Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019
Bloomberg: Nhà Trắng cân nhắc dỡ bỏ hoàn toàn các khoản đầu tư từ Mỹ vào Trung Quốc, dù chiến tranh thương mại dần hạ nhiệt
Trong số những đề xuất mà chính quyền ông Trump đang cân nhắc, có: huỷ niêm yết các công ty Trung Quốc khỏi sàn chứng khoán Mỹ và hạn chế mức độ "phủ sóng" của các công ty Mỹ tại thị trường Trung Quốc thông qua các quỹ hưu trí của chính phủ.
Bloomberg đưa tin, các quan chức chính quyền Tổng thống Trump đang thảo luận về những cách thức hạn chế đầu tư vào Trung Quốc. Cụ thể, Mỹ sẽ hạn chế dòng tiền đầu tư vào Trung Quốc, động thái này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hàng tỷ USD đã được rót vào các chỉ số lớn, nguồn tin thân cận tiết lộ.
Cuộc thảo luận diễn ra trong bối cảnh Washington và Bắc Kinh quyết định tái đàm phán để đi đến một thoả thuận - nhằm xoa dịu những tác động của cuộc chiến thương mại đã kéo dài hơn 1 năm. Hơn nữa, tin tức này cũng được tiết lộ khi Trung Quốc dỡ bỏ giới hạn với đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán.
Do đó, việc Mỹ cân nhắc hạn chế đối với dòng vốn có thể sẽ tạo thêm áp lực trong mâu thuẫn thượng mại và ảnh hưởng nặng nề hơn cả hàng trăm tỷ USD thuế quan trừng phạt mà 2 bên đã đưa ra.
Trong số những đề xuất mà chính quyền ông Trump đang cân nhắc, có: huỷ niêm yết các công ty Trung Quốc khỏi sàn chứng khoán Mỹ và hạn chế mức độ "phủ sóng" của các công ty Mỹ tại thị trường Trung Quốc thông qua các quỹ hưu trí của chính phủ. Hiện tại, cơ chế chính xác vẫn chưa được đưa ra và kế hoạch nào đưa ra cũng phải được ông Trump chấp nhận trước. Theo nguồn tin thân cận, ông Trump là người "bật đèn xanh" cho cuộc thảo luận.
Các quan chức của ông Trump cũng đang xem xét việc làm thế nào để Mỹ có thể đặt giới hạn đối với các công ty Trung Quốc, bao gồm trong các chỉ số chứng khoán do các công ty Mỹ quản lý, dù vẫn chưa rõ họ sẽ thực hiện ra sao.
Cho đến nay, ngày càng có nhiều công ty Trung Quốc được đưa vào những rổ chỉ số lớn. Chẳng hạn, hàng trăm doanh nghiệp Trung Quốc đã được đưa vào các rổ chỉ số của MSCI kể từ năm ngoái, đây cũng là điều khiến Thượng nghị sĩ đảng Cộng hoà Marco Rubio và những nhân vật khác ở Đồi Capitol băn khoăn. Họ ủng hộ việc mạnh tay triển khai các biện pháp hạn chế đầu tư và quy trình xét duyệt kỹ lưỡng hơn đối với các công ty Trung Quốc trong các rổ chỉ số và quỹ hưu trí Mỹ.
Được biết, Nhà Trắng đã thảo luận kế hoạch này với ông Rubio. Họ đang cân nhắc xem liệu có thảo luận lại dự luật ông Rubio đưa ra hồi mùa hè hay không, đó là dự luật gây ra nhiều tranh cãi về vấn đề làm thế nào để bảo vệ các nhà đầu tư Mỹ với số vốn được phân bổ vào những công ty Trung Quốc thiếu minh bạch.
Nguồn tin tiết lộ, Nhà Trắng vẫn chưa thảo luận với chính quyền Trung Quốc về vấn đề này. Họ cũng muốn giữ động thái này tách rời với vòng đàm phán thương mại sắp diễn ra. Tuy nhiên, một trong những mối lo ngại lớn của Mỹ là tầm ảnh hưởng "bất thường" của chính phủ Trung Quốc đối với những công ty tư nhân và sự hạn chế của Bắc Kinh trong việc phát hành một số thông tin của các công ty niêm yết Trung Quốc.
Động lực để đi đến cuộc thảo luận này một phần là do sự thúc đẩy từ các nhà lập pháp. Họ yêu cầu Mỹ phải có hành động tương tự với Bắc Kinh. Ngoài ra, thời hạn xem xét đầu tư vào Trung Quốc của quỹ hưu trí của chính phủ Mỹ đang dần kết thúc - do Uỷ ban Đầu tư Hưu trí Liên bang quản lý. Quỹ này sẽ rót hàng tỷ USD vào các công ty Trung Quốc vào năm tới.
Theo nguồn thạo tin, có nhiều đề xuất được đưa ra trong các cuộc thảo luận của tổ tư vấn Tổng thống Trump, trong đó có việc bắt buộc phải tuân thủ luật minh bạch của Mỹ, tạo điều kiện đôi bên cùng có lợi và nhấn mạnh hơn nữa mối lo ngại về an ninh quốc gia đối với một số công ty Trung Quốc mà quỹ sẽ đầu tư. Một trong số đó là các công ty đã được Mỹ xác định là "tác nhân xấu" hoặc đã áp dụng các biện pháp trừng phạt. Cuộc tranh luận vẫn tiếp tục diễn ra với ý kiến các công ty Mỹ có thể sẽ không muốn đầu tư vào các công ty đó kể cả họ có cơ hội.
Hội đồng Kinh tế Quốc gia là tổ chức chủ trì các cuộc họp về vấn đề này, với sự tham gia của Bộ Tài chính cùng Hội đồng An ninh Quốc gia. Đây chưa phải động thái chắc chắn sẽ diễn ra, các cố vấn của ông Trump hiện đang thảo luận về các đề xuất khác nhau và dự đoán về tác động.
Hiện tại, cố vấn kinh tế Nhà Trắng Larry Kudlow từ chối đưa ra bình luận chi tiết về thông tin này.
Hương Giang / Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
|
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2019
MỘT CUỘC TỌA ĐÀM, HAI THU HOẠCH LỚN
Chiều nay 27.9.2019, tại 53 Nguyễn Du, Hà Nội đã diễn ra cuộc tọa đàm, do Chu Hảo, nguyên Giám đốc NXB Tri thức chủ trì và Lại Nguyên Ân trình bầy về quá trình nghiên cứu các văn bản của Phan Khôi. Thế là mình biết về cả hai nhân vật và khâm phục cả Phan Khôi lẫn Lại Nguyên Ân.
1.Khâm phục Lại Nguyên Ân quá.
Trong khi nhiều người cắm đầu nghiên cứu, xuất bản những tuyển tập của các nhà này, nhà nọ, như tuyển tập Nông Đức Mạnh, để “vừa được ăn, vừa được nói”... thì Lại Nguyên Ân âm thầm suốt 16 năm nghiên cứu về Phan Khôi – một nhân vật “cộm cán” của Nhân Văn – Giai phẩm, mà hơn nửa thế kỷ qua chính quyền muốn vùi lấp đi.
