Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Trích TT:




Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa quên buổi chiều hôm ấy. Một buổi chiều nhuốm màu mỡ gà pha sắc hồng kì dị, khác hẳn ngày thường. Nền trời ráng đỏ đang hắt xuống dòng sông thứ ánh sáng u buồn, man man khó tả. Những hàng me dọc bến sông lá nhuốm màu như màu sắt gỉ. Lặng ngắt không một sợi gió ngang qua. Khung cảnh đột nhiên như chững lại, u trầm. Đường phố đang nhộn nhịp bỗng thanh vắng khó hiểu, không biết người ta đã về nhà hay còn mải đi đâu?
Có một điều gì đó không gọi thành tên chờ đợi tôi, bởi vì tôi chính là chàng trai vừa từ phòng ban giám hiệu, gặp thầy hiệu trưởng ra. Chàng là cái vẻ bề ngoài của tôi và tôi là cốt lõi tâm tư của chàng. Chúng tôi là hai vòng tròn đồng tâm, rất ít khi lệch nhau, nhưng lúc này bắt đầu xung đột và mâu thuẫn.
Tôi chỉ muốn phá tan đi vẻ thản nhiên bề ngoài của chàng, còn chàng lại đang cố kìm nén sự thấp thỏm, vùng vẫy, bứt phá bên trong của tôi..

Bá tôi đang cộng sổ bên quầy hàng. Đó là công việc thường ngày của bà. Bà cần phải biết mua bán trong ngày lời lỗ ra sao? Dượng tôi đang ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sâu trong nhà. Tay ông vẫn cầm chiếc điếu ục to tướng vừa mới xì bã thuốc lào. Cả hai người như chả để ý gì đến tôi cho đến lúc bác dượng để ý nét mặt chàng trai mới bước vào nhà có vẻ khác thường. Ông dựng lại chiếc điếu và hỏi:
- Có việc gì hả con?
Không hiểu sao lúc đó tôi lại không trả lời ông, đi lại phía sau cánh cửa, lấy chiếc tay nải, lặng lẽ đi ra, định về.
Thấy vậy bác tôi gặng hỏi:
- Sao tao hỏi mày không nói? Đứa nào đánh hay gây sự với mày mà mặt mày tái dại thế kia?
Tôi đưa bác tôi tờ giấy thầy hiệu trưởng đưa.
Ông đọc, trầm ngâm một lúc không nói gì. Sau đó ông gọi bá tôi vào trong nhà. Hai người trao đổi gì đó rất lâu.
Tôi đoán là hai người đang bàn tán sự vụ từ tờ giấy khá đặc biệt này. Cho đến bấy giờ, thực sự tôi cũng chưa biết đang xảy ra điều gì.
Xong.
Bác tôi bảo:
- Thôi cháu không phải về ngoài nhà nữa. Tao sẽ bảo cái Nhiên nó ra thu vén và trông nom nhà cho. Cháu cứ ở đây, để bác xem hư thực thế nào? Người ta đã gọi, cháu phải về, không thể lẩn tránh được. Nhưng mình biết chuyện gì vẫn tốt hơn. Bây giờ đi tắm rửa, sửa soạn đồ đạc sớm mai đi sớm. Để bác ra trường gặp ông hiệu trưởng hỏi kỹ lại xem sao?
Nói rồi bác dượng tôi đi luôn. Bá tôi nhìn tôi có vẻ ái ngại.
Sự quan tâm của hai người khiến tôi ứa nước mắt. Tôi tuy là cháu bên ngoại, nhưng luôn được hai bác coi như con đẻ của mình.
Bác dượng tôi đi, mãi tối một lúc lâu mới về. Ông cũng không hỏi thêm được điều gì hơn. Không hiểu ông hiệu trưởng không hay biết gì thực, hay vì nguyên tắc bí mật, chỉ nói mỗi câu:
- Chắc cũng không có chuyện gì đâu. Tính là một trò tốt, không sai phạm gì ở trường. Hơn nữa còn là học sinh giỏi hàng năm, các thầy cô rất quý..Cũng có thể ở dưới quê, địa phương muốn triệu tập em về giúp địa phương vì người có văn hóa hiện nay chỗ nào cũng thiếu. Hoặc người ta cần cử người ra nước ngoài học tập, đào tạo cán bộ nguồn. Kháng chiến mới thành công, cán bộ thiếu và đang cần rất nhiều thanh niên như cậu ta. Bác không nên lo lắng quá..
Bác tôi không biết nói sao nữa. Ở tuổi ông, lời giải thích của thầy hiệu trưởng nghe không được ổn lắm.
Nếu vì những lý do trên, nội dung và lời lẽ trong giấy triệu tập tôi sẽ khác, không phải khô khan, lạnh lùng như vậy, dù có là cách nói của chính quyền.
Tôi nhìn vẻ mặt của bác mà đoán vậy, chứ thực ra ông chưa nói gì.
Bác tôi định bảo anh Bình chồng chị nhiên cùng về với tôi. Dù sao anh ấy bây giờ đang là cán bộ, thông thạo tình hình, biết cách thu xếp. Anh về cùng tôi các bác sẽ yên tâm hơn. Nhưng anh Bình đang bận một lớp tập huấn cho cán bộ huyện từ các nơi về. Cách mạng đã thành công, kháng chiến thắng lợi, nhưng theo chỉ thị của trên vẫn còn nhiều việc phải làm. “Kẻ địch và các thế lực phản động chưa cam tâm chịu thất bại, vẫn đang nhen nhóm, ngóc đầu dậy chống phá ở một vài nơi trong tỉnh, nên không thể lơ là. Bọn Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Nhất Tâm Dân Tộc, tổ chức của người Hoa đang tìm cách móc nối với bên ngoài, hoạt động lật đổ bên trong”. Là cán bộ an ninh, nên anh ấy rất bận vào lúc này.
Bác tôi cũng vừa được cử làm tổ trưởng dân phố. Một chức danh không lấy gì làm to tát mà công việc cũng rất bận.
Trong khu của ông vừa xảy ra hiện tượng đáng ngờ. Người ta vừa bắt đi một ông nhà văn “nghi có chân trong một tổ chức phản động” địch cài lại. Ông cũng không thể thân chinh đưa tôi về quê.
Thấy cả nhà lo lắng cho tôi như vậy tôi rất cảm động. Nhưng dù sao, tôi cũng đủ khôn lớn để tự lo cho mình.
Hơn nữa về dưới quê còn có bố mẹ, họ hàng, bà con chòm xóm..chắc cũng chẳng có gì ghê gớm đến mức phải lo nhiều như vậy.
Tôi nói vậy.. Cuối cùng cả hai bác và anh Bình, chị Nhiên tối hôm đó đành lòng để tôi sáng hôm nay đi sớm.
Tôi đã đi qua chặng đường chỉ nhớ được những điều vừa kể.
Cuối cùng cũng về đến bến sông, nơi năm xưa ông Tú dừng chân. Chỉ có điều cây gạo còng đã đổ và quán nước của bà lão gù lưng bây giờ không còn nữa.
Trước mặt tôi là dòng sông quen thuộc năm nào. Vẫn những cánh buồm nâu xuôi ngược giữa đôi bờ.
Sao giờ đây tôi thấy nó có vẻ gì khác lạ?
 Hình như nó không rộng, dài miên man như trước. Phải chăng đang mùa nước cạn, tôi có cảm giác đó chăng?



( Còn nữa..)

Đọc thêm:

NHÀ VĂN ĐÃ CÓ ANH HÙNG!
Hôm qua đọc tin thấy Nhà văn Nguyễn Minh Hồng, Nghệ An được phong danh hiệu Anh hùng, thấy tự hào cho các nhà văn quá. Thành tích: "ông đã có nghĩa cử giúp đỡ ủng hộ nhân dân tỉnh Nghệ An và một số tỉnh khác bằng tiền, công trình trường học, bệnh viện, sách vở, máy móc thiết bị với tổng số tiền lên tới 110 tỷ đồng".(VIETNAMNET)
Bao lâu nay, HNV, nhất là chủ tịch Hữu Thỉnh đã phải trình báo, chạy ra chạy vào vất vả xin được truy phong anh hùng cho các nhà văn đã hy sinh: Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân mà hình như vẫn chưa xong. Thì... đoàng một cái, có ngay Anh Hùng!
Sao không tự hào được?!
( Hơn một trăm tỷ, quá xứng đáng, hơn hẳn các bác không có tiền hoặc ít tiền! LB )
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÊN HIỂU „NHẪN“ THẾ NÀO CHO PHẢI



