Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

BÁI BIỆT NGƯỜI TÀI HOA – NHÀ THƠ, HỌA SĨ ANH VŨ

Nhà thơ - Họa sĩ Anh Vũ
Nhà thơ – Họa sĩ Anh Vũ
Năm ngoái, tôi đi Bắc Ninh, xong việc, bỗng quyết định chạy lên Bắc Giang thăm Nhà thơ – Họa sĩ Anh Vũ. Đường sá quanh co. Vào trước cổng thấy một đống đất sét mới mua về để đắp tượng. Vườn nhà đầy tượng gốm nung màu gạch non như tượng Chăm nhưng hình hài thì vô cùng kỳ dị. Tôi thích tượng của anh, nó kỳ dị nhưng lại có nét gì đó rất đồng bằng Bắc Bộ. Vợ anh đang chăm cây, nói: Tôi là ô-sin nhà ông Anh Vũ đây. Hỏi Anh Vũ thì bà chỉ vào trong nhà. Tôi vào căn phòng tối om, gọi Anh Vũ. Từ trên giường, Anh Vũ vùng dậy bảo: Vừa uống rượu về, say quá. Nhưng anh ra “hiên khách” rót rượu mời tôi, rồi bất ngờ, anh lấy tờ giấy và bút chì vẽ tôi. Chỉ mấy nét mà thấy mình lãng tử, và họa sĩ cũng lãng tử. Chuyện trò rôm rả về chuyện viết lách, nặn tượng. Ra về, anh đưa tôi tập bản thảo văn xuôi viết về nữ sĩ Anh Thơ, và tặng thêm chiếc bàn tre hình bát giác cao hơn gang tay. Anh bảo: Cái bàn này để ở nhà sàn của Tạo, hay đấy. Tôi cám ơn vợ chồng anh, ra về với tâm trạng bâng khuâng khó tả. Gần đây, mấy lần định lên thăm anh lại không đi được. Giờ đọc trannhuong.com hay tin anh mất, hưởng thọ 72 tuổi. Một tài năng kỳ dị đã lặng lẽ ra đi. Nhưng tôi tin các tác phẩm của anh sẽ còn sống với đời này.
Xin cúi đầu bái biệt người tài hoa mà tôi hằng yêu mến, và gửi lời chia buồn sâu sắc đến chị Phụng – bà quả phụ Anh Vũ.
Bàn tre Bát giác do vợ chòng NT-HS Anh Vũ tặng NTT
Bàn tre Bát giác do vợ chồng NT-HS Anh Vũ tặng NTT
Nhà thơ, họa sỹ Anh Vũ đã từ trần hồi 15h30 ngày 3-8-2014, hưởng thọ 72 tuổi. Lễ an táng vào hồi 7h30 ngày 5-8-2014 tại nghĩa trang Tân An, Lạng Giang, Bắc Giang.
Nhà thơ Anh Vũ tên thật là Vũ Công Ứng, sinh năm 1943 tại Bắc Giang, quê: Trang Liệt- Trang Hạ – Từ Sơn, Bắc Ninh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Đã công tác qua ngành giáo dục, văn nghệ tỉnh Hà Bắc. Có thơ in báo từ năm 1966. Ngoài làm thơ còn tạc tượng, vẽ tranh, viết truyện thiếu nhi, biên khảo…
Tác phẩm chính đã xuất bản: Miền quê Quan họ (thơ in chung 1983), Quan họ ra nguồn (trường ca 1984), Lục bát bâng quơ (thơ 1990). Đôi mươi Quan họ (thơ 1986), Gốc còn (thơ. 1997) Đồng hành (thơ in chung (2002), Vệt chân chim (thơ 2003), Lòng chảo khác (trường ca 2008), Ba sáu và một (thơ-2012), Tình chợ tình (thơ-2012), Mặt trời trắng (trường ca-2012)…
(Giải thưởng cuộc thi viết về rừng của Tổng cục Lâm nghiệp – và Hội Nhà văn năm 1970. Giải ba của Bộ Quốc Phòng (2009) với trường ca Lòng chảo khác.
Một góc "Vườn Bụt" của Anh Vũ và Nguyễn Thị Phụng
Một góc “Vườn Bụt” của Anh Vũ và Nguyễn Thị Phụng
Một bài thơ của Anh Vũ:
DIỀM BÂU
Có đâu răng khểnh mà xinh thế
Núm má đồng tiền hoáy nước reo
Hội hè gấm vóc bên là lụa
Chẳng chạnh diềm bâu tủi áo nghèo
Ừ mây ngũ sắc ừ sao sa
Người ta sang đẹp với người ta
Cầu cho thiên hạ trên mình cả
Giữ phận em lo nếp vải nhà
Bền chắc nâu sồng duyên mộc mạc
Lá mạ hoa hiên để dập dờn
Ấy ai cuối bọn cười vang nhất
Chuông khánh mong gì trong trẻo hơn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

" Thôi hổng mần thơ nữa nghe ! Cậu phải đi học chính trị lại"


Bài thơ " KHÓC NGUYÊN HỒNG" ( Cho một nhà văn nằm xuống) khiến tác giả xuýt ở tù, phải theo lệnh cấp trên làm bài thơ ngược lại như sau :
MỪNG BÁC NGUYÊN HỒNG SỐNG DẬY
LỜI TÁC GIẢ : Như đã nói ở bài trên, bài thơ "Cho một nhà văn nằm xuống" đã gây nhiều hệ lụy cho tác giả; đến nỗi sau khi gọi lên gặp để phê bình, ông Võ Trần Chí - bí thư thành ủy TP.HCM đã ra lệnh cho tác giả làm bài thơ ngược lại. Sau khi tác giả đọc bài thơ ngược lại bài " Khóc Nguyên Hồng", này phải " Mừng bác Nguyên Hồng sống dậy", ông Hai Chí lặng đi một lúc bảo : " Tao thấy bài này còn kỳ hơn bài trước, cậu còn chì chiết, xỏ xiên hơn !". Tôi thưa : " Nếu bài này anh Hai không ưa, em sẽ làm bài khác !". Ông Hai hỏi : "Cậu làm bài gì ?". Tôi thưa : "Em sẽ làm bài mừng bác Nguyên Hồng không sống cũng không chết" ! Ông Hai kết luận : " Thôi hổng mần thơ nữa nghe ! Cậu phải đi học chính trị lại" ...Lưu ý là trại viết của Hội nhà văn VN mùa hè 1982 có chúng tôi và các bạn : Nhật Tuấn, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mạnh Tuấn, Đinh Thị Thu Vân, Nguyễn Nhật Ánh, Đào Hiếu, Lý Lan, Dạ Ngân, Hoàng Minh Tường..."
T.M.H.
Thơ Trần Mạnh Hảo.

