng cao mạnh mẽ ở nhiều nước”.
    Như vậy, thay vì ngăn chặn sự hình thành của một liên minh do Mỹ dẫn đầu nhằm kiềm chế Trung Quốc thì sai lầm chiến lược mà Bắc Kinh phạm phải đã đẩy các nước vào vòng tay của Mỹ.
    Tìm nền tảng cho Hòa bình và An ninh Thái Bình Dương
    Trong khi đó, cựu Thủ tướng Úc, Kevin Rudd nhận định quan hệ Mỹ - Trung, trục quan hệ mang tính rường cột đối với ổn định khu vực hiện đang ở giai đoạn khó khăn nhất kể từ khi bình thường hóa quan hệ.
    Theo ông Rudd, quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington hiện nay là mối quan hệ điển hình giữa một cường quốc đang trỗi dậy và một cường quốc nguyên trạng, dẫn đến nảy sinh hai khuynh hướng: cường quốc mới nổi có những hành động chống lại cường quốc hiện tại, hay cường quốc hiện tại tìm mọi cách cản trở sự trỗi dậy của cường quốc mới nổi. Cả hai xu hướng này đều dẫn tới nguy cơ hai nước mất lòng tin chiến lược với nhau, dẫn tới kịch bản nguy hiểm và bất ổn cho cả thế giới.
    “Trung Quốc là một nền văn hóa lâu đời và đã nhiều lần trong lịch sử tìm cách trở thành cường quốc không chỉ trong khu vực mà ở phạm vi toàn cầu. Từ 10 năm nay, họ đã liên tục tuyên truyền về quyền của mình. Vấn đề là làm sao để những đòi hỏi của Trung Quốc đi kèm với những hành xử đúng mực”, cựu Thủ tướng Úc nhấn mạnh.
    Chia sẻ với quan điểm của nhà cựu lãnh đạo Úc, ông Michael Fuchs, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề đa phương cho rằng những tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc với các nước láng giềng đang ngày càng gia tăng ở mức độ phức tạp hơn, đe dọa đến hòa bình, an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
    Châu Á, Thái Bình Dương, Harvard, Trung Quốc, quyền lực mềm
    Hội nghị tại Harvard Faculty Club. Ảnh: BGF
    Vị quan chức ngoại giao Mỹ tái khẳng định chính sách can dự tích cực của Mỹ nhằm tìm kiếm và xác lập một khuôn khổ cho phép giải quyết tranh chấp trên biển Thái Bình Dương bằng các biện pháp hòa bình. Theo ông Fuchs, một yếu tố thiết yếu của khuôn khổ này là các mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ với một số nước trong khu vực. Mỹ sẽ nỗ lực củng cố các mối đồng minh này bởi đây là trụ cột cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực trong suốt mấy thập niên vừa qua.
    Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ cũng nêu bật vai trò trung tâm của các thể chế đa phương trong khu vực. Mặc dù mức độ trưởng thành về thể chế của ASEAN và các định chế trong ASEAN, APEC… chưa thể so sánh được với các tổ chức khác như Liên Minh châu Âu, song đây vẫn là nơi thích hợp nhất để bàn thảo và tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp.
    “Những cơ chế này không chỉ đơn thuần là nơi để các nhà lãnh đạo, bộ trưởng ngoại giao… bàn về những quy định mới và thương lượng với nhau, mà còn là nơi phát hiện những vấn đề hiện hữu và định hướng giải pháp cho các thách thức chính trong khu vực. Do đó, tôi cho rằng, một trong những việc đầu tiên mà Mỹ tập trung làm là xây dựng các thể chế khu vực và củng cố khả năng thực thi và duy trì luật pháp và quy tắc quốc tế; tăng cường khả năng ứng phó với khủng hoảng và những thách thức nghiêm trọng nổi lên của chúng. Đó là nhiệm vụ hàng đầu trước khi bàn đến xây dựng khuôn khổ dài hạn nhằm đảm bảo ổn định khu vực”.
    Tranh chấp Biển Đông nên được giải quyết bằng thể chế đa phương
    Liên quan đến tranh chấp Biển Đông, ông Fuchs tin rằng vấn đề này phù hợp giải quyết bằng các thể chế đa phương.
    “Đây là tình huống bao gồm nhiều bên tranh chấp với nhau, và việc theo đuổi yêu sách của một số bên đôi khi không diễn ra hòa bình, thậm chí còn rất khiêu khích và đáng quan ngại với nhau cũng như đối với khu vực và kèm theo đó là nguy cơ gây bất ổn và gia tăng căng thẳng và các sự cố có thể dẫn tới xung đột”.
    Quan chức ngoại giao Mỹ nhấn mạnh “cho dù một giải pháp có thể chưa sớm đạt được thì các thể chế đã phương này sẽ vẫn là nơi để các bên bàn bạc các vấn đề và giải pháp, bởi thực tế, không hề có một nơi gặp gỡ nàokhác cho các bên ngồi lại với nhau để bàn cách giải quyết vấn đề. Do vậy, đây là nơi chúng ta cần cố gắng trao quyền để gỡ rối thách thức”.
    Anh Minh