Trần Đình - Berlin 

 
LXQ.ORG : Trần Đình là người nhiều năm sống và học tập ở TQnên khá thông tuệ Hán Văn. Mấy năm trước ông đã gửi chúng tôi bài viết theo chủ đê nay đã được đi trên lxq.o. Mới đây sau chuyến du lịch tới TQ, trở về ông viết bổ xung nhữn ý nghĩ mới qua cái nhìn thu lượm được, bằng bài viết này.
Đây là nhưng quan điểm, văn phong riêng của tác giả Trần Đình.
Mời các bạn thưởng thức !
xxx 
Nhẫn một thời, gió yên biển lặng,
Lui một bước, biển rộng trời cao.
Nhất nhẫn thắng vạn nan.
Bạn tôi là Đỗ Phúc, tính tình nhỏ nhẹ, khiêm nhường. Gia đình bạn chuyển đến căn hộ mới. Không biết nghe theo lời khuyên của „Thầy“ nào mà anh gọi điện cho tôi khẩn khoản: Bác viết giúp em „vài“ chữ „NHẪN“ bằng chữ NHO có kèm theo chú thích đúng nghĩa để em tham khảo và xem sẽ chọn chữ nào, thuê viết thành „ Tự“ rồi treo nơi trang trọng trong căn hộ mới!( Tôi hiểu theo ý bạn : có kiên nhẫn, có nhẫn nhục , có nhẫn nại, có nhẫn tâm…vậy chữ nhẫn nào là „ Nhất nhẫn thắng vạn nan“ ? ) . Chú em tha thiết : Nhất định bác phải giải thích rõ ý nào theo NHO, ý nào theo KHỔNG…để em còn chọn!
Thưa bạn, sẽ rất dài dòng nếu phải nói cho cặn kẽ, nhưng ngắn gọn. Tôi xin thưa:Chữ nhẫn nào ( hiểu theo ý nghĩa của bạn ở trên) thì người TQ và cả các cụ Nho học của VN ta xưa nay, từ đời LÃO-KHỔNG đến giờ đều cũng chỉ có một kiểu viết như hiện nay.
( Trong tiếng Việt có một chữ “ nhẫn“ nữa , chỉ chiếc nhẫn đeo tay, nhưng nghĩa của chữ nhẫn này khác hẳn nên dù có đồng âm, giống chữ trong tiếng Việt nhưng với chữ Hán thì không thể có sự lẫn lộn nào về âm, nghĩa và cả cách viết ).
Người Trung Hoa viết chữ tượng hình . Chữ NHẪN gồm hai chữ ghép lại ; chữtrên là chữ ĐAO (con dao), có thêm nét chặn ( cái lưỡi dao) và chữ dưới là chữ TÂM (trái tim, tâm can).
Con dao Cái lưỡi dao Tâm, can Chữ Nhẫn
Khi con dao treo lơ lửng trên quả tim, chỉ cần hoặc con dao, hoặc tâm can có sự đung đưa, cựa quậy chao đảo …là máu chảy, đời tàn!
Chính cái hình ảnh dao cứa này bắt người ta phải lặng, phải tĩnh, nín thở và nhu. Ý nghĩa sâu xa của chữ Nhẫn là nằm ở cái đế : chữ TÂM ấy.
Trong quan niệm của các nhà Nho học xưa, chữ Nhẫn như một lời dăn dạy, như một nguyên lý, phép tắc sống coi trọng sự kiên nhẫn chịu đựng mà đời người phải tâm niệm , rèn luyện nếu muốn tồn tại, không tổn thất và mau mắn thành đạt.
Người ta viết ra giấy điều, khắc, in, sơn son thếp vàng chữ „ Nhẫn“ treo khắp nơi trong nhà để thờ phụng, chiêm ngưỡng và dạy đời, răn mình . Trong các sách phật giáo hoặc trong các nhà chùa Việt Nam thấy có bày bán cả tranh, sách diễn đạt chữ „Nhẫn“ theo thơ lục bát để giúp dễ dạy, dễ nhớ!
Qua rồi cái thời lùi một bước ?
Tại Trung Quốc, tôi đã có dịp đọc qua một số sách cổ , sách Phật; có đến thăm vãn những thắng cảnh, chùa chiền đến miếu như Thiếu Lâm tự, đền thờ Khổng Tử hay các thắng cảnh Phật giáo như đền thờ Tam Tạng Pháp sư… cũng từng vào thăm nhà ở, nơi hội họp học tâp của các bạn bè người Trung Quốc . Tôi cảm nhận bản thân người „Tầu“ hiện nay không nhấn mạnh lý lẽ „Nhẫn“ trong đời sống ( tôi không thấy ở đâu có treo chữ NHẪN với ý tứ để rèn luyện, tu dưỡng hay tâm niệm! ).
Một bộ phận lớn lớp người trẻ tuổi cho rằng, chữ nhẫn thiên về LÃO vì nó NHU-NHỤC .
Người TQ hiện đại, thực dụng. Họ không quá cường điệu tình cảnh mạo hiểm „ Đầu treo sợi tóc“ „Đu đưa trên dây“ như quan niệm-con dao kề cổ xưa cũ và cũng thấy không cần phải quá khép nép nhu nhường vì mặc cảm thua thiệt, nghèo hèn, tha phương ăn nhờ ở đậu xứ người như tình cảnh ông cha họ trước đây (nhất là trong giao tiếp đối ngoại, quốc tế)
Khía cạnh NHO-KHỔNG của chữ“ Nhẫn“ theo tính cách„Tầu“ hiện nay còn lại là nằm ẩn trong sự im nhịn, nuốt chữ „Nhẫn“ vào trong (tâm can) để chờ thời, đợi dịp rồi một mai toan tính ân oán, cựu thù ( đây là ẩn ý rất xấu của từ „ Nhẫn“, mà các học giả Đông Tây coi là sự „ Thâm“ của Nho học, là cái cần phê phán của tư tưởng cổ hủ Trung Hoa ).
Mươi, hai mươi năm lại đây, Trung Quốc phát triển vượt bậc cả về kinh tế lẫn xã hội. Mọi thành tựu khoa học mà loài người đạt được, nền khoa học của Trung Quốc đã tiến kịp. Nhiều thành quả khoa học cao siêu của người TQ, làm thế giới kinh ngạc. Tự tay người TQ đã có thể sản xuất ra tất cả những sản phẩm đạt chuẩn mà Âu Mỹ đã làm ra. Những vùng đất, lãnh thổ xưa người TQ ly tán bám gửi nay họ ăn sâu, bám rễ và khuếch trương thế lực thành các ChinaTown, những tập đoàn kinh tế giầu mạnh và là đội quân thứ 5 của Đại lục… Hình như, cái thời mà người TQ tỏ ra khiêm nhừơng, „ Nhẫn“ nhịn đã qua! Cái cách cúi đầu, chắp tay đi lùi xưa kia bây giờ đã hiếm gặp trong những dịp giao tiếp giữa Trung Quốc với Quốc tế!
Tiếp xúc với người Trung Quốc, nghe những tuyên bố trước công luận của giới lãnh đạo người ta rất dễ nhận ra giọng điệu của họ tự tin, kiêu ngạo hơn (cao giọng thách thức nước lớn – quát Mỹ câm miệng, mắng Nhật cút xéo !) ngạo mạn, lấn hiếp đối với các nước nhỏ đặc biệt trước những vấn đề tranh chấp, đáng ra cần thiết phải có sự thương lượng, lắng nghe nhau ( bành chướng lấn chiếm lãnh thổ theo cách hùng hổ súng đạn, cũng có khi theo cách tiểu nhân như bê vần cột mốc biên giới; dùng thủ đoạn mua chuộc, vứt tiền mua đứt bọn nội gian ; hoặc cậy thế nước lớn, lấy thịt đè người, tát cho bài học!...) .
Khổng giáo cương ngạo đang thắng thế ở TQ, cái cách „Nhẫn“ nhịn của „Nho“ đã dần xa lạ hoặc phải biến dạng để thích nghi. Thời nay, nếu vẫn muốn lấy „ NHẪN“ làm một tiêu chuẩn sống theo tư duy kiểu Trung Hoa xưa hoặc nhập tâm „ NHẪN“ theo cách nhà chùa ở VN hiện nay, tôi nghĩ sẽ là cũ, bị ngộ nhận thành „NHU“ „HÈN“…
Việt nam trong lịch sử, bị ảnh hưởng rất lớn bởi những tư duy Nho giáo kiểu Trung Hoa , và cách chúng ta học hỏi theo trào lưu mà không tìm hiểu về sự biến thái của chính cái nơi phát sinh ra tư tưởng của họ , chúng ta hiểu „ NHẪN“ chỉ là bình tĩnh, nhún nhường hay chỉ chịu đựng, lấy thư thái dĩ hòa làm trọng thì e, với thực tế Trung Quốc hiện nay, sẽ là mất cảnh giác.
Tôi mạnh dạn khuyên bạn tôi không treo chữ „ Nhẫn“ trong nhà mà gợi ý bạn chọn câu tự : „ NINH TĨNH TRÍ VIỄN“ âu cũng rất hợp với tâm nguyện „ Bình tĩnh an lặng, nhìn xa trông rộng“ gần với nếp sống thường ngày của gia đình bạn và chắc với người Việt, nó vẫn là ứng sử thích hợp vì ngày nay đâu chỉ có Nhẫn (thư thái dĩ hòa) mà còn phải đua tranh hướng tới, can đảm giữ gìn bản sắc, chủ quyền nữa.
( Trần-Đình- Berlin-Tháng 9-2012. Viết sau chuyến thăm đền thờ Khổng Tử tại cố đô Nam-Kinh )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGHỆ THUẬT PHỎNG VẤN



(Mong đồng nghiệp đừng ai làm như thế này nữa nhé. Chúc mừng ngày nhà báo Việt)