- Ồ bác này đã chết
Sao còn tìm tới đây ?
Bác đi rồi đâu biết
Khóc bác thành vạ lây !
- Vì thế ta sống dậy
Mò tới thăm chú mày
Thương chú mày vụng dại
Đ ốt thơ làm ma chay !
- Trời ơi đúng bác thật
Ba trăm sáu lăm ngày
Có chén rượu mừng bác
Sống chết cùng đưa cay !
- Ta cũng mừng cho chú
Tai vạ rồi sẽ qua
Khi nghe ta cáo phó
Sao chú không cười khà ?
- Giá biết điều ấy sớm
Em nào dám làm thơ
Cuối cùng bác lại sống
Chao ôi em đến khờ !
- Ta làm sao chết nổi
Văn chương còn giở giang
Thương ta mà chú lỗi
Cứ gì một đám tang !
- Bao người bác chưa viết
Chết dạt vô Vũng Tàu
Thương thì thương vẫn ghét
Giận chi hoài nỗi đau ?
- Ô i dà bao nhiêu chuyện
Ta viết mới phần nghìn
Dẫu chú rơi xuống biển
Chớ để chìm niềm tin !
- Cám ơn bác chỉ dạy
Uống đi bác Nguyên Hồng
Còn vài xị cuốc lủi
Nhớ bác ngồi em trông !
- Hộ khẩu ta chưa có
Chớ vội mừng chú em
Năm ngoái đà cáo phó
Sao giờ còn chui lên ?
- Cái nghề ta nó lạ
Sống dậy âu lẽ thường
Xin bác đừng chột dạ
Bởi dám làm văn chương !
Sài Gòn 1983Trần Mạnh Hảo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Giới thiệu sách:

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “BÁNH XE HẠNH PHÚC”
      ( Của nhà văn Hồng Giang, nxb Hội nhà văn )

Trần Huy Vân

Tôi đọc liền một mạch tập truyện ngắn “Bánh xe hạnh Phúc” của nhà văn Hồng Giang. Bỗng nhớ đến câu nói của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa” của nhà văn Nam Cao: “Nhà văn phải khơi cái nguồn chưa ai khơi, phải sáng tạo những gì chưa có”. Đó cũng được xem như lời tuyên ngôn về văn chương của cố nhà văn Nam Cao.
Thế ra, đối với mỗi nhà văn, bạn văn chương có thể nhiều, nhưng khi đi vào cảm nhận, tìm hiểu cuộc sống, vốn rất đa dạng và phức tạp, để từ đó xây dựng nên tác phẩm văn học, bằng quan điểm nghệ thuật, ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật rất riêng. Không giống bất kỳ ai, chỉ có một mình trên con đường sáng tạo, tạo nên phong cách riêng độc đáo của nhà văn.
Cái riêng biệt, độc đáo trong sáng tạo ấy là mơ ước của bất kỳ nghệ sĩ nào. Cho dù là nhà văn hay các ngành nghệ thuật khác. Đó là việc không dễ gì đạt được cái riêng, cái độc đáo ấy!
Đọc tập truyện ngắn “Bánh xe hạnh phúc”, điều đáng mừng, tác giả đã tìm cho mình một nguồn lạch riêng, cách viết riêng, không giống ai trong số rất nhiều tác giả viết truyện ngắn hiện nay.
Với cách viết kỹ càng,chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhất, lối kể chuyện nhẩn nha, không xô bồ, gấp gáp dẫn người đọc đến tận cùng mọi ngõ ngách, thầm kín của cuộc đời,của nỗi đau, thân phận từng nhân vật khi đã đưa vào truyện. Khiến nhân vật, cảnh đời hiện ra rõ mồn một: “Nó là góc chết. Không hiểu sao nàng lại ngồi đó một mình, xoay mặt vào trong, một chân ghếch lên chiếc ghế bỏ không bên cạnh? Hình như nàng không muốn ai nhìn thấy mình, hoặc nàng không muốn nhìn thấy ai? Đôi lông mày thanh tú trên cặp mắt đen thỉnh thoảng nhíu nhẹ, không ra vẻ là đang vui hay đang buồn.
Nàng thoa nhẹ chút son môi.da mặt để mộc gần như không đánh phấn. Mái tóc dày cắt ngắn theo mốt hiện đại tuổi teen thời bây giờ. Khó có thể đoán tuổi của nàng, cũng như khó đoán nàng đang nghĩ, hay không nghĩ gì?” ( Truyện ngắn Nhân duyên khó định” )

Hay: “ Con công được nướng trên than củi, để nguyên cả con…Bây giờ nó đen xạm lại, đôi cánh và đôi chân co qắp. Cái cổ nó nghẹo sang một bên, hai con mắt lồi ra đen xì. Dáng hình còn xấu hơn cả con gà quay khi bày lên đĩa” ( Lên Khuổi Đào ).

Từ cuốn tiểu thuyết “Thăm Thẳm đường về “, đến tập truyện ngắn “Bánh xe hạnh phúc” cách viết của anh đều kỹ càng, cẩn trọng đến như thế.
Phải là người có vốn sống, óc quan sát tinh tế, vốn từ ngữ phong phú và tình yêu nồng cháy đối với con người, cảnh vật mới viết được như vậy.
Thống nhất trọn vẹn trong cách thể hiện, nếu không làm chủ được cảm xúc, suy nghĩ không thể đưa người đọc đến tận ngọn nguồn lạch sông được. Cái khó của cách viết này là dễ tản mạn, chệch đích tác giả chọn từ đầu, dẫn đến nhàm chán.

