Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

THƯƠNG CHO THÂN PHẬN NÀNG KIỀU


Chu Mộng Long 

Trong Tư bản luận, Marx vạch ra quan hệ biện chứng giữa cầu và cung. Cầu quyết định cung. Quy luật này không loại trừ vấn đề mại dâm khi người ta xem thân xác con người là một thứ hàng hóa. Marx cũng vạch rõ, sự khốn nạn tột cùng của nhân loại là biến thân xác thành hàng hóa. Nhưng sự khốn nạn này lại tồn tại dai dẳng nhất trong lịch sử nhân loại, bắt đầu từ thời chiếm hữu nô lệ. Khi con người kiệt cùng, không còn gì để mua bán, trao đổi thì thân xác là cái vốn cuối cùng để làm kế sinh nhai.
Thời gian qua, cơ quan chức năng đã triệt phá không ít đường dây môi giới mại dâm "gắn mác" sinh viên. Ảnh: CAHT
"Có học và sang trọng" gì khi con người phải biến thân xác mình thành hàng hóa cho người khác trọn quyền sử dụng? Có chăng là đám quan chức, đại gia muốn chơi sang nên đã biến học sinh, sinh viên thành đồ chơi "siêu sạch".

Lỗi tại đâu?
Tôi không bao giờ quy lỗi cho các em học sinh, sinh viên. Phải đến mức cùng cực các em mới bán thân xác để làm mồi cho kẻ có quyền và tiền.
Như các em học sinh trường dân tộc nội trú bị ép buộc bú cặc hiệu trưởng để kiếm 20 đến 30 ngàn đồng mỗi lần cho bữa cơm.

Như các em sinh viên ngoài giờ lên lớp phải đi làm đủ thứ việc. Có điều kiện thì bán hàng trên mạng, bán cafe, tiệm nhậu. Và cùng cực thì phải bán thân xác để nuôi thân và đóng học phí.
Học phí càng tăng cao thì đời sống của học sinh, sinh viên càng cùng cực và tất yếu nhiều em phải bán thân.
Đau đớn lắm!
Nhưng người ta vẫn đổ tội lỗi trên đầu các em học sinh, sinh viên. Trong khi kẻ có quyền, có tiền vẫn hả hê sống trên thân xác các em, thậm chí không được nhắc đến như một đối tượng gây tệ nạn.
Theo tôi, giải pháp căn cơ cho vấn nạn học sinh, sinh viên bán dâm là giải quyết vấn đề học phí và đạo đức của những kẻ sống trên thân xác của người khác. 

Nhiều quốc gia văn minh đã và đang tiến đến miễn giảm học phí hoàn toàn cho công dân của họ. Thu học phí từ con em chúng ta khác nào vắt kiệt tài nguyên đất nước?
Một khi các phụ huynh đã đóng đủ các loại thuế phí cho nhà nước thì con em của họ phải mặc nhiên được hưởng các loại phúc lợi, trong đó có vấn đề viện phí và học phí.
Nguồn lợi của giáo dục phải lấy từ bên ngoài hoặc các doanh nghiệp chứ không phải móc túi dân.

Và giải pháp rốt ráo cho một xã hội lành mạnh là cắt hẳn cái cầu không lành mạnh, vô đạo đức của quan chức và kẻ có tiền. Trò ăn chơi, bỏ tiền ra mua hàng "siêu sạch" của đám đại gia, quan chức giàu có là trò bẩn thỉu nhất của loài người. Hãy xử trảm bọn sống trên thân xác trẻ em chứ không phải mang các em ra bêu xấu như một tệ nạn!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu Việt Nam không bừng tỉnh


25/12/2018 - Nước ta giống Tàu nhiều hơn là giống Tây, nhất là về văn hoá, hủ tục. Mà có giống Tàu thì theo tôi cũng chỉ giống được Tàu xưa, không giống được Trung Quốc với nền khoa học và sản xuất công nghiệp phát triển thời nay. Thực sự, để phát triển mạnh, Việt Nam rất cần một sự bừng tỉnh, cần một phong trào Tây học giống cuộc duy tân 150 năm trước đây của Nhật Bản. Theo tôi, có thể bắt đầu từ việc quy định tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc ở mọi cấp học từ phổ thông đến đại học, bởi tiếng Anh mà kém thì khó lòng “Tây học” cho tốt được.