Vô Huế, trưởng thôn Khoai Lang tần ngần đứng trên cầu Tràng Tiền. Trước mắt là sông, có tên Hương, chảy vô Huế “nên Huế rất sâu”, bác Thu Bồn cảnh báo thế. Sau lưng các em áo dài Huế lướt thướt đạp xe qua, nói lướt thướt vì mưa, mà các em thì ưa đẹp, nên tội, chỉ choàng cái áo mưa mỏng tanh, thà lướt thướt còn hơn không ai chộ để ngắm mình (chộ là thấy).
Bến đò gần khách sạn Hương Giang mới sẩm tối đã lố nhố khách du lịch xuống thuyền để mần một phát “ca Huế trên sông”, em nào cũng được giới thiệu là ca sĩ Huế, mà thực ra là mấy ả ban ngày bán rau, hoặc làm công chức, tối thay áo dài Huế, xuống thuyền làm ca sĩ. Ca sĩ thật hơi bị ít. Nghe nói các ả ca sĩ kiêm nhiệm này cố sống cố chết học được ba bài ca Huế là xuống đò. Khách yêu cầu mần bài nữa, em chúm chím cười, nghiêng nghiêng đầu, nói dạ em nỏ hát được.
Lại nhìn cái mố cầu Tràng Tiền, rồi phì cười, hồi ức cách mạng chút.
Năm đó, e lâu lắm, Huế lụt, rồi có một cậu thanh niên bị ngã, suýt chết đuối ở trên sông. Một cụ già râu tóc bạc phơ lao vút từ trên thành cầu xuống sông. Hai người bì bõm, lăn lộn một hồi cũng kéo nhau vào được bờ. Mọi người vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Không hoan hô sao được khi một cụ già như thế lại dũng cảm lao xuống dòng sông ( quên, lại mùa đông nữa) thì thật anh hùng.
Phóng viên nhà đài hớt hãi lao tới, rẽ đám đông, dí ống kính trước mặt cụ, phỏng vấn, quay, phỏng vấn, quay.
Hỏi:-Thưa cụ, vì sao tuổi già sức yếu như vậy mà cụ vẫn dũng cảm lao xuống cứu người?
Cụ già:-Thằng ấy thanh niên mà lại không biết bơi, lạ quá hè
Hỏi:-Thưa cụ, làm một việc tốt như cụ, cụ có suy nghĩ gì?
Cụ già:-Mấy đứa có thương, cho cụ cốc rượu hí, lạnh quá.
Hỏi:-Thưa cụ.
Cụ già:-Này…Đứa mô có cái áo khoác cho cụ mượn mang tí nào, lạnh lắm
Hỏi:-Thưa cụ, động cơ nào khiến cụ dũng cảm như vậy?
Cụ già:-Tổ cha chúng nó chứ…động cơ chi..Cụ cũng đứng trên thành cầu, nhìn nhìn, ngó ngó thằng ấy đang chết đuối, thế rồi, đứa mô khốn nạn nó xô cụ xuống sông. Cụ và thằng ấy bấu lấy nhau, may thoát, không chết cả. Tổ cha đứa mô chơi xấu. Động cơ chi.
Cụ nhảy xích lô về.
Nhà đài về.
Tối, cụ ngồi xem ti vi, thấy một đoạn phim, tả cảnh một cụ già đang ra sức cứu thanh niên trẻ với lời bình: không quản mưa rét, thấy thương người thanh niên đang chết đuối, cụ đã lao xuống, dũng cảm dùng tất cả kinh nghiệm và sức lực, cứu người thanh niên thoát chết trong gang tấc. Cụ đã khiêm tốn từ chối mọi câu hỏi của chúng tôi. Cụ cũng không cho biết tên. Nhưng hành động của cụ là tấm gương cho chúng ta noi theo.
Cụ xem rồi hỏi thằng cháu nội:
-Cụ mô cứu người rứa cháu?
Cháu nội nói:
-Trời rét mà cùng nhau nhảy xuống sông làm chi, ngu cụ hè.
Cụ gật đầu:
-Ừ. Ngu dễ sợ.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Chữ từ đâu?


Ai thực sự tìm ra chữ Quốc Ngữ?

Đỗ Xuân Đạm 

Đã đóng lại bài viết về hai cụ Hàn Thuyên và Alexandre De Rhodes mà trong lòng cứ mãi lấn cấn vì vẫn chưa làm rõ được chữ Quốc ngữ ra đời ở đâu, năm nào và còn những ai thực sự đã có công với chữ Quốc ngữ?
Đính chính: Hình chụp ở trên, bên trái là mẫu tự Hy Lạp, bên phải là mẫu tự La Tinh
Điều đó làm tôi tịt mạch mấy tháng nay không viết thêm được bài nào nữa.
Để thoát khỏi tình trạng bế tắc đó, đành bỏ thời gian lục tìm tứ tung để thoả mãn cái tật gàn dở của mình.
Và đây là điều tôi tìm ra,

Chữ Quốc ngữ ra đời năm 1622 trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, do công của người giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco De Pina (1585-1625), tại xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn. Francisci De Pina là giáo sĩ tiên phong đến Đàng Trong năm 1617, nhờ thông thạo tiếng Nhật và chữ Hán, ông dễ dàng học nói tiếng Việt, học đọc chữ Nôm, nhưng thấy các giáo sĩ khác gặp khó khăn trong việc học chữ Nôm nên đã dựa vào bảng mẫu tự La Tinh, ông Nguyễn Đình Đảng thời cho rằng là dựa vào từ mẫu tự Rô-Măng, tôi thiển nghĩ mẫu tự Roman cũng từ nguồn gốc Latin mà ra, để ghi âm tiếng bản xứ.
Năm 1624, sau khi đã xếp đặt thành hệ thống, có cả phần tóm lược về văn phạm, ông mở lớp dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ muốn đến truyền giáo tại Việt nam, ông cũng tự viết bài giảng bằng thứ chữ này để trực tiếp truyền đạo, nhưng không may, tháng 12 năm 1625 ông bị chết đuối ở cảng Đà nẵng.
Sau cái chết của Pina những giáo sĩ đã học tiếng Việt với Pina tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chữ viết nầy làgiáo sĩ Gaspar De Amaral (1549-1646) – tác giả tự điển Việt-Bồ, giáo sĩ Antonio Barbosa (1594-1647) – tác giả tự điển Bồ-Việt, giáo sĩ Alexandre De Rhodes (1591-1660) – tác giả tự điển Việt-Bồ-La tinh.
Trong đó chỉ có một mình A.D.Rhodes là người Pháp (ông sinh ở vùng Avignon)
Đúng như TS. Nguyễn Tường Bách đã nhận định:
“Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.”
Vì là sản phẩm của bọn Tây di, nên chữ quốc ngữ bị giới sĩ phu tẩy chay.
Chữ nôm còn bị chê là nôm na mách qué, thời cái thứ chữ do bon Bạch quỉ chế ra này các cụ có mà thèm để mắt!
Sau đó nó còn là công cụ của thực dân Pháp trong việc cai trị.
Lại vì nó mà cả một nền Nho học với bao công lao dùi mài kinh sử trở thành vô dụng nên thứ chữ này càng bị khinh ghét.
Nhưng sự tiện dụng và sức sống mãnh liệt của chữ quốc ngữ càng ngày càng lộ rõ, càng thắng thế.
Năm 1915 vua Duy Tân bãi bỏ chế độ thi cử cũ ở Bắc kỳ.
Năm 1918 vua Khải Định bãi bỏ thi cử cũ ở Trung kỳ.
Năm 1919 vua Khải Định chính thức đóng cửa các trường dạy chữ Nho.
Ngày 18-9-1924 Merlin, Toàn quyền Đông dương ký nghị định đưa chữ quốc ngữ vào dạy trong 3 năm đầu bậc Tiểu học.
Nền Nho học cáo chung, chữ Quốc ngữ lên ngôi.
Nào có gì lạ cái chữ nho 
Ông nghè, ông cống cũng nằm co 
Sao bằng đi học làm ông Phán. 
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò 
(Chữ Nho) – Tú Xương
Người Bồ Đào Nha khai sinh ra chữ Quốc ngữ, người Pháp ép dân ta dùng chữ Quốc ngữ.
Nhưng truyền bá và trau chuốt cho chữ Quốc ngữ được như ngay hôm nay công lớn nhất phải thuộc về những người tiên phong tiêu biểu như: Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… cùng với họ một đội ngũ tân học ngày càng đông, nhiều tài năng, đầy nhiệt huyết và dũng cảm.
Những người con ưu tú đó đã được nhớ ơn, được tôn vinh bằng những tên đường trong đô thị.
Vậy mà trong những người đi đầu ấy, có một người hình như bị bỏ quên.
Một người có tư cách sáng chói, có trí thông minh và chí tự học siêu việt, từ thân phận một thằng nhỏ 8 tuổi chưa biết chữ kéo quạt tại trường Thông ngôn Yên phụ-Hà nội, năm 14 tuổi đã đỗ thủ khoa lớp thông ngôn của chính trường này, là người Việt đầu tiên được gia nhập Hội Nhân quyền Pháp, người đầu tiên xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ ờ Hà nội, tờ Đại nam Đăng cổ tùng báo, người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học Pháp sang tiếng Việt, người đầu tiên dịch truyện Kiều sang tiếng Pháp, người đứng đơn xin mở trường Đông kinh nghĩa thục (Cụ Lương Văn Can làm hiệu trưởng), người chống quân chủ lập hiến kiểu bù nhìn đòi thành lập nền Cộng hoà, người mà trong lời tựa bản dịch Tam quốc chí đã viết “Nước Nam ta mai sau này hay, dở cũng là ở chữ quốc ngữ”, người 2 lần từ chối Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp, người mà lúc chết trên thuyền độc mộc ở sông Sê-băng-hiêng, Sê-pôn – Lào, hai tay vẫn cầm cây bút và quyển sổ với phóng sự đang viết dở dang “Một tháng với những người tìm vàng”.
Người tự cho mình là người man di hiện đại.
Một người mà người Pháp đánh giá là thiếu tính tự ti của dân nhược tiểu.
Người đó là Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh.
Một người xuất chúng và có công lớn với nền văn hoá hiện đại của nước nhà như thế mà mãi tới năm 1999 tên người mới được đặt cho một con đường ở phường 4 quận Tân Bình.
Còn tại Hà nội quê ông thời vẫn chưa có con đường nào mang tên ông…
Sài gòn 12-5-2013
ĐXĐTrelangkienviet
 