Người ta nói, muốn hiểu nhà văn, tốt nhất hãy đọc văn người ấy. Ngoài đời Hồng Giang sống rất bộc trực, thẳng thắn, pha chút xô bồ nữa. Đọc văn của Hồng Giang tôi cứ có cảm giác như gặp một con người khác vậy. Chín chắn, từng trải và một nỗi đau đời, thương xót những con người bất hạnh. Tất cả nhân vật trong tập truyện đều là những con người lao động, trong xóm nghèo, ở bến sồng, chốn thị thành, trong hẻm núi..Tất cả đều vật vã trong cuộc mưu sinh, đều bằng đôi bàn tay lao động để vươn lên trong cuộc sống, hướng tới điều tốt lành. Nhất là trong bối cảnh đời sống xã hội hiện nay.
Thời kỳ cơ hàn đói khát, củi quế gạo châu khó khăn ít nhiều đã qua. Người ta bắt đầu đã nghĩ đến làm giàu, xây nhà, mua sắm tiện nghi, muốn vươn tới nơi đô hội. Ngay cả đến nông thôn cũng muốn lên phố, không chịu sống cảnh nhà tranh vách đất cổ xưa. Nhiều người muốn từ bỏ kiếp chân lấm, tay bùn, cày cuốc, đến mảnh đất khác cho dễ kiếm ăn hơn, cho dù phải đánh cược với cuộc đời. Cho dù phải trả giá. Truyện ngắn “Trở lại bến sông” là một trong những truyện ngắn hay, viết về một số phận như vậy.
Cũng giống như rất nhiều người vùng xuôi, Thá từ giã mảnh đất ven sông Cía, năm nào cũng lũ lụt, lên miền núi ở mảnh đất: “ Xưa là bãi chiến trường, um tùm lau sậy. Được cái đất đen như bã chè, bước qua còn in lại dấu chân”. Đất rộng tha hồ khai phá, lại tốt. Con người chăm chỉ, chả mấy gia đình Thứ ăn nên làm ra. Xây nhà ngói, trâu bò hàng chục con.. Thứ trở thành con nhà giàu, đẹp trai, môi hồng như môi con gái. Tuổi hai mươi của Thứ “đẹp như một giấc mơ”. Thứ lấy vợ. Vợ gã tên là Loan, một cô gái xinh xẻo, gia đình cũng vào loại khá.trong vùng.” Hạnh phúc trong tầm tay chỉ còn mỗi việc vun vén cho hạnh phúc đong đầy mãi lên. Được đôi bên gia đình góp lại, vợ chồng Thứ ăn lên như diều gặp gió, mua thuyền máy chở khách đầu tiên trong vùng. Đồng tiền kiếm dễ, việc nhà nông lơi dần “.
Phải chăng quy luật khắt khe của kinh tế thị trường, con người không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đã có, muốn vươn tới những gì cao hơn, đẹp hơn? Luôn nghĩ tới điều theo chiều thuận buồm xuôi gió! Vợ chồng Thứ nghĩ: “ Chúng con tính kỹ cả rồi.Khối người ra tỉnh làm ăn bốc lắm. Các cụ xưa chả nói “Phi thương bất phú” là gì? Cứ chân lấm tay bùn mãi, bao giờ mới ngoi lên được?”. Hai vợ chồng bán nhà ra phố, mơ cuộc giàu sang.
Thế rồi “một đêm tháng sáu nước ngập mênh mông” Gã đưa thuyền ra cứu một cô gái, đang trôi theo mảng nứa ở giữa dòng nước xiết. Gã định đưacô gái về nhà. Nhưng nhà khóa cửa, không biết vợ con đi đâu. Đành để cô gái ngủ lại trên thuyền. Việc làm nghĩa cử ấy lại mang vạ cho gã. Vợ gã thấy hai người thiếp đi trong thuyền, nghi gã không còn chung thủy với mình nữa, chu chéo lên. Giận quá mất khôn, gã tát vợ một cái. Vợ gã đem con về bên ngoại, rồi bỏ đi theo một tay lái xe chạy đường dài..
Gia đình Thứ tan nát, một kết cục Thứ chưa bao giờ nghĩ đến!
Cuộc sống có quy luật riêng của nó. Con người rơi vào cảnh ngộ nào phải chịu cảnh ngộ đó. “ Thứ ống luôn trên thuyền, cơm ăn ở chọ bữa thất bữa thường, đôi mắt gã sâu hoắm, quầng thâm, râu ria lởm chởm. Gã mượn rượu giải khuây, càng say lại càng buồn”
Lại một đêm mưa gió.
Một cô gái bất hạnh, còn trẻ len vào thuyền của gã.
Hai con người bất hạnh gá thác vào nhau, cùng mong cuộc gặp gỡ như trời định này, đời sẽ khá lên chăng?!
Thế rồi tai họa khác ập đến, một chuyến chở hàng thuyền bị đắm, cô gái bỏ đi. Thứ chỉ còn hai bàn tay trắng, bán những gì còn sót lại, lên bờ chạy xe ôm. Để rồi một cuốc xe, Thứ bị khách đi xe đập đầu, cướp mất xe!
Vợ gã cũng bị tay chạy xe đường dài lừa hết vốn, đến viện đón gã về, đoàn tụ “Trở lại bến sông”!

Truyện ngắn của Hồng Giang các tình tiết, hoàn cảnh truyện cứ đan xen vào nhau, để nhân vật tự bộc lộ tính cách của mình, hình thành câu chuyện.
Mười lăm truyện ngắn là những cảnh đời, những con người bé nhỏ, ở ngay cuộc sống đang bộn bề, kề cận quanh ta.Gần như anh không để tâm đến chuyện đao to búa lớn, không có mấy quan chức, các vị mũ cao áo dài, cứ như để dành riêng cho những người nghèo, người thua thiệt vậy!
Mà truyện về những con người bất hạnh đã là vô cùng vô tận rồi. Có điều khai thác thế nào, viết như thế nào để đến được lòng người? Để rồi người đọc đồng cảm với số phận bất hạnh ấy, đồng cảm với tác giả, thật khó lắm thay!
Hồng Giang đã làm được việc ấy trong tập truyện ngắn “Bánh xe hạnh phúc”.
Người ta gọi truyện ngắn là “Đoản thiên tiểu thuyết”, hay là “lát cắt của số phận người”. Một cuốn tiểu thuyết ngắn. Truyện ngắn của anh có nhiều truyện như là cuốn tiểu thuyết ngắn vậy. Đi hết cuộc đời của nhân vật, với những số phận éo le, nỗi bất hạnh khác nhau. Như truyện “Anh Cu Đạu” chẳng hạn..
Một tập truyện ngắn đọc xong, gấp sách lại vẫn để lại bao nỗi bâng khuâng, trăn trở trong lòng người đọc. Theo tôi như thế, tác giả đã thành công.


Trần Huy Vân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một người tử tế, một nhà thơ đã vĩnh viễn ra đi!


