Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

NGUYỄN ĐỨC TÙNG: CHÚNG TA ĐÃ LẦM KHI NGHE NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN


Chúng ta đã lầm khi giết một người 
Một người không hỏi tên
Sự nhầm lẫn của tên gọi
Chúng ta đã lầm khi trói một đứa bé
Dẫn đi ngoài phố
Một thành phố không phải của chúng ta
Chúng ta đã lầm khi hôn người đàn bà
Một người đàn bà chúng ta không kịp yêu
Chúng ta đã lầm khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn
Vì thế ngủ quên không cầm súng lên
Chúng ta đã lầm khi trốn trong đầm lầy
Đầy cỏ dại
Lắng nghe tiếng gọi vang khắp cánh đồng
Từ sáng đến khi mờ tối
Của con trâu và cái cày
Chúng ta đã lầm khi ở lại
Đã lầm khi bỏ nước ra đi
Đã lầm khi thất trận, đã lầm khi thắng trận, khi tù đầy
Và giờ đây quanh chiếc bàn này
Đã ăn uống hát hò say sưa đã khóc
Và đêm nay đã thức thâu đêm
Hát nhạc Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, ngước nhìn sao trời
Trong tiếng đàn ghi ta chậm rãi
Đã lầm khi tranh cãi chuyện nước non
Ra về giận hờn không ngủ được
Đã lầm khi thắc mắc nhiều chuyện
Trên chiếc bàn này
Chúng ta đã nấu nướng, vui chơi, đã bày bát đĩa song nồi
Đã đặt con lên thay tã lót
Trong đêm xanh như mái tóc dài
Đã cho ra đời những đứa trẻ khác
Bên chiếc bàn này
Chúng ta đã để mặc thời gian lập lại chính mình
Như sao long lanh trên trời kia
Đã ôm nhau ba mươi năm trước kẻ khóc người cười
Đã ôm nhau ba mươi năm sau kẻ cười người khóc
Đã lầm khi bàn chuyện đám cưới, rước dâu về nhà
Và bàn về tang lễ của chúng ta.

Nguyễn Đức Tùng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÁNH KIU.


.

Lãnh đạo từ nước ngoài về sau những tháng dài tập huấn tiếng Anh.Tốn kém cả bảo tải kim ngân.
Khiếp. Người ta học tiếng Anh trong nước, còn cãi nhau tay đôi với bọn đế quốc sài lang, huống hồ Lãnh đạo mần tiếng Anh từ nước ngoài về thì phen này bọn " giãy chết" có việc gì sang đối thoại với Lãnh đạo có mà cứng mồm.
Vinh dự tự hào cả cơ quan.
Phu nhân Lãnh đạo cười tươi hơn hớn, chuẩn bị váy xống, theo xe cơ quan ra tận sân bay đón chồng.
Cơ quan còn tíu tít tập trung lũ nhân viên chân dài ngực nở, tập vội tập vàng một ca khúc bằng tiếng Anh để đón Lãnh đạo.
Mấy hôm nay, từ phòng ban đến cục vụ, đâu đâu anh em cũng cố gắng nói với nhau vài câu xã giao bằng tiếng Anh vì sợ Lãnh đạo tập huấn tiếng Anh từ nước ngoài về, không quen nghe tiếng Việt.
Tóm lai là rất rộn ràng.
Tóm lại là rất tự hào.
Tóm lại là rất ...tóm lại.
Máy bay hạ cánh.
Trời ơi, Lãnh đạo bước ra cùng với một đoàn khách nước ngoài.
Thấy chưa, giờ thì lũ đối tác tiền Việt nói tiếng Việt trong nước cút khỏi cơ quan mau, từ nay cơ quan chỉ làm việc với đối tác nước ngoài bằng tiếng Anh thôi nhé.
Vinh dự tự hào.
Phu nhân Lãnh đạo tươi tắn đặt vào tay chồng một bó hoa tươi thắm.
Đội văn nghệ " đột xuất" xếp hàng ngân nga tặng Lãnh đạo một bài hát tiếng Anh.
Bắt tay thắm thiết.
Phu nhân nhìn đoàn khách nước ngoài khẽ nhắc:
-Anh ơi, họ đang tạm biệt chúng ta đấy. Anh nói tiếng Anh với họ đi, nói tạm biệt họ đi anh.
Lãnh đạo ưỡn ngực, hướng mặt về đoàn khách nước ngoài, giọng trầm ấm nói lời tạm biệt bằng tiếng Anh:
-Thánh Kiu. Thánh Kiu. Thánh thánh kiu kiu.
Phu nhân Lãnh đạo ngơ ngác nhắc:
-Tạm biệt cơ mà anh.
Lãnh đạo lại ưỡn ngực, đưa tay vẫy theo cách các lãnh tu, miệng liến thoắng:
-Thánh kiu, Thánh kiu kiu, Khalaso, Xamakia, Ôke, No!
Phu nhân giật tay áo:
-Anh...
Nghe vọng lại một tràng pháo tay lẹt đẹt.
------------
Chuyện này mần tại sân bay Đà Nẵng tức khắc đây:
THÁNH KIU.

