Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Đêm Qua Bắc Vàm Cống..

Đêm Qua Bắc Vàm Cống, một bài thơ ngắn, ra đời cách đây lâu lắm, hơn 60 mươi năm khi tác giả của nó, Tô Thùy Yên, chưa tới tuổi hai mươi. Thỉnh thoảng tôi đọc lại bài thơ ngắn đó, và lại nhớ mấy lần qua cái bắc ấy, trước 1975, trên đường đi về Lục Tỉnh, qua Sa Đéc, Long Xuyên. Lần nào cũng thế, qua đó, cái buồn bỗng dưng ập tới. Tại sao? Tại vì bến bắc hồi đó còn quạnh quẽ lắm, nước sông Cửu Long chảy miên man, lục bình trôi hàng nối hàng như không bao giờ dứt? Thì Tô Thuỳ Yên cùng với bài thơ đó hiện về. Thế là cũng tại vì bài thơ có sức ám ảnh lớn. Đọc lại nó, nghe lại nó, như nghe lời nguyền của định mệnh.
Nhiều người đã viết về Tô Thùy Yên từ nhiều năm nay. Nhà thơ vừa qua đời, những bài nhận định càng mọc lên như nấm sau cơn mưa. Đều là những lời ca ngợi, thán phục. Chẳng hạn Thơ Tô Thuỳ Yên là những băn khoăn siêu hình, là triết lý, chênh vênh giữa siêu thực và hiện thực, là đau đớn vì sự nhỏ nhoi của kiếp người, đem ý thức về bản ngã, về nỗi hoang tưởng của con người vào thi ca; là nhân chứng sống động qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử; là tài hoa, uyên bác, sâu lắng; là thấm đẫm tình quê hương, tình người ... Đã thế, còn thay đổi cái ngôn ngữ thi ca quen thuộc lâu đời của Đông Phương; tinh vi, cô đọng, trau chuốt; chữ nghĩa cổ điển hoà lẫn với hiện đại, cách diễn tả dân gian, sử dụng ca dao, tục ngữ, hoà lẫn với văn chương bác học; và còn có khả năng sáng tạo ra từ ngữ mới ...
Tô Thuỳ Yên, một nhà thơ lớn vừa giã từ cõi đời này, rất xứng đáng với tất cả những nhận xét ấy.
Một trong những bài thơ dài hơi, rất nổi tiếng của Tô Thuỳ Yên, đã được đón nhận với lòng quý mến, trân trọng, và ngưỡng mộ, đó là bàiTa Về. Hầu như tất cả những lời nhận định, ca ngợi vừa nêu trên đều có thể trao lại cho bài thơ này. Nhưng nó như viên ngọc quý có nhiều mặt chạm trổ, ánh sáng tỏa long lanh, đa dạng, huyền bí. Cho nên, mỗi lần đọc lại bài thơ, là mỗi lần ta có thể khám phá vài ba tia sáng lạ.
Ta về? Từ đâu về, và về đâu?
Từ đâu về?
Từ địa ngục của trần gian:
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm mặt xạm soi khe nước
Ta hoá thân thành vượn cổ sơ
Ta về một mình, không người đưa kẻ đón:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Về nhìn lại cảnh cũ thê lương, tàn tạ:
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
Về đâu?
Về quê nhà nhé. Ước mong quê cũ bừng bừng sống dậy, cho lòng ấm áp. Sẽ quên hết mọi đắng cay, hận thù. Hay nói một cách cảm khái hơn, sẽ rưới chút rượu giải oan cho cuộc bể dâu:
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng
 
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này
Nhưng cuộc đời đang bày ra trước mắt khác xa mộng tưởng. Người xưa, cảnh cũ nay đã đổi thay, khiến “tứ thơ xiêu tán”:
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái vách
Nhện giăng khói ám mối xông rền
 
Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ thềm um cỏ
Khách cũ không còn khách mới thưa
Ngày về của người đi xa xứ lâu ngày thường gặp những cảnh huống như thế. Đông Tây Kim Cổ đều vậy. Ngày về của người đi tù mười năm lại càng bẽ bàng hơn. Một chữ rất hàm súc trong tiếng Anh, Homecoming. Trên đường về quê cũ, nuôi nấng biết bao giấc mơ, lòng dậy lên biết bao kỷ niệm, nhớ nhung, và hy vọng. Về đến nơi, thì thực tế không phải như ước muốn. Ulysses, trong truyện thơ của Homer viết cách đây gần ba nghìn năm, sau trận chiến kéo dài 10 năm mới hạ được thành Troy, và thêm 10 năm phiêu bạt nữa, mới trở về được Ithaca quê hương yêu dấu. Rồi cũng phải ra đi.
Làm thế nào mà người Hy Lạp, vốn biết rằng con người không bao giờ có thể hai lần tắm trong cùng một dòng nước, lại tin tưởng vào ngày trở về? Ulysses không trở về quê nhà để sống tại đó, mà để lại cất bước ra đi. (How could the Greeks, who knew that one never enters the same river twice, believe in homecoming? Odysseus does not return home to stay, but to set off again.) Bernhard Schlink, The Reader (1997)
Huống chi là nhà thơ của chúng ta. Số phận của Tô Thuỳ Yên bi thảm hơn Ulysses nhiều. Lại phải ra đi thôi, một chuyến đi dài để kết liễu cuộc đời nơi đất khách quê người, như đã được dự báo trong bốn câu cuối cùng của Ta Về:
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta
Ta Về được viết vào năm 1985. Tô Thuỳ Yên lưu vong sang Mỹ từ năm 1993, sống thêm 26 năm, và vừa mới qua đời.
Nhưng trước khi bài thơ Ta Về ra đời rất lâu, lâu lắm, trên 30 năm, bài thơ Đêm Qua Bắc Vàm Cống đã xuất hiện lúc tác giả chưa đến tuổi hai mươi. Bài thơ ngắn ngủi này, lạ thay, gióng lên như tiếng chuông báo động, như một lời nguyền bi thảm của định mệnh. Nó đeo đẳng nhà thơ suốt đời như vòng kim cô. Nó là nỗi buồn lớn, hiu quạnh lớn (chữ của nhà thơ). Không phải là cái buồn mơ màng, xa vắng như trong thơ Thế Lữ:
Thiên Thai thoảng gió mơ mòng
Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng bay xa
hay êm êm, vô cớ như trong thơ Xuân Diệu:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
hay hiu hắt, điệp điệp như trong thơ Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
hay nổi sóng dù cuộc tiễn đưa không xảy ra bên sông như trong thơ Thâm Tâm:
Đưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Đấy chỉ là vài ba dẫn chứng tiêu biểu. Thật ra, ngoại trừ trường hợp Hàn Mặc Tử cùng nỗi sầu đau rướm máu có tính cách cá nhân vì bệnh nan y, cái buồn trong tất cả thơ tiền chiến đều na ná như nhau, lãng mạn, mơ màng, ngẩn ngơ, hiu hắt, ray rức, ủ rũ. Tô Thuỳ Yên khác hẳn. Trong Đêm Qua Bắc Vàm Cống, cũng như trong hầu hết thơ Tô Thùy Yên, nỗi buồn quấy động, cuốn hút, tuôn tràn, mênh mang. Nó xoáy vào chiều sâu của tâm thức. Nó chạm vào thân phận con người nhỏ nhoi trước không gian vô cùng, thời gian vô tận. Nó là những tra vấn chưa có lời đáp. Nó báo động bão tố, không phải chỉ với chính nhà thơ, mà cho cả quê hương đất nước. Tất cả đều bị cuốn phăng, chìm nổi, bềnh bồng, miên man:
Đêm qua bắc Vàm Cống
Mối sầu như nước sông
Chảy hoài mà chẳng cạn
Cuốn phăng kiếp bềnh bồng
 