Nhà thơ Anh Vũ: Đã sống ngại gì bơ vơ
25/04/2013

Nhà thơ  Anh Vũ đang kể về 
tập phê bình mới hoàn thành của mình

Khi chưa biết nhà, chẳng nghĩ nhà ông lại ở tận cái làng thuần nông, chỉ thích hợp cho bà con làm ruộng hơn là nghệ sĩ. Vậy mà nhà ông lại ở ngay cạnh cánh đồng. Nhưng mới chỉ đến cổng thôi đã thấy sự khác biệt với một vài hình thù tượng điêu khắc. Bước vào trong là cả một vườn tượng, chum vại, đất nung đỏ chói với nhiều hình thù lạ và đẹp mắt xen lẫn những cây hoa, cây cảnh tạo nên một không gian sống động, có hồn và gần gũi. Chả thế mà ông gọi đây là vườn bụt. Mới gặp ông đã thấy ngay chất nghệ sĩ. Không phải bởi mái tóc dài ngang vai mà ở phong thái ung dung, giản dị và hiếu khách. Tuy đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hi nhưng ông vẫn nhanh nhẹn hoạt bát lắm.  

Khi đề nghị ông kể về cuộc đời và sự nghiệp thì ông chỉ nói "đại khái”, đại khái thế này, đại khái thế kia. Có khi phải hỏi đến mấy lần ông mới trả lời được hết ý. Hỏi ông bắt đầu làm thơ, nặn tượng khi nào, ông cũng chỉ nói đại khái khoảng năm này năm nọ chứ cũng chả nhớ rõ là năm nào. Đại khái là những thứ đang làm như làm thơ, nặn tượng hay khảo cứu, sưu tầm đồ cổ ông cũng chả học qua trường lớp nào cả. 

Là thầy giáo nhưng có lẽ vì cái khí chất nghệ sĩ ngang tàng nên dù đang dạy rất tốt ở trường giáo dưỡng, đến năm 1972 ông quyết định sang Ty văn hóa Hà Bắc (cũ) dù có bị cắt sổ gạo. Chính ông là một trong những người thành lập Hội văn học nghệ thuật Hà Bắc, nay là Hội VHNT Bắc Giang. Nhưng được vài năm ông lại chuyển sang làm ở bảo tàng tỉnh bởi ông không thích sự nhàm chán, một phần cũng không thích những đấu đá ganh đua. Làm ở bảo tàng, Anh Vũ được tiếp xúc nhiều với các hình tượng điêu khắc dân gian, từ các hình điêu khắc tĩnh như ở điêu khắc đá hay động như ở điêu khắc gỗ đến các con nghê, con hạc, con rùa… ở các đình chùa. 

Thế rồi niềm say mê với điêu khắc tượng, đất nung ngấm vào ông lúc nào không hay. Ông cũng có cái may là có người bạn thân là nhà điêu khắc Lê Liên, rồi quen biết với cả hai nhà điêu khắc Lê Công Thành, Nguyễn Hải nên ông cũng học tập được nhiều. Rồi ông cứ say mê miệt mài làm tượng, nặn đất. Cứ làm để đấy, chả bán chác hay triển lãm gì, ai biết, ai thích thì mua, không thì ông biếu. Số lượng ngày một nhiều lên, ông trưng bày khắp vườn nhà, từ cổng đến các kệ và cả trên các bờ tường rào. Ông tự nhận mình cũng chẳng tài cán gì nên cứ lấy công bù tài. Điêu khắc hiền lành, thô mộc thôi, làm ở tấm lòng và sự chân tình. Chính vì vậy mà các tác phẩm của ông trông rất có hồn. Nhất là tượng chân dung các văn nghệ sĩ, ông làm theo trí nhớ tưởng tượng, không có thì qua ảnh và lời kể nhưng quan trọng hơn là bằng tấm lòng, tình cảm của ông. Vào vườn bụt của ông thấy rất nhiều tượng các văn nghệ sĩ, chẳng hạn như tượng nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Nguyễn Bính, nữ sĩ Anh Thơ, nhà văn Kim Lân, nhạc sĩ Đỗ Nhuận… tất cả đều xuất phát từ tình cảm. Như vừa rồi tượng nhà văn Nguyên Hồng i lắm. Chỉ thế thôi cũng là phần thưởng, niềm tự hào của gã nghệ sĩ đa tài này rồi. 

Tác phẩm điêu khắc chân dung tự họa mang tên "Tự Cười”

Một kỉ niệm nữa làm ông rất nhớ và tự hào. Đó là khi tỉnh Bắc Giang phát động cuộc thi làm tượng Đề Thám, ông tham gia, người ta không tin là ông biết làm tượng. Ấy vậy mà khi hoàn thành năm 1985, người con gái của Hoàng Hoa Thám là Hoàng Thị Thế từ Mĩ trở về ngồi ôm chân tượng vừa khóc vừa nói: "Đây mới là bố tôi!”. Hiện tượng Đề Thám được đặt tại khu tưởng niệm Hoàng Hoa Thám ở Cầu Gồ - Yên Thế. Cho đến nay, ở Bắc Giang có 8 tượng đài thì ông chiếm đến 3. Đó là tượng Đề Thám, tượng nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu, nhà sử học Ngô Sĩ Liên. Ông nặn nhiều tượng đất nung từ các nhân vật trong các tác phẩm văn học như Chí Phèo – Thị Nở, Lão Hạc, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, cụ cố Hồng… đến các nhân vật dân gian như chú Tễu, chú Phỗng và hàng loạt các tác phẩm, hình tượng ông sáng tác. Kể cả bản thân, ông cũng tự nặn cho mình một bức Tự Cười bằng đất nung đỏ au để lộ hàm răng sứt một cái trông rất ngộ nghĩnh. 

Ông bảo các tác phẩm của mình là phi tỉ lệ, tức là không có tỉ lệ nào cả vì ông không được học qua trường lớp bài bản mà chủ yếu qua cảm nhận, tưởng tượng. Đặc biệt ông chỉ mê mỗi loại gốm mộc đất nung thô thô này thôi. Chứ ông không thích loại men sành cầu kì. Sinh ra từ làng quê Sặt nổi tiếng thuộc Từ Sơn – Bắc Ninh, rồi lại định cư ở nơi thuần nông Tân Mới này nên dường như cái chất giản dị, thô mộc, chân tình của người nông dân ngấm vào ông và từng tác phẩm của ông.

Sẽ là thiếu sót nếu như không nói đến một nửa còn lại của ông. Đó chính là người vợ, người bạn đời tri kỉ. Bà là Nguyễn Thị Phụng, người con gái thành Nam xinh đẹp có tài vẽ tranh, làm thơ. Quen nhau từ hồi học trung cấp mĩ thuật sư phạm, sau khi ra trường hai người làm đám cưới và cùng nhau xây lên một gia đình nghệ thuật hạnh phúc dù phải trải qua bao khó khăn, chiến tranh loạn lạc. Bà luôn là hậu phương vững chắc cho ông tự do sáng tác. Cả 6 con đều đã trưởng thành, hai người con trai theo nghề điêu khắc của ông, cô con gái Vũ Thị Thư chắc hưởng gen của mẹ nên nổi tiếng từ khi còn nhỏ, đã vẽ khoảng 5.000 bức tranh. Hiện chỉ có hai vợ chồng ở ngôi nhà thơ mộng này nên bà phục vụ ông là chính, có thời gian thì sáng tác, vẽ tranh.  