Ông kể rằng, trong khi nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, đọc những tờ báo trước 1945, bắt gặp những bài báo của Phan Khôi hay quá; những bài viết của Phan Khôi cứ ám ảnh, mê hoặc ông, thế là cùng với nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, ông miệt mài theo đuổi Phan Khôi. Ông tìm những bài báo, truyện, thơ, sách dịch của Phan Khôi viết từ 1918 đến 1955 khắp các thư viện trong Nam, ngoài Bắc, rồi lần mò sang Mỹ, đọc, chụp bao nhiêu tư liệu; ông nhờ bạn bè khắp nơi ở trong nước, ở Pháp, ai có tự liệu, có manh mối gì cung cấp cho; ông nhờ bạn bè dịch các bài báo của Phan Khôi viết bằng Hán văn, để cố gắng có bộ sưu tập nhiều nhất về Phan Khôi. Ông nghiên cứu chia ra từng giai đoạn, từng chủ đề, biên khảo, chú thích tỉ mỉ, cận trọng với tất cả lòng say mê và trách nhiệm, chẳng nghĩ đến thù lao, danh tiếng... Trong thời buổi đồng tiền làm đảo điên xã hội mà ông cứ chìm đắm vào Phan Khôi suốt 16 năm. Thật khâm phục.
Ông Phan An Sa con út của Cụ Phan Khôi có mặt trong Hội thảo đã thống kê: Ông Lại Nguyên Ân đã tập hợp được 2.481 bài báo của Phan Khôi, in thành 15 tập, tổng cộng 9.194 trang, với 3339 chú thích... Ông nói, Phan Khôi là cha đẻ của những tác phẩm này nhưng đã bị vùi lấp đi hơn nửa thế kỷ, ít người còn quan tâm, ngay cả cháu chắt Cụ Phan Khôi cũng không để ý đến, nên Lại Nguyên Ân là Cha thứ hai, tái sinh những tác phẩm của Phan Khôi! Ông cảm ơn Lại Nguyên Ân và hai người ôm nhau trong niềm xúc động...
2. Càng khâm phục Phan Khôi
Phan Khôi (chữ Hán: 潘魁; 1887 - 1959) sinh ngày 6 tháng 10 năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con của Phó bảng Phan Trân (tri phủ Điện Khánh) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu). Ông đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi, lại dòng dõi quan lại, đáng lẽ được “quy hoach” vào chức quan nào đó dễ như bỡn. Nhưng ông lại “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” nhưng không “suy thoái” mà trở thành người tân tiến, tự gánh lấy sứ mệnh khai phóng cho dân tộc đang u mê giữa thời hỗn tạp...Ông dùng ngòi bút của mình để viết báo, viết truyện, làm thơ, đủ các thể loại để phê phán hệ tư tưởng Nho giáo; phê phán những hủ lậu của Triều đình; phê phán các thói hư tật xấu của dân mình, của xã hội đương thời và truyền bá những tư tưởng tiến bộ về Dân chủ, Nữ quyền, về nền văn hóa mới, lối sống của xã hội văn minh....Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nói về ông như sau:
"Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung Quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.
Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức."...
Qua trường hợp Phan Khôi, ta không khỏi ngạc nhiên: trước 1945, “dân ta một cổ hai tròng”, dưới “ách cai trị của Thực dân pháp và Triều đình phong kiến thối nát”, mà Phan Khôi rất TỰ DO: ông làm báo phê phán cả “phong kiến lẫn đế quốc” mà chẳng sao. Ông theo Phan Châu Trinh vào đảng Duy Tân, hoạt động duy tân, nên khi bị bắt bị tù. Ra tù lại viết báo, lập ra tờ báo. Tờ báo ở Hà Nội bị đóng cửa, ông vào Sài Gòn lập tời báo khác; báo Sài Gòn bị đóng cửa, ông ra Huế lập tờ báo mới... Ngày đó báo chí tự do thế đấy; dân 95% mù chữ mà các tờ báo, các nhà báo như Phan Khôi sống ung dung bằng báo in đấy. Nay thì các báo “quốc doanh” phải được nhà nước nuôi, chả thế mà ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn sung sướng kêu lên: “Anh em ta lại được Nhà nước nuôi rồi”! Lạ quá cơ, kể chuyện ngày xưa, cứ như là nghe chuyện Tương lại!
Nhân vật Phan Khôi lớn lắm, hẳn tiếp tục là đề tài của nhiều Luận văn, Luận án, nhiều công trình nghiên cứu nữa. Mong sao các bạn trẻ đọc Phan Khôi để mình thêm lớn lên, thêm tự hào về Việt Nam ta có những người như Phan Khôi.
(Ảnh 1, Chu Hảo và Lại Nguyên Ân; ảnh 2, ông Phan An Sa phát biểu; ảnh 3, 4,một góc Hội trường)
27/9/2019
Mạc Văn Trang
Mạc Văn Trang
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019
Cái bánh chưng của ông Lang Liêu bỗng đâu thành cái bánh vẽ to tổ bố..
Hà nội ùn tắc kinh hoàng. Có cảm giác là mọi người đang tháo chạy khỏi một cuộc chiến bại chứ không phải tham gia một cuộc giao thông.
Lỗi vẫn được đổ cho ô tô - xe máy nhưng hỡi ôi chúng chỉ là những khối cơ khí vô tri. Quy hoạch đô thị và hạ tầng giao thông như ccc cùng với ý thức công dân ngang với âm hộ mới là bố tướng.
Chúng ta không có văn minh đô thị nhưng lại thừa mứa những lề thói làng xã nhiêu khê. Đừng ngạc nhiên khi người ta đun than tổ ong ở chung cư và đốt đống nhấm trên vỉa hè sưởi ấm. Và cũng đừng hoảng loạn khi làng xã ngập ngụa những khối nhà bê tông cùng những bát ngát cánh đồng gái góa.
Với chiến lược lấy l. trâu làm thước ngắm và tầm nhìn không quá 10km như dự báo thời tiết trên VTV thì vĩnh viễn không có gì tươi mới xảy ra trong tương lai gần cả. Có chăng thì cũng chỉ là bóng dáng của con tắc kè hoa biến màu đổi sắc để tồn tại nhằm đạt được tuổi thọ tối ưu mà thôi.
Với năng suất lao động chỉ bằng 7% của người Sing và thua kém cả người Ai-lao thì độ hoang tưởng và huyễn hoặc về phẩm chất dân tộc đã đạt đỉnh cực đại. Lười biếng và thiếu kỷ luật cùng những vô vàn quái thai của thể chế thì cá chép mãi chỉ là phương tiện cho Táo Quân chầu giời chứ hóa rồng hóa phượng thế đóe nào được.
Khởi thủy của dân tộc này là một bọc trứng. Cái gọi là đồng bào ngay lập tức đã bị chia phôi. Kẻ lên rừng đã vung rìu chặt hết cây, người xuống biển đã giã cào xong tiệt cá. Về cơ bản là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mẹ Âu Cơ giao cho và vượt cả chỉ tiêu mà bố Long Quân phó thác. Đất nước thế là trọn niềm vui.
Và cái bánh chưng của ông Lang Liêu bỗng đâu thành cái bánh vẽ to tổ bố để quốc dân cấu véo ăn dần.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thành phố viển vông
Có nhiều cách người ta đến với (Lưu Quang) Vũ, mà với nhiều người, LQV có lẽ chỉ là Vũ, như một mối tình không bao giờ nghĩ đến một cái đích, nhưng không bao giờ mất đi. Gọi là mối tình đầu, tình thứ hai hay thế nào cũng được. Quả đúng, bất cứ khi nào yêu được thì hãy cứ yêu đi, đừng băn khoăn gì cả, đừng nghĩ gì ngoài nó. Bởi thế, người đàn bà nào của Vũ cũng là tha thiết tận tim, bàng hoàng cơ thể. Người đàn bà nào cũng có thể tự thấy mình là người xứng đáng với tình yêu hơn hết, khi được Vũ yêu và khi yêu Vũ. Đừng ghen tuông, dù luôn khát khao tuyệt đối, và thường trực ghen tuông, vì tất thảy sẽ là “người đàn bà không có tên”, nhưng như khí trời để thở, như tình yêu để yêu, như thơ để sống… Chẳng có gì không là tận hiến và tận cùng đòi hỏi.