    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Tôi thích cách viết ngắn của đ/c này:


    Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách

    26/09/2014

    Tôi tư duy tức tôi tồn tại, và, tôi phản đối tức tôi tồn tại

    Có một cách dịch khác, là "Tôi tư tưởng, vậy là có tôi". Quả là có vị khác với cách dịch đã quen thuộc lâu nay "Tôi tư duy tức tôi tồn tại". 

    Tư duy hay tư tưởng thì đều là "suy nghĩ", phát động não bộ làm việc, ý như là cách nói quen dùng "động não". Haiku của Nhật Bản có câu: "Một tiếng ho cũng một con người". "Ho" cũng là hành động có mang ý thức. Một tiếng ho, dù bất cứ thế nào, cũng là chỉ dấu của cái tôi đang hiện hữu, tất cả được trân trọng như nhau. "Tôi ho tức tôi tồn tại".

    Bây giờ, có lẽ nên có thêm câu "Tôi phản đối tức tôi tồn tại". Phản đối là hành động bắt đầu của quá trình phản tỉnh hay tự phản tỉnh, để hướng đến vận động đổi mớixây dựng cái mới.

    Tuy nhiên, vấn đề chính là chất của "phản đối".

    Nếu là phản đối gắn với tri tính, tức là gắn với suy nghĩ/động não thực sự thì mới mong có được sự phản tỉnh.

    Còn nếu phản đối chỉ đơn thuần là hành động phá rối không kèm theo tri tính, tức không suy nghĩ/động não thực sự thì mãi chỉ là phá rối. Không có ý nghĩa hướng đến sự tự giác ngộ. 

    Kêu gọi người khác suy nghĩ nhưng bản thân mình lười suy nghĩ. Kêu gọi dân chủ nhưng hành động của mình lại hoàn toàn không có gì là dân chủ, thậm chí là phản dân chủ. Kêu gọi tôn trọng quyền con người nhưng hành động của mình là phản lại nhân văn và phản lại nhân quyền. Kêu gọi tôn trọng sự thực, nhưng bản thân mình lại không ngại điêu toa. Kêu gọi thượng tôn pháp luật, nhưng bản thân mình đang không có ý định tuân pháp luật.

    Cho nên, để phân biệt, có lẽ cần có câu nữa, là "Tôi phá rối tức tôi tồn tại".


    24/09/2014

    "anh Ba" và bà Bảy Vân, đây mới là tư liệu xác thực

    Mỗi lần bà nhắc đến phu quân, bà dùng chữ "anh Ba" rất đỗi trìu mến. Lần đầu tiên thấy được hình ảnh của , nghe giọng bà nói, và cách dùng từ trìu mến như vậy.

    Tư liệu xác thực, đã đưa lên lúc giàn khoan 981 lừ lừ tiến vào Biển Đông.