Ngồi dưới hiên nhà nhìn ra vườn bụt, Anh Vũ vừa tiếp rượu vừa chuyện trò về thơ ca nghệ thuật đến cả buổi. Đến nhà ông, không chỉ ấn tượng về vườn tượng, về thú làm nghệ thuật hay thú sưu tầm đồ cổ, mà còn ấn tượng cả thú uống một loại rượu chân quê của ông. Có lẽ mải say mê với những thú ấy mà Anh Vũ "không nhớ mình đang sống, chỉ nhớ, mình đang yêu”. Và nhiều khi trong chuếnh choáng ông lại "không nhớ mình là ai, chỉ biết mình đang Người”. Thì cũng có sao, bởi với ông: "đã sống, ngại gì bơ vơ. Cốt nhất đừng thành vô cảm”. (Những câu thơ trong tập thơ của ông mới xuất bản 10/2012).
Trần Đức Hiển

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhớ, thương tiếc nhà thơ, họa sĩ Anh Vũ:



Tin này đột ngột quá, mình không tin là Anh Vũ đã ra đi. Mình biết A Vũ đã lâu, cuối năm ngoái còn gặp lão lần cuối ở nhà ST. Lão tặng mình bản thảo tập thơ chưa in và bức phác họa chân dung, nói là không còn sách in để tặng. Lại nhớ năm kia,năm kìa về Trang Liệt cùng VTT, hôm đó là ngày giỗ thân phụ A Vũ. Không hiểu sao, VTT đổi ý, bảo mình ở nhà cũ của gia đình lão ở Trang Liệt, chỉ hai vợ chồng lão sang dự. Mình cứ băn khoăn mãi chuyện này mà chưa hỏi vì sao? Lão ngại xã giao nghi lễ rườm rà hay ngại điều gì? Hôm ở nhà sáng tác lại quên không hỏi A Vũ. Giờ thì lão đã đi xa rồi. Có lẽ đây sẽ là ẩn số mãi mãi không có lời giải. Sinh tử là điều không ai thoát khỏi.Mới biết mọi điều chỉ phù du vớ vẩn, chả có gì đáng quan trọng cả. QĐ nghĩ như vậy rất phải. Một lần ở ĐL Đ có nói với mình về quan hệ hai bên không còn thắm thiết, thậm chí chẳng buồn nhìn nhau nữa. Khi ấy mình nghĩ cũng lẽ thường, văn nghệ văn gừng sống gần nhau rất khó vì anh nào cũng có cá tính mạnh cả, khó hòa tan, đồng thuận với nhau. Hôm nay đọc những dòng này mình rất xúc động. Con người ta ở cuối con đường sinh tử nên buông bỏ tất cả, chả nên giữ những ấn tượng nặng nề về nhau. Huống hồ xích mích với nhau trong sinh hoạt không mấy người không mắc. Rất tiếc biết tin muộn, xin chia buồn với gia đình nhà thơ, họa sĩ Anh Vũ và các bạn BG. Cầu chúc cho Anh Vũ thanh thản, nếu có kiếp sau hẹn gặp lại!