...
Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh
 
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy vào hồn
Khi tôi vuốt lấy mặt
Nghe bàn tay trống trơn
Ta còn thấy gì khác nữa trong bài thơ ngắn ngủi ấy? Vâng, vẫn còn đấy chứ. Sự chia cách, phân ly được mô tả rất sinh động và đầy ấn tượng trong đó cả không gian lẫn thời gian đều khẩn thiết hiện diện và đóng vai trò chủ chốt.
Võ Phiến đã có những nhận xét chí lý về Tô Thuỳ Yên:
Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ ... Thời gian xoá hết. Cái chân dung nghìn mặt của Thời Gian có những nét đáng hãi:
 
Trời cao mỏi mắt chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa thời gian chết xanh
Ngoài quãng chói chang hư ảo múa
Dường như ai réo ấu danh anh ...
 
(Thơ Miền Nam, Tập một, Văn Nghệ, 1991)
Trong Đêm Qua Bắc Vàm Cống, hình ảnh chiếc bắc xa dần bến (bến đậu, bến cũ, hay nói rộng ra, quê cũ), là sự chia cách trong không gian, đồng thời bao hàm luôn cả ý niệm biệt ly về thời gian trong mấy câu sau đó, đời xa dần tuổi xanh.
Ở đoạn cuối, nhà thơ đẩy mạnh cảm thức ấy đi xa hơn. Bến bắc, bến đậu đã hoá thân thành nguồn cội, quê hương, đất nước; chiếc bắc biến thành con nước bị tách khỏi nguồn, trôi giạt. Tất nhiên trôi giạt đi tới nơi nào chỉ có trời biết trước khi nhập vào quê hương chung, vào đại dương, vào cõi vĩnh hằng:
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy vào hồn
Cuối cùng là gì? Là vuốt lấy mặt, hay vuốt mắt, với hai bàn tay trống trơn:
Khi tôi vuốt lấy mặt
Nghe bàn tay trống trơn
Đôi Bạn của Nhất Linh khởi đi bằng một câu ngắn: “Trời muốn trở rét...” Bốn chữ đó vang vang như một điệu thu ca, một khúc nhạc dạo đầu buồn buồn, lan toả ra suốt chiều dài của cuốn truyện gần 200 trang, để kết thúc cũng bằng một câu mênh mang nỗi nhớ: “Trước mặt hai người, về phía bên kia cánh đồng, ánh đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương, trông như một nỗi nhớ xa xôi đương mờ dần...”
Những bài thơ về sau của Tô Thuỳ Yên, cũng thế, không ít thì nhiều mang dáng dấp khó phai mờ của một trong những bài thơ đầu đời,Đêm Qua Bắc Vàm Cống. Nói cách khác, Đêm Qua Bắc Vàm Cống là khúc nhạc dạo đầu cho bản trường ca thiên thu của Tô Thuỳ Yên.

5/2019


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiên đoán của nhà tiên tri Nostradamus về vận mệnh thế giới năm 2020

Những lời tiên đoán sấm truyền đáng sợ của nhà tiên tri Nostradamus là chủ đề tranh cãi trong hàng thế kỷ và trong bối cảnh thế giới sắp bước sang năm mới 2020, những lời tiên tri này một lần nữa xuất hiện.


Tiên đoán của nhà tiên tri Nostradamus về vận mệnh thế giới năm 2020 - 1
Nhà tiên tri Nostradamus từng sống ở thế kỷ thứ 16.
Theo Express, Nostradamus là một trong những nhà tiên tri nổi tiếng nhất thế giới. Nostradamus (1503-1566) là tác giả cuốn sách "Những lời tiên tri" (Les Propheties) - một bộ sưu tập những lời tiên đoán của ông được xuất bản năm 1555.
Những lời tiên tri sấm truyền này miêu tả biến cố dự kiến sẽ xảy ra trên thế giới từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày tận thế. Nhiều tiên đoán của Nostradamus được cho là đã trở thành hiện thực sau khi ông qua đời, bao gồm cái chết của Vua Henry II nổi tiếng nước Pháp hay trận đại hỏa hoạn ở London, Anh, năm 1666 và sự trỗi dậy của Hitler.
Theo Peter Lorie, tác giả của cuốn "Nostradamus 2003 - 2025: A History of the Future", năm 2020 sẽ là năm có nhiều biến động, đặc biệt là có một cuộc cách mạng tài chính lớn. Một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn có thể xuất hiện khiến các doanh nghiệp phá sản, kinh tế suy thoái ở một số nước khiến kinh tế toàn cầu bước vào "thời kỳ đen tối".
Theo những lời tiên tri của Nostradamus, năm 2020 sẽ xảy ra một trận động đất mạnh ở lục địa Mỹ. Nostradamus dự báo mực nước biển dâng cao đột ngột và sự nóng lên toàn cầu khiến cuộc sống của người dân chịu nhiều ảnh hưởng.
Tiên đoán của nhà tiên tri Nostradamus về vận mệnh thế giới năm 2020 - 2
Nostradamus dự đoán thế giới năm 2020 vẫn tiếp tục bất ổn.
Nhân loại có thể đối mặt với nhiều cơn bão lớn và nguy hiểm gây thương vong lớn về người và tài sản trong năm 2020. Chuyên gia ngoại cảm Hamilton-Parker nói trên báo Anh Express về việc nhà tiên tri Nostradamus dự đoán “ông Trump bị ám sát trong nhiệm kì hai làm tổng thống”. Nostradamus dự đoán về một cuộc xung đột lớn sẽ xảy ra năm 2020 gây biến động lớn, đặc biệt là ở Trung Đông.
Các nhà phê bình chỉ trích những lời tiên tri của Nostradamus quá mơ hồ và cần đến những suy diễn để có thể đưa ra kết luận. Đây là cơ sở để một số người suy diễn theo ý mình. Chỉ cần dịch thuật sai, giải thích một cách khác và nhiều lý do khác là đã có thể hiểu những lời tiên tri của Nostradamus theo hướng khác, báo Anh cho biết.
Một số người cho rằng nỗi sợ bị truy tố vì dị giáo đã buộc Nostradamus viết những lời tiên tri một cách mơ hồ, nhưng không có bằng chứng lịch sử nào khẳng định vấn đề này.
Nguồn: http://danviet.vn/the-gioi/tien-doan-cua-nha-tien-tri-nostradamus-ve-van-menh-the-gioi-nam-2020-...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ khoe tên lửa tối tân có thể 'hạ cánh' ở Bình Nhưỡng sau 30 phút

Mỹ khoe tên lửa xuyên lục địa có tầm bắn lên tới 13.000km hay tên lửa phóng đi từ tàu ngầm có khả năng mang theo 12 đầu đạn hạt nhân.