Trang nhất số đầu tiên của Nông cổ mín đàm.- Đây được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên bằng chữ quốc ngữ
 
 Alexandre De Rhodes
 
 Nguyễn Văn Vĩnh


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích TT


…Một buổi sáng mùa thu năm Giáp Ngọ, có một chàng trai xuôi bờ sông Lư. Chàng mang dưới chân đôi dép cao su, đầu đội mũ cát như phần đông thanh niên học sinh thời đó. Một chiếc tay nải mang trên vai, bên trong duy nhất bộ quần áo cũ. Túi ngực chiếc bút PawcsKe, loại tốt nhất thời đại của chàng.
Chàng qua những bãi ngô non xanh mướt, qua những bến đò đông người nhộn nhịp. Chỉ có đò ngang, không đò dọc, trong lúc chàng lại muốn xuôi dòng. Nên chẳng có chuyến nào dành cho chàng!
         Có lúc dáng mảnh khảnh của chàng mất hút sau những rặng tre xanh, đồi cọ le lói nắng sớm mai, sau những ngôi đình đỏ ánh cờ bay treo trên những cành cây cao. Qua những mít tinh, hội hè rầm rầm, rộ rộ  suốt đêm ngày sau chiến thắng Điện Biên.
Làng xóm nơi nơi như lên cơn sốt bởi những bài ca bất hủ. Nào “Giải phóng Điện Biên”, “Qua miền Tây Bắc”, rồi “Kết đoàn là sức mạnh”, trường ca “Sông Lô”. Khắp nơi tưng bừng tiếng thanh la, não bạt, hừng hực khí thế “Đoàn kết đấu tranh”.
Các loại biểu ngữ chăng dọc đường viết bằng vôi lên những thúng mủng, nong nia treo hai bên đường. Những tấm ván thôi được bào lại qua loa, cánh cửa bức bàn, thậm chí bằng cả nhiều tấm ván ghép lại.
Lần đầu tiên người ta được biết “Văn hóa khẩu hiệu”, phong phú và tiềm tàng như thế nào?
 Bất kể thứ vật liệu nào có thể viết hoặc vẽ lên được đều nhất nhất thành khẩu hiệu. Những bức tường đổ, bức vách nhà dân, chỗ nào cũng thấy, đủ loại kiểu chữ to nhỏ, lớn bé khác nhau..Những nét chữ cong queo ngoằn ngèo của những bàn tay chưa quen bút..
Từng đoàn thiếu niên nhi đồng rồng rắn diễu qua những làng quê vang lừng trống ếch. Chúng vừa đi vừa ca vang những bài ca cách mạng mới được học, sai rất nhiều chỗ và không cần giai điệu, rồi hô khẩu hiệu rinh trời..
Cuộc sống mới mẻ chưa đủ chiều sâu, nhưng phủ toàn diện rộng theo yêu cầu của thời kỳ mới.
Người ta buộc phải thay đổi nhiều ý nghĩ, thói quen tư tưởng ngàn xưa tới giờ để hòa nhập cuộc sống mới. Một cuộc sống mà người ta tin tưởng sẽ vô cùng tốt đẹp, chưa từng có bao giờ!
Chàng đi qua những khu đất rộng, ở đó có hàng tăm người gánh đất đổ thành cái nền đất thật cao. Chắc chắn không phải để dựng nhà vì nó rất rộng. Cũng có chỗ tre gỗ được chôn xuống mặt đất, bắc những chiếc xà cao chừng hơn một mét, lát ván như kiểu sân khấu ngoài trời. Những chỗ này sẵn vật liệu, nên đài cao không đổ bằng đất, hoặc đất khó đổ.
Gần như nơi nào chàng đi qua cũng có một kiểu “sân khấu” lộ thiên như thế. Hẳn là sắp diễn ra trò gì đấy giống nhau, đồng loạt ở nhiều nơi?

Những người tham gia công việc vẻ mặt phấn khích, nhưng vẫn nghiêm nghị, không thể đoán biết họ đang chuẩn bị việc gì đấy rất trọng đại..
Tại sao nét mặt chàng lại lo lắng đăm chiêu, chả hòa hợp gì với khung cảnh xung quanh, dọc hai bên đường chàng đang qua?
Có phải đường dài mệt nhọc, đói và khát gây nên trạng thái tâm lý và nét mặt chàng như thế?
Hoàn toàn không. Từ sáng tới giờ chàng chỉ ăn duy nhất nắm xôi ngô mua trước cổng thành nhà Mạc. Tới giờ vẫn hưa thấy đói. Của nếp no lâu, hay tam trí chàng đang bấn rộn việc nào khác, không để ý đến chuyện đói và khát lúc này?
Những con đường mòn, có chỗ băng qua rừng cây gai góc, những con dốc thật dài nhưng là con đường ngắn nhất.
Nếu cứ men theo đường Quốc lộ thì phải mất thêm một ngày nữa đi đường. Khi người ta chẳng có phương tiện gì ngoài đôi chân của mình thì đường quốc lộ cũng chẳng cần và chẳng có ý nghĩa và không nên đi.
Từ đây về quê nhất thiết phải men theo bờ sông, nhưng không là phải cứ men theo một bên tả hay hữu.
Có chỗ phải qua đò, rồi lại sang đò.
Hướng đi không thay đổi, nhưng vì địa hình núi non, con đường cứ vắt qua vắt lại như thế.
Chàng càng đi càng thấy con đường như càng xa, mãi chưa tới đích! Có lẽ cần nửa ngày nữa mới về đến quê nhà. Thấm thía nỗi cơ cực thứ hai của đời người: “thứ nhì đi bộ..”

Chiều hôm qua thầy hiệu trưởng gọi chàng lên phòng ban giám hiệu nhà trường. Vẻ ái ngại của thầy làm chàng lo lắng, chưa biết đã xảy ra chuyện gì? Chàng không làm việc gì sai, hàng năm lại là học sinh giỏi, học sinh “tiên tiến”, chẳng lẽ có việc gì bị khiển trách? Chàng cố nhớ lại tất cả sự việc mới gần đây xem vướng mắc chỗ nào? Tuyệt nhiên không có chuyện gì để nhà trường khiển trách hay kỷ luật?
Thầy hiệu trưởng rót cho cậu học trò chén nước rồi hỏi:
- Từ đây về dưới quê em khoảng bao nhiêu cây?
- Dạ thưa, khoảng hơn trăm cây ạ?
- Em đã đi một mình bao giờ chưa?
- Thưa không ạ!
Thầy có vẻ cân nhắc, lúc sau mới nói:
- Nếu đi một mình em có biết đường về làng không? Vừa thi xong các thầy các cô đang bận chấm bài, không có người để đưa em về, em nghĩ thế nào?
Chàng nghĩ có lẽ thầy quan tâm đến mình. Năm vừa rồi mình đạt danh hiệu học sinh giỏi nên được thầy chiếu cố cho về quê nghỉ hè không phải ở lại lao động tu bổ trường như các bạn khác..?
- Không biết có chuyện gì? Nhưng ở địa phương em người ta yêu cầu em phải có mặt trong ba ngày nữa. Nhà trường bây giờ không có người đưa em đi được. Em về xem gia đình ở trên này có ai đưa mình đi được không?
Thầy đưa cho chàng một tờ giấy đánh máy có đóng dấu đỏ phía cuối trang. Lần đầu tiên trong đời, chàng nhân được một tờ giấy kiểu như vậy! Đó là giấy triệu tập khẩn cấp của Ủy ban hành chính xã gửi từ dưới quê lên, nội dung không nói rõ vì chuyện gì, nhưng không thể vắng mặt, quá thời gian trên bản thân người nhận giấy này phải “hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước”!
Nét mặt chàng biến sắc.
Chưa biết là chuyện gì, nhưng chắc chắn không phải là một chuyện lành!
Thầy an ủi những gì, lúc ấy chàng nghe không rõ vì choáng váng và quá bất ngờ.
Một chàng trai mười bảy tuổi thì đây là một sự kiện ghê gớm, nghiêm trọng, không bình thường được nữa rồi! Làm sao chàng có thể bình tĩnh, thản nhiên? Thầy Sản là người chàng nhớ đến đầu tiên vì nghĩ là thầy có thể giải thích cho chàng việc này. Nhưng thầy ấy đã du học Trung Quốc cách nay mấy tháng rồi.
Chàng định hỏi thầy hiệu trưởng, nghĩ lại, lại thôi.
Bóng chàng thất thểu ra khỏi phòng ban giám hiệu. Thầy hiệu trưởng ái ngại nhìn theo.. Chính thầy cũng đâu có biết là chuyện gì đang xảy ra?