ANH VŨ LÀ THÀY TÔI.   ( Bài của Quang Đại trên facebook )
Vâng! Anh Vũ là thày tôi. Về bằng cấp và gì gì… tôi không nói. Nhưng thực sự con người “lập dị số 1” ấy là thày tôi trong sáng tác mỹ thuật và văn học. Nhất là thơ, ông là người đã“bơm” vào tôi cảm súc.
Hôm nay Anh Vũ ra đi về cõi vĩnh hằng tôi muốn viết đôi dòng về ông.
Cách đây chừng dăm bảy năm, Tôi và Anh Vũ thân nhau hết mực. Với chiếc xe cúp 81 đời 87, tôi tha Anh vũ đi khắp chốn cùng nơi. Mỗi tuần có đến dăm bảy cuộc ngao du đi thăm thú hết chỗ nọ chỗ kia.Hầu như không biết mỏi.
Những cuộc đi đại loại là thế này: Có hôm Anh Vũ bảo: "Thịt chó Cẩm Giàng ngon lắm xuống ăn đi!" Thế là giữa trưa, hai anh em phi xe từ Bắc Giang xuống Cẩm Giàng. Xuống đó mới chứng minh được: hiện nay thịt chó dưới đó (Cẩm Giàng) còn dở hơn Bắc Giang nhiều.
Tôi còn đưa Anh Vũ đi các triển lãm Mỹ thuật và lang bang khắp nơi.
Có những chuyến đi gặp vô số dị nhân mà có lẽ chỉ Anh Vũ mới có thể mò ra. Như ông nhà thơ có cái tên Ngọc Ly, nghe như tên con gái nhưng người ại méo mó, vẹo vọ, hom hem đến quái đản… chuyên hút thuốc lào vặt và uống rượu cả ngày không chán...
Ngọc Ly làm nghề đạp xích lô.
Rồi có một lão tên là Tạ dở người đến khó tưởng. Lão tạ bảnh bao, khác hẳn cung cách của Anh Vũ và Ngọc Ly. Thế nhưng, cái sự dở hơi, cám hấp thì có lẽ ít ai bì. Nhà lão ở Việt Yên, Quê của Trần Ninh Hồ. Rất yêu nghệ thuật và chỉ thích nghệ thuật của mình. Lão Tạ nặn tượng, vẽ tranh treo nhan nhản khắp trong nhà, ngoài vườn. Tuy nhiên đó là thứ tượng, tranh không theo bất kỳ trường phái hay cách vẽ nào. Với tôi thì nó chẳng đâu vào đâu. Chẳng hạn Tạ vẽ bức tranh cô gái: mái tóc tô bằng chì than, má môi bôi sơn dầu, quần áo lại phết bột màu. Thế đấy, một bức tranh của một người say mê họa mà chẳng có tí kiến thức hội họa nào hết. Lão Tạ bảo: tao có thừa năng khiếu nhưng không thèm học.Bảo tranh lão thế nọ, thế kia thì lão bảo:Kệ tao.
Lão Tạ ngày cũng bắt rắt nhiều ốc sên để vào ruột những bức tượng của lão để ăn dần. Mà mọi người có biết lão tạ nặn tượng ai không? Đó là Nguyên Hồng, Mấy bà nghệ sĩ nhân dân…
Những bức tượng này rỗng nên lão làm chỗ chứa ốc sên.
Khi đi đâu lão Tạ không hề đóng cửa nhà mà nói toáng lên: “Tạ này đi chơi đây! Nhà có mỗi cái đài để ở trên đầu tượng Lê Dung, đừng ai lấy nhé!”. Và lão đi cả ngày hay mấy ngày lên nhà Anh Vũ xây hộ cái nọ, cái kia để được uống rượu với Anh Vũ.
Chuyên lão Tạ thì có cả vạn chuyện.
Có hôm Anh Vũ đưa tôi vào một ông có thề nói là cái kho “Kiều” ở thành phố Bắc Ninh( Ngày ấy là thị xã).
Cũng lần đó , Anh Vũ đưa tôi vào một ông mà tôi không nhớ tên là gì nhà ở giữa thị xã Bắc Ninh mà nhà nền đất sỏi, tường trình. Tất cả đều nứt nẻ, sụt lún và hầu như không có cửa sổ, tối thui. Ông ta tiếp khách văn chương trong tối tăm với cả hàng ngàn cuốn sách mà cuốn nào cũng bị chuột gặm…
Bạn bè Anh vũ là như vậy. Đa số toàn dị nhân. Thượng vàng hạ cám.
Anh Vũ cũng là một dị nhân. Ông cả đời không tắm, không nằm màn, không dùng đồ điện. Chỉ đèn điện thì hình như Anh vũ có dùng. Còn mọi thứ đồ điện khác thì không. Ai mà đem cho Anh Vũ quạt điện thì ông cũng chỉ vứt xó. Xà phòng là thứ xa lạ với Anh vũ…
Chỉ nói vậy bà con cũng hiểu ông ấy thế nào.
Tuy nhiên. Anh Vũ rất nhạy cảm với nghệ thuật. Ông là người có công lớn trong việc dắt díu đệ tử văn chương, nghệ thuật vào nghề khá mát tay và nhiệt tình.
Anh vũ bảo tôi: Làm văn chương phải có tiểu thuyết. Ông nói văn tôi có chất tiểu thuyết.
- Mày viết tiểu thuyết đi! Tao cũng sẽ viết. Thi xem thằng nà viết được tiểu thuyết trước nhé!
Cuộc “thi” mới vào đoạn đầu thì tôi và ông giận nhau. Tôi đã viết được mấy cuốn nhưng chưa xuất bản. Chẳng biết ông thì thế nào? Bạn bè, anh em giận nhau thì là chuyện thường nhưng tôi là kẻ cố chấp nên giận ông mãi.
Có lúc ông đã xuống thang bảo: “ Mày đừng giận mà khổ tao”.
Thế mà tôi vẫn lên mặt giận mãi.
Trong thâm tâm tôi đã có dự định làm lành với ông…
Nhưng không kịp nữa rồi…
Hôm nay ông chết, tôi đến nhà ông đẻ thăm viếng khi còn chưa niệm.
Tôi đã nhìn thấy chân thi hài ông. Ông sẽ tự đi về thế giới bên kia với tài năng và đôi chân này của ông đây.
Cúi xin Anh Vũ tha tội cho tôi vì tôi đã giận ông cho đến trước khi ông chết. Chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Hãy chớ giận nhau để rồi có lúc muốn làm lành không được....
Đời người như bóng câu qua cửa. Hãy sống yêu thương. Chớ có giận nhau mà ân hận không nguôi.
Anh Vũ luôn là thày tôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những ông chủ Trung Nam Hải (Phần I)