 
VietNamNet TV

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tín hiệu bị bỏ lỡ trong bài phát biểu năm mới 2019 của Kim Jong Un

Năm 2019 sắp trôi qua và nhiều người đang đợi nghe bài phát biểu đầu năm mới của lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un, được cho là hứa hẹn nhiều bất ngờ.

Những ngày qua, các chuyên gia chính sách đối ngoại của Bình Nhưỡng đã tập trung lại để chĩa mũi dùi tấn công vào Washington. Ông Kim Jong Un đã có chuyến đi thứ 2 tới Núi Paektu và Đoàn Chủ tịch của Văn phòng Chính trị Đảng Lao động Triều Tiên đã triệu tập phiên họp toàn thể của Ủy ban trung ương vào cuối tháng 12.
Tất cả những hành động đó báo hiệu các quyết định quan trọng đang được ban lãnh đạo Triều Tiên bàn bạc, và ngụ ý sức nặng đang đè lên thời hạn chót cuối năm 2019 cho đàm phán Mỹ - Triều.
Tín hiệu bị bỏ lỡ trong bài phát biểu năm mới 2019 của Kim Jong Un
Arnnh: KCNA
Bình Nhưỡng nói chung khá cởi mở và thẳng thừng, nếu không muốn nói là mạnh bạo trong các thông điệp. Thông thường, bài phát biểu năm mới của Chủ tịch Kim Jong Un chứa đựng rất nhiều nền tảng. Tuy nhiên, xu hướng ở Washington và Seoul lại thường cắt bỏ, tháo dỡ và chọn lọc sao cho phù hợp với khuynh hướng thay vì đánh giá tổng thể.
Khi đọc bản ghi bằng tiếng Anh bài phát biểu năm 2018 và 2019 của ông Kim Jong Un, phải kết hợp chúng mới nhau mới có thể thấy mức độ trái ngược. Bài phát biểu năm 2018 đều là về đánh bom, đe dọa và tối hậu thư. Ông Kim tuyên bố Triều Tiên đã "hoàn thành các lực lượng hạt nhân quốc gia" và "sở hữu một lá chắn chiến tranh uy lực" có thể "ngăn chặn và chống lại bất kỳ đe dọa hạt nhân nào từ Mỹ", để "không cho nước này khởi xướng một cuộc chiến liều lĩnh".
Nhà lãnh đạo Triều Tiên tuyên bố "sẵn sàng cho một cuộc phản công hạt nhân ngay tức thì". Ông thậm chí nhắc đến nút hạt nhân và năng lực tấn công của Triều Tiên nhắm đến bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ. Để tăng thêm sức mạnh cho đe dọa, ông Kim còn chỉ đạo lĩnh vực nghiên cứu vũ khí hạt nhân và tên lửa phải sản xuất hàng loạt đầu đạn hạt nhân và tên lửa đạn đạo.
Tuy nhiên, những lời đó không được coi trọng, chưa kể còn bị phủ bóng bởi đề nghị mở cửa với Seoul thông qua Thế vận hội Mùa đông Pyeongchang.
Sau hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều đầu tiên ở Singapore tháng 6/2018, bài phát biểu năm mới 2019 của Kim Jong Un tập trung vào nền tảng xung quanh ông và hướng ra rìa ngoài nhằm củng cố quan hệ mới với Tổng thống Donald Trump và Washington. Tuy không còn giữ giọng điệu và nội dung của bài phát biểu 2018 nữa nhưng bài phát biểu 2019 được nhiều chuyên gia nhìn nhận là sự tiếp tục chứ không phải thay đổi triệt để. Thế nhưng với âm hưởng của hội nghị ở Singapore, nó thể hiện một điểm xuất phát hoàn toàn khỏi năm trước đó.
Sản xuất hàng loạt ICBM và vũ khí hạt nhân không còn được nhắc tới, thay vào đó là các vấn đề chuyển đổi công nghiệp đạn dược sang sản xuất máy cày chứ không phải xe tăng, thiết bị xây dựng, các sản phẩm và hàng hóa tiêu dùng được đề cập. Ông Kim Jong Un dường như bỏ qua cả các hợp đồng bán vật liệu hạt nhân cho Syria.
Đối với Kim Jong Un, Singapore đã cung cấp một lối tắt cho hòa giải với Washington.
 