**

( Còn nữa..)

LỜI THỀ ĐƯỢC THỰC HIỆN


Một người Gabrovo bị ốm. Nhiều ngày không rời khỏi giường. Một hôm, thu hết sức lực, anh ta đứng lên, quỳ gối trước bàn thờ cầu nguyện và đưa ra lời thề:
- Chúa ơi! Nếu ơn Người, con khỏi bệnh, con sẽ bán con ngựa và mua toàn bộ nến cúng.
Ít lâu sau, anh ta khỏi bệnh. Cần phải thực hiện lời thề nguyền. Anh ta nghĩ mãi, nghĩ mãi và đã nghĩ ra: Anh ta đặt con gà mái vào trong cái bao, cầm cương dắt con ngựa thiến và đi ra chợ.
- Tôi bán con ngựa 2 leva ! – Anh ta rao – Con ngựa giá 2 leva!
Dân chúng xúm lại. Bao nhiêu người sửng sốt trước giá rẻ bất ngờ.
- Tôi bán con ngựa này kèm với con gà mái, con gà mái giá 200 leva – Anh chàng Gabrovo nói thêm.
Sau khi bán con gà và con ngựa, anh ta vào nhà thờ và hiến số tiền mua nến 2 le va, bằng tiền bán con ngựa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THOI SU:


Nhà nước Chí Phèo


Tình hình chính trị giữa Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên trong mấy tuần vừa qua có cái gì thật lạ lùng. Nó có khả năng gây nên một thảm kịch nhưng lại có vẻ như một hài kịch. Nó khiến người ta vừa lo sợ vừa thấy buồn cười. Chính quyền của cả Mỹ lẫn Nam Triều Tiên cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực vừa ráo riết chuẩn bị đối phó một cách rất tốn kém lại vừa âm thầm cho là sẽ không có chuyện gì quan trọng xảy ra cả.
Dường như trong lịch sử hiếm có hiện tượng nào quái đản đến vậy. Chính quyền Bắc Triều Tiên tuyên bố đặt nước họ trong “tình trạng chiến tranh”, đe dọa tấn công bằng vũ khí hạt nhân vào cả Nam Triều Tiên lẫn Mỹ, gửi thư yêu cầu các tòa đại sứ cũng như tất cả các nhân viên Liên Hiệp Quốc và người ngoại quốc nói chung nên về nước để tránh tai họa, cấm nhân công Nam Triều Tiên sang làm việc ở khu kỹ nghệ Kaesong - nơi có 124 công ty do người Nam Triều Tiên làm chủ - nằm trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên, tung tin là họ đã di chuyển các hỏa tiễn đến nơi này nơi nọ để chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn, và kêu gọi nhân dân nước họ sẵn sàng cho một trận thư hùng một mất một còn với đế quốc Mỹ và các anh em của họ ở biên giới phía Nam. Mấy chục năm nay, quan hệ giữa Nam và Bắc Triều Tiên trải qua khá nhiều căng thẳng, tuy nhiên, hiếm có lúc nào giới cầm quyền Bắc Triều Tiên lại sử dụng thứ ngôn ngữ mạnh bạo đến như vậy. Nghe, dễ ngỡ như chiến tranh sắp bùng nổ gần như ngay tức khắc.
Mỹ, một mặt, phản ứng khá quyết liệt: tăng cường máy bay ném bom đến Nam Triều Tiên, điều tàu chiến đến bán đảo Triều Tiên, nâng cao hệ thống phòng thủ chống tên lửa không những ở các căn cứ quân sự đóng tại Nam Triều Tiên mà còn cả ở Guam, cách Bắc Triều Tiên hơn 3000 cây số. Một số người, phần lớn là các cựu quan chức, lên tiếng cảnh cáo Bắc Triều Tiên: Việc họ tấn công Mỹ không khác gì một hành động tự sát! Nhưng mặt khác, thái độ của các giới chức đương quyền cũng như ngay của báo giới thì có vẻ như chả có gì ghê gớm sắp xảy ra cả. Phía Nam Triều Tiên cũng vậy. Tổng thống Park Geun-hye tuyên bố cứng rắn: Bà đã ra lệnh cho quân đội Nam Triều Tiên đáp trả mạnh mẽ bất cứ hành động khiêu khích nào của Bắc Triều Tiên; tuy nhiên, quân đội Nam Triều Tiên vẫn bình tĩnh, dường như không có một cuộc tái bố trí ào ạt nào để chuẩn bị cho chiến tranh.
Tại sao?
Robert E. Kelly, trong một bài báo đăng trên The Diplomat ngày 10 tháng Tư năm 2013, ví Bắc Triều Tiên như một thằng bé bị bệnh hoang tưởng, lúc nào cũng tưởng sắp bị chó sói ăn thịt (
the boy who cried wolf). Với người Việt Nam, có thể xem Bắc Triều Tiên như một gã Chí Phèo trên sân khấu chính trị thế giới.
Nhớ, trong truyện Chí Phèo, Nam Cao phác họa nhân vật Chí Phèo như một tên vô lại, tối ngày say sưa, chỉ làm được một việc duy nhất là chửi khống và ăn vạ. Về tài chửi của hắn, Nam Cao tả:“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì ? Trời có của riêng nhà nào ? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Ðại. Nhưng cả làng Vũ Ðại ai cũng nhủ, "Chắc nó trừ mình ra!" Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Ðã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này ? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.”
Chí Phèo hận Bá Kiến, kẻ làm cho hắn bị bắt và bị ở tù mấy năm, nhưng hắn chẳng dám làm gì Bá Kiến cả. Hắn chỉ biết đập chai rượu rồi cào vào mặt cho máu me chảy ra bê bết rồi nằm lăn ra đường, thoạt đầu, giãy đành đạch rồi sau giả vờ nằm im, thở phều phào như sắp chết. Cuối cùng, Bá Kiến chỉ dỗ dành vài ba tiếng, hắn lại vui vẻ làm tay sai cho Bá Kiến. Bá Kiến cần đòi nợ ai ư? Thì hắn lại tu mấy hớp rượu vào lấy can đảm rồi đến nhà người ấy nằm lăn ra ăn vạ. Cứ như thế. Cho đến lúc chết.
Thái độ của giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên từ nhiều thập niên gần đây không có gì khác Chí Phèo cả. Khi nào dân chúng đói quá hoặc khi có nguy cơ phản kháng trong nội bộ, họ lại đem súng đạn ra dọa. Mỹ, Nam Triều Tiên và quốc tế, để cho yên chuyện, lại rót cho họ ít tiền hoặc ít lương thực, họ lại yên. Cứ thế. Hết lần này đến lần khác.
Lần này, Nam Triều Tiên, Mỹ cũng như quốc tế đã quá chán ngán nên không ai dỗ dành và hứa hẹn gì cả. Người ta mặc kệ. Mặc dù Bắc Triều Tiên đe dọa bắn tên lửa có đầu đạn hạt nhân đến tận nội địa nước Mỹ (chủ yếu là vùng California), Tổng thống Mỹ Barack Obama vẫn im lặng. Các phóng viên báo chí nằng nặc hỏi, ông vẫn im lặng.
Tại sao?
Thứ nhất, không ai tin Bắc Triều Tiên có thể tấn công Mỹ. Bắc Triều Tiên có cả tên lửa lẫn bom nguyên tử. Nhưng họ lại chưa đủ kỹ thuật để chế tạo tên lửa liên lục địa có khả năng chở đầu đạn hạt nhân bắn đến tận nước Mỹ.
Thứ hai, dù ai cũng biết giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên có chút máu khùng, nhưng không ai tin là họ lại khùng đến độ nhảy vào một cuộc chiến tranh mà chính họ cũng biết là họ không thể thắng, hơn nữa, còn bị hủy diệt. Mấy quả bom nguyên tử của Bắc Triều Tiên có thể giết chết cả mấy trăm ngàn, thậm chí, hàng triệu người dân Nam Triều Tiên, nhưng cuối cùng, chắc chắn là họ sẽ bị xóa sạch. Bởi tương quan lực lượng giữa hai miền cách nhau quá lớn. Bắc Triều Tiên chỉ có hai thế mạnh: một là ở quân số (khoảng trên sáu triệu người, nếu tính cả quân dự bị) và hai là vũ khí hạt nhân. Nhưng thế mạnh thứ hai chủ yếu là để dọa chứ không phải để sử dụng. Sử dụng, chỉ có nghĩa là tự mình tiêu diệt mình. Còn lực lượng bộ binh của Bắc Triều Tiên, tuy đông, nhưng lại được trang bị vũ khí rất kém, lại ít luyện tập, nên, từ góc độ chiến tranh hiện đại, chúng rất vô nghĩa. Càng đông càng dễ bị giết nhiều. Vậy thôi. Ngoài thế mạnh tương đối ấy, mọi mặt còn lại, Bắc Triều Tiên đều rất yếu. Yếu về kinh tế. Yếu về đồng minh: Họ chỉ có một đồng minh duy nhất: Trung Quốc; nhưng Trung Quốc càng ngày càng nhìn họ như một gánh nặng, thậm chí là một tai họa, nên chắc chắn cũng sẽ không thể giúp đỡ được gì họ như vào những năm 1950-53.
Điều hầu hết giới bình luận chính trị quốc tế đồng ý là Bắc Triều Tiên chỉ lên gân dọa dẫm với hai mục tiêu chính: Một, dùng chiến tranh để vận động quần chúng tập hợp chung quanh Kim Chính Ân, nói theo chữ của Robert E. Kelly, một “thằng bé bị bệnh hoang tưởng” (the boy cried wolf). Và hai, để mè nheo với thế giới, đặc biệt, với Mỹ để, thứ nhất, có ít tiền viện trợ; và thứ hai, được hợp thức hóa kho nguyên tử của mình.
Người ta tin là không ai thực sự muốn chiến tranh. Bắc Triều Tiên có thể muốn nhưng vì biết chắc chắn không thể thắng nên sẽ không dám. Nam Triều Tiên thì vừa không muốn chiến tranh lại vừa không muốn thắng. Không muốn chiến tranh? Rất dễ hiểu. Nhưng còn không muốn thắng? Đó là sự thật. Một nước Triều Tiên thống nhất, như sự thống nhất giữa Đông Đức và Tây Đức vào tháng 10 năm 1990 sẽ là một gánh nặng đầy tai họa về mọi phương diện, từ kinh tế đến xã hội và chính trị, cho Nam Triều Tiên. Mỹ và cả Trung Quốc nữa cũng đều không muốn chiến tranh và cũng không muốn ai thắng ai trong cuộc chiến tranh giữa Nam và Bắc Triều Tiên: Trung Quốc cần Bắc Triều Tiên làm vùng trái độn để bảo vệ biên giới nước họ và họ cũng không muốn Bắc Triều Tiên chiếm hẳn Nam Triều Tiên để trở thành mạnh mẽ đủ để thoát ra khỏi sự kiềm tỏa của họ. Mỹ cần sự tồn tại của cả hai nước Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên để có lý do đóng quân ở Nam Triều Tiên hầu kiềm chế Trung Quốc.
Không ai muốn chiến tranh xảy ra, tuy nhiên, ai cũng thấy cách hành xử của Bắc Triều Tiên trong mấy tuần qua là một trò chơi nguy hiểm. Giống như đùa với lửa. Thoạt đầu, đùa. Sau, cháy nhà thật.
Ở đây, có hai nguy cơ chính.
Thứ nhất, sau khi đã ăn nói hung hăng như những anh hùng sẵn sàng xả thân “diệt Mỹ cứu nước” với dân chúng suốt mấy tuần lễ vừa qua, giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên không thể lẳng lặng xếp trống xếp dùi. Một việc làm như thế sẽ khiến dân chúng chưng hửng, cụt hứng, từ đó, thất vọng, bất mãn, làm mất uy tín và ảnh hưởng của nhà lãnh đạo mới và trẻ như Kim Chính Ân. Bởi vậy, người ta tiên đoán thế nào Bắc Triều Tiên cũng làm một cái gì đó.
“Cái gì đó” sẽ dẫn đến nguy cơ thứ hai: từ xung đột nhỏ sẽ bùng nổ thành xung đột lớn. Ví dụ, Bắc Triều Tiên sẽ lại mở một cuộc tấn công nhỏ nhắm vào Nam Triều Tiên, giết chết vài chục lính hoặc dân Nam Triều Tiên, như năm 2010. Lần ấy, Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Myung-bak quyết định tự kiềm chế tối đa trước cả ba lần khiêu khích của Bắc Triều Tiên (vào ngày 26/3 khi một chiếc tàu Nam Triều Tiên bị thủy lôi Bắc Triều Tiên đánh chìm khiến gần 50 thủy thủ bị chết; ngày 29/10 khi hai bên giao tranh nhỏ với nhau ở biên giới; và ngày 23/11 khi Bắc Triều Tiên phóng tên lửa vào một hải đảo nhỏ thuộc Nam Triều Tiên). Nhưng sau lần ấy, Tổng thống Lee Myung-bak lại bị dân chúng chê là yếu đuối. Lần này, Tổng thống Park Geun-hye không có lựa chọn nào khác ngoài sự cứng rắn. Lý do là bà mới thắng cử và mới lên làm Tổng thống, bà cần một hình ảnh của một lãnh tụ cương quyết và quả cảm, dám đương đầu với thử thách. Bởi vậy, bà nhất định sẽ có phản ứng. Người ta hy vọng đó là những phản ứng vừa đủ.
Nhưng vấn đề là: Thế nào là vừa đủ? Ranh giới giữa cái gọi là đủ và không đủ rất mong manh. Chiến tranh lớn có thể bùng nổ từ sợi chỉ mong manh ấy