Vì lẽ nào mà Vũ đến với tôi? Không lẽ vẫn là từ người cha yêu thơ theo cách của một kẻ cô đơn tìm đến từ ngữ, có thể chỉ là việc tìm đến từ ngữ. (Cho nên với ông, thơ là Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Lưu Quang Vũ, Tú Xương mà cũng là cả Tố Hữu). Khi tôi 11 tuổi, vừa vào lớp 6, tôi đã thấy tình yêu trong câu chuyện này của bố (mà tôi không bao giờ biết hư thực): Vũ trở về nhà trong đêm sau một chuyến đi xa, đầu đội mũ cát, quần áo bạc bụi đường, mở cửa, và thấy người vợ (là ai?) đùa vui với một người khác, Vũ kéo mũ sụp xuống, lặng lẽ đi ra và không bao giờ quay lại nữa. Tiểu sử của Vũ chẳng bao giờ xác minh cho tôi chuyện này. Đó có thể chỉ là một nhầm lẫn, một mơ hồ của trí nhớ, của bố tôi, và rồi là của tôi. Vũ không phải là Lưu Quang Vũ, Vũ là một nhân vật.
Thế mà đến năm 2003, tôi 17 tuổi, tôi mới được tự mình đọc những bài thơ của Vũ, trong một cuốn sách (Cuốn “Lưu Quang Vũ thơ và đời”, nxb Văn hóa Thông tin 1997, bìa sách đơn giản với hình ảnh Vũ buồn bã, mơ mộng, sâu thẳm mà lại ngây thơ như một cậu bé ở giữa, màu trắng bao quanh) mà tôi mua được khi lang thang giữa trưa nắng gắt một mình, buồn bã, bé nhỏ và luôn hồi hộp, ở một thành phố mà tôi luôn nhớ về nó với câu thơ này: “Thành phố ngày anh mười bảy tuổi; Viển vông, cay đắng, u buồn”. Hồi đó, lớp chúng tôi đặt báo Văn nghệ, và tôi đọc câu thơ đó từ báo. Trong kí ức tôi thuở nhỏ, Hải Dương luôn là một thị xã hơn là thành phố, nơi tôi không bao giờ quên cảm giác lạ lẫm khi xe ô tô chạy qua cái chắn ngang cầu Phú Lương cũ, thường phải dừng lại khi có đoàn tàu chạy qua (mà sau này, chẳng bao giờ được đi ô tô phía cầu cũ đó, cây cầu và chuyến ô tô định mệnh nào đó đã là số phận của Vũ, của Xuân Quỳnh, bé Quỳnh Thơ để Vũ, như Hàn Mặc Tử, không bao giờ già cho nổi trong trí nhớ.). Nhưng Hải Dương hồi 17 tuổi của tôi đã là một thành phố, và không có câu thơ nào với tôi chính xác hơn thế : “Viển vông, cay đắng, u buồn”, dù kẻ nào cũng có thể mượn câu đó để cho là đúng với mình hơn hết. Đó là thành phố nơi tôi bắt đầu những tình bạn đặc biệt mà từ văn chương, chúng tôi kéo nhau lại với đời sống, hay từ đời sống được níu giữ lại nơi miệng vực của tâm trạng dễ tuyệt vọng và sẵn sàng đau đớn của tuổi trẻ mà chúng tôi tìm đến văn chương. Đó là thành phố của những hàng chè “trăm năm” (chè “năm trăm VNĐ/cốc), của những hàng bàng hoa trắng và quả mọng vàng ươm thơm phức trao tay nhau, của nhà ga cũ kĩ những tiếng rao, của những “chợ Con”, của ngõ nhỏ nơi tôi thấy mình như một gã trai “ vào mua bao thuốc/ngồi hút mà buồn tênh/em yêu hay không yêu/việc gì mà phải khổ?”, thành phố của con chim sẻ tóc xù, của bác thợ mộc, của cây táo ra hoa, của cái rạp hát không bao giờ mở cửa để “ngồi trong nhà hát đợi màn lên”, của những quán sách cũ lẻ loi, của hiệu sách sơ sài mà thèm khát…, thành phố của những mùa hoa ngâu rộm vàng ven hồ Bạch Đằng và thơm trong sổ thơ “Nắp đàn khóa sợi dây vẫn hát/Bao giờ ngâu nở hoa”... Thành phố nơi đầu tiên tôi biết tuyệt vọng mà không thôi khao khát lại. Thành phố mà một người bạn đã dành cho tôi những câu thơ này:
Em gầy như huệ trắng xanh
Ngọn lửa nhỏ giữa đôi bờ vực thẳm
Em kì diệu em âm thầm kiêu hãnh
Em cô đơn như biển lạ lùng ơi…
Khi đó, tôi gầy hơn bây giờ nhiều, có lẽ tôi cũng mãnh liệt hơn, cô đơn hơn, khao khát hơn, kiêu hãnh hơn, khi đó tôi chưa bị cái đời sống của nhiều quan hệ giao tiếp cười nói làm che lấp cái tôi, khi đó giữa những người bạn, bao giờ tôi cũng khiến họ vừa yêu thương vừa ngại ngùng không đến gần, khi đó tôi là đứa trẻ lạc loài, xa lạ giữa lớp học ồn ào, là một linh hồn, là một thứ hoa dại… Khi đó, tôi gần như tự thấy mình không có khả năng duy trì một đời sống bình thường giữa mọi người, lúc nào cũng bất ổn, ngổn ngang, thất thần. Sau này, có những lúc, tôi đã sợ sự hoạt bát vui vẻ mà tôi thêm vào gương mặt mình khi đã lân la làm thân với đời sống.
Ở thành phố đó, (chúng) tôi yêu Vũ. Chúng tôi chép tặng nhau những bài thơ của Vũ. Tôi đọc ngẩn ngơ hàng ngày những câu trong bài “Bầy ong trong đêm sâu” như dành cho tôi:
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu người ta đợi mặt trời
Đợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy…
… Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong trắng bơ vơ trong tổ nắng
Con ong đỏ là con ong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu…
Nick yahoo đầu tiên của tôi là ongdo86 mà bạn bè thường đọc là Ông đồ.
Nhiều bài thơ khác của Vũ ám hơn, như những bài về chiến tranh. Nhưng những bài về tình yêu, hay chính là về tâm hồn thật là Vũ của tuổi 17 của tôi hơn. Kể từ đó, tình yêu với tôi thường cũng là dằn vặt, về bản thân mình và về tuyệt đối. Tôi yêu một quả chuông đập giữa hồi chuông vô tận của trời xanh, tôi yêu cách tôi hồi hộp, bồn chốn sống, lúc nào cũng thế.