"Nếu Mỹ đáp lại các nỗ lực trước và chủ động của chúng tôi bằng các biện pháp đáng tin cậy và các hành động thực tế tương ứng, quan hệ song phương sẽ phát triển tuyệt vời với tốc độ nhanh chóng thông qua tiến trình thực hiện các biện pháp rõ ràng và mang tính thời đại hơn. Tôi muốn tin các mối quan hệ của chúng tôi với Mỹ sẽ nở ra trái ngọt trong năm nay".
Tuy nhiên, Kim Jong Un vẫn tuyên bố rằng nếu Mỹ "cứ khăng khăng áp đặt cấp vận và gây sức ép… chúng tôi có thể buộc phải tìm một con đường mới để bảo vệ chủ quyền của đất nước".
Vậy ông Kim muốn gì? Không còn các cuộc tập trận chung trên Bán đảo và các hợp đồng bán vũ khí cho Hàn Quốc, đồng thời đàm phán về một hiệp ước hòa bình. Ông cũng kêu gọi "đàm phán đa phương để thay thế thỏa thuận ngừng bắn hiện thời" trong "sự tiếp xúc chặt chẽ với các bên tham gia ký kết thỏa thuận ngừng bắn" nhằm "tạo dựng cơ chế hòa bình lâu dài và bền vững, thúc đẩy hướng tới phi hạt nhân hóa hoàn toàn" với Mỹ, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên tại tâm điểm của một tiến trình hòa bình cùng với Hàn Quốc.
Nếu đây là một tính toán mới thì việc Tổng thống Trump bước ra khỏi hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 2 đã thực sự gây nguy hiểm cho tiến trình hòa bình và phi hạt nhân hóa. Ba ngày trên tàu trở về nhà đã cho ông Kim Jong Un thời gian suy nghĩ. Và sau khi trở về nước, ông bắt đầu cho mọi thứ diễn ra. Đến giữa tháng 7, lập trường của Triều Tiên càng kiên quyết sau khi Mỹ và Hàn Quốc tiến hành các cuộc tập trận chung, và Seoul nhận lô đầu tiên trong loạt 40 chiến cơ tàng hình F-35 mua của Mỹ, đồng thời thông báo tăng cường chi tiêu quân sự.
Tất cả những diễn biến đó đi ngược lại với tinh thần và các cam kết đã được nhất trí trong các hội nghị thượng đỉnh liên Triều, rời xa việc tạo dựng hòa bình và dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang tái phát giữa hai miền.
Không có thỏa thuận nào ra đời trong các cuộc gặp cấp làm việc giữa Mỹ và Triều Tiên ở Stockholm, và khi Mỹ - Hàn Quốc thông báo ngừng tập trận chung trên không thì quyết định này được cho là quá ít và quá muộn.
Nếu không có điều gì thay đổi ngoạn mục từ nay đến hết năm 2019, thì trong bài phát biểu năm mới 2020, Kim Jong Un khả năng sẽ thông báo dừng, thậm chí từ bỏ tiến trình phi hạt nhân hóa với Washington. Và Bình Nhưỡng có thể sẽ quay sang tìm kiếm quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh và Moscow. Triều Tiên cảnh báo sẽ dừng lệnh dừng thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo mà nước này tự áp dụng cho mình, nếu thời hạn chót cuối năm 2019 trôi qua mà phía Mỹ không thay đổi.
Không rõ Triều Tiên có hành động thực sự như đe dọa không, nhưng nếu như vậy thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Cũng chưa rõ Mỹ phản ứng thế nào ở viễn cảnh đó. Thế nhưng, khi đó cơ hội đạt tiến bộ về tạo dựng hòa bình và phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên chắc chắn sẽ càng khó nắm bắt hơn, ít nhất là cho đến cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm tới.  
Thanh Hảo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cách đưa tin lạ lùng của truyền thông TQ hé lộ nghi ngại: Bắc Kinh đã đầu hàng trước Mỹ?


Cách đưa tin lạ lùng của truyền thông TQ hé lộ nghi ngại: Bắc Kinh đã đầu hàng trước Mỹ?
Thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 có rất nhiều nhượng bộ của Bắc Kinh như Trung Quốc được cho là sẽ tăng nhập khẩu từ Mỹ thêm 200 tỷ USD trong 2 năm tới.
Cách đưa tin lạ lùng của truyền thông Trung Quốc
Khi Mỹ và Trung Quốc đạt được Thỏa thuận giai đoạn 1, cả chương trình tin tức "giờ vàng" vào thứ Bảy của Đài truyền hình trung ương nhà nước Trung Quốc lẫn số ra Chủ nhật của Nhân dân Nhật báo đều không có một dòng tin, mặc dù thông tin này được truyền thông quốc tế đưa tin rầm rộ.
Tuy nhiên, một cuộc tranh luận đang diễn ra giữa những người quan tâm đến chính trị, trí thức hay công dân bình thường. Phần lớn họ có các cuộc trao đổi trực tiếp, kể từ khi các bài viết trên mạng được giám sát chặt chẽ, với sự trợ giúp từ trí tuệ nhân tạo ngày nay.
"Có phải Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa đầu hàng trước Tổng thống Mỹ Donald Trump?"
"Mỹ có thể đơn phương giám sát và đánh giá tiến độ của thỏa thuận. Ngoài ra, Trung Quốc dường như cũng phải có một số cam kết tăng nhập khẩu khoảng 200 tỷ USD hàng hóa từ Mỹ trong vòng 2 năm tới".
"Sau khi tốn 6 tháng, đây là kết quả mà chúng ta có được?"
Đây là một số ý kiến và thắc mắc đang được bàn tán mà tờ Nikkei của Nhật đề cập.