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn không thành người Trung Quốc được đâu


  Thue khóa và cái chết. Bạn biết nghĩa hai từ này rồi chứ? Tôi muốn thêm một sự mệt mỏi nữa: thành người Trung Quốc. Phải, chuyện lên trời rồi. Tôi đã từng muốn thành người Trung Quốc. Không phải kiểu mặc áo lụa, đi dép vải, nhuộm tóc đen, hay ghê sợ thì chụp khăn mùi soa vào mũi đâu. Tôi muốn Trung Quốc ngày càng tươi đẹp để tôi sống và làm việc. Cách đây 16 năm, chính là tôi muốn như thế đấy. Còn bây giờ, tôi đầu hàng.

Tôi sẽ không cố nữa. Tôi vỡ mộng, đã thức dậy khỏi giấc mơ Trung Hoa của tôi. “Nhưng Trung Quốc là một thần kỳ kinh tế: một lượng người kỷ lục giàu lên trong một thời gian kỷ lục… GDP mỗi năm tăng 10%…xuất khẩu bùng nổ, nhập khẩu, sản xuất, đầu tư…tóm lại là cứu thế giới khỏi khủng hoảng năm 2008…”, khắp nơi ca ngợi, cứ như thể James Bond vậy. Ai chả biết! Tôi cũng biết, bởi tôi đã đến và yêu Trung Quốc từ năm 1986 cơ mà.
Khi tôi rời Đại học London năm thứ 2, đến Bắc Kinh theo khóa tiếng Trung, thì so với phương Tây, Trung Quốc lạc hậu lắm. Chẳng thấy ô tô trên đường phố, mà rặt xe đạp hoặc xe bò, chỉ tiện cho đám sinh viên có thể trèo lên cả khi chúng đang chạy. “Cô giáo chủ nhiệm” của tôi, nửa như bảo mẫu, nửa lại giống người đại diện, là một bà Hồng quân đáng sợ có biệt danh là Hou Rồng. Thức ăn, nước uống, quần áo, xe đạp chả mua thì chúng tôi cũng được dùng. Tiền chả biết để làm gì, vì quanh vùng chỉ có mỗi một cửa hàng Hữu Nghị bán cà phê đen trong cốc thiếc.
Chúng tôi sống đời sinh viên, nhưng chẳng biết gì nhiều (tất nhiên ấy là nói theo quan điểm bây giờ), ngoài tầm nhìn từ đỉnh Mạc Can Sơn cách Thượng Hải trăm dặm về phía tây.
Nếu phải chọn một từ để nói về Trung Quốc thời đó, tôi sẽ bảo đó là “lạc quan”. Chợ búa đơn giản như hồi mới sinh ra. Lần đầu tiên sau 35 năm, Trung Quốc mới gặp lạm phát. Và người dân lại thích thú vì họ nghĩ đó là dấu hiệu của tiến bộ, nghĩa là bắt đầu có nhu cầu, mà lại cao hơn khả năng đáp ứng.
Năm 1949, từ nóc Thiên An Môn, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Nhân dân Trung Quốc đã đứng dậy”. Giữa thập kỷ 80, họ mới bắt đầu đi học và thảo luận.
Một đêm tháng giêng 1987, tôi đứng trên ban công xem sinh viên tuần hành qua những con đường ngập tuyết, đổ về quảng trường thành phố. Kiểu tuần hành ấy tồn tại được đến tháng 6/1989, khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn.
Người có công lớn nhất để Trung Quốc lớn mạnh như ngày nay là Đặng Tiểu Bình. Nhưng ông ta cũng chính là người đã gọi xe tăng vào nghiền nát sinh viên. Sự kiện Thiên An Môn trùng đúng vào dịp chúng tôi đang làm báo cáo tốt nghiệp. Và lũ bạn cùng lớp với tôi cứ băn khoăn mãi: 4 năm học tiếng Trung chỉ để gọi đúng tên những tang tóc này sao?
Nhưng Đặng không mất nhiều thời gian về chuyện đó. Ông ta thuyết phục thế giới rằng, hãy tha lỗi cho Thiên An Môn, và hãy chơi với Bắc Kinh, chứ đừng coi Trung Quốc là một xã hội man rợ. Ông ấy vừa vật nài vừa nỗ lực. Thế giới không thù dai, và người Trung Quốc nắm lấy cơ hội ông ấy trao. Cả hai đều có phần, ít nhất là về mặt kinh tài.
Khi tôi trở lại Trung Quốc năm 1996 để sống và làm việc như mơ ước bấy lâu, tôi nhận thấy bầu không khí lạc quan tương tự như trước kia, nhưng đã có những dấu hiệu hơi khác: Hơi thở thương mại đã phả khắp cộng đồng. Cứ ký được một hợp đồng là vui, chả cần biết gì hơn. Tôi làm đại lý thép, và ký hợp đồng với người Trung Quốc liên tục.
Đất nước này đã ký được một hợp đồng lớn. Đặng nói: “Hãy tự tin, và mọi việc sẽ tốt”.
Nhưng hai mươi năm sau, người Trung Quốc đã tự tin, mà không phải cái gì cũng tốt.
Tôi phải nói rõ rằng bản cáo trạng ấy chẳng liên quan gì đến quỹ đạo thực hành tiếng Trung của tôi, vốn bắt đầu từ đại lý thép, qua xuất bản tạp chí chuyên ngành, rồi làm nhà hàng, giúp vợ (người Trung Quốc) xây khách sạn cho thuê. Việc nào cũng khiến tôi chạm mặt với hàng lô sự vụ, nhiều đến mức tôi có thể liệt kê ra hàng trăm giai thoại.
Khi tôi làm tạp chí, kẻ cạnh tranh (đối thủ thì chính xác hơn) khoác áo nhà nước rỉ tai tôi rằng, ông ta học được nhiều kinh nghiệm từ cách làm báo của tôi. Ông ta tâm đắc với những đóng góp của tôi cho ngành truyền thông Trung Quốc. Nhưng rồi cũng chính ông ấy dùng quyền để hủy hoại công sức chúng tôi. Ở vùng Mạc Can Sơn, chính quyền địa phương nhiều lần gọi máy cảm ơn tôi về việc biến những khu làng xơ xác thành địa chỉ du lịch hấp dẫn. Nhưng cũng chính họ bảo rằng, tôi là trường hợp ngoại lệ duy nhất của quy định bất thành văn: Người nước ngoài (những người đã khai phá vùng đất ấy đầu thế kỷ XX) không được chào đón sinh sống ở đây, trừ những ngày cuối tuần.
Tuy nhiên, bài viết này không nhằm nói những chuyện cá nhân. Tôi muốn nói những điều khác kia, sau nhiều tháng sống ở Trung Quốc, những điều khiến tôi phải bỏ đi.
Xã hội Trung Quốc hiện đại là nơi mọi thứ đều xoay quanh tiền và những thứ để làm ra nó. Chính trị nơi đây cũng chỉ nhằm giành giật kinh tế. Họ đã lớn mạnh gấp nhiều lần so với 25 năm trước. Văn hóa gia đình sau 60 năm chủ nghĩa xã hội, rồi 30 năm chính sách một con, đã dần biến thành văn hóa “Tôi”.
Trừ những gì vì quyền lợi kinh tế, trong cộng đồng giờ đây chẳng ai muốn hợp tác với ai. Cái gì cũng phải được trả công, dù nhơ bẩn, bất chấp đạo lý, bất kể ngày mai. Người Trung Quốc bây giờ đánh giá nhau qua tiền của, ô tô, căn hộ, đồ trang sức, quần áo, thú cưngcái gì cũng phải sáng bong, mác ngoại. Ở những vùng làng quê bé nhỏ nơi tôi sống, tôi không được hỏi thăm về sức khỏe hay niềm vui gia đình, mà được hỏi thu nhập thế nào, ô tô mác gì, rồi con chó cảnh có đắt không?