Năm 1853, ở Nhật Bản thời Mạc Phủ, 4 tàu chiến Mỹ của Đô đốc Perry lù lù tiến vào cửa biển Uraga mà không hề báo trước. Họ bắn một loạt đại bác lên trời thị uy, rồi đòi gặp chính quyền. Yêu sách của họ là Nhật Bản phải mở cảng biển cho tàu Mỹ đến giao thương. Trong lịch sử Nhật Bản, sự kiện này là điểm khởi đầu của công cuộc duy tân tự cường theo chủ trương “thoát Á”, “Tây học” để hiện đại hoá nước Nhật.

4 chiếc tàu chiến Mỹ và loạt đại bác của chúng đã làm cho người Nhật bừng tỉnh, ngỡ ngàng trước mức độ phát triển của phương Tây và sự lạc hậu, hèn kém của nước Nhật sau 250 năm bài ngoại, gần như chỉ giao thương với người Trung Quốc. Sự ngỡ ngàng của người Nhật trước những thành tựu phát triển của Mỹ và châu Âu còn kéo dài hàng chục năm sau sự kiện đó.

Năm 25 tuổi, ở cảng Yakohama, nhà khai sáng Fukuzawa Yukichi lúc bấy giờ nhìn thấy những con tàu biển của Tây đồ sộ, chạy bằng máy hơi nước. Ông ngợp. Tiếp xúc với Tây, Fukuzawa thất vọng, vì: “Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không hiểu. Nhìn vào hàng chữ trên các bảng quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc được”.

Không chịu được, người Nhật quyết Tây học. Trong cuốn sách “Nhật Bản duy tân 30 năm” xuất bản năm 1936 tại Sài Gòn, cụ Đào Trinh Nhất mô tả cuộc duy tân của người Nhật: “Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, nào là chính trị, giáo dục, nào là văn hoá, võ bị, nào là công thương, lý tài [ngân hàng], nào là cơ khí, nghệ thuật, cho đến những chuyện y phục tầm thường, tập quán lặt vặt, chẳng sót một vấn đề nào hay phương diện nào mà không hoá xưa theo nay, đổi cũ ra mới”.

Người Nhật duy tân theo Tây mà rầm rộ cứ như đi trẩy hội, quyết xoá bỏ những thói hư tật xấu, văn hoá hủ bại có nguồn gốc nghìn năm mà không thèm tiếc nuối. Chỉ với 30 năm duy tân thời Minh Trị, Nhật Bản trở thành cường quốc, đuổi kịp, thậm chí còn vượt nhiều nước châu Âu và Mỹ trên một số lĩnh vực công nghiệp.

Rồi cụ Đào Trinh Nhất than: “Người [Việt] mình học theo đạo Nho chữ Hán, chỉ trừ ra đọc âm là khác một chút thôi, còn thì bao nhiêu chế độ văn vật của Tàu bày đặt thế nào, mình đều rước lấy và phỏng theo giống y như thế ấy. Từ áo mão phép tắc chốn triều đình, lễ nghĩa luật lệ giữa dân gian, cho đến mọi việc từ chương, khoa cử, tang lễ, phẩm hàm… nhất thiết chuyện gì mình cũng in khuôn, ráp kiểu của Tàu, không sai một mảy. Trải mấy ngàn năm, hễ Tàu vẽ vời thay đổi cái gì, ta đều bắt chước đúng y cái đó, làm như theo đuôi dính gót người Tàu, không khác gì hình với bóng. Khổ nhất là cúi đầu nhắm mắt mà bắt chước cả cái học vấn luân lý của bọn Tống Nho và rước lấy cái độc hại mê mộng khoa cử, khiến cho dân khí hèn yếu, quốc vận suy vi, rồi thì thầy sao trò vậy, dính chùm với nhau một lũ hư hèn chìm đắm như ngày nay. Cao Ly [Triều Tiên] cũng thế, vì họ cũng bắt chước Tàu một cách “chụp hình” như ta”. Cụ Đào kêu trời với các thói phong thuỷ, vàng mã, bói toán, cúng sao và các kiểu mê tín dị đoan của người Tàu du nhập vào Việt Nam, mà người Nhật quyết không theo.

Sự phát triển vượt trội của châu Âu và Mỹ là ở các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, thể hiện qua phát minh, sáng chế, sản xuất công nghiệp, khai khoáng và chế biến. “Tây học” của Nhật Bản thành công rực rỡ ở tất cả những lĩnh vực này.