Ôi ! Ta sinh vào thế kỷ mà tội ác đế quốc lõa lồ không che dấu

Tội ác như con đĩ trần truồng đem của báu
Ra khoe
Ông chủ mới họ Tập của Trung Nam Hải đang có những hành động làm cho cả thế giới lo âu nhiều hơn là hy vọng. Là con trai của cựu Phó thủ tướng nước CHND Trung Hoa Tập Trọng Huân, ông thuộc tầng lớp “thái tử” của đảng. Ông ta đã trải qua nhiều chức vụ từ cấp huyện, cấp tỉnh rồi Bí thư Thượng Hải. Cho đến tháng 3.2013, Tập chính thức đảm nhận ba chức vụ đứng đầu TQ: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông ta thuộc thế hệ lãnh đạo thứ năm của TQ. Câu nói nổi tiếng của Tập: “Trong máu người TQ không có gen xâm lược” càng cho chúng ta thấy sự khác nhau rất xa giữa lời nói và việc làm của TQ.
Lịch sử những ông chủ Trung Nam Hải, trong một giai đoạn nào đó, gắn liền với lịch sử TQ. Trung Nam Hải – trung tâm quyền lực số 1 của TQ đã nổi tiếng khắp thế giới từ xưa đến nay. Hơn tám trăm năm qua, Trung Nam Hải đã gieo rắc không biết bao nhiêu là nỗi sợ hãi cho dân chúng TQ và không ít khi, nó vượt ra ngoài phạm vi TQ. Lọt vào Trung Nam Hải, có nghĩa là lên đến tột đỉnh vinh quang – “lên voi”, song cũng có thể “xuống chó” trong nháy mắt. Đó là một điểm rất đặc biệt của Trung Nam Hải.
Trung Nam Hải được khởi dựng từ đời nhà Liêu, nơi đây từng là một khu đầm tự nhiên đẹp đẽ, thơ mộng với những rừng cây rậm rạp và đồng cỏ xanh bát ngát. Nhà Liêu suy, lại đến thời nhà Kim, rồi Hốt Tất Liệt…Thời kỳ đầu chế độ dân quốc, phủ Tổng thống Viên Thế Khải cũng đặt ở Trung Nam Hải. Cứ thế, Trung Nam Hải hết đón chủ nhân này lại đến chủ nhân khác.
Ông chủ đầu tiên của Trung Nam Hải trong lịch sử hiện đại TQ tất nhiên là Mao Trạch Đông.
Một ngày đầu năm 1949, Mao vừa ngồi hút thuốc vừa trao đổi với Vương Gia Tường:
- Tôi muốn nghe ý kiến của anh xem Chính phủ của chúng ta nên đặt thủ đô ở đâu? Các triều đại Hoàng đế nếu không đặt kinh đô ở Tây An thì cũng phải là Khai Phong, hay Thạch Đầu Thành, Nam Kinh hoặc Bắc Bình. Còn thủ đô của chúng ta đặt ở đâu là thích hợp nhất?
Vương Gia Tường:
- Hay là đặt ở Bắc Bình?
- Vậy anh có thể nói lý do tại sao?
- Tôi thấy Bắc Bình gần Liên Xô, Mông Cổ, không lo có chiến tranh. Nam Kinh tuy gần với Hồng Kông, Mao Cao, Đài Loan nhưng địa thế hiểm yếu. Còn Tây An thì hơi xa về miền Tây. Cho nên tôi thấy Bắc Bình là phù hợp nhất.
- Phải lắm, phải lắm. Mao cười và không ngớt gật đầu.
Thế là, tháng 9.1949, Bắc Bình được đổi thành Bắc Kinh – thủ đô của TQ. Và Trung Nam Hải chính là “thủ đô của thủ đô” TQ.
Trung Nam Hải nằm ở vị trí trung tâm của Bắc Kinh, phía Tây thành Thiên An Môn. Đây là nơi làm việc của Ban Chấp hành Trung ương ĐCS TQ, Quốc vụ viện, Quân ủy Trung ương – những cơ quan tối quan trọng của chế độ.
Có người nói, Trung Nam Hải chỉ có mấy cái hồ nước, sao lại gọi là “hải”? Phải chăng điều đó cho thấy tư duy về biển của người TQ rất hạn hẹp, hình như chỉ mới thấy nước thôi mà họ đã tưởng là biển? Cho đến khi, vai trò của biển đã nổi lên hàng đầu, người TQ mới hốt hoảng giật mình và vội vàng tiến ra biển, tranh cướp biển của láng giềng với thái độ hung hăng, làm cả thế giới rất căm phẫn, tuy nhiều nước giữ thái độ im lặng.
Trở lại với ông chủ đầu tiên của Trung Nam Hải trong lịch sử hiện đại TQ. Ngày 31.1.1949, Mao dẫn đầu cơ quan thống soái Trung ương rầm rầm tiến vào Bắc Kinh. Chu Ân Lai, sau khi vào thành, xem xét tất cả các nhà ở, cảm thấy Cúc hương thư ốc trong Trung Nam Hải tốt hơn cả nên mời Mao về ở, còn mình thì chuyển về Tây Hoa Sảnh.
Năm ấy, Mao 56 tuổi. Người con nông dân sinh ra ở Thiều Sơn, Hồ Nam, nếu vẫn sống ở quê hương thì vào tuổi ấy, chắc đã có con cháu đề huề, song giờ đây Mao đã là ông chủ của một đất nước đông dân nhất thế giới. Hãy chờ xem những việc làm “kinh thiên động địa” của ông chủ mới Trung Nam Hải.
Mao cao hơn một mét tám, thân dài, bàn tay dài, cánh tay dài, chân dài, ngay cả lông mi cũng dày, đúng là tướng mạo đế vương. Khuôn mặt thâm trầm, mái tóc đen rẽ giữa, đôi bàn tay thon thon, hai vành tai to, nốt ruồi đen dưới cằm nổi rõ lên trên khuôn mặt phương phi, nhẵn bóng. Đó là một người TQ điển hình – nhận xét của một người nước ngoài về Mao. Tuy vậy, ta không khỏi bật cười về hai câu thơ tả bề ngoài Mao của NCT: “Bác Mao cân nặng tạ hai. Thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm”.
Trong khu Phong Trạch Viên – Trung Nam Hải, ngoài Mao ra, còn có Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài, Dương Thượng Côn, Lục Định Nhất, Hồ Kiều Mộc…Dường như thời gian đầu lập nước, ông chủ Trung Nam Hải muốn sống gần các chiến hữu cùng vào sinh ra tử ngày nào.
Nhưng, rất nhanh, “Giảo thổ tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàng; địch quốc phá, mưu thần vong” (“Thỏ khôn chết, chó săn bị mổ thịt; chim bay cao chết, cung tên vứt bỏ; nước địch phá xong, mưu thần bị giết”). TQ là thế đó !
Sau mười năm kể từ ngày lập nước, “dốc hết lòng hăng hái, phấn đấu vươn lên hàng đầu, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, cục diện TQ biến đổi khôn lường, những mâu thuẫn nội bộ không ngừng phát sinh. Bên trong Trung Nam Hải lại càng nổi lên nhiều phong ba, bất đồng về quan điểm chính trị đã tạo nên những sự chia rẽ nghiêm trọng giữa các nhà lãnh đạo thế hệ đầu tiên của TQ.
Những ngày đồng cam cộng khổ đã qua, nhường chỗ cho sự tranh chấp quyền lực. Các chiến hữu gần gũi Mao như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức… càng ngày càng khó nắm bắt ý đồ của Mao, phải thận trọng, giữ gìn từng li từng tí một. Vậy mà cũng không thoát khỏi những cái bẫy mà Mao giăng ra.
Đầu tiên, phải nói đến nguyên soái Bành Đức Hoài. Bành sống tại Vĩnh Phúc Đường trong Trung Nam Hải hơn mười năm, khi từ chiến trường Triều Tiên trở về. Bấy giờ, căn nhà này vừa cũ vừa dột nát, phải sữa chữa nhiều mới ở được, song Bành không cho làm. Bành nói với nhân viên công tác, hãy để ý đến ngôi nhà lớn quốc gia, còn ngôi nhà nhỏ của tôi thế này là được rồi. Có lúc, nhân viên công tác thấy chật chội quá, muốn làm thêm một gian nhỏ, ông đã đồng ý, song Bành lại phát hiện ra là nếu làm tại vị trí đấy, sẽ cản đường đi dạo hàng ngày của Tổng tư lệnh Chu Đức, bèn cho ngừng lại.
Các “phát minh” của Mao về “ba ngọn cờ hồng” (đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân) cho đến năm 1958, đã làm chết đói 37,55 triệu người dân TQ vô tội. Đói quá, không còn cách gì nữa, người ta quay ra ăn thịt người, đặc biệt là trẻ con. Thật không thể tưởng tưởng nổi điều khủng khiếp đó – ngay trong thế giới văn minh những năm giữa thế kỷ hai mươi.
Lê Mai

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỗi Nhà Văn Có Con Đường Đi Tới Chữ Của Mình

(….) Lê Đạt nói anh là phu chữ chỉ để nhấn mạnh việc khổ công tìm chữ mà thôi. Anh còn một câu nói rất hay về chữ: Chữ(1) bầu lên nhà thơ. Đọc anh tôi cũng muốn viết đôi dòng về chữ.