    Có thể xem lại, ở đây.
    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    VIỆN KHẢO CỔ HỌC CÔNG BỐ CÁC DI VẬT CỔ Ở TRƯỜNG SA - HOÀNG SA

    Di vật cổ ở Trường Sa, Hoàng Sa

    Trinh Nguyên

    26/09/2014 03:00

    “Từ hội thảo thông báo khảo cổ học năm nay, nhiều tư liệu về chủ quyền sẽ được công bố”, PGS-TS Nguyễn Giang Hải, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, nói.

     Di vật cổ ở Trường Sa, Hoàng Sa 1
    Đồ gốm men phát hiện ở Trường Sa Lớn và Nam Yết - Ảnh: Hữu Thiết 


    TS Lại Văn Tới, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh thành, không thể quên những ngày thực hiện chương trình nghiên cứu khảo cổ học ở Trường Sa trong mấy đợt 1993, 1994, 1995 và 1999. Ông đã đợi nhiều năm mới công bố những nghiên cứu, câu chuyện của mình ở hội thảo thông báo khảo cổ học toàn quốc vào hôm qua (25.9). Trong những lần ấy, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Bảo tàng Khánh Hòa, hải quân để khai quật khảo cổ trên các đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết và Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn, Phan Vinh, An Bang, Trường Sa Đông, Tốc Tan và Đá Tây. 

    Dấu mốc chứng minh sự quản lý của nhà nước VN

    “Kết quả khai quật đã phát hiện được các di tích, di vật thuộc thời đại đồ sắt sớm, tương đương với văn hóa Sa Huỳnh muộn - Champa sớm ở ven biển miền Trung VN. Có cả các di tích, di vật gốm sứ và đồ sành thời Lý - Trần (thế kỷ 14) đến các di vật thời Lê - Nguyễn cho tới đầu thế kỷ 20. Nó cho thấy chủ quyền lâu dài, liên tục của nước ta”, TS Lại Văn Tới cho biết.


    Dấu tích khảo cổ kết hợp với tư liệu Hán Nôm, lịch sử khẳng định sự có mặt sớm và liên tục của người Việt ở Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là dấu vết không thể chối cãi về chủ quyền của người Việt với hai quần đảo này và biển Đông

    PGS-TS Bùi Văn Liêm, Phó viện trưởng Viện Khảo cổ học

    Nhưng tại hội nghị thông báo khảo cổ học lần này, ông Tới không nói nhiều tới những kết quả đó mà chia sẻ về việc phục hồi bia chủ quyền trên quần đảo này hồi năm 1994. Khi đó, ông cùng đồng nghiệp đã phát hiện một tấm bia thời VN Cộng hòa. Bia chìm sâu xuống mặt đất, chỉ còn phần đầu nhô lên, đã bị vỡ thành nhiều mảnh. “Nếu không được sửa chữa và phục hồi thì chỉ sau thời gian ngắn, bia sẽ bị vỡ”, ông Tới nhớ lại. Việc đo vẽ, ghi chép, phục hồi được thực hiện ngay sau đó.

    “Những người lính đảo đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi quan sát, đo đạc một cái bia đã hỏng của chế độ Sài Gòn cũ. Chúng tôi vừa làm việc, vừa giải thích cho họ hiểu vì sao tấm bia đáng được tôn trọng, phục hồi. Đó chính là di tích lịch sử, là dấu mốc chứng minh sự quản lý của nhà nước VN tại quần đảo Trường Sa”, ông Tới nói.

    Cũng tại hội thảo năm nay, dù chưa công bố chính thức thành bài nghiên cứu, PGS-TS Bùi Văn Liêm, Phó viện trưởng Viện Khảo cổ học, cũng chia sẻ về đợt nghiên cứu ở Trường Sa mới nhất của mình. “Năm 2014, chúng tôi phát hiện gốm của cư dân văn hóa Sa Huỳnh ở Trường Sa Lớn. Cũng có những mảnh gốm của người Việt thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Chúng khẳng định thêm những nghiên cứu điều tra trước đó là khách quan, khoa học”, ông Liêm nói.