Lãnh đạo từ nước ngoài  về sau những tháng dài tập huấn tiếng Anh.Tốn  kém cả  bảo tải kim ngân.
Khiếp. Người ta học tiếng Anh trong nước,  còn cãi nhau tay đôi với bọn đế quốc sài lang, huống hồ Lãnh đạo mần tiếng Anh từ nước ngoài về thì phen này bọn " giãy chết"  có việc gì sang đối thoại với Lãnh đạo có mà cứng mồm.
Vinh dự tự hào cả cơ quan.
Phu nhân Lãnh đạo cười  tươi hơn hớn, chuẩn bị váy xống, theo xe cơ quan ra tận sân bay đón chồng.
Cơ quan còn tíu tít tập trung lũ nhân viên chân dài ngực nở, tập vội tập vàng một ca khúc bằng tiếng Anh để đón Lãnh đạo.
Mấy hôm nay, từ phòng ban đến cục vụ, đâu đâu anh em cũng cố gắng nói với nhau vài câu xã giao bằng tiếng Anh vì sợ Lãnh đạo tập huấn tiếng Anh từ nước ngoài  về, không quen nghe tiếng Việt.
Tóm lai là rất rộn ràng.
Tóm lại là rất tự hào.
Tóm lại là rất ...tóm lại.
Máy bay hạ cánh.
Trời  ơi, Lãnh đạo bước ra cùng với  một đoàn khách nước ngoài.
Thấy chưa, giờ thì lũ đối tác tiền Việt nói tiếng Việt trong nước cút khỏi cơ quan mau, từ nay cơ quan chỉ làm việc với đối tác nước ngoài bằng tiếng Anh thôi nhé.
Vinh dự tự hào.
Phu nhân Lãnh đạo tươi tắn đặt vào  tay chồng một bó hoa tươi thắm.
Đội văn nghệ " đột xuất" xếp  hàng ngân nga tặng Lãnh đạo một bài hát tiếng Anh.
Bắt tay thắm thiết.
Phu nhân nhìn  đoàn khách nước ngoài khẽ nhắc:
-Anh ơi,  họ đang tạm biệt chúng ta đấy. Anh nói tiếng Anh với họ đi, nói tạm biệt họ đi anh.
Lãnh đạo ưỡn ngực, hướng mặt về đoàn khách nước ngoài, giọng trầm ấm nói lời tạm biệt bằng tiếng Anh:
-Thánh Kiu. Thánh Kiu. Thánh thánh kiu kiu.
Phu nhân Lãnh đạo ngơ ngác nhắc:
-Tạm biệt cơ mà  anh.
Lãnh đạo lại ưỡn ngực, đưa tay vẫy theo cách các lãnh tu, miệng liến thoắng:
-Thánh kiu, Thánh kiu kiu, Khalaso,  Xamakia, Ôke, No!
Phu nhân giật tay áo:
-Anh...
Nghe vọng  lại một tràng pháo tay lẹt đẹt. 
------------
Chuyện này mần tại sân bay  Đà Nẵng  tức khắc đây:
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Đình Chính




CA HÁT HAY GÀO THÉT?


Một triển lãm ngoạn mục
Đầu tháng 03-20...., hoạ sĩ Đinh Quân triển lãm sắp đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội. Triển lãm có tên HÁT TRÊN CÁNH ĐỒNG XANH.
Người đến dự có vẻ thích thú khi được mời thưởng thức một bộ phim ngắn sấm sét nổ đùng đùng dội xuống vô số những tượng đầu người sơn đỏ chót, mồm há hốc, cháy ngùn ngụt hay là đang tự thiêu) tung toé, vương vãi trên bãi cát sông Hồng.
Sau đó khán giả được dẫn ra để chiêm ngưỡng, thậm chí tận tay sờ mó vuốt ve vẫn những tượng đầu người đó, đỏ chót, mồm há hốc, đang nghiêng ngả xếp hàng đặt ở ngoài vườn nhà Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội.
Và cuối cùng thì lại rồng rắn kéo nhau vào hai phòng lớn ngắm nghía 18 bức tranh sơn mài ngoại cỡ, có bức cao tới 2 mét và dài tới 18 mét vẽ vẫn toàn những đầu người méo mó, đỏ chót, mồm há hốc gào thét hốt hoảng kinh sợ.