Nếu bạn nghèo, hay giấu giếm thu nhập, những người xung quanh sẽ chán bạn ngay. Do chỗ nhà nước phát động chủ trương “xã hội hài hòa”, rất nhiều dự án tốt đẹp ở nông thôn lẫn thành thị bị xóa bỏ. Dân tình thi nhau bán quyền sử dụng đất lấy tiền, thay vì sản xuất ra của cải, hàng hóa và nộp thuế.
Có tiền rồi, bạn mua hàng tiêu dùng, rồi đầu tư vào đâu đó an toàn, để lo dưỡng già hoặc chuyện học hành con cháu. Nhưng không có chỗ nào như thế, trừ việc cất dưới gối hoặc mua bất động sản. Thị trường chứng khoán thì đầy rủi ro, các ngân hàng chả có cam kết gì chắc chắn. Những kẻ có tiền hoặc có quan hệ tốt thì được chuyển tiền ra nước ngoài, bỏ mặc dân chúng hồi hộp với mớ tiền mặt hoặc vài căn hộ đang trong cơn mưa bong bóng.
Tóm lại, giá bất động sản Trung Quốc đang tăng như tên lửa. Việc sở hữu một căn hộ đã trở thành không thể đối với những lao động trẻ ở thành thị, và các dự án xây dựng nhà tiếp tục bung ra, để bán chứ không phải để ở. Nếu bạn được gọi là có tài sản, bạn phải có ít nhất 3 căn hộ. Còn nếu không, bạn là thằng đần.
Khi bong bóng vỡ (sớm hay muộn), gian dối ác độc nảy nở (kiểu vụ sữa melamine năm 2008), chất lượng các công trình đi xuống (kiểu thảm kịch đường cao tốc Bắc Kinh- Thượng Hải), hoặc tham nhũng hoàn hành (điển hình như vụ Tân Châu năm 2011), những cơ hội dần mất giáthì các sự thịnh vượng mà chính phủ đem lại cho dân cũng tự nhiên xẹp xuống. Lời hứa thì sẽ bị quên, chứ những nhu cầu của con người như thực phẩm, thuốc men, điện nước, hay học phí của con trẻ thì làm sao quên được! Một khi những nhu cầu tối thiểu đó của người dân không được đáp ứng, thì xã hội “hài hòa” ở điểm nào?
Ở nông thôn Trung Quốc, các quyết định cấp làng xã vốn cần cần có sự chịu trách nhiệm cao thì giờ đây bị đẩy đưa theo cả một chuỗi các khâu, đôi khi đến tận Bắc Kinh, để rổi bị trả lại với lời chú: “Tùy hoàn cảnh”. Bộ máy chỉ ra tay mỗi khi quyền lực hoặc quyền lợi của các cá nhân có ghế bị đe dọa trực tiếp. Đất nước bị điều khiển từ đằng sau những cánh cổng khép kín, hoặc một vài số điện thoại bí mật.
Để lên đỉnh, bạn phải nhờ đường, đừng có quan điểm nổi bật. Các đối thủ chính trị sẽ nghĩ rằng bạn sẽ vô hại với họ. Khi làm xuất bản, tôi thường xuyên phải tiếp xúc với các quan chức. Họ chỉ nghe dân tình lấy lệ thôi, còn chủ yếu lắng nghe động tĩnh từ cấp trên. Họ luôn thì thào, cứ như thể ở phòng bên cạnh có một con quái vật vô cùng thính nhạy.
Trong các tòa ngang dãy dọc là những người – theo các học giả – chịu trách nhiệm về cái gọi là “thế kỷ Trung Hoa”. “Trung Quốc sắp tới sẽ là lãnh đạo siêu cường thế giới”, họ bảo chúng tôi như thế. “Hãy chấp nhận đi, và sống với nó”. Nhưng làm sao bạn biết cách sống với những kẻ đang dấu mặt? Những kẻ lúc nào cũng “hảohảo” mà chẳng ai biết trong đầu họ nghĩ gì?
Người Trung Quốc thích bảo: “Trước kia đã có thời Trung Hoa văn minh nhất thế giới, mà có làm sao đâu. Giờ Trung Quốc chỉ muốn lấy lại những gì đã mất”. Vấn đề là họ đã mất những gì?
Đầu tiên, phải thừa nhận Trung Quốc có kích thước lớn, trước đây cũng như ngày nay. Và người Trung Quốc thích chữ “lớn” ấy lắm. Họ thích hỏi người nước ngoài nghĩ gì về họ. Và khi bạn bảo Trung Quốc “lớn”, lại thêm chữ “rất” đằng trước, thì họ khoái vô cùng. Khi người ta từ “bé” thành “lớn”, họ sẽ có tham vọng thống trị. Cho nên trong lịch sử, Trung Hoa từng bắt các nước khác trong vùng phải cống nạp nếu họ không muốn bị làm phiền.
Tất nhiên cái ngày xưa đó, “thế giới” không bao gồm Châu Âu phục hưng, Bắc Mỹ hùng mạnh, Châu Phi hoang dã, thậm chí cả Ấn Độ tiềm lực ngay bên kia dãy Himalaya hiểm trở. Thế giới lúc đó trong mắt người Trung Quốc chỉ quanh vùng Viễn Đông. Và người Hán sớm bằng lòng với địa vị “trung tâm”, rồ quay về “xử lý” lẫn nhau. Cho nên người Hán chẳng thống trị được ai. Ngược lại, họ còn hai lần bị người nước ngoài thống trị, người Mông Cổ với nhà Nguyên (1271-1368) và người Mãn Châu với nhà Thanh (1644-1911). Đến mức dần dần họ ngại yếu tố “ngoại”, cứ “ngoại lai” là đáng ghét, “ngoại nhân” là đáng ngờ
Giờ đây, lãnh đạo Trung Quốc nhận ra sự khờ dại của những người tiền nhiệm. Họ động viên dân chúng “đoàn kết” để ứng phó với chữ “ngoại”. Việc này có hai lợi ích, một là nội bộ giảm thiểu hiềm khích, hai là vươn tay tới được những mục tiêu mới mẻ. Cứ xem vụ Bạc Hy Lai thì rõ, vừa dẹp được đối thủ chính trị, vừa tước đoạt được tài sản của “ngoại nhân”, mà chính phủ lại không phải chịu trách nhiệm gì.
Một kẻ lãnh đạo thì phải ban ra được những phần thưởng xứng tầm. Hãy xem xưa nay những “nhà lãnh đạo thế giới” trưng ra những gì. Đế chế La Mã mang của cải về tặng Châu Âu. Người Anh tặng tự do và hệ thống dân chủ nghị viện cho các thuộc địa. Nước Mỹ đung đưa “giấc mơ Mỹ” trước mũi thế hệ mới lớn. Nhưng còn Trung Quốc? Họ không thể hứa với ai về cơ hội thành người Trung Quốc (!) được. Họ bảo họ sẽ loại trừ kiểu bóc lột của phương Tây, nhưng họ lại khuyến khích các ông chủ người Hán bóc lột chính đồng bào của họ để tạo nên sự “bùng nổ Trung Quốc”. Họ vẽ ra “công lý kiểu Trung Quốc”, nhưng cái cơ chế của cỗ xe công lý ấy hoạt động rất mập mờ. Cứ khi nào đuối lý thì họ bảo họ thừa căn cứ nhưng bảo trưng ra thì họ hoặc lờ đi, hoặc… thời điểm chưa thích hợp! Tôi có lần thử tìm công lý kiểu ấy ở Tòa Tối cao Bắc Kinh. Các luật sư của tôi được rỉ tai rằng, chúng tôi sẽ thắng. Nhưng khi phán quyết sắp được ban ra, một cú điện thoại khẽ rung. Và tình thế sẽ hoàn toàn đảo ngược.