Nhưng tôi không tin người yêu thơ Vũ có thể trả lời câu hỏi: Vì sao yêu thơ Vũ? Tôi đã nhiều lần bị hỏi câu này, có lần có lẽ đã làm mất toi mấy chục phút phỏng vấn của anh bạn ở đài truyền hình Hải Phòng, vì không sao ghi hình nổi và không sao nói năng suôn sẻ nổi (chỉ vì anh bạn nhất nhất bắt trả lời và bắt đọc thơ, hồi kịch của Vũ được diễn ở nhà hát Tuổi trẻ mấy năm gần đây). Nếu nói đến cách tạo dựng hình ảnh siêu thực, thì sự siêu thực của Vũ không thật quái lạ. Nếu nói cái mới về ngôn ngữ, cảm xúc…
Mọi thứ phân tích dường như là vô nghĩa.
Ở thơ Vũ, người ta có lẽ đã để xảy ra nơi tâm hồn mình sự nhập thân hay sự tự đồng nhất kì lạ, dù người đọc là nữ hay nam, là kẻ cô đơn hay có xung quanh bao niềm vui bè bạn, điều chỉ có khi người làm thơ như trút hết mình nơi đó. Hay Vũ đã “giết” người bằng những từ gây nguy hiểm mà cũng là những từ làm nên sức mạnh của tuổi trẻ, vì nó luôn tìm đến sự sâu thẳm, tận cùng, tuyệt đối, mà không bị màu mè, làm dáng, lão hóa hay sến rớt khi Vũ dùng: bàng hoàng, tận cùng, dằn vặt, bơ vơ, cô đơn… Thơ Vũ và Vũ trẻ, thực sự, ở sự khao khát cái tuyệt đối và sự thất vọng quá sâu đó, nhưng không bao giờ mòn mỏi. Mòn mỏi là trạng thái đáng sợ nhất của đời sống.
Rất nhiều năm sau tôi không đọc thơ LQV nữa, khi tôi lên đại học, Vũ vẫn là một kỉ niệm, một mối tình, mà Lưu Quang Vũ lại là một cái tên kí dưới các bài thơ mà, khi người ta nói đến nhiều thì tôi thấy xa xôi.
Nhưng cái thành phố viển vông cay đắng u buồn ấy, thì mãi mãi còn đeo bám tôi như số phận. Tôi đã hoài niệm nó ngay khi chưa rời xa nó. Cũng như tôi bây giờ vẫn thường bị tách khỏi đời sống hiện tại bằng căn bệnh hoài niệm mãn tính này.
Sao những ngày này, một tiếng nói của bạn cũng làm tôi nhớ đến mềm lại cả không gian Hà Nội bụi bặm này, khi lá bay vàng mặt phố như bầy cá nhỏ đùa bỡn, bằng lăng bỗng muốn nổi loạn và chẳng còn gì đáng kể ngoài tình bạn và tình yêu, (và thơ.)
Tôi chưa tin có người nào viết được về thơ Vũ mà không giết đi thơ Vũ, hay làm một việc thừa. Và thể nào cũng có kẻ ghen tuông với tình yêu tôi dành cho Vũ.
Nhã Thuyên
Vì lẽ nào mà Vũ đến với tôi? Không lẽ vẫn là từ người cha yêu thơ theo cách của một kẻ cô đơn tìm đến từ ngữ, có thể chỉ là việc tìm đến từ ngữ. (Cho nên với ông, thơ là Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Lưu Quang Vũ, Tú Xương mà cũng là cả Tố Hữu). Khi tôi 11 tuổi, vừa vào lớp 6, tôi đã thấy tình yêu trong câu chuyện này của bố (mà tôi không bao giờ biết hư thực): Vũ trở về nhà trong đêm sau một chuyến đi xa, đầu đội mũ cát, quần áo bạc bụi đường, mở cửa, và thấy người vợ (là ai?) đùa vui với một người khác, Vũ kéo mũ sụp xuống, lặng lẽ đi ra và không bao giờ quay lại nữa. Tiểu sử của Vũ chẳng bao giờ xác minh cho tôi chuyện này. Đó có thể chỉ là một nhầm lẫn, một mơ hồ của trí nhớ, của bố tôi, và rồi là của tôi. Vũ không phải là Lưu Quang Vũ, Vũ là một nhân vật.
Thế mà đến năm 2003, tôi 17 tuổi, tôi mới được tự mình đọc những bài thơ của Vũ, trong một cuốn sách (Cuốn “Lưu Quang Vũ thơ và đời”, nxb Văn hóa Thông tin 1997, bìa sách đơn giản với hình ảnh Vũ buồn bã, mơ mộng, sâu thẳm mà lại ngây thơ như một cậu bé ở giữa, màu trắng bao quanh) mà tôi mua được khi lang thang giữa trưa nắng gắt một mình, buồn bã, bé nhỏ và luôn hồi hộp, ở một thành phố mà tôi luôn nhớ về nó với câu thơ này: “Thành phố ngày anh mười bảy tuổi; Viển vông, cay đắng, u buồn”. Hồi đó, lớp chúng tôi đặt báo Văn nghệ, và tôi đọc câu thơ đó từ báo. Trong kí ức tôi thuở nhỏ, Hải Dương luôn là một thị xã hơn là thành phố, nơi tôi không bao giờ quên cảm giác lạ lẫm khi xe ô tô chạy qua cái chắn ngang cầu Phú Lương cũ, thường phải dừng lại khi có đoàn tàu chạy qua (mà sau này, chẳng bao giờ được đi ô tô phía cầu cũ đó, cây cầu và chuyến ô tô định mệnh nào đó đã là số phận của Vũ, của Xuân Quỳnh, bé Quỳnh Thơ để Vũ, như Hàn Mặc Tử, không bao giờ già cho nổi trong trí nhớ.). Nhưng Hải Dương hồi 17 tuổi của tôi đã là một thành phố, và không có câu thơ nào với tôi chính xác hơn thế : “Viển vông, cay đắng, u buồn”, dù kẻ nào cũng có thể mượn câu đó để cho là đúng với mình hơn hết. Đó là thành phố nơi tôi bắt đầu những tình bạn đặc biệt mà từ văn chương, chúng tôi kéo nhau lại với đời sống, hay từ đời sống được níu giữ lại nơi miệng vực của tâm trạng dễ tuyệt vọng và sẵn sàng đau đớn của tuổi trẻ mà chúng tôi tìm đến văn chương. Đó là thành phố của những hàng chè “trăm năm” (chè “năm trăm VNĐ/cốc), của những hàng bàng hoa trắng và quả mọng vàng ươm thơm phức trao tay nhau, của nhà ga cũ kĩ những tiếng rao, của những “chợ Con”, của ngõ nhỏ nơi tôi thấy mình như một gã trai “ vào mua bao thuốc/ngồi hút mà buồn tênh/em yêu hay không yêu/việc gì mà phải khổ?”, thành phố của con chim sẻ tóc xù, của bác thợ mộc, của cây táo ra hoa, của cái rạp hát không bao giờ mở cửa để “ngồi trong nhà hát đợi màn lên”, của những quán sách cũ lẻ loi, của hiệu sách sơ sài mà thèm khát…, thành phố của những mùa hoa ngâu rộm vàng ven hồ Bạch Đằng và thơm trong sổ thơ “Nắp đàn khóa sợi dây vẫn hát/Bao giờ ngâu nở hoa”... Thành phố nơi đầu tiên tôi biết tuyệt vọng mà không thôi khao khát lại. Thành phố mà một người bạn đã dành cho tôi những câu thơ này:
Em gầy như huệ trắng xanh
Ngọn lửa nhỏ giữa đôi bờ vực thẳm
Em kì diệu em âm thầm kiêu hãnh
Em cô đơn như biển lạ lùng ơi…
Khi đó, tôi gầy hơn bây giờ nhiều, có lẽ tôi cũng mãnh liệt hơn, cô đơn hơn, khao khát hơn, kiêu hãnh hơn, khi đó tôi chưa bị cái đời sống của nhiều quan hệ giao tiếp cười nói làm che lấp cái tôi, khi đó giữa những người bạn, bao giờ tôi cũng khiến họ vừa yêu thương vừa ngại ngùng không đến gần, khi đó tôi là đứa trẻ lạc loài, xa lạ giữa lớp học ồn ào, là một linh hồn, là một thứ hoa dại… Khi đó, tôi gần như tự thấy mình không có khả năng duy trì một đời sống bình thường giữa mọi người, lúc nào cũng bất ổn, ngổn ngang, thất thần. Sau này, có những lúc, tôi đã sợ sự hoạt bát vui vẻ mà tôi thêm vào gương mặt mình khi đã lân la làm thân với đời sống.