    "Dấu tích khảo cổ kết hợp với tư liệu Hán Nôm, lịch sử khẳng định sự có mặt sớm và liên tục của người Việt ở Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là dấu vết không thể chối cãi về chủ quyền của người Việt với hai quần đảo này và biển Đông”, ông Liêm nói. Cũng theo nhà nghiên cứu này, các nghiên cứu đang được tiếp tục hoàn thiện cùng với việc quy hoạch khảo cổ học ở Trường Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc. 

     Di vật cổ ở Trường Sa, Hoàng Sa 2
    Khai quật khảo cổ học ở đảo Trường Sa - Ảnh: Hữu Thiết

    Thuyền bọc đồng và cọc Bạch Đằng


    Năm nay, số lượng bài về khảo cổ học dưới nước nhiều hơn những năm trước. Đây cũng là năm đánh dấu việc khảo cổ học dưới nước được gọi tên chính thức tại một tiểu ban của hội thảo. PGS-TS Bùi Văn Liêm cho biết Viện Khảo cổ học dự kiến thành lập Trung tâm khảo cổ học dưới nước ở Quảng Ninh. Tại đó, sẽ có đủ điều kiện cũng như các phương tiện máy móc thay vì chỉ toàn mượn như hiện nay. Hoạt động khảo cổ học trên các vùng chủ quyền của VN với biển, hải đảo cũng đã được Viện Khảo cổ đề xuất trong dự án đầu tư phát triển khảo cổ học dưới nước trình Viện Hàn lâm khoa học xã hội VN.


    Một báo cáo khác mô tả cách thức hải quân thời Nguyễn đóng thuyền bọc đồng để bảo vệ chủ quyền biển đảo. TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, cho biết thuyền bọc đồng chính là phương tiện chiến đấu và vận tải thủy quan trọng được các vua Nguyễn quan tâm chỉ đạo sản xuất. Thủy thủ đoàn có thể từ vài chục đến hàng trăm người tùy theo kích cỡ thuyền. Cũng theo ông Công, hình ảnh này đã được thể hiện trên chiếc đỉnh quan trọng nhất của Cửu đỉnh là đỉnh Cao.

    “Đây là những chiến thuyền hiện đại nhất của VN thời bấy giờ nên thường được cử đi công tác khắp đất nước cũng như đi tuần ngoàibiển Đông, chống giặc biển... Chúng nhiều lần được cử đi công tác ở nước ngoài. Có thể kể là hai chiếc thuyền Thụy Long, Phấn Bằng đã đi đến Hạ Châu - Malaysia, thuyền Linh Phượng đã đến Giang Lưu Ba, Indonesia”, ông Công nêu trong báo cáo. Duy có điều đáng tiếc, ngoài tài liệu hiện không còn một tiêu bản thuyền đồng nào.

    Cùng trong mạch kể về chủ quyền, một cọc gỗ Bạch Đằng cũng được phát hiện ở Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Hố đào được mở sát chân đê nhằm tìm kiếm tư liệu liên quan đến các cọc gỗ được quân dân nhà Trần đóng xuống sông, khiến đoàn thuyền của quân Nguyên Mông bị đại bại trong trận chiến năm 1288. Chiếc cọc đã được tìm thấy như thế. “Thân cọc hình trụ tròn, một phần còn nhẵn bóng. Cọc được đóng vào lớp phù sa màu nâu hồng, chân chạm đến lớp cát đáy sông”, TS Lê Thị Liên, Trưởng phòng Khảo cổ học dưới nước, Viện Khảo cổ, cho biết.

    Cũng tại bãi cọc này, xương người có vết chặt cũng được tìm thấy. Các nhà nghiên cứu cho biết đây là đoạn xương cẳng tay trái người. Vết chặt cho thấy những đường xước mảnh của một lưỡi kim loại rất sắc. Đây là dấu tích xương người thứ 6 được tìm thấy tại Yên Giang. Năm phần di cốt khác đã được nghiên cứu cho thấy đều ít nhiều liên quan đến chiến trận 1288.