Lý do cuối cùng thế giới không muốn “được” người Trung Quốc dẫn dắt trong thế kỷ XXI là ở chỗ, lãnh đạo đất nước này đầu cơ quá mức vào chủ nghĩa dân tộc. Họ lúc nào cũng nhắc nhau “một thế kỷ thua thiệt” (từ Chiến tranh thuốc phiện đến Đại chiến thế giới lần II). Họ hậm hực phương Tây khi bị Bát cường xâu xé, cay cú với sự thống trị của người Nhật, rồi kèn cựa với Liên Xô về vai trò lãnh đạo phong trào cộng sản. Cho nên nếu có ai đó nhắc đến Cao Hành Kiện với giải Nobel văn chương, hay Đạt Lai Lạt Ma với tiệc trà công khai, thì họ lại rên rỉ rằng bị “can thiệp công việc nội bộ”, hoặc bị “xúc phạm đến danh dự dân tộc”. Dường như bất cứ vụ việc gì không được như ý, là họ lại vật mình mẩy đau đớn, rồi hô hét sẽ “đáp trả đích đáng”.
Viễn cảnh được người Trung Quốc dẫn dắt thật khó tưởng tượng, trước hết bởi, chẳng lẽ thế giới lại muốn được cột vào mớ bùng nhùng nội bộ Trung Quốc? Khi đống bất động sản kia đổ vỡ thì sao? Khi hệ thống y tế và an sinh xã hội vượt quá sức chịu đựng của người dân thì thế nào? Năm 1911, cuộc cách mạng của Tôn Dật Tiên xảy ra chỉ vì có người vấp phải trái bom. Còn giờ đây thì mọi thứ đang sưng tướng lên. Liệu đống tiền chính phủ mua trái phiếu Mỹ có kịp quay về cứu việc nội bộ? Bởi điều đó lập tức sẽ khiến đồng đô la mất giá, dẫn đến xuất khẩu của Trung Quốc khó khăn, hàng loạt xí nghiệp sẽ đóng cửa, hàng triệu công nhân Trung Quốc sẽ ra đường.
Tôi hy vọng nếu có bề gì, thì mọi việc cũng sẽ êm đềm, và Bắc Kinh không mù quáng tấn công Đài Loan hay Philipines. Nhưng kiểu gì chăng nữa, thì Trung Quốc cũng sẽ đi đến cuối con đường tăng trưởng kinh tế, và giấc mơ cứu vớt loài người chỉ còn ý nghĩa mỉa mai.
Với riêng tôi, trước khi lo bị đối xử bất công vì là người nước ngoài, tôi thấy bất lực với việc đảm bảo cho gia đình mình an toàn. Từ thức ăn, nước uống không sạch, đến khí quyển ngoài đường, quanh nhà cũng bị ô nhiễm, sự vô cảm trong quan hệ với tất cả mọi ngườiNgười lớn đã vậy, nhưng các con tôi thì thế nào?
Hệ thống giáo dục cơ sở của Trung Quốc chả thấy có gì là giáo dục. Đó đơn thuần là hệ thống của các trung tâm thi cử. Các thầy cô chỉ nhăm nhăm luyện cho con trẻ vượt qua các kỳ thi. Ở nông thôn, nơi chúng tôi sống 7 năm, tình hình tưởng ít phức tạp hơn, hóa ra cũng vậy. Học sinh nào cũng cố ôn luyện, hy vọng đỗ đại học, để sau này kiếm việc nơi các thành phố lớn. Chẳng còn đâu là tình yêu thương, trách nhiệm công dân, sự tự tin hay hoài niệm nhân cách. Tất cả chỉ còn hai chữ “đỗ” và “trượt”. Đỗ thì sẽ trở thành “quan nhân”, trượt thì về ruộng đồng, các phân xưởng địa phương, nơi bố mẹ chúng cũng đang vùng vẫy để thoát khỏi.
Cũng có một ít hoạt động thể chất. Nhưng môn thể dục chính là để tìm ra những đứa trẻ có tố chất hầu gửi đến các trung tâm học cách đoạt huy chương Olympic. Những bạn có năng khiếu âm nhạc thì sao? Sẽ bị nhồi vào mấy nhạc viện bảo thủ, suốt ngày phải tập đàn cho đến lúc kiệt quệ cả tình yêu âm nhạc mới thôi (vợ tôi chính là một nạn nhân kiểu đó).
Rồi còn cái sự tuyên truyền nữa chứ. Ngày đầu tiên đến lớp, con gái tôi được xem một bộ phim có tiêu đề: “Cách nhân dân Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo trực tiếp và không khoan nhượng của Đảng, được sự giúp sức của quân giải phóng nhân dân anh hùng, đã đánh bại thiên tai động đất ở Tứ Xuyên”. Đến tận ngày nay mà người ta vẫn lấy Lôi Phong ra dẫn dụ bọn trẻ, bảo rằng nhờ dẹp bỏ được cái tôi ích kỷ, anh ấy đã đạt được rất nhiều thành tích phi thường, mà những thành tích ấy chỉ được phát hiện khi anh ấy chết, đơn vị tìm thấy cuốn nhật ký ghi chép tỉ mỉ. Áp lực khiến lũ trẻ phát ốm. Các con tôi đạt điểm dưới 9,5 đã là loại kém của lớp, bị phạt. Bài về nhà hầu hết là những đề thi thử, ngày nào cũng một tập dày. Cuối tuần hoặc ngày lễ là dịp để học thêm. Lũ trẻ phờ phạc, đần độn vì học. Đám bạn của các con tôi rất sợ học, nhưng không còn cách nào khác. Tôi thấy mình không thể bắt các con chịu cảnh ấy mãi. Buồn nhất là ánh mắt ghen tị của đám trẻ địa phương, khi chúng tôi rời đi.
Một lựa chọn là về các thành phố lớn, cho các con vào học trường quốc tế. Nhưng tại đó cũng tệ không kém. Tiền học đắt vô cùng, đã đành, nhưng chính quyền vẫn bắt các trường này phải dạy quan điểm Trung Quốc. Rồi thì những sự làm tiền đủ kiểu của cán bộ, giáo viên.
Tôi thương lũ trẻ người Trung Quốc quá. Chúng không thể học các trường quốc tế (dù vẫn tệ như đã nói) vì bố mẹ chúng không thuộc đối tượng được ưu tiên. Cũng không thể đi du học, vì vừa tốn tiền, vừa phải đảm bảo lý lịch đặc biệt. Lãnh đạo Trung Quốc nói chung không muốn nhiều người dân tiếp xúc với văn minh phương Tây, trừ một điều họ học rất nhanh khi giao thương, mà thật mỉa mai, đó lại là tệ tham nhũng. Sống ở Trung Quốc mà từ chối được tham nhũng thì thực là không thể.
Trong đội ngũ của mình, Đảng Cộng sản Trung Quốc có hàng triệu đảng viên sáng suốt biết rằng phải làm gì đó để tránh khủng hoảng. Tôi đã gặp vài người như vậy. Họ muốn giúp nước giúp dân lắm, nhưng khó khăn chồng chất, mà hình như họ cô đơn.
Tôi cũng đếm được hàng trăm trí thức Trung Quốc có kiến thức tốt, có tấm lòng với hình ảnh dân tộc. Nhưng hình như, họ hiếm khi được trao cơ hội.
Và như thế, cái ngày tôi muốn, và có thể thành người Trung Quốc vẫn còn xa lắm.
M. K.
Lã Thanh Tùng lược dịch từ Prospectmagazine.co.uk
Nguồn: báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, số 22 ngày 01-06-2013




Phần nhận xét hiển thị trên trang