Ở thành phố đó, (chúng) tôi yêu Vũ. Chúng tôi chép tặng nhau những bài thơ của Vũ. Tôi đọc ngẩn ngơ hàng ngày những câu trong bài “Bầy ong trong đêm sâu” như dành cho tôi:
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu người ta đợi mặt trời
Đợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy…
… Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong trắng bơ vơ trong tổ nắng
Con ong đỏ là con ong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu…
Nick yahoo đầu tiên của tôi là ongdo86 mà bạn bè thường đọc là Ông đồ.
Nhiều bài thơ khác của Vũ ám hơn, như những bài về chiến tranh. Nhưng những bài về tình yêu, hay chính là về tâm hồn thật là Vũ của tuổi 17 của tôi hơn. Kể từ đó, tình yêu với tôi thường cũng là dằn vặt, về bản thân mình và về tuyệt đối. Tôi yêu một quả chuông đập giữa hồi chuông vô tận của trời xanh, tôi yêu cách tôi hồi hộp, bồn chốn sống, lúc nào cũng thế.
Nhưng tôi không tin người yêu thơ Vũ có thể trả lời câu hỏi: Vì sao yêu thơ Vũ? Tôi đã nhiều lần bị hỏi câu này, có lần có lẽ đã làm mất toi mấy chục phút phỏng vấn của anh bạn ở đài truyền hình Hải Phòng, vì không sao ghi hình nổi và không sao nói năng suôn sẻ nổi (chỉ vì anh bạn nhất nhất bắt trả lời và bắt đọc thơ, hồi kịch của Vũ được diễn ở nhà hát Tuổi trẻ mấy năm gần đây). Nếu nói đến cách tạo dựng hình ảnh siêu thực, thì sự siêu thực của Vũ không thật quái lạ. Nếu nói cái mới về ngôn ngữ, cảm xúc…
Mọi thứ phân tích dường như là vô nghĩa.
Ở thơ Vũ, người ta có lẽ đã để xảy ra nơi tâm hồn mình sự nhập thân hay sự tự đồng nhất kì lạ, dù người đọc là nữ hay nam, là kẻ cô đơn hay có xung quanh bao niềm vui bè bạn, điều chỉ có khi người làm thơ như trút hết mình nơi đó. Hay Vũ đã “giết” người bằng những từ gây nguy hiểm mà cũng là những từ làm nên sức mạnh của tuổi trẻ, vì nó luôn tìm đến sự sâu thẳm, tận cùng, tuyệt đối, mà không bị màu mè, làm dáng, lão hóa hay sến rớt khi Vũ dùng: bàng hoàng, tận cùng, dằn vặt, bơ vơ, cô đơn… Thơ Vũ và Vũ trẻ, thực sự, ở sự khao khát cái tuyệt đối và sự thất vọng quá sâu đó, nhưng không bao giờ mòn mỏi. Mòn mỏi là trạng thái đáng sợ nhất của đời sống.
Rất nhiều năm sau tôi không đọc thơ LQV nữa, khi tôi lên đại học, Vũ vẫn là một kỉ niệm, một mối tình, mà Lưu Quang Vũ lại là một cái tên kí dưới các bài thơ mà, khi người ta nói đến nhiều thì tôi thấy xa xôi.
Nhưng cái thành phố viển vông cay đắng u buồn ấy, thì mãi mãi còn đeo bám tôi như số phận. Tôi đã hoài niệm nó ngay khi chưa rời xa nó. Cũng như tôi bây giờ vẫn thường bị tách khỏi đời sống hiện tại bằng căn bệnh hoài niệm mãn tính này.
Sao những ngày này, một tiếng nói của bạn cũng làm tôi nhớ đến mềm lại cả không gian Hà Nội bụi bặm này, khi lá bay vàng mặt phố như bầy cá nhỏ đùa bỡn, bằng lăng bỗng muốn nổi loạn và chẳng còn gì đáng kể ngoài tình bạn và tình yêu, (và thơ.)
Tôi chưa tin có người nào viết được về thơ Vũ mà không giết đi thơ Vũ, hay làm một việc thừa. Và thể nào cũng có kẻ ghen tuông với tình yêu tôi dành cho Vũ.
Nhã Thuyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Nguyên nhân khiến Trung Quốc không thể ra tay vực dậy nền kinh tế đang giảm tốc và mối lo ngại đáng báo động cho kinh tế toàn cầu
Trong khi Mỹ và Châu Âu theo đuổi các chính sách tiền tệ dễ dàng để thúc đẩy nền kinh tế của họ, Trung Quốc đang có một hướng đi thận trọng hơn. Đây sẽ là một trở ngại cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Tổng thống Donald Trump từng nặng lời chỉ trích các nhà lãnh đạo của Cục Dự trữ Liên bang vì chưa hành động đủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ, mặc dù Fed đã cắt giảm lãi suất hai lần trong năm nay. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu cho biết họ sẵn sàng mua nhiều nợ nhất có thể để phục hồi khu vực đồng euro. Điều đó khiến Trung Quốc trở thành nước duy nhất trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới không đạp được chân trên bàn đạp tăng trưởng.
Trong các chu kỳ trước đây, bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy dự báo tốc độ tăng trưởng cao của Trung Quốc đang bị đe dọa đều dẫn đến kích thích toàn diện. Lần này, ngay cả khi nền kinh tế đang đương đầu với tốc độ phát triển chậm nhất trong gần ba thập kỷ, và có nhiều khoảng để cắt giảm lãi suất hơn so với các nước khác, Chủ tịch Tập Cận Bình lại tiếp tục chiến lược ổn-định-trước-tiên của mình. Có kích thích, nhưng ở mức độ vừa phải, thậm chí là tối thiểu và điều đó có tác động lớn đến nền kinh tế thế giới.
Trước đây, ngay từ dấu hiệu đầu tiên về sự bất ổn định, Trung Quốc sẽ mở các vòi tín dụng, theo ông Andrew Polk, đồng sáng lập công ty nghiên cứu Trivium China tại Bắc Kinh. Bây giờ họ nhận ra rằng một điểm phần trăm tăng trưởng thêm không xứng đáng với thiệt hại mà nền kinh tế phải chịu.