Xem thỏa thuận thương mại này là sự mất mặt và không chắc chắn có thể hơi nghiệt ngã. Nhưng ông Tập và các đồng sự đã luôn luôn cho thấy rằng, Bắc Kinh sẽ ở thế trên cơ nếu tham gia cuộc chiến dài hơi.
Vì lý do này, sẽ là mạo hiểm cho lãnh đạo Trung Quốc nhanh chóng tuyên bố nội dung thỏa thuận với Washington.
Thỏa thuận thương mại đã được công bố đồng thời bởi Mỹ và Trung Quốc vào thứ Sáu, rất gần thời điểm mức thuế quan bổ sung của Mỹ đối với các sản phẩm Trung Quốc có hiệu lực vào Chủ nhật.
Tại Bắc Kinh, các thứ trưởng của các bộ, ngành chính phủ có liên quan đã tổ chức một cuộc họp báo tối thứ Sáu. Nhưng câu chuyện đã bị "bỏ sót" trên mục tin tức hàng ngày của Nhân dân nhật báo và CCTV, 2 cơ quan ngôn luận có thẩm quyền nhất của Trung Quốc, vào ngày hôm sau.
Không có bộ trưởng nào của bộ Thương mại hoặc Nông nghiệp cũng như từ Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia có mặt tại cuộc họp báo. Cả Phó Thủ tướng Lưu Hạc, nhà đàm phán chính của Trung Quốc.
Thay vào đó, thông báo được để lại cho các quan chức, mặc dù sự kiện này sẽ mang đến một cơ hội vàng cho các chính trị gia, những người có thể muốn thể hiện thành tích của họ.
Trung Quốc nhượng bộ quá nhiều với Mỹ?
Vào cuối tháng 4, Mỹ và Trung Quốc đã dự thảo một thỏa thuận thương mại dài 150 trang. Nhưng đến đầu tháng 5, Trung Quốc đột ngột cắt bỏ 30% văn bản.
Trung Quốc không muốn một hiệp ước bất bình đẳng. Nhưng do kết quả của việc từ chối thỏa thuận, Trump đã công bố vòng trừng phạt thuế thứ 3 và thứ 4 đối với các sản phẩm của Trung Quốc.
Theo Washington, thỏa thuận giai đoạn một đạt được bao gồm 7 lĩnh vực: bảo vệ sở hữu trí tuệ, chấm dứt chuyển giao công nghệ, mở rộng nhập khẩu thực phẩm và nông sản của Mỹ, giảm bớt sự can thiệp của chính phủ trong các dịch vụ tài chính, giải quyết các hành vi tiền tệ "không công bằng", mở rộng thương mại, và thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp.
Thỏa thuận sẽ có tính ràng buộc về mặt pháp lý, đòi hỏi Quốc hội Trung Quốc, phải phê chuẩn.
Bằng cách cho phép Washington giám sát và đánh giá tiến bộ của Trung Quốc trong việc đáp ứng các quy định của thỏa thuận, cuối cùng, đây chính xác là loại "hiệp ước bất bình đẳng" mà Bắc Kinh muốn tránh vào tháng Tư.
Thỏa thuận này bao gồm các mục tiêu cụ thể như: Trung Quốc được cho là sẽ tăng nhập khẩu từ Mỹ thêm 200 tỷ USD trong 2 năm tới, với mục đích thu hẹp sự mất cân bằng thương mại song phương.
Thỏa thuận cũng kêu gọi nhập khẩu nông sản từ Mỹ sẽ được tăng từ 40 tỷ đến 50 tỷ USD mỗi năm. Tổng thống Trump rất tự hào về thành tích này.
Nhìn lại, Trung Quốc có lẽ đã có một thỏa thuận tốt hơn nếu họ đã thỏa hiệp vào tháng Tư, tờ Nikkei bình luận.
Mặc dù đó cũng là một thỏa thuận bất bình đẳng nhưng Trung Quốc có thể tránh được thuế quan bổ sung và có lẽ giữ cho tăng trưởng kinh tế giảm xuống 6% trong quý II, mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 1992.
Thay vào đó, Trung Quốc chuyển chiến lược và bắt đầu theo đuổi chính sách "tự lực" và "chiến tranh kéo dài".
Các quan chức Trung Quốc dường như đã quyết định vào thời điểm đó, cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sẽ giúp cân bằng lợi ích và giúp Bắc Kinh có thể dễ dàng đối phó với Trump bằng cách sử dụng con bài nhập khẩu nông sản.
Bắc Kinh biết rằng cuộc tranh cử của Trump có thể xoay quanh các cử tri ở các bang nông nghiệp truyền thống. Nhưng trái với mong đợi thời gian trôi qua lại có lợi cho Trump hơn. Kể từ tháng 4, nền kinh tế Trung Quốc đã chậm lại.
"Tình hình thu thuế năm nay sẽ là một thách thức", một nguồn thạo tin liên quan đến các vấn đề kinh tế của Trung Quốc nói với Nikkei.
Sự nhượng bộ duy nhất từ Mỹ mà Trung Quốc có trong thỏa thuận giai đoạn 1 là hoãn các mức thuế còn lại trong vòng thứ 4 và giảm một nửa mức thuế bổ sung 15% đã được áp dụng vào tháng 9.
Hơn nữa, việc giảm một nửa thuế quan sẽ chỉ được thực hiện sau 30 ngày kể từ khi thỏa thuận giai đoạn 1 được ký kết chính thức, nghĩa là việc giảm thuế sẽ có hiệu lực vào tháng 2 và có quy mô nhỏ.
Hiện vẫn chưa rõ khi nào các cuộc đàm phán giai đoạn 2 bắt đầu nhưng dự kiến sẽ là một cuộc đàm phán khó khăn khi Tổng thống Trump đưa yêu cầu Trung Quốc bãi bỏ các khoản trợ cấp công nghiệp "không công bằng", kêu gọi Trung Quốc cải cách mạnh mẽ các công ty nhà nước và chuyển trọng tâm sang các công ty tư nhân.
Năm 2019 đã rất khó khăn và các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như sẽ có thời gian khó khăn phía trước.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khả năng “hầu toà” của Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Mobifione mua AVG?