Việt Nam cũng từng có nhiều cơ hội “Tây học” với người Pháp, người Mỹ, người Nga, nhưng không thu được nhiều kết quả. Đến hiện nay, tất cả những lĩnh vực vừa kể của Việt Nam đều rất yếu, chủ yếu mới ở trình độ lắp ráp, vận hành, sửa chữa máy móc của thiên hạ, chưa phát minh, chế tạo được mặt hàng công nghiệp gì đáng kể, trong khi Nhật Bản đã làm chủ công nghệ vũ khí, máy bay, tàu biển, máy móc công nghiệp và giao thông từ đầu thế kỷ 20, chỉ sau có mấy chục năm Tây học. 

Việt Nam chưa từng có cuộc duy tân Tây học nào đáng kể và cho đến tận bây giờ, xét trên nhiều phương diện, nước ta giống Tàu nhiều hơn là giống Tây, nhất là về văn hoá, hủ tục. Mà có giống Tàu thì theo tôi cũng chỉ giống được Tàu xưa, không giống được Trung Quốc với nền khoa học và sản xuất công nghiệp phát triển thời nay. Bởi vì sau khi Nhật Bản, Hàn Quốc Tây học thành công, chính Trung Quốc cũng đã Tây học mạnh mẽ và gặt được nhiều thành tựu. Người ta chú trọng nghệ tinh, thực nghiệp, còn Việt Nam thì vẫn nặng nề tư tưởng học để làm quan, “mê mộng khoa cử độc hại”.

Thực sự, để phát triển mạnh, Việt Nam rất cần một sự bừng tỉnh, cần một phong trào Tây học giống cuộc duy tân 150 năm trước đây của Nhật Bản. Theo tôi, có thể bắt đầu từ việc quy định tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc ở mọi cấp học từ phổ thông đến đại học, bởi tiếng Anh mà kém thì khó lòng “Tây học” cho tốt được.

Theo LƯƠNG HOÀI NAM / VNEXPRESS
http://redsvn.net/neu-viet-nam-khong-bung-tinh/?fbclid=IwAR11OKV4t8osrOImUquj8LY6x5i2x23a0xqxB6Y1OAbUThftfq1rapDqY4E

nhận xét hiển thị trên trang

Lê Thanh Hải, tác giả chính vụ Thủ Thiêm!


 Những sai phạm của dự án Khu đô thị Thủ Thiêm trải dài qua 5 đời Chủ tịch UBND TP HCM nhưng ông Lê Thanh Hải là người “khởi nguồn” cho những sai phạm vô cùng nghiêm trọng ở Thủ Thiêm. Những quyết định và chỉ đạo sai trái, lạm quyền của ông Hải đã tạo ra vụ việc Thủ Thiêm “ nát bét” như hiện nay và để lại hậu quả khôn lường. Sau 8 năm Quyết định 367 của Thủ tướng có hiệu lực thì UBND TPHCM do ông Lê Thanh Hải làm Chủ tịch đã thay thế gần như toàn bộ quy hoạch KĐT Thủ Thiêm đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt duyệt.


Lê Thanh Hải
Việc giải tỏa đền bù dự án Thủ Thiêm diễn ra trong thời gian ông Lê Thanh Hải ngồi ghế Chủ tịch UBND TP.HCM (2001-2006) và 2 nhiệm kỳ liên tiếp ông này giữ chức Bí thư Thành ủy TP.HCM (2006-2015). Đây cũng là thời kỳ “ u ám” nhất của bà con Thủ Thiêm khi UBND TPHCM dưới sự lãnh đạo của ông Lê Thanh Hải đã ra hàng loạt quyết định không đúng thẩm quyền, trái với quyết định của Thủ tướng, sai luật… để “ đánh tráo” 160 tái định cư, lấp liếm việc giao đất cho 51 dự án phân lô bán nền ngay tại khu tái định cư và lấn ranh của người dân không thuộc quy hoạch KĐT Thủ Thiêm.

Chính ông Lê Thanh Hải khi còn là Chủ tịch UBND TPHCM chỉ đạo “ 160 ha tái định cư không nhất thiết một địa điểm, có thể bố trí từ 3 đến 4 địa điểm trên địa bàn quận 2”. Đây là quyết định “ bật đèn xanh” đá văng bà con Thủ Thiêm ra khỏi khu vực mà họ được tái định cư.