Có thật là HÁT TRÊN CÁNH ĐỒNG XANH?
Bên cốc bia trong tiệc nhẹ cuối triển lãm mà hoạ sĩ khao người đến dự, một người xem đã tâm sự : Triển lãm này của ông Đinh Quân báo trước cái thảm hoạ sắp xẩy ra khi khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.
Ông Phan Cẩm Thượng viết một bài dài tới trên nghìn chữ, “Nghệ thuật là đổi thay”, sau một hồi vòng vo rào trước chắn sau đã phải thốt lên:
... có sự hoang vắng, tội nghiệp, cái buồn mênh mông, và sự nản lòng không thể tưởng tượng được nằm bên trong sự ầm ĩ của tiếng gào. Những khuôn mặt của những con người không có khả năng trở thành cá nhân, tất cả đều giống nhau ngay cả sự méo mó.
Và ông kết luận:
... người họa sỹ này có những cảm giác rất điên rồ dưới vẻ hiền lành và rất an bình.
Không phải bị cái kiểu là lạ vừa phim vừa tượng vừa tranh của triển lãm này đánh úp, nhà phê bình mỹ thuật có thâm niên Trần Thức, năm nay gần 80 tuổi, hào hứng viết (trong sổ lưu niệm chứ chưa đăng báo):
Đây là một tâm hồn lớn, công trình lớn, sức lao động, tư duy sáng tạo thuộc loại đáng nể và đáng gờm mà ít đồng nghiệp cùng trang lứa hay trước ông (ông Đinh Quân) đâu dễ có được… nhằm lý giải những sự thật của hiện tượng thiên nhiên và xã hội.
Hiện tượng thiên nhiên gì? Môi trường bị tàn phá? Còn hiện tượng xã hội gì? Một xã hội quá bức bối khiến người ta phải há hốc mồm gào thét ?
Vậy thì xem ra cái tít mà ông Đinh Quân đặt cho triển lãm HÁT TRÊN CÁNH ĐỒNG XANH vừa đậm chất thi ca lại vừa pha tính hài hước.
Có thể vì thế mà đã có người xem đã kêu lên rằng những nhân vật méo mó, ngoác mồm dị mọ gào thét, tăm tối trên tranh, tượng của hoạ sĩ Đinh Quân đúng là một đám đông có tâm trạng bầy đàn, kêu đòi cái gì đó (cơm ăn, nước uống, nhân quyền, hay chỉ là không khí sạch để thở hít). Chẳng có chút gì HÁT TRÊN CÁNH ĐỒNG XANH cả. Vậy thì ông hoạ sĩ này nên đặt lại cái tên triển lãm là gào thét trên cánh đồng xám xịt đau khổ thì đúng hơn.
Triển lãm của ông Đinh Quân đang được dư luận không chỉ ở Hà Nội chú ý .
Ông giám đốc bảo tàng (người cho thuê địa điểm triển lãm) và ông Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam long trọng đến dự buổi khai mạc không (hay chưa) có ý kiến chê trách, phản đối hoạ sĩ Đinh Quân.
Ở Hà Nội vài năm nay, người yêu mỹ thuật cũng đang làm quen dần và xem ra lại còn có thiện cảm với loại hình nghệ thật cũ người mới ta này. Có thể họ tìm thấy ở các triển lãm này một cách làm mỹ thuật tự do, phóng khoáng, và ở một phương diện nào đó nó có tính chiến đấu ( đấm đá ) cười cợt, chế giễu sỗ sàng trực diện vào các góc tối (những vùng nhậy cảm) của xã hội luôn bị cấm đoán, bưng bít, che giấu.

Hồi sinh thuật ngữ đấu tranh trong... văn học nghệ thuật
Cùng thời gian triển lãm của hoạ sĩ Đinh Quân đang tưng bừng tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội, thì nghe đâu cũng tại Hà Nội, ban tuyên giáo trung ương Đảng CS đã triệu tập một hội nghị với cái tiêu đề “đấu tranh chống những quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”.
Vậy là hiện nay ở Việt Nam, văn học nghệ thuật đang tồn tại những sáng tác và lý luận mang quan điểm sai trái cần phải đấu tranh để chống lại chúng!
Không biết trong một vài ngày tới cái triển lãm sắp đặt HÁT TRÊN CÁNH ĐỒNG XANH này có bị xếp vào loại “Quan điểm văn học nghệ thuật sai trái” và bị đặt lên bàn để mấy nhà phê bình vẫn tự xưng là đao búa hăng hái mổ xẻ, đấu tranh, chấn chỉnh lại?
Tuy vậy, cũng phải thừa nhận, đúng như trong lịch sử phát triển của nghệ thuật, chả cứ gì trên thế giới, mà ở ngay tại Việt Nam, mỹ thuật vẫn là bộ môn nghệ thuật luôn tìm được cách đi tiên phong (đi một cách trót lọt) trong sự cách tân đổi mới đầy tai hoạ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích TT "Mây ngàn" của moa:


                                      ( Đây là cảnh đền thời bây giờ )

Buổi chiều, chúng tôi mới từ trên núi Dùm xuống, trên vai mỗi người bó củi. Chị tôi còn thêm chùm dâu da, quả rất mọng. Anh tôi lần xuống bờ sông, chỗ giấu mảng sát mí nước, một lúc thấy anh hốt hoảng quay lên.
Cái mảng không cánh, giờ chẳng thấy đâu?
Ba chị em vội vã sục tìm ven bờ không sót đám sú vẹt nào cũng chẳng thấy. Chỗ có cây sung nhỏ buộc mảng chỉ còn lại sợi dây song cũ. Có thể do dây đã ải, bị đứt, nên mảng bị nước cuốn đi. Cũng có thể ai đó muốn qua sông hồi chiều, thấy cái mảng sẵn đấy đã lấy bơi sang bờ bên kia.
Rất nhiều khả năng mò đoán..
 Nhưng lúc này cái quan trọng hơn là làm cách nào để qua sông, về nhà?