Cao Nguyên
RFA
Ngày 20/12/2019, Viện kiểm sát (VKS) đã đề nghị mức án phạt đối với các bị cáo trong vụ Mobifone mua lại 95% cổ phần của Công ty cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG). Trong đó, Nguyễn Bắc Son bị đề nghị án cao nhất là ‘tử hình’.
Tuy nhiên, trước đó tại tòa ông Nguyễn Bắc Son khai trong vụ này ông thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của thủ tướng lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Dũng, qua Công văn 2678 ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Văn Phòng Chính phủ truyền đạt chỉ đạo của thủ tướng.
Nhân vật này từng được lãnh đạo đảng đề cập đến là ‘đồng chí X’. Công luận và giới quan sát lâu nay quan tâm liệu trong công cuộc đốt lò chống tham nhũng của ông Trọng nhân vật X này có thể bị phán xét hay không?
Có hay không khả năng Nguyễn Tấn Dũng phải “hầu toà”?
Một chi tiết thu hút sự chú ý dư luận trong phiên sơ thẩm vụ án này chính là lời khai của bị cáo, cựu Bộ trưởng Thông tin vàTruyền thông (TT&TT) Nguyễn Bắc Son vào chiều ngày 18/12 rằng đã thực hiện phi vụ này theo “tinh thần chỉ đạo của thủ tướng” lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Dũng.
Theo học giả Đỗ Thông Minh, cụm từ “làm theo tinh thần chỉ đạo” mà ông Nguyễn Bắc Son đã khai trong phiên xử rất mơ hồ:
Đây là một tình tiết rất mới. Trước đây ví dụ như bị Cù Huy Hà Vũ tố hoặc (Nguyễn Tấn Dũng - PV) bị người này người kia tố, thế nhưng lần này nó dính trực tiếp đến một siêu vụ án mà một trong những thủ phạm chính có thể bị tử hình.
Ông ấy làm theo “tinh thần chỉ đạo” của Thủ tướng lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Dũng. Chữ “tinh thần chỉ đạo” như thế nào thì mình không rõ, nó là một công văn rõ ràng hay là chỉ cảm thấy như thế.”
Dù vậy, học giả cũng không loại trừ khả năng cựu Thủ tướng Việt Nam có thể phải ra toà:
Tình trạng này là 50/50. Nhưng mà tôi thấy khi đã đưa ra hai ông Bộ Trưởng của thời Nguyễn Tấn Dũng cộng với chuyện đưa Hoàng Trung Hải (Bí thư Hà Nội)ra nữa thì có thể nói là đã sờ tới gáy của Nguyễn Tấn Dũng rồi. Thành ra có lẽ cũng không xa lắm có thể Nguyễn Tấn Dũng sắp bị nhập khám, nhập kho.
Nguyễn Tấn Dũng bị gạt ra với một hình thức là cho “hạ cánh an toàn” nhưng mà phải im miệng. Còn nếu trong trường hợp mà Nguyễn Tấn Dũng phản ứng lại thì có thể sẽ lại bị khui ra, khép thêm vào các tội khác là chống lại Đảng.”
Theo blogger Nguyễn Lân Thắng, chuyện ông Nguyễn Tấn Dũng có phải “hầu toà” hay không đã được đồn đoán trong dư luận từ cách đây rất lâu rồi. Có rất nhiều nhà báo cũng như những nhà phân tích bình luận chính trị xã hội đề cập đến vai trò của cựu Thủ tướng trong cương vị là người đứng đầu Chính phủ trong giai đoạn đó.
Nhưng theo ông, chuyện này là khó có khả năng xảy ra, vì:
Tôi nghĩ điều này cũng rất khó bởi vì thực ra ông Dũng cũng đã về hưu rồi. Hơn nữa ông ấy vẫn còn nắm trong tay một số những bằng chứng cũng như những việc rất động trời, cho nên những phe khác mà muốn tấn công ông Dũng thì cũng phải dè chừng. Bởi vì một khi ông ấy đã bị dồn đến đường cùng rồi thì rất có thể sẽ còn những chuyện động trời khác tung ra và chỉ sẽ gây bất lợi cho những phe tấn công ông Dũng.
Luật pháp ở Việt Nam không nghiêm minh và nhiều khi các ý kiến chỉ đạo của những người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu Nhà nước được thực thi nhưng lại không có những văn bản giấy tờ minh chứng cho chuyện đó, nên cũng rất khó để xét trách nhiệm của những người này.”
Đồng quan điểm rằng sẽ không có chuyện cựu Thủ tướng bị khởi tố, Tiến sỹ Lê Minh Nguyên, nhà quan sát chính trị, nhận định rằng hiện giờ, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ muốn hạ uy tín của Nguyễn Tấn Dũng mà thôi:
Ông Trọng làm để nhục mạ và trả thù ông Dũng, nhưng truyền thống của đảng Cộng sản là họ không đem những ông “Tứ trụ” ra để xử, để bắt nhốt, và để loại những đàn em của Nguyễn Tấn Dũng còn lại trong hệ thống đang lăm le trong Đại hội 13 sắp tới.
Họ sẽ không truy tố Nguyễn Tấn Dũng về trách nhiệm hình sự, không bắt ông Dũng phải ra tòa hay ngồi tù bởi vì họ muốn bảo vệ hệ thống đảng Cộng sản của họ. Nếu họ thực sự làm chuyện đó thì Đảng Cộng Sản rất dễ bị tan vỡ.” 
Bất đồng về các mức án đề nghị!
Những mức án cho các bị cáo còn lại trong cùng vụ gồm ông Trương Minh Tuấn từ 14-16 năm tù, Lê Nam Trà 23-25 năm, Cao Duy Hải từ 14-16 năm. Bốn người này cùng bị cuộc tội “Vi phạm quy định về quản lí và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “nhận hối lộ”.
Riêng Phạm Nhật Vũ bị đề nghị từ 3-4 năm tù vì tội “đưa hối lộ”.
Học giả, nhà nghiên cứu Đỗ Thông Minh từ Nhật, nhận định với RFA rằng đây là bản án xứng đáng dành cho các bị cáo trong vụ đại án này:
Nếu nhìn một cách tổng quát thì bản án khá tương xứng với tội họ làm. Chúng ta cũng thấy đó là những chuyện động trời. Tôi gọi đó là siêu án của nhà cầm quyền. Các quan chức cấu kết với nhau, lấy tiền nhà nước để mua những cơ sở không đáng ra gì hết rồi lấy tiền mà chia nhau.”
Trong khi đó nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng từ Hà Nội cho biết ông không có niềm tin vào công lý về hệ thống toà án ở Việt Nam, và mức án dành cho các bị cáo là không tương xứng. Bởi vì, theo đánh giá của ông Thắng, Phạm Nhật Vũ là người chủ mưu móc nối đưa hối lộ nhưng chỉ chịu hình phạt 3-4 năm tù giam là phi lý:
Hơn nữa, trong quá trình xét xử, đề nghị các thủ tục đặc biệt về mặt pháp lý đối với ông Phạm Nhật Vũ như vậy thì nó không công bằng giữa các công dân với nhau. Đó là điểm mà tôi cho rằng toàn bộ phiên tòa này chỉ là một trò hề.
Chẳng qua chúng ta chỉ đang nhìn thấy một sự tấn công giữa các phe phái với nhau, chứ không phải là một quá trình thực thi công lý trên đất nước Việt Nam.”
Tiến sỹ Lê Minh Nguyên cho rằng những bản án này là một phần trong chiến dịch “đốt lò” chống tham nhũng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mà các bị cáo trong vụ án này như là những “con dê tế thần”.
Dù vậy, theo ông Lê Minh Nguyên thì dù có các mức án nặng cũng không giải quyết được vấn nạn tham nhũng:
Trong chế độ Cộng Sản họ nhận thấy rằng vấn đề tham nhũng có thể làm sụp đổ chế độ, thành ra ông Nguyễn Phú Trọng muốn đốt lò trị tham nhũng để cho dân chúng thấy rằng chế độ làm việc một cách nghiêm chỉnh, minh bạch. Đảng có nhu cầu là phải có “con dê tế thần” để cương quyết trị tham nhũng, thành ra đề nghị Nguyễn Bắc Son án tử hình.
Nhưng mà theo cái nhìn của tôi thì Nguyễn Bắc Son chưa chắc bị án tử hình, dù có bị án tử đi nữa thì cũng được Chủ tịch nước tha, vì nghề của họ là giơ cao đánh khẽ.
Chính căn bản hệ thống độc tài cần phải thay đổi nếu không thì sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề tham nhũng trong hệ thống chính quyền.”
Bộ Công an đã khởi tố vụ án về thương vụ Mobifone mua lại 95% cổ phần công ty AVG vào 7/2018.
Ông cựu Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Bắc Son bị cáo buộc là chủ mưu khi đã bút phê chỉ đạo bán AVG cho Mobifone với giá 8.900 tỷ đồng. Trong khi đó, tài sản của AVG chỉ có tổng giá trị là 1.970 tỷ đồng.
Sau khi hoàn thành thương vụ, Ông Nguyễn Bắc Son nhận 3 triệu đô la Mỹ còn Trương Minh Tuấn nhận 200.000 đô la Mỹ tiền “cảm ơn” từ Phạm Nhật Vũ.
Theo thông tin từ báo chí nhà nước, phiên toà sơ thẩm sẽ diễn ra liên tục từ ngày 17/12/2019 cho đến hết tháng 12 năm nay.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2019