Năm 2008, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Trung Quốc đã giải phóng mọi kích thích. 5 lần cắt giảm lãi suất cơ bản đi kèm với gói kích thích trị giá 4 nghìn tỷ NDT (563 tỷ USD) đã giúp bùng nổ hoạt động cho vay ngân hàng, phần lớn là cho chính quyền địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng.
Điều này dẫn đến một trong những sự tích tụ nợ nhanh nhất trong lịch sử loài người, và khoản nợ đó vẫn là một gánh nặng đối với nền kinh tế quốc gia.
Các nhà phân tích xác định thời gian thay đổi chính sách là tháng 5/2016, khi một bài báo của một người có thẩm quyền đăng trên tờ Nhật báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản, gọi nợ là "tội lỗi căn nguyên". Ảo tưởng về kích thích nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ dễ dàng đã sinh ra những vấn đề bao gồm bong bóng bất động sản, năng suất công nghiệp dư thừa và các khoản vay không phù hợp đang gia tăng, theo bài báo, được cho là của Phó Thủ tướng Lưu Hạc, cố vấn kinh tế hàng đầu của Chủ tịch Tập Cận Bình.
Trung Quốc đã bước vào một con đường mới mà các nhà lãnh đạo còn bị mắc kẹt giữa sự bất ổn xuất phát từ cuộc chiến thương mại và công nghệ leo thang với Mỹ.
Thay vì cung cấp thêm tín dụng, các nhà hoạch định chính sách đang cố gắng chuyển hướng cho vay khỏi các doanh nghiệp nhà nước bế tắc sang các công ty tư nhân nhỏ hơn, hiệu quả hơn. Họ cũng đã tìm cách giảm rủi ro hệ thống bằng cách củng cố hệ thống quy định. Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Dịch Cương nhắc lại chính sách tại cuộc họp báo tại Bắc Kinh vào ngày 24/9: "Chúng tôi không vội vàng thực hiện cắt giảm lãi suất lớn hay nới lỏng định lượng, như một số ngân hàng trung ương khác."
Kết quả là một lực cản không thể tránh khỏi đối với tăng trưởng. Sản xuất công nghiệp trong tháng 8 đã tăng trưởng với tốc độ chậm nhất trong một tháng kể từ năm 2002, trong khi chỉ số giá công nghiệp chìm sâu hơn vào giảm phát. Theo ông Polk, tất cả những điều này có nghĩa là sự chậm lại của Trung Quốc có thể sẽ là một trở lực cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm nay và năm tới. Ông Frederic Neumann, đồng giám đốc nghiên cứu kinh tế châu Á tại HSBC Holdings Plc Hồng Kông, cho biết phần còn lại của thế giới sẽ cần phải làm quen với việc Trung Quốc sẽ không đưa ra biện pháp khắc phục nhanh đối với tình trạng bất ổn tăng trưởng hiện tại.
Trung Quốc đang thực hiện một số bước để giữ cho tăng trưởng ổn định. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc vừa được hạ xuống mức thấp nhất kể từ năm 2007, lãi suất thị trường được điều chỉnh thấp hơn, phát hành trái phiếu cho chi tiêu cơ sở hạ tầng tăng lên. Chính phủ cũng cam kết cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp và hộ gia đình khoảng 2 nghìn tỷ NDT (281 tỷ USD) trong năm nay theo kế hoạch kích thích tài khóa lớn nhất từ trước đến nay của nước này. "Mặc dù có vẻ như Trung Quốc chậm trễ trong việc kích thích chính sách cùng những minh chứng, nhưng thực tế thì hơi kém thuyết phục", theo ông George Magnus, nhà kinh tế tại Trung tâm Đại học Oxford Trung Quốc.
So với các khoản chi tiêu trong quá khứ, kích thích này có mục tiêu và hiệu chỉnh nhiều hơn. Nhưng nó không phải là không có rủi ro: mối nguy hiểm lớn nhất là nền kinh tế chậm lại hơn so với kỳ vọng của nhà hoạch định chính sách, dẫn đến tình trạng thất nghiệp lan rộng và suy thoái trở nên khó đảo ngược. Các nhà lãnh đạo sau đó có thể tăng cường kích thích, gây ra những bất ổn về tài chính mà họ muốn tránh.
Quyết tâm của cấp lãnh đạo có thể được kiểm nghiệm sớm hơn. Với những thách thức thương mại và tài chính "đau đầu" hơn, tăng trưởng có thể giảm tới 5,5% nếu không có kích thích mạnh mẽ hơn, Louis Kuijs, nhà kinh tế trưởng châu Á tại Oxford Economics ở Hồng Kông nói. Sáu tháng tới sẽ là phép thử, ông nói. "Cá nhân tôi chưa thể tin rằng các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận tốc độ tăng trưởng như vậy, nhưng hãy chờ xem."
Khánh An / Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
|
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thư kiến nghị Việt Nam kiện Trung Quốc..
FB Ngo Thu đã chép lại bài này từ VOA:
Trong gần 2 tuần nay, 9 tổ chức và gần 700 cá nhân đã và đang vận động chữ ký cho một văn bản kêu gọi chính quyền Việt Nam “kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế” về tranh chấp ở Biển Đông.
Một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông bình luận với VOA rằng việc đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế sẽ có lợi cho Việt Nam nhiều hơn là có hại, song ông cũng phân tích về 2 lý do có thể làm Việt Nam còn e ngại chưa tiến hành bước đi quyết đoán.
Thư kêu gọi được đưa lên mạng xã hội hôm 10/9 với những chữ ký đầu tiên của các nhân vật có nhiều ảnh hưởng như nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà văn Nguyên Ngọc, tiến sĩ Chu Hảo, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. HCM Võ Văn Thôn, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. HCM Đào Công Tiến, và nhiều học giả, nhà hoạt động trong và ngoài nước, kể cả ở Mỹ, Pháp, v.v…
Bức thư xuất hiện trong bối cảnh 2 tháng đã trôi qua kể từ khi tàu khảo sát địa chất của Trung Quốc bắt đầu hoạt động tại Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ đầu tháng 7.
Theo tìm hiểu của VOA, từ đó đến nay, tàu của Trung Quốc thực hiện 3 đợt khảo sát, gây ra một số cuộc đấu khẩu ngoại giao giữa hai nước láng giềng.
Có tin đợt khảo sát thứ 3 vừa kết thúc. Trang Facebook mang tên Dự án Đại sự ký Biển Đông cho biết đội tàu Trung Quốc gồm tàu Hải Dương Địa Chất 8 và 4 tàu hải cảnh hộ tống vào sáng sớm ngày 22/9 “bất ngờ rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam về Đá Chữ Thập”.
Thông tin trên được Dự án Đại sự ký Biển Đông đưa ra căn cứ vào dữ liệu trên hệ thống nhận dạng tự động tàu bè AIS, là hệ thống quốc tế nhận và phát tín hiệu qua vệ tinh để thông báo về vị trí, tốc độ, hướng đi, tên tàu, số nhận dạng, kích thước tàu, v.v…
“Đây là lúc thuận lợi nhất để kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế”, một đoạn trong thư của 9 tổ chức và gần 700 cá nhân viết, đồng thời thư nhấn mạnh rằng “đã đến lúc không thể nhân nhượng để cầu mong yên bình trước sự thách thức ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với chủ quyền quốc gia”.
Bức thư kêu gọi chính quyền Việt Nam thực hiện 3 việc gồm kiện nhà cầm quyền Trung Quốc về việc nước này “xâm phạm quyền lợi kinh tế biển của Việt Nam ở Biển Đông”, bên cạnh đó là đòi họ “trả lại các đảo” của Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm bằng vũ lực, và nâng quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ thành “đối tác chiến lược toàn diện”.