Hồi bấy giờ nhà cửa thưa thớt, không như bây giờ. Bên này sông nhà cửa càng ít. Ban ngày cũng không mấy khi gặp người qua lại. Muốn tới bến đò phải đi vòng xuống một quãng khá xa mới có. Đò người ta chỉ chở ban ngày. Xuống đến nơi đã gần tối, chưa chắc người ta đã chở, liệu có ích gì?
Giả dụ có đò ở đây, cả ba chị em đều không ai có tiền, muốn sang bên kia, đi nhờ liệu người ta có cho đi không? Nhưng nếu có, năn nỉ người ta, không ai nỡ để mấy đứa trẻ bơ vơ ở đêm lại bên bờ sông, biết đâu người ta sẽ cho đi?
Ba chị em ngồi thừ ra chưa biết tính cách nào. Mùa này sông rộng nước to, bơi bộ qua sông là chuyện không thể. Nhưng cứ ngồi đây chờ thì bao giờ mới về được đến nhà. Và chờ cái gì kia chứ?
Không lẽ đêm nay phải ở lại bên bờ sông này. Ăn đâu? Ngủ đâu? Lần đầu tiên trong đời cả ba chị em hiểu thế nào là sa cơ, không cửa không nhà. Hiểu được mái ấm gia đình quan trọng như thế nào với đời sống con người.
Phía bên kia sông tuy không có bố mẹ tôi ở đấy nhưng có bác bá, anh chị và những người thân. Dù sao thì đấy cũng là tổ ấm của chúng tôi lúc này.
Về sau, ra trường đời tôi còn gặp nhiều thử thách gay go hơn. Có những lúc đói cơm, rách áo, không chỗ trú thân.. Còn cơ cực hơn lúc bấy giờ rất nhiều, lại không thấy lo sợ hoang mang như lúc này..Và không nhớ lâu trong ký ức đậm nét đến như vậy.
Có thể là do sau đấy tôi đã cứng cỏi, đã trưởng thành. Đã quen với khổ cực, khó khăn mà cuộc sống mang lại. Những khả năng tiềm tàng của con người đã giúp tôi vượt qua để tồn tại, đấu tranh cùng số phận.
Chị tôi bảo “Chả có cách nào nữa. Hai đứa cứ ở đây chờ, chị đi lên một quãng nữa xem sao? Nếu không, tối nay đành phải vào đền tìm chỗ ngủ tạm. Sáng mai quay lại “lối” chặt thêm ít nứa làm mảng để sang sông. Bây giờ sắp tối, không kịp nữa”. Nói rồi chị đi.

Anh tôi ngày thường tỏ ra cứng cỏi, nhưng thực ra lại dát. Tôi thấy anh rơm rớm nước mắt. Không hiểu là tủi thân, hay lo sợ đêm nay không chỗ ăn, chỗ ngủ? Tôi động viên:
- Mình có lửa mang theo sợ gì? Đốt một đống lửa thật to, rắn rết, hùm beo đều sợ hết, anh không phải lo. Mà có nhỡ bữa anh em mình kiếm mấy củ sắn nướng lên là xong bữa, chả sợ đói!
Lúc ở trên “lối” xuống, tôi thấy có vườn sắn xanh um, không biết của dân hay bộ đội trồng. Có lấy một hai gốc trong hoàn cảnh này chắc chẳng ai nói gì. Nhưng chắc chả phải đến nỗi ấy. Chị Nhiên đi thế nào không tìm được mảng?
Đấy là tôi đoán nhầm. Khi chị tôi quay trở lại, mặt chị buồn thỉu, biết chả có hy vọng gì.
Anh tôi lẩm bẩm: “ Biết thế này tao cứ ở nhà câu cá đổi củi cho người ta có khi còn tốt hơn. Lại bảo cá nọ cá kia. Làm gì có chuyện cá ăn thịt người? Người ta nói để dọa trẻ con để khỏi chết đuối, tao không tin..”
Anh tôi biết nghề cắm cần ngầm rất sát cá. Hồi còn ở quê chiều nào anh cũng đi cắm cần ở đầm Vạc mé ngoài đình. Sáng sớm hôm sau anh dậy thật sớm, vớt cần về. Không hôm nào về không. Hôm thì cá nheo, hôm cá quả, lưng lưng một giỏ.
Bá tôi không muốn cho anh em tôi ra cái hồ gần nhà bà vì sợ chúng tôi không may dẫm phải chông. Chông sắt lâu ngày gỉ sét dẫm phải rất độc. Mấy lần anh tôi sắm cần bà đều giấu hoặc vất đi.
Chả hiểu thế nào bây giờ gặp phải tình huống này anh ấy lại nhớ đến. Tôi bảo:
- Ừ, nếu anh muốn sẽ có cách.
- Cách gì?
- Đến lúc đó sẽ biết!
Nói thì nói vậy, thực ra tôi chưa biết cách gì, cốt nói để động viên anh ấy vào lúc này.
Mặt trời đã lặn sau phía núi xa mờ.
Hy vọng gặp may mắn bất ngờ vào lúc này là rất khó xảy ra.
Ba chị em đã tính đến việc vào khu đền cổ tìm chỗ trú qua đêm.
Mùa này hay có những cơn mưa bất chợt, không thể ở ngoài trời. Rất dễ bị mưa ướt và cảm lạnh. Dù sao vẫn còn có chỗ nương thân vào lúc này. Có ngồi rầu rĩ ở đây mà than thở cũng không ích lợi gì. Chị tôi bảo thế, buộc lại con dao cạnh sườn, chuẩn bị đi.
Chợt anh tôi nói như reo lên:
- Hình như có thuyền?!
Cả ba chúng tôi quay lại. Đúng là có thuyền thật. Từ phía thượng nguồn có một chiếc thuyền con có mui che đang bơi dần về phía chúng tôi.