Mỗi nhà văn có con đường đi tới chữ của mình, có thế giới chữ của mình. Chữ đến với tôi từ mặt biển giữa trưa nắng, bốn chung quanh bầu trời cong chụp xuống. Những con sóng bạc đầu, trên mỗi ngọn sóng lại xòe ra những chùm nước nhỏ, tất cả lưu giữ ánh mặt trời sáng lòa như một trận mưa bạc đang rơi. Một đàn cá chuồn bỗng xé nước bay lên vẽ trong không trung những vòng cung bạc, và nhanh chóng biến mất như một ảo ảnh. Rồi gió. Gió từ chân trời ngập tràn mặt biển. Gió ào đến bao bọc quấn quít lấy tôi đứng trên boong con tầu đang đè sóng tiếp tục cuộc hành trình. Cùng trời và biển, gió mang đến cho tôi ý nghĩa được sống, được làm người và cảm giác – hơn thế – khát vọng tự do.
Chữ đến với tôi từ rừng đại ngàn hoang vắng, hầm hập nắng, không khí cây cối không một chuyển động, mồ hôi ròng ròng, cái đói cắn vào bụng, quẩy đôi thùng ghép bằng gỗ thông, lủi vào một gốc cây, đập quả dứa vỡ đôi, hai hàm răng chắc cắm phập vào mảnh dứa vỡ, gọn như một cú đớp của hàm chó sói. Khợp.Bùi Ngọc Tấn
Chữ của tôi là cô thôn nữ trong vườn vắng trèo lên cây bưởi hái hoa, bỗng thấy nụ tầm xuân nở ra xanh biếc khiến tôi xúc động. Là em bé mặt đỏ bừng, mồ hôi bết tóc đứng im lìm trước con chuồn chuồn ớt đỏ tươi đỗ trên cọc rào của tuổi thơ tôi. Là chuyến đi Ninh Bình khi hai mươi tuổi, ngơ ngác trước những con sóc đuôi xù dựng đứng bay từ cây nọ sang cây kia, rồi buổi tối họp chi đoàn, hát mẹ thương con có hay chăng chẳng nhìn ai nhưng cũng biết có những cặp mắt bồ câu đang hướng về mình, nghe bí thư chi đoàn hỏi người ngồi bên “đêm qua đi ngủ hến cắn hay sao mà ngáp thế” bỗng thấy mình giầu thêm một chút. Chữ như bụi vàng tôi cần mẫn nhặt nhạnh thu vén, tích cóp. Chữ như vỉa quặng còn tôi là người thợ mỏ đã bốc hàng trăm tấn đất đá vẫn chưa tìm thấy. Thật vất vả, đúng là phu chữ như Lê Đạt nói, và cũng như anh, tôi thích công việc phu phen. Khi đào bới tôi là người khai phá, là người sáng tạo. Chữ của nhà văn là cuộc sống, đúng hơn, cảm xúc trước cuộc sống anh thổi vào trong chữ. Cảm xúc ấy làm chữ có hồn, chiếm lĩnh người đọc khiến Gorki phải giơ trang sách lên trời soi xem có gì ở bên trong.
Chữ của tôi là tiếng thở dài của những người dưới đáy đến thẳng trái tim tôi, giản dị, âm thầm, nặng trĩu. Là những chuyến đi biển dài ngày, lên bờ vẫn thấy mình đu đưa như còn trên sóng gọi là say đất cộng với 5 năm tù dài hơn cả kiếp người, khi được tha nhìn ai cũng quen quen ngờ ngợ như gặp lại bạn tù trong trại, để rồi chiết xuấtđược hai tiếng “say tù”. Hai tiếng kết tinh tình yêu cuộc sống và nỗi trầm luân cay đắng của tôi. Nói rộng ra, tất cả sáng tác của tôi đều là hợp chất của hai thành tố ấy, càng đắm đuối càng cay đắng, càng cay đắng càng đắm đuối. Chữ là kinh nghiệm sống, là bầu khí quyển của tôi, tôi hít thở, ngụp lặn, nhấm nháp nghiền ngẫm. Giống Dương Tường, tôi ăn ngủ với chữ như với người tình một thuở. Tôi gọt giũa, lật lên lật xuống, vuốt ve ngắm nghía. Tôi ủ chữ trong tim, tôi ngậm chữ trong miệng, thì thầm với chữ và đọc to lên. Có những chữ như ảo ảnh, ẩn hiện trong sương, một dáng hình trong mơ, luôn giữ một khoảng cách không thể vượt qua. Nó làm tôi mất ăn, mất ngủ, ngơ ngẩn như người bị phụ tình. Lại có những chữ không hề nghĩ tới, vụt rơi vào trang giấy ngay trước mắt như một sự tự tìm đến hiến dâng, món quà ban tặng của Thượng Đế. Chữ với âm thanh trầm bổng (điều đặc biệt của tiếng Việt) lúc như viên chì lăn tròn vào lòng người, lúc trải rộng như cửa sông đổ ra biển cả, nhịp nhàng uốn lượn như múa, như hát, một hòa thanh nhỏ cho từng câu và một tổng phổ trong cả tập truyện dài.
Chữ là khổ sai. Chữ là hạnh phúc. Không chỉ hạnh phúc, tôi còn là một kẻ quyền uy. Muôn ngàn chữ trước mặt, thỏa sức chọn lựa, đảo lên đảo xuống cho đúng chỗ. Một từ chính xác đặt đúng chỗ bỗng rũ hết bụi bậm sáo mòn, vụt trở lại vẻ đẹp nguyên sơ. Cũng nói thêm, tôi không chủ tâm bịa ra những từ mới. Những từ bình thường nhất, phổ biến nhất đứng bên nhau bỗng lung linh một vẻ khác thường làm tôi run lên vì vui sướng. Chẳng hạn như người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấntrong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.
Chữ với tôi như duyên nợ từ kiếp trước. Chữ, người bạn chung thủy không bao giờ rời bỏ tôi. Khi tôi bị bắt nhốt xà lim, chữ cũng theo vào. Ngoài chữ của Tolstoi trong tập Anna Karenina mà Dương Tường tặng, còn chữ của tôi, những chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng. Tôi mang ơn chữ, luôn cố gắng để khỏi phụ tình cảm ấy của chữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách quá xa giữa mong muốn với hiện thực, và hiểu rõ một điều mình là người bất lực (…)
(1)  Chữ ở đây nên hiểu là từ, không phải chữ trong bảng chữ cái (a, b, c…)
BNT
Theo Văn Việt


Phần nhận xét hiển thị trên trang