    Kết hợp lại, theo TS Lê Thị Liên: “Sự hiếm hoi của cọc gỗ chứng minh lần nữa về quy mô và cách đóng cọc của quân dân nhà Trần. Việc nghiên cứu chi tiết sẽ giúp diễn giải chiến lược, quá trình chuẩn bị, quy mô và diễn biến của cuộc chiến 1288”. Việc nghiên cứu của bà Liên cũng là giai đoạn đầu của đề án bảo tồn phát huy giá trị khu di tích lịch sử chiến thắng sông Bạch Đằng.

    Trinh Nguyễn

    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Một bạn trên Phiêu vừa gửi chominhf cái này, chưa rõ dụng ý gì? Với mình ai vào trang của mình cũng vậy. Dù là lốc gơ hay Phiêu bờ đến có chào hỏi hay lặng lẽ vào cửa mình cũng coi là bạn. Dù họ vào với mục đích gì cũng không sao. Là bạn thì để hiểu nhau sâu hơn, là thù thì cũng để biết rõ hơn kẻ thù đáng trân trọng hay đáng khinh bỉ? Đây là trang công khai, danh tính là thực. Mình dùng nó để tham khảo, lưu trữ bản thảo dùng cho công việc không ngoài mục đích để đọc và viết. Vậy ai vào hay ra mình nghĩ không có hại gì, dù sao cũng cảm ơn họ. Một ngôi nhà không có khách, một trang không, hoặc ít bạn đọc thì thật tệ và đáng buồn, phải không các bạn?

    Top 10 người lén vào FB của bạn ●๋• ●๋• nhiều nhất

    Icon Facebook HIHI~, Chào các bạn hôm nay mình sẽ giới thiệu các bạn cách xem 10 người LÉN LÚT vào xem trộm FB của bạn, đang NÓNG và HOT nhất hiện nay nghen . Icon Facebook


    Icon Facebook Hướng dẫn luôn nhé :)
    Hướng dẫn Đầu tiên : Các bạn Click vào đây →http://facebook.com/top10nguoiquantam  ← .

    Hướng dẫn  
    S
    au đó : Đăng Nhập vào Và Làm Theo Hướng Đẫn
      
     
    Hướng dẫn .
    Hướng dẫn Bước 3 : Quay trở lại tường nhà facebook → http://www.facebook.com ← 
    YEAH! vậy là thành công rồi đó! Bạn hãy quay lại tường nhà mình xem có ai 

    đang tiếp tục Lén Lút nữa không nào, Lén Lút nữa bắt về làm thịt luôn hihi.
    Nếu xảy ra lỗi các bạn thử lại nhé!


    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Viên thuốc nghìn đô


    Theo Spiegel Online


    Loại thuốc điều trị bệnh viêm gan C này tên là Sovaldi, nhưng ở Mỹ người ta gọi nó là “viên thuốc nghìn đô”. Giá một viên thuốc là 905 USD, hay 700 Euro. Tạp chí "Euro" đã tính, giá một gram thuốc Sovaldi đắt gấp 20 lần so với vàng.
    Thuốc mới được cấp phép lưu hành tại Mỹ hồi tháng 12 năm ngoái, ở Đức và châu Âu từ đầu năm nay, nhưng hãng Gilead đã thu lợi nhuận rất lớn: 5,8 tỷ USD chỉ trong vòng sáu tháng đầu năm. Trước khi thuốc được tung ra thị trường, các nhà phân tích dự báo doanh thu cả năm 2014 ước đạt 1,9 tỷ USD. 

    Ông Jürgen Peter, giám đốc quỹ bảo hiểm y tế AOK của Đức, cho rằng, “chi phí để sản xuất 84 viên thuốc khoảng 100 Euro, vậy mà quỹ phải thanh toán với giá gần 60.000 Euro, đây là điều không thể chấp nhận". Để điều trị thành công, bệnh nhân phải dùng thuốc liên tục ít nhất 12 tuần lễ, mỗi ngày một viên - tức 84 viên cho một đợt điều trị. 