( Còn nữa..)

( một người chủ nhà quen)
Mấy tháng rồi trời mới chịu mưa

Mưa. Mấy tháng rồi trời mới chịu mưa. Tôi nghe mưa rớt trên mái tôn gắt gỏng. Giá như tôi có nhà. Tôi sẽ ngồi bên cửa sổ. Tôi sẽ ngắm mưa. Tôi không có nhà. Tôi có một phòng trọ. Buổi chiều ồn ã tiếng la gọi. Giá như tôi có vườn. Mưa sẽ đẫm các vòm lá. Tiếng mưa rơi từ các vòm lá nghe thật náo nức. Tôi không có vườn. Tôi có một phòng trọ. Tôi có một hành lang hẹp. Tôi có một bức vách. Tôi có những tin nhắn chừng mực ngắc ngứ của anh. Tôi có một đam mê đã nguội.
Mấy tháng rồi trời không mưa. Biển đã lùi xa tít. Biển đã từng cứu rỗi. Đã từng cưu mang. Giờ chối từ mọi buông thả vào mình. Biển lùi xa. Chỉ giới đỏ đã vây sát bờ cảnh báo.
Im lặng. Chỉ im lặng mênh mông. Và đớn đau như cái chết.
Buổi chiều ồn ã tiếng la gọi. Mấy tháng rồi trời mới chịu mưa. Bạn nói: Quên những cái tên đó đi. Những âm vang cần lắng. Bạn nói: Chúng ta cần sống lại từ tro cốt của chúng ta. Sau khi đã trút bỏ mọi nhỏ nhặt u mê. Bạn nói: Chúng ta phải đi qua cơn buồn nôn xanh xao buồn bã này. Bạn nói: Đã chìm đến đủ sâu chưa? Đủ để kết thúc mọi giấc mơ. Kết thúc. Chúng ta tự chán và mọi buồn vui tự rơi rụng.
Mưa. Mấy tháng rồi trời đã im lặng nắng. Tôi có một phòng trọ. Tôi có một dãy hành lang. Tôi có một con rắn bị đánh gù lưng. Tôi có một buổi chiều. Và biển. Và thuyền. Và những nụ hôn đằng sau con sóng dựng.

28.5.2013


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vy Tranhoang:

Vy Tranhoang


TÔI VỚI CHỢ HÔM

Chợ Hôm chỉ bán ban ngày
Nhân tình thế thái em bày ra chưng
Tiền trao cháo múc dửng dưng
Câu thưa gửi cứ lừng khừng trên môi

Nón mê rách một xó ngồi
Bà tôi tóc bạc, bán vôi bán trầu
Người mua cũ …mất từ lâu
Còn người mua mới ai đâu vôi trầu?

Em tôi bỏ xứ cơ cầu
Bán buôn cơ bắp, rễ, dâu…chợ người
Tôi đi trả giá nụ cười
Chợ trưa thưa vắng biếng lười tiếng rao.