Nguy hiểm hơn, “tối kiến” này của ông ta còn mở đường cho việc thu hồi đất tràn lan của bà con Q.2 ở Nam Rạch Chiếc, Thạnh Mỹ Lợi với danh nghĩa phục vụ tái định cư cho Thủ Thiêm dù chẳng có quy định nào từ Chính phủ cho phép TP HCM làm việc này. Cho đến nay, bà con Q.2 bị thu hồi đất oan từ chỉ đạo của ông Hải vẫn còn khiếu kiện khắp nơi, ai oán khổ sở hàng chục năm trời.

Trên thực tế tổng diện tích đất đã được UBND TPHCM quy hoạch, bố trí tái định cư phục vụ cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm đúng theo quy hoạch 5 phường chỉ có 46,1 ha, còn thiếu 113,9 ha ! Ông Hải chỉ đạo lấy đất nơi khác làm khu tái định cư bù vào vì 113,9 ha này đã giao hết cho 51 dự án phân lô bán nền, xây nhà ở, làm đất thương mại bán tràn lan, khu vui chơi giải trí…


Sau khi lên làm Bí thư Thành ủy TP HCM, tháng 12/2007, ông Hải lại “ phê bình nghiêm khắc UBND TPHCM” xung quanh những chậm trễ, sai sót trong việc thực hiện dự án KĐT Thủ Thiêm! Trớ trêu thay Bí thư Lê Thanh Hải lại “phê bình Chủ tịch Lê Thanh Hải” vì ông mới rời ghế Chủ tịch UBND TPHCM cuối 2006 và có trách nhiệm chính trong sai sót của UBND TPHCM thời điểm đó.

Sau 8 năm Quyết định 367 của Thủ tướng có hiệu lực thì UBND TPHCM do ông Lê Thanh Hải làm Chủ tịch đã thay thế gần như toàn bộ quy hoạch KĐT Thủ Thiêm đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt duyệt.
Thời ông Hải làm Chủ tịch, UBND TPHCM đã bất chấp công văn số 190/CP-NN của Thủ tướng Chính phủ đã xác định khu tái định cư 160 ha, thuộc 5 phường An Khánh, Bình An, Bình Khánh, An Lợi Đông và Thủ Thiêm Việc để giao đất cho ít nhất 10 dự án tại đây.

160 ha tái định cư dù đã được UBND TP HCM thời điểm ông Hải làm Chủ tịch “ xé lẻ” ra nhiều nơi nhưng họ vẫn báo cáo với Chính phủ và trả lời dân là nằm giáp ranh KĐT Thủ Thiêm. Khó có thể lý giải nào khác ngoài việc khẳng định những lấp liếm ấy có mục đích “ đánh tráo” 160 ha tái định cư như Thủ tướng đã duyệt.

Một sai phạm nghiêm trọng trong thời kỳ ông Hải làm Chủ tịch UBND TPHCM nữa là để cho Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Đua ký văn bản “ thay thế quyết định của Thủ tướng”.

Đáng chú ý là trong quyết định trên, UBND TPHCM đưa thêm 80 ha là “khu đô thị chỉnh trang” thuộc Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm không có trong Quyết định 367 của Thủ tướng. Sau này 80 ha chỉnh trang bị phát hiện là hình thức hợp pháp hóa cho các dự án mà UBND TP HCM đã lỡ giao cho các DN phân lô bán nền, làm các dự án thương mại!

Với những sai phạm quá rõ ràng, trắng trợn và được che đậy hàng chục năm trời như thế, ô Lê Thanh Hải không thể thoát được trách nhiệm chính trong vụ Thủ Thiêm!

Hà Phan
(FB Hà Phan)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

THẬT HÈN VÀ ĐÁNG KHINH


FB Thái Bá Tân29 tháng 7
Một cậu vừa nhận xét:
“Ơ, cái ông này hay.
Vẫn còn chưa bị bắt?
Kể cũng lạ điều này”.


Đáp: “Tôi chưa bị bắt.
Cậu buộc phải chờ thôi.
Cũng có thể lâu đấy.
Xin được nói, rằng tôi
Chấp nhận sẽ bị bắt,
Dù ở tuổi bảy mươi,
Để nói hộ ý nghĩ 
Và tâm tư nhiều người.

Cho cả cậu nữa đấy,
Cho thế hệ thanh niên
Chỉ giỏi cái nhậu nhẹt,
Cái ngu dốt, cái hèn.

Các cậu, tôi thừa biết,
Cũng mong muốn đổi thay,
Tự do và dân chủ,
Nhưng lại muốn điều này

Ai đó sẽ làm hộ,
Ai đó tù thay mình.
Chưa tù thì sốt ruột.