SỬ HỌC ĐƯƠNG ĐẠI VÀ NỖI DẰN VẶT NHÂN BẢN


Nguyễn Khắc Thái
Tôi định kéo dài sự im lặng trong tâm trạng buồn nản và trống vắng trước sự ra đi của GS Hà Văn Tấn, cột trụ cuối cùng trong “Tứ trụ” của nền sử học đương đại. Thế nhưng, không thể cứ ủ ê mãi, trong khi giới nghiên cứu KHXH trên toàn thế giới thì đang khơi dậy rất rất rất nhiều vấn đề về cách nhìn, góc nhìn lịch sử nước nhà khiến không chỉ thế hệ trẻ mà ngay cả những người từng đổ bê tông cốt thép cho niềm tin cũng thấy day dứt. Và tôi muốn nói, không phải về những sai lệch cần đính chính của lịch sử dân tộc mà muốn nói nguyên nhân của những sai lệch ấy, cái nguyên nhân làm cho diễn ngôn lịch sử không song hành với những gì hình thành trên não bộ.
Tôi nhớ năm 1980, tôi được phân công làm việc với 2 nhà sử học Pierre Brocheux và Daniel Hémery (là những GS đầu đàn, đào tạo cả một thế hệ nghiên cứu Việt học) đến từ Université Denis-Diderot (Paris VII), một trường đại học có ảnh hưởng rất lớn của Đảng Cộng sản Pháp. Hai GS này thuộc nhóm Jean Chesneaux chuyên sâu lịch sử cận đại châu Á. Tôi tặng họ bộ “Lịch sử Việt Nam” do UBKHXH VN chủ trì biên soạn, thời đó được coi là quốc sử. Họ cám ơn nhưng vì lý do hành lý nặng, không mang về Pháp được. Nhưng khi ngồi cà phê đàm đạo với nhau, họ nói thực là sợ mất tính khách quan trong nghiên cứu nếu tham khảo bộ sách Lịch sử được coi là chính thống này, nên từ chối.
Một năm sau đó, khi sang nghiên cứu sinh ở Nga, tôi mang cuốn sách này theo và khoe với 2 người đỡ đầu của tôi, trong đó có bà GS. VS. Viện Phương Đông thuộc Viện HLKH Liên xô và ông thầy hướng dẫn ở trường Minsk. Không ngờ cả 2 người đều có chung một nhận xét, cũng là một lời khuyên: “Hãy thoát ra khỏi những tư duy chủ quan của bộ sách này”. Tôi hỏi vì sao thì họ nói: “Hãy nhìn trang bìa và trang đầu cuốn sách, biết ngay cuốn sách viết vì mục đích gì, tính chủ quan và áp đặt nằm ngay ở cách trang trí và ấn tượng gieo vào ở đầu cuốn sách”.
Tôi lật sách và mở ngay ra xem trang đầu thì ngỡ ngàng nhận ra điều đó là đúng: Cuốn sách ghi trang đầu một dòng để từ khẳng định một ý thức hệ. Liền sau đó, bà viện sĩ (sau này là phản biện luận án của tôi) lấy trong cặp ra cuốn sách nhỏ, mỏng, bằng tiếng Pháp có tên là “Le Vietnam” – tác giả Nguyễn Khắc Viện ấn hành tại Pháp. Bà nói, đây mới là cuốn “Lịch sử Việt Nam” đúng nghĩa. Bà cho biết rất nhiều nước trên thế giới đã dịch cuốn “Le Vietnam” của Nguyễn Khắc Viện, còn cuốn “Lịch sử Việt Nam” của UBKHXH thì không.
Sau khi hoàn thành luận án, tôi mang nỗi dày vò sử học về nước với một câu hỏi: “Liệu mình có nghiên cứu sử học được không? Và nếu theo đuổi sự nghiệp sử học trong bối cảnh mặc định duy lý, mình có đánh mất bản thân không?
Và rồi, như nhà thơ nào đó viết: “Cơm áo không đùa với khách thơ”, tôi hiểu hai chữ “khách thơ” đây là giới trí thức. Mà không chỉ trí thức đâu, cơm áo không đùa với cả nhân loại, huống nữa là trí thức bạch diện kia.
Rồi tôi lấy các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội đặt một bên cán cân tồn tại, tỷ như văn học chẳng hạn, để an ủi. Hãy từ cái người viết ra câu thơ: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng / Thương mình, thương một, thương ông thương mười” để suy xét thì thực ra trong thực tế ông ta chẳng thương đến đổi cả nhân bản như thế. Đó là cái thương cơm áo, nhưng ông ấy đã đổi nhân bản lấy cơm áo loại sang, bởi chẳng thể đem chủ thể nhân bản "cha", "mẹ", "chồng" cân đong với một khách thể chính trị. Nó chỉ là cách nói vì "cơm áo không đùa với khách thơ" thôi mà.
Và thế là tôi nhận ra, sử học đâu có khoảng trời riêng trong cái trò đùa trớ trêu của "cơm áo". Sử học, và cùng với sử học là triết học, văn học, văn hóa học, kinh tế - chính trị học, phân tâm học…đều được chọn lọc, chưng cất, phơi sấy, đóng hộp và nó chỉ có giá khi đã được dán nhãn mác mặc định cho một loại hàng hóa đồng nhất.
Rồi thì quen dần, thành ra bất luận cái gì, dù ghê gớm đến mấy nhưng quen rồi thì cũng bình thường. Viết ra, lúc đầu sợ trái với sự thật, trái với lương tri, trái với nhân bản…nhưng quen dần, không sợ nữa.
Và tôi đã viết những trang sử trong cái tâm thế đó mà không biết, hoặc biết mà không coi là quan trọng khi truyền bá tư duy chủ quan vào lịch sử. Cái thời của chúng tôi, có một nguyên tắc logic thế này: “Điều được coi là đúng phải là điều đã được ông A, B, C…nói là đúng” Và thế là thay vì nghiên cứu, phân tích, đánh giá để phát hiện các thuộc tính của sự kiện và nhân vật lịch sử, có một thời, người ta chỉ đi tìm sự mặc định từ câu nói của người có quyền lực để làm chỗ dựa cho cái chân lý kỳ quái kia. Cũng cái logic ấy, tôi nhớ một lần thi sĩ Xuân Diệu đến ĐHTH Hà Nội bình thơ của một thi sĩ quyền lực, ông lên bổng, xuống trầm: “Thơ ông hay, chỉ vì nó là thơ…của ông”.
Thực ra, thơ ấy chẳng hay chút nào nhưng vì nó là thơ của ông ấy nên nó...phải "hay". Quả đúng vậy. Có một thời, cái đúng và cái hay trong phạm trù mỹ học lại thuộc về quyền lực.
Và chính điều đó đã tiếp cho tôi sự liều lĩnh đến không biết xấu hổ để nói tiếng nói người khác. Và, một nền sử học đương đại đã tuôn chảy duy nhất trên một dòng sông định hình.