Bỗng dưng vấp một tiếng chào
Cây đàn nhị, giọng ả đào rưng rưng…

TRẦN HOÀNG VY.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Đọc: PNT


Bút giả

Cách nay hơn hai chục năm tôi được một nhà văn đàn anh kể cho nghe vài tứ truyện ngắn. Có một tứ truyện rất ấn tượng ngay lập tức gieo vào tôi sự ám ảnh khôn nguôi. Nó thế này.
Ở một xứ sở nọ có tên là i cờ dét (Y). Vị quan trấn thủ xứ ấy vốn là một ông quan thanh liêm, biết trọng chữ nghĩa. Người trọng chữ hiếm khi không  thương người. Thương bằng cách giúp cho mọi thần dân xứ ấy chuộng sự học hành. Ngài cho rằng có con chữ việc làm ăn sẽ bớt đi vất vả, cuộc sống ắt sẽ đủ đầy. Khỏi kể văn chương xứ Y được đề cao thế nào. Các văn nhân được hưởng sự tôn trọng của toàn xứ. Một ngày theo kế hiến của một văn sĩ, ngài tổng trấn cho dựng một cây bút bằng đá. Bút được tạc công phu dựng thẳng đứng, ngòi oai nghiêm chĩa chọc vào trời xanh. Ngay chân đế bút đắp hẳn một máng mực khổng lồ. Cứ vào gần chính canh giờ Ngọ ở giữa khắc thứ tư (gần 12 giờ trưa, kém bảy, tám phút) hôm nào có nắng thì bóng của cây bút đổ ngòi chạm đúng vào máng mực. Từ ngày có công trình bút đá, xứ Y mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân tình phấn khởi no ấm. Đi khắp xứ chỗ nào cũng rộn ràng thơ phú cùng tiếng cười hòa quyện. Cây bút đá được coi như biểu tượng của hào khí xứ Y và nó được trân trọng đến mức được trông coi bởi một viên quan vào hàng ngũ phẩm.
Sách Thằng mõ trâu và ngọn bút chẳng biết thật hay giả. Khekhe…
Bỗng một ngày viên quan ngũ phẩm trông coi cây bút đá hớt hải đến báo quan tổng trấn một tin kinh thiên động địa. Đúng hôm ấy trùng hợp có một trận động đất sập núi chết người. Quần thần thất kinh khi được biết dù nắng đổ thế nào thì ngòi bút đá cũng không thể nào chạm được vào máng mực ở thời điểm gần chính canh giờ Ngọ. Một ban bệ đủ loại cước sắc tiến hành điều tra khẩn. Kết luận cuối cùng không chỉ ra được chính xác nguyên nhân cây bút bị lún hụt đi mất nửa thân ngòi vì có thể do địa chấn, do cấu tạo địa tầng, do thiết kế sai hoặc là do bớt xén vật liệu lúc xây dựng. Người ta nghiêng về mấy giả thiết sau. Oái ăm việc thi công này do đám văn nhân đảm trách. Quan tổng trấn điệu ngay viên văn sĩ phụ trách thi công yêu cầu trong 3 ngày phải xử lý xong sự cố này nếu không sẽ bị chém đầu bêu gương. Viên văn sĩ hoảng hốt nhưng rồi đám đồng sự góp mưu khó gì việc ấy. Ngày thứ ba trước sự chứng kiến của quần thần, cây bút rõ ràng đã chạm vào được máng mực. Rất đơn giản nó đã được đắp thêm phần ngòi bằng xi măng. Quan tổng trấn cả cười cho qua chuyện.
Hiềm một nỗi từ ngày bút đá được đắp thêm ngòi xi măng, xứ Y dần lụn bại. Gió bão cứ nhè xứ Y mà trút. Mùa màng thất bát, nạn đói ập đến kéo theo trộm cắp cướp giết. Quan lại xứ Y đang chỗ chăm chỉ đèn sách, trị dân bằng chữ giờ đổ đốn bè cánh mua quan bán tước, tham nhũng xách nhiễu dân lành. Đám văn veo chữ nghĩa sau vụ bút lún đã bị mất đi nhiều bổng lộc giờ còn tệ gấp bội. Họ càng không được tin dùng. Người thấp tài thấp trí thì quay ra xu phụ đám quan lại biến chất bằng thứ văn vô bổ có cánh. Kẻ có chút chí khí tài năng thì chán nản buông bút cầm chai lấy xướng ca đàn hát rượu chè cầm cự qua ngày. Quan tổng trấn hết sức lo lắng. Ngài cho truy tìm nguyên nhân vì sao xứ Y lại bỗng dưng mạt rệp. Hết đủ mọi cách chẳng biết được nguồn cơn, chẳng dập được thói hư tật xấu xâm thực khắp bờ dân cõi, ngài đâm ra phẫn chí buông lơi chính sự. Xứ Y ngày thêm thê thảm. Một ngày buồn bã quan tổng trấn cải dạng vi hành. Lọ mọ nơi chân bút đá ngài chợt thấy một người khách vãng lai đứng ngắm nhìn ngọn bút. Người này ngắm nghía chán chê mê mỏi rồi dậm chân bỏ đi sau khi buông ra tiếng thở dài đầy cảm thán. Thấy lạ quan tổng trấn lạch bạch chạy theo nài nỉ gặng hỏi. Vị khách lạ trỏ tay về phía cây bút đá buông cụt lủn mỗi câu:
-Bút giả!