Thật hèn và đáng khinh.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lời ai điếu cho một thời “Tứ Trụ”

135.jpg
Hà Văn Thùy

Giáo sư Phan Huy Lê đã thành người thiên cổ.
Những lời tiếc thương có cánh của người thân, bè bạn và học trò tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng.
Nhà nước đã dành cho ông sự vinh danh cao nhất mà một công bộc có được.
Bây giờ xin được nói đôi lời.
Năm 1952, học xong chương trình phổ thông chín năm, “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” Phan Huy Lê từ biệt quê Hà Tĩnh ra Thanh Hóa học chương trình Dự bị đại học. Tại đây ông gặp Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng. Người phụ trách Đoàn Thanh niên Dân chủ và cũng là cán bộ tổ chức nhà trường nói với bốn tân sinh viên: “Các đồng chí chọn Ban nào?” Nghe trình bày xong, anh cán bộ tổ chức lên tiếng:
– Các đồng chí đều học giỏi nên chọn các ngành khoa học tự nhiên là phải. Trong khi đó, nhiệm vụ quan trọng nhất của trường lúc này là đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học xã hội cho nước Việt Nam mới nhằm thay thế lớp học giả cũ, là sản phẩm của chế độ thực dân phong kiến. Khoa học tự nhiên không mang tính giai cấp nên ai có khả năng cũng làm được. Còn khoa học xã hội không chỉ cần giỏi mà còn cần điều quan trọng hơn là lập trường giai cấp công nông thật vững vàng. Tổ chức đã nghiên cứu kỹ và chọn các đồng chí để đào tạo thành những hạt giống công nông của nền khoa học xã hội mới… [1]
Vậy là theo yêu cầu của Tổ chức, cả bốn chàng vào học Ban Sử.
Sau hai năm học chủ yếu về ban đêm để tránh những trận oanh kích của máy bay Pháp, Phan Huy Lê về Đại học Sư phạm. Năm 1956 khi Đại học Tổng hợp thành lập, ông được chuyển sang làm trợ giảng cho thầy Đào Duy Anh. Năm 1958, trong cơn bão Nhân văn Giai phẩm, theo chân Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh bị bứng hỏi môi trường đại học. Cánh đồng đại học hoàn toàn trống vắng. Không có trâu bắt bò đi dẵm. Chàng trai trẻ 24 tuổi Phan Huy Lê bỗng nhiên trở thành sếp của khoa Sử, ngồi vào cái nghế còn ấm hơi Giáo sư Trần Đức Thảo bị một sinh viên bắt trói dẫn đi! Sống ở trung tâm cơn bão lốc kinh hoàng lúc đó, Phan Huy Lê biết mình thật tốt số. Trong khi những bạn bè cùng trang lứa thuộc “thành phần lớp trên” phải “cải tạo” bằng việc quai búa đập đá trên công trường đường sắt Hà Nội-Lào Cai hay cày cuốc trong những nông trường thì mình được ưu ái tới tận cùng. Tuy nhiên, chàng tuổi trẻ cũng nhận ra cái éo le trong cương vị của minh. Thật trớ trêu, người được coi là “hạt giống đỏ” công nông lại sinh ra từ một gốc “phong kiến” thâm căn cố đế. Không chỉ vậy, người anh trai Phan Huy Quát lại là yếu nhân của chính quyền Sài Gòn. Hơn ai hết, Phan Huy Lê hiểu cái thế trên lưng cọp của mình. Không được sa sẩy dù chỉ một bước! Cách tốt nhất là ngoan ngoãn theo dẫn lối đưa đường của lãnh đạo. Không chỉ Phan Huy Lê mà cả Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng cùng chung định mệnh. Trong khi dần dần tạo dựng huyền thoại “tứ trụ” Lâm Lê Tấn Vượng thì những chàng trai tập tọng làm sử cũng được dẫn ngày một rời xa khoa học lịch sử đích thực.
Cho đến năm 1960, lịch sử Việt Nam là một dòng chảy nhất quán từ Nhà nước Xích Quỷ xuyên suốt tới Triệu Đinh Lý Trần và nhà Nguyễn với công khai phá miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng từ đây, để khẳng định vị thế của Đảng Lao Động Việt Nam, lịch sử phải thay đổi, phải khác với quan điểm của “bọn sử gia phong kiến tư sản phản động”! Trước hết, nhà Nguyễn bị tước mọi công lao, mang tội lớn để mất nước. Gia Long là kẻ cõng rắn cắn gà nhà! Tiếp đó, để chống quan