Trong khoảng hơn 4 thập kỷ gần đây, dù tôi kiên quyết không nhận viết bất cuốn “Lịch sử phong trào” nào (thú thật, biên tập thì có), nhưng dù không viết, tôi vẫn bị ngộp thở trong cái khối đồ sộ của các bộ lịch sử xã, lịch sử huyện, lịch sử ngành, lịch sử ban bệ. Hôm rồi, có ai đó đưa lên mạng hình ảnh gần chục cuốn có cái bìa ghi là “Lịch sử” nhưng là của từng ban trong một cơ quan chính trị ở một huyện miền núi. Và thế là lịch sử đã đóng vai trò là những kinh kệ để mặc định nhận thức của con người theo một hướng.
Bản thân tôi được định hình bởi một định hướng “Thế giới quan” và “Nhân sinh quan” và tôi nghiện nó hết cả thời trai trẻ, không một thuốc nào giải nghiện nổi. Và khi bước sang cái tuổi O-70, U-80, tôi mới thay được cái từ “quan” theo nghĩa mặc định "quan điểm", thành chữ “quan” trong cách hiểu “chiêm quan thế giới”, "chiêm nghiệm nhân sinh". Mà đã là chiêm quan thì phải có điểm lùi, phải đứng xa chủ thể để nhìn vào chủ thể mà phán xét lịch sử, chứ tự đặt mình vào chủ thể thì phán xét làm sao khách quan cho đặng.
Tôi có bà bạn, cũng là một nhà khoa học, thường khẳng định với tôi (và cũng là một lời khuyên) rằng “Không nên và không bao giờ sống bằng cảm xúc của người khác”. Chuẩn.
Thế nhưng ai cũng biết, cả một thời đại đang khuôn mình vào duy nhất một cảm xúc. Và, có một thời, chúng ta từng làm mọi cách để, nếu cười thì cả dân tộc bỗng nhiên cùng há miệng và nếu khóc, bỗng nhiên cả dân tộc đều...căn môi. Người viết sử đứng trong cái cảm xúc đó để diễn ngôn. Buồn thôi rồi.
Và tôi bắt đầu ghét sử học, ghét cái cảm xúc giả tạo của chính mình khi trình bày lịch sử trong cái khuôn nhãn mác.
Nhưng tôi không thể làm gì khác, bởi ngay cả thầy tôi, GS Hà Văn Tấn là người sáng lập ra chuyên ngành Phương pháp luận sử học đã gần 40 năm tuổi nhưng GS cũng bất lực nhìn những bộ sử lần lượt ra đời trong suốt 40 năm qua (cả trước đó nữa, tất nhiên rồi) không theo một lý thuyết phương pháp luận nào cả. Tất cả đều theo cáí logic tư duy mà nhà thơ Việt Phương đã viết từ cuối năm 60 của thế kỷ trước:
“Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao…” ("Cửa mở" xuất bản 1969, đã tài bản) Lịch sử, lẽ ra nó phải được đặt trong cái vị thế vô ngã để được phán xét thì nó lại được phun lên lớp sơn 2 màu "địch", "ta"; không ai dám gọi đúng thực thể chính trị của nó.
Và, khi diễn ngôn lịch sử trong đại từ "chúng ta" và "kẻ địch", đồng nghĩa với sự phán xét của chủ thể đối với khách thể lịch sử. Chủ thể bao gồm cả hiện thực của "chúng ta" và nhà sử học.
Từ đó, nỗi buồn sử học trong ngày cuối tuần lại dẫn tôi tới cái sự kiện A. de Rhodes.
Tôi không đồng tình với quan điểm chỉ trích và đồng nhất “địch” với những giá trị văn hóa của người đồng sáng tạo và hoàn thiện chữ Quốc ngữ. Nhưng tôi không hề trách cứ những ai đã đề xuất chống lại A. de Rhodes không phải vì tôi là đồng nghiệp lịch sử mà là vì tôi cũng từng khoác chiếc áo nhuốm màu mặc định lịch sử mà một thời không dám cởi bỏ nó, thích nữa là đằng khác. Một lần nghe GS Nguyễn Khắc Viện nói chuyện, đã cho tôi một định đề rằng: “Tâm lý luôn có sức ỳ, trong khi tư duy (khoa học) thì luôn vận động. Muốn sáng tạo khoa học thì trước hết không phải là vấn đề tư duy mà là thoát khỏi sức ỳ của tâm lý”. Vì thế, tôi bày tỏ sự thông cảm với những người đồng nghiệp khi họ chưa thể vượt qua sức ỳ tâm lý và hạn hẹp góc nhìn. Có đáng trách chăng nữa là trách cái nguyên nhân sâu xa đẩy vào cái tâm lý mặc định kia. Tôi chỉ có hơi ngạc nhiên và có chút buồn cười bởi cái điều trái khoáy đến ngỡ ngàng khi mọi diễn ngôn lịch sử vẫn cứ phải diễn ra trong khuôn khổ của những điều mình không mong muốn. Đó âu cũng là bi kịch lịch sử, khi mà người viết sử phủ nhận chính lịch sử do mình sáng tạo ra.
Khoa học lịch sử đang bị chỉ trích, bộ môn lịch sử đang bị chán học. Nhưng xin hãy đừng nghĩ rằng chỉ có sử học đương đại mới trở nên khốn nạn đến vậy. Chúng ta hãy nheo mắt lại để đủ sự tĩnh tâm mà nhìn vào tất cả các lĩnh vực khoa học, từ tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn, từ khoa học cơ bản đến khoa học ứng dụng, từ lý thuyết đến kỹ nghệ thực hành, từ văn hóa đến nghệ thuật, từ dòng bác học đến dòng dân gian của các loại hình văn hóa, từ tư duy duy lý đến duy cảm, có ai , có lĩnh vực nào nằm ngoài cái mặc định diễn ngôn hay không? Có cả đấy, tệ hại cả đấy. Nó chỉ khác nhau ở chỗ, xã hội như cái đồng hồ hoen rỉ, nhích ì ạch trong cái vòng tròn lặp lại có 12 con số mà khi đến chữ số tận cùng 12, anh không có cách nào khác ngoài việc phải quay lại số 1. Mà, với các lĩnh vực khác, sự hoen ố còn trầm trọng hơn cả sử học, nhưng vì nó như những bộ phận cấu kiện nằm sâu trong vỏ đồng hồ, không hoặc chưa bị phơi bày. Còn sử học, nó như 3 chiếc kim phơi thây giữa thanh thiên bạch nhật và lại còn nhảy tí tách giữa mặt xã hội nên mọi thứ tệ hại cứ thế chọc vào mắt thiên hạ.
Không có điều gì chỉ vui mà không có buồn. Cũng không có nỗi buồn nào mà đến tận cùng không hé lên những niềm vui nho nhỏ.
Tôi đã vui hơn khi, trong những ngày gần đây được đọc nhiều bài chỉ trích sử học đương đại. Nó tiếp thêm cho chúng tôi sức mạnh, trước hết là để vượt qua sức ỳ tâm lý, sau đó là sống và viết “bằng cảm xúc của chính mình, không bằng cảm xúc của người khác”.
Bài đã đăng trên Văn hoá Nghệ An.
Ảnh: Internet.

Phần nhận xét hiển thị trên trang