Trí nhớ của tôi chỉ loáng thoáng được có thể. Đã hơn hai mươi năm tôi chờ đợi truyện ngắn này của nhà văn đàn anh nhưng càng đợi thì bóng câu tăm cá càng biệt. Vẫn biết nhà văn đáng kính của tôi có vướng vào một tai nạn văn chương hy hữu đã khá lâu nhưng tôi vẫn mong ông hoàn thành thiên truyện này. Chép lại theo trí nhớ đứt đoạn cũng là thành ý để nếu nhà văn có vô tình đọc đến thì mong ông hãy cầm lấy cây bút và viết. Mong lắm thay./.
Hà Nội 10/01/2013
PNT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích tt "Mây ngàn"


Thực ra, trong việc chuyển về xuôi của bố mẹ tôi còn một lý do khác, mà lúc bấy giờ hai người không nói. Nhưng bá tôi biết. Bà bảo:
- Trước sau gì bố mẹ chúng mày cũng phải về. “Cò ăn từng thung”, con người cũng vậy. Không phải ai cứ muốn ở đâu thì ở. Quan trọng là cái kế sinh nhai. Bơi đò và bán quán chẳng qua là vạn bất đắc dĩ với bố mẹ các cháu phải làm. Nghề làm thuốc phải có đất mới sống được. Ở quê người ta biết tiếng lâu rồi, mới sống nổi. Bố chúng mày ở đây ai người ta biết? Bơi đò cũng chỉ trợ thời. Mấy đứa ở đây với bác bá, ổn ổn bố mẹ các cháu sẽ lên đón.
Lý do đơn giản ấy, vậy mà chúng tôi đâu có biết? Chỉ thấy bấy giờ bố mẹ chúng tôi hay phàn này về làm ăn, cuộc sống khó khăn. Không đả động gì đến nghề thuốc gia truyền chữa bệnh lòi dom, chữa sâu quảng, hắc lào, thuốc cam có từ thời các cụ tổ ngày xưa.

Chị cả tôi năm ấy đã mười bảy tuổi. Chị thường gánh gồng giúp bá tôi mang hàng ra chợ Tam Kỳ, họp ở trong thành cổ.
Hàng họ cũng chẳng gì nhiều. Toàn kim chỉ, bấc đèn, mấy thứ tạp hóa vằn vặt.
Có một anh vệ quốc mê chị lắm. Thỉnh thoảng ngang qua ghé thăm nói vài câu, mặt đỏ dừ, vội vàng đi ngay. Chị thức mấy đêm thêu tặng anh chiếc khăn tay có hình bông hồng và đôi chim hòa bình.
Đấy là biểu tượng tình yêu thời đấy, không biết ai mách cho chị tôi.
Anh này về sau chuyển sang công an xung phong đóng ngay ở thị xã. Tình duyên của họ cũng nhiều trắc trở. Không ai ngờ anh cu Tý nhà ông cả Tõm lại cùng đơn vị với anh người yêu của chị tôi.
Thời bấy giờ là thời người ta tôn trọng tổ chức hơn mọi tình nghĩa trên đời. Cu Tý báo cáo với tổ chức gia đình tôi “có nguồn gốc bóc lột, từng làm tay sai cho đế quốc phong kiến”. Vậy là mối nhân duyên chưa thành.
Chị tôi khóc thầm hàng tháng trời, người rạc đi như vừa trải qua cơn bạo bệnh. Bá tôi an ủi thế nào cũng không được.
Thật may, kỳ ấy có cuộc họp ở dưới Tân Ca, ông Tú Ất ở dưới xuôi lên. Ông đã thành nhân vật quan trọng, có uy tín. Ông đứng ra bảo lãnh, người ta mới chấp nhận.
Đám cưới chị tôi cha mẹ tôi không có mặt, chỉ có bà bá đứng ra làm đại diện. Tổ chức theo đời sống mới, chỉ có liên hoan bánh kẹo, chủ yếu vui bằng vỗ tay..