Thạc sĩ luật quốc tế Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông, nói với VOA rằng trong hai yêu cầu đầu tiên mà những người vận động đưa ra, việc kiện đòi Trung Quốc tôn trọng lợi ích của Việt Nam có tính khả thi hơn.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt giải thích rằng việc đòi Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ, do đó nếu Việt Nam muốn đưa Trung Quốc ra tòa về vấn đề này, nước láng giềng phương bắc phải đồng ý là một bên trong vụ kiện thì một tòa án quốc tế mới có thể xét xử. “Nhưng đó là điều khó khăn vì Trung Quốc luôn luôn từ chối đưa ra tòa”, thạc sĩ Hoàng Việt nói.
Ngược lại, Việt Nam hoàn toàn có thể “đạt hiệu quả” nếu làm tương tự như Philippines là kiện Trung Quốc tại tòa trọng tài quốc tế để yêu cầu đất nước có hơn 1,4 tỉ dân phải tuân thủ Công ước về Luật biển LHQ, trong đó phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và dừng các hành vi xâm phạm, ông Hoàng Việt nói với VOA.
Trong trường hợp này, dù Trung Quốc từ chối ra tòa, phiên tòa vẫn có thể thiết lập được và ra phán quyết được, theo thạc sĩ Hoàng Việt.
Lưu ý rằng dù phán quyết tại tòa trọng tài dù “không có giá trị thi hành” vì không có cơ quan quốc tế bắt buộc thi hành án, song nhà nghiên cứu Biển Đông này cho rằng Việt Nam vẫn có lợi nếu làm như vậy.
Dẫn lại phán quyết của tòa quốc tế hồi tháng 7/2016 về vụ Philippines kiện Trung Quốc, ông Hoàng Việt nói dù Trung Quốc tuyên bố không công nhận giá trị của phán quyết song Trung Quốc kể từ đó đã phải đối phó rất nhiều.
Ông nói thêm:
“Trong tuyên bố gần đây nhất, của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Cảnh Sảng, ngày 18/9, họ không nhắc đến yêu sách đường 9 đoạn/đường lưỡi bò nữa. Có lẽ Trung Quốc thấy rằng phán quyết của tòa bác bỏ đường này, và đường này hoàn toàn vô lý, nên Trung Quốc thay đổi chăng. Thứ hai, có rất nhiều giới chức Trung Quốc ở nhiều tầng lớp khác nhau, mức độ khác nhau phải tìm cách chống lại phán quyết này, và điều đấy cũng khiến cho Trung Quốc bị mệt mỏi rất nhiều”.
Một điểm lợi khác mà Việt Nam có thể xem xét, theo nhận định riêng của thạc sĩ Hoàng Việt, là Trung Quốc đã phải “xuống thang rất nhiều” sau phán quyết. Trước đây, Trung Quốc khẳng định toàn bộ vùng Scarborough thuộc chủ quyền nước này, nhưng kể từ khi có phán quyết, Tổng thống Duterte của Philippines đã có lợi thế để đàm phán về khai thác dầu khí chung ở vùng biển nêu trên.
“Nếu không có phán quyết, còn lâu ông Duterte mới có thể đàm phán với Trung Quốc trên vùng biển này được. Nói gì thì nói, phán quyết vẫn có tác động của nó”, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nói với VOA.
Thư kiến nghị của 9 tổ chức và gần 700 cá nhân cho rằng các động thái phản ứng của Việt Nam về việc Trung Quốc tiến hành khảo sát ở Bãi Tư Chính cũng như chưa kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế cho thấy sự “yếu ớt” của Việt Nam.
Từ góc nhìn của nhà nghiên cứu, thạc sĩ Hoàng Việt bình luận với VOA rằng Việt Nam đang ở vào thế khó vì có 2 điều cản trở. Ông giải thích thêm:
“Lý do thứ nhất, là lý do lớn, là sức ép và sự đe dọa trả đũa từ Trung Quốc. Trung Quốc đã gây sức ép với Philippines rất là mạnh. Chắc chắn với Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm mạnh và còn căng thẳng hơn. Điều đấy cũng chứng tỏ một điều là nếu Trung Quốc không coi phán quyết của tòa là cái gì, tại sao Trung Quốc lại phải lo ngại khi Việt Nam có thể khởi kiện. Thứ hai, một số người ở Việt Nam cho rằng trong tuyên bố về đường cơ sở năm 1982 của Việt Nam, nó còn có một số vấn đề”.
Cụ thể, theo ông Hoàng Việt, Việt Nam công bố đường cơ sở trên biển vào tháng 11/1982, một tháng trước khi Công ước về Luật biển LHQ được ký kết, nhưng đường cơ sở này vấp phải sự phản đối của 10 nước trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và Campuchia vì một số điểm mốc không phù hợp, hay một số viện dẫn lịch sử của Việt Nam, nhất là gắn với Vịnh Bắc Bộ, đã bị “lạc hậu”. Đây là những điểm yếu mà Trung Quốc có thể tìm cách khai thác để chống lại vụ kiện tiềm tàng của Việt Nam, ông Hoàng Việt đưa ra ý kiến.
Những người khởi xướng bức thư kiến nghị Việt Nam kiện Trung Quốc chưa đặt ra hạn chót sẽ gửi thư đến chính quyền Việt Nam.
Trong khi đó, hôm 21/9, Phó thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam đã gặp Phó thủ tướng Trung Quốc Hàn Chính nhân Hội nghị thượng đỉnh thương mại-đầu tư Trung Quốc-ASEAN tại Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Nói về Biển Đông, Phó Thủ tướng Đam “đề nghị Trung Quốc tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam, không để tiếp diễn tình hình phức tạp trên biển”.
Đáp lại, Phó thủ tướng Trung Quốc Hàn Chính khẳng định coi trọng phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Việt Nam.
Một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông bình luận với VOA rằng việc đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế sẽ có lợi cho Việt Nam nhiều hơn là có hại, song ông cũng phân tích về 2 lý do có thể làm Việt Nam còn e ngại chưa tiến hành bước đi quyết đoán.
Thư kêu gọi được đưa lên mạng xã hội hôm 10/9 với những chữ ký đầu tiên của các nhân vật có nhiều ảnh hưởng như nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà văn Nguyên Ngọc, tiến sĩ Chu Hảo, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. HCM Võ Văn Thôn, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. HCM Đào Công Tiến, và nhiều học giả, nhà hoạt động trong và ngoài nước, kể cả ở Mỹ, Pháp, v.v…
Bức thư xuất hiện trong bối cảnh 2 tháng đã trôi qua kể từ khi tàu khảo sát địa chất của Trung Quốc bắt đầu hoạt động tại Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ đầu tháng 7.
Theo tìm hiểu của VOA, từ đó đến nay, tàu của Trung Quốc thực hiện 3 đợt khảo sát, gây ra một số cuộc đấu khẩu ngoại giao giữa hai nước láng giềng.
Có tin đợt khảo sát thứ 3 vừa kết thúc. Trang Facebook mang tên Dự án Đại sự ký Biển Đông cho biết đội tàu Trung Quốc gồm tàu Hải Dương Địa Chất 8 và 4 tàu hải cảnh hộ tống vào sáng sớm ngày 22/9 “bất ngờ rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam về Đá Chữ Thập”.