    Với người bị bệnh viêm gan C (Hepatitis-C) thì Sovaldi đúng là một “thần dược”. Viêm gan C là bệnh mãn tính, về lâu dài sẽ dẫn đến suy gan, xơ gan hay ung thư gan. Theo kết quả nghiên cứu, với thuốc Sovaldi, tỷ lệ điều trị thành công đạt từ 80 đến 90% - trong khi phương thức điều trị như hiện nay chỉ thành công với tỷ lệ 50 đến 60%. Solvadi cũng được cho là gây ít phản ứng phụ so hơn hẳn so với các loại thuốc cùng công dụng khác. Tuy nhiên giá thuốc cao như vậy có thực sự hợp lý? Giá thuốc này đã hình thành trên cơ sở nào?

    "Cái giá này hoàn toàn không thể biện minh được," nhà bào chế đồng thời là bác sỹ Wolfgang Becker-Brüser nói. Ông bất bình về “khoản lợi nhuận khổng lồ” và cách tính giá thành của Gilead. 

    Tất nhiên ở đây cần tính cả chi phí nghiên cứu cũng như chi phí để được cấp phép lưu hành. Vấn đề là, theo ông Becker-Brüser, khoản chi phí này hoàn toàn không minh bạch. 

    Theo ước tính của ngành công nghiệp dược phẩm, chi phí để phát triển và đưa được một loại thuốc mới ra thị trường hết từ 1 đến 1,2 tỷ USD. Song bên cạnh đó cũng có những tính toán cho thấy con số này chỉ vào khoảng một phần mười con số đã nêu. 

    Người ta không biết chi phí nghiên cứu đối với Sovaldi là bao nhiêu. Chỉ biết năm 2011, Gilead đã mua Pharmasset, hãng công nghệ sinh học cỡ nhỏ đã tham gia nghiên cứu chất hữu hiệu của Sovaldi, với giá 11 tỷ USD.

    Các hãng dược phẩm thường lập luận, thuốc của phải cáng đáng chi phí cho hàng loạt dự án nghiên cứu bị thất bại. Tuy nhiên Becker-Brüser không chấp nhận lý lẽ này đối với trường hợp Sovaldi. Ông đưa ra các số liệu kinh doanh của Gilead: Kể từ năm 2007, Gilead hằng năm đều đạt lợi tức doanh thu từ 40 đến 50% - chi phí cho nghiên cứu phát triển Sovaldi cũng rơi vào thời kỳ này. "Con số về lợi nhuận của Gilead thực sự là vô đạo đức," Becker-Brüser phát biểu.

    Các quỹ bảo hiểm y tế không làm được gì nhiều vì loại thuốc mới này rõ ràng công hiệu hơn so với các loại thuốc cũ vì vậy trước mắt quỹ bảo hiểm y tế phải chấp nhận giá thuốc cực cao - điều này đã được quy định về mặt pháp lý. Hơn nữa, cũng theo luật, trong năm đầu tiên, nhà sản xuất có quyền quyết định về giá bán. 

    Theo luật thì một năm sau, khi thuốc được bán ra thị trường thì quỹ bảo hiểm y tế có thể thương lượng về giá cả với nhà sản xuất. Nhưng do thuốc có nhiều ưu thế nên nhà sản xuất nắm đằng chuôi. Trong trường hợp cực chẳng đã, nhà sản xuất sẽ rút thuốc khỏi thị trường Đức, nếu các quỹ bảo hiểm eo xèo về giá cả.

    Cuối cùng chỉ có một cách để buộc giá thuốc phải hạ, đó là thông qua các đối thủ cạnh tranh. Tập đoàn dược phẩm Janssen-Cilag hồi tháng sáu mới đây đã đưa ra thị trường thuốc Olysio cũng rất triển vọng với bệnh nhân viêm gan C. Theo dự kiến, từ giờ đến cuối năm sẽ có ít nhất một loại thuốc nữa chữa bệnh gan mãn tính được đưa ra thị trường. 

    Xuân Hoài dịch

    Phần nhận xét hiển thị trên trang