Nhưng đấy là chuyện một năm nữa mới xảy ra. Còn sáng nay gánh hàng xong ra chợ chị tôi về rủ cả tôi và người anh trai tôi sang bên kia sông lấy củi.
Chúng tôi đi nhờ mảng qua chỗ bến đò hơn ba mươi năm sau xây cây cầu bê tông qua sông Lư bây giờ.
Đang mùa nước lũ, nước chảy rất xiết. ba chị em phải đi ngược lên trên bến đò một đoạn, mảng dạt xuống mé dưới là vừa. Đánh vật với dòng nước mấy tiếng đồng hồ, gần trưa chúng tôi mới sang tới bờ bên kia. Ba chị em men theo bờ sông, tới cổng đền Thượng bây giờ ngồi nghỉ. Ở đây có cây đa cổ thụ bóng xòa râm mát che một khoảng phiến đá nhẵn, phẳng, rất rộng.
Ba chị em lấy cơm nắm ra ăn với cá nướng, anh tôi câu được để dành từ chiều hôm trước. Vừa ăn vừa khoái chí nhìn ra mặt sông nước đang cuồn cuộn chảy. Chúng tôi biết dòng sông từ đây sẽ xuôi về ngang qua nhà chúng tôi ở dưới xuôi. Chị gái tôi lấy lá gấp làm thuyền, viết chữ vào bảo “gửi thư về cho bố mẹ”. Chả hiểu sao lúc đấy chúng tôi lại tin là thể nào bố mẹ tôi cũng nhận được?
Đằng nào thì mặt trời đã lên cao, phải nghỉ trưa ở đây. Đang đầu mùa hạ, nắng gắt, không thể leo núi vào lúc này. Chúng tôi đi quanh khu đền bỏ hoang, dây dợ chằng chịt. Những lối đi lâu ngày đã xanh rêu. Có đoạn cỏ rác, cỏ lông vực đan dày. Nếu không mang theo dao, rất khó lòng để đi qua.
“Đây là ngôi đền có từ lâu lắm rồi. Ngày trước thường có hội rước từ bên này sông sang bên kia sông. Xuôi bên hữu ngạn một quãng chừng hơn cây số còn có đề Hạ. Hai ngôi đền theo truyền thuyết kể rằng rất linh thiêng. Đời vua Hùng Vương thứ mười tám có hai nàng công chúa con gái vua Hùng ngược lên, vãng cảnh thượng du. Lên mãi cọc đá thề trên Nà Hang quốc, đến quãng sông này thì hóa. Dân chúng bởi vậy mới lập đền thờ. Hàng năm dịp đầu xuân hội mở rất to, dân chúng náo nức về trảy hội. Người ta rước kiệu hai nàng công chúa qua sông. Chiêng trống vang lừng, thuyền kết hoa rộn rã một khúc sông.
Chỉ có mấy năm chiến tranh loạn loạn, giờ thành ra thế này”.
Không biết nghe ai kể, chị tôi bảo thế. Tôi thì tôi cứ phân vân. Tôi nghĩ có thể bấy giờ hai người công chúa không may gặp phải trận lũ bất chợt.  Những cơn mưa đường rừng, lũ rất khủng khiếp. Hoặc là gặp thú dữ hồi ấy còn khá nhiều..
Nghĩ thì nghĩ vậy, có một nỗi sợ mơ hồ nào đó trong lòng, khiến tôi không dám nói ra.
Tôi chưa học sử nên tôi còn rất mơ hồ.
Cũng không ngờ rằng kể cả sau này, học lên đến đại học rồi, cũng chẳng hiểu được gì hơn. Sử sách nước mình còn bao nhiêu điều vẫn là huyền thoại, chẳng rõ ràng.
Làm sao dòng giống Lạc Hồng lại là dòng giống tiên rồng đẻ ra từ một bọc trăm trứng? Cho dù triều đại các vua Hùng là có thật. Triều đại vinh quang, hiển hách đó  chắc chắn là phải sinh ra và tồn tại như thế nào đấy, chứ không thể hoàn toàn như những câu chuyện kể, tôi từng được nghe.
Liệu có phải một tai nạn nào đó rất nặng nề của dân tộc mình đã làm thất lạc sử sách ghi chép truyền cho đời sau? Hay có một thế lực bạo tàn, đen tối nào đó đã cướp bóc, hủy hoại nó, chỉ còn lại mờ mịt, mung lung đến tận bây giờ?
Câu hỏi đó mãi sau này, lúc nào cũng bứt dứt trong tôi mỗi khi nhân việc nào đó gợi nhớ lại.
Sau này tôi càng cố công tìm hiểu lại càng thấy thật quá sức mình!

( Còn nữa..)



Phần nhận xét hiển thị trên trang


Góc cười tủm:
Chợt nhớ chuyện hồi xưa nghe được nên post cho vui:

Có ông suốt ngày uống rượu say khướt, vợ tức lắm! không cho tiền mua rượi nữa, anh ta không biết cách nào đành … không “phục vụ” vợ nữa.
Lâu không thấy “ động tĩnh gì ” vợ thấy lạ, hỏi: “cái đấy đâu rồi?”
“Thèm rượu, mang cắm quán lấy tiền mua rượu uống rồi!”

Một ngày, hai ngày rồi… đến ngày thứ ba, bà vợ không chịu được nữa liền quẳng cho ông chồng nắm tiền rồi quát: “Cầm lấy tiền mà đi chuộc nó về đi…à mà này tiện thể chọn cái to vào nhé!”

(Chị ta tưởng ở đó nhiều người cầm cố cái đấy để vay tiền)

P/S: Qua câu chuyện mới biết chị em rất thích “ăn To nói lớn”