Thông tin trên được Dự án Đại sự ký Biển Đông đưa ra căn cứ vào dữ liệu trên hệ thống nhận dạng tự động tàu bè AIS, là hệ thống quốc tế nhận và phát tín hiệu qua vệ tinh để thông báo về vị trí, tốc độ, hướng đi, tên tàu, số nhận dạng, kích thước tàu, v.v…
“Đây là lúc thuận lợi nhất để kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế”, một đoạn trong thư của 9 tổ chức và gần 700 cá nhân viết, đồng thời thư nhấn mạnh rằng “đã đến lúc không thể nhân nhượng để cầu mong yên bình trước sự thách thức ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với chủ quyền quốc gia”.
Bức thư kêu gọi chính quyền Việt Nam thực hiện 3 việc gồm kiện nhà cầm quyền Trung Quốc về việc nước này “xâm phạm quyền lợi kinh tế biển của Việt Nam ở Biển Đông”, bên cạnh đó là đòi họ “trả lại các đảo” của Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm bằng vũ lực, và nâng quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ thành “đối tác chiến lược toàn diện”.
Thạc sĩ luật quốc tế Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông, nói với VOA rằng trong hai yêu cầu đầu tiên mà những người vận động đưa ra, việc kiện đòi Trung Quốc tôn trọng lợi ích của Việt Nam có tính khả thi hơn.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt giải thích rằng việc đòi Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ, do đó nếu Việt Nam muốn đưa Trung Quốc ra tòa về vấn đề này, nước láng giềng phương bắc phải đồng ý là một bên trong vụ kiện thì một tòa án quốc tế mới có thể xét xử. “Nhưng đó là điều khó khăn vì Trung Quốc luôn luôn từ chối đưa ra tòa”, thạc sĩ Hoàng Việt nói.
Ngược lại, Việt Nam hoàn toàn có thể “đạt hiệu quả” nếu làm tương tự như Philippines là kiện Trung Quốc tại tòa trọng tài quốc tế để yêu cầu đất nước có hơn 1,4 tỉ dân phải tuân thủ Công ước về Luật biển LHQ, trong đó phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và dừng các hành vi xâm phạm, ông Hoàng Việt nói với VOA.
Trong trường hợp này, dù Trung Quốc từ chối ra tòa, phiên tòa vẫn có thể thiết lập được và ra phán quyết được, theo thạc sĩ Hoàng Việt.
Lưu ý rằng dù phán quyết tại tòa trọng tài dù “không có giá trị thi hành” vì không có cơ quan quốc tế bắt buộc thi hành án, song nhà nghiên cứu Biển Đông này cho rằng Việt Nam vẫn có lợi nếu làm như vậy.
Dẫn lại phán quyết của tòa quốc tế hồi tháng 7/2016 về vụ Philippines kiện Trung Quốc, ông Hoàng Việt nói dù Trung Quốc tuyên bố không công nhận giá trị của phán quyết song Trung Quốc kể từ đó đã phải đối phó rất nhiều.
Ông nói thêm:
“Trong tuyên bố gần đây nhất, của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Cảnh Sảng, ngày 18/9, họ không nhắc đến yêu sách đường 9 đoạn/đường lưỡi bò nữa. Có lẽ Trung Quốc thấy rằng phán quyết của tòa bác bỏ đường này, và đường này hoàn toàn vô lý, nên Trung Quốc thay đổi chăng. Thứ hai, có rất nhiều giới chức Trung Quốc ở nhiều tầng lớp khác nhau, mức độ khác nhau phải tìm cách chống lại phán quyết này, và điều đấy cũng khiến cho Trung Quốc bị mệt mỏi rất nhiều”.
Một điểm lợi khác mà Việt Nam có thể xem xét, theo nhận định riêng của thạc sĩ Hoàng Việt, là Trung Quốc đã phải “xuống thang rất nhiều” sau phán quyết. Trước đây, Trung Quốc khẳng định toàn bộ vùng Scarborough thuộc chủ quyền nước này, nhưng kể từ khi có phán quyết, Tổng thống Duterte của Philippines đã có lợi thế để đàm phán về khai thác dầu khí chung ở vùng biển nêu trên.
“Nếu không có phán quyết, còn lâu ông Duterte mới có thể đàm phán với Trung Quốc trên vùng biển này được. Nói gì thì nói, phán quyết vẫn có tác động của nó”, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nói với VOA.
Thư kiến nghị của 9 tổ chức và gần 700 cá nhân cho rằng các động thái phản ứng của Việt Nam về việc Trung Quốc tiến hành khảo sát ở Bãi Tư Chính cũng như chưa kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế cho thấy sự “yếu ớt” của Việt Nam.
Từ góc nhìn của nhà nghiên cứu, thạc sĩ Hoàng Việt bình luận với VOA rằng Việt Nam đang ở vào thế khó vì có 2 điều cản trở. Ông giải thích thêm:
“Lý do thứ nhất, là lý do lớn, là sức ép và sự đe dọa trả đũa từ Trung Quốc. Trung Quốc đã gây sức ép với Philippines rất là mạnh. Chắc chắn với Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm mạnh và còn căng thẳng hơn. Điều đấy cũng chứng tỏ một điều là nếu Trung Quốc không coi phán quyết của tòa là cái gì, tại sao Trung Quốc lại phải lo ngại khi Việt Nam có thể khởi kiện. Thứ hai, một số người ở Việt Nam cho rằng trong tuyên bố về đường cơ sở năm 1982 của Việt Nam, nó còn có một số vấn đề”.
Cụ thể, theo ông Hoàng Việt, Việt Nam công bố đường cơ sở trên biển vào tháng 11/1982, một tháng trước khi Công ước về Luật biển LHQ được ký kết, nhưng đường cơ sở này vấp phải sự phản đối của 10 nước trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và Campuchia vì một số điểm mốc không phù hợp, hay một số viện dẫn lịch sử của Việt Nam, nhất là gắn với Vịnh Bắc Bộ, đã bị “lạc hậu”. Đây là những điểm yếu mà Trung Quốc có thể tìm cách khai thác để chống lại vụ kiện tiềm tàng của Việt Nam, ông Hoàng Việt đưa ra ý kiến.
Những người khởi xướng bức thư kiến nghị Việt Nam kiện Trung Quốc chưa đặt ra hạn chót sẽ gửi thư đến chính quyền Việt Nam.
Trong khi đó, hôm 21/9, Phó thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam đã gặp Phó thủ tướng Trung Quốc Hàn Chính nhân Hội nghị thượng đỉnh thương mại-đầu tư Trung Quốc-ASEAN tại Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Nói về Biển Đông, Phó Thủ tướng Đam “đề nghị Trung Quốc tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam, không để tiếp diễn tình hình phức tạp trên biển”.
Đáp lại, Phó thủ tướng Trung Quốc Hàn Chính khẳng định coi trọng phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Việt Nam.
About this website
VOATIENGVIET.COM
Nhà nghiên cứu: Lợi nhiều hơn hại nếu VN kiện TQ về Biển Đông
Một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông bình luận với VOA rằng việc đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế sẽ có lợi cho Việt Nam nhiều hơn là có hại.
VOATIENGVIET.COM
Nhà nghiên cứu: Lợi nhiều hơn hại nếu VN kiện TQ về Biển Đông
Một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông bình luận với VOA rằng việc đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế sẽ có lợi cho Việt Nam nhiều hơn là có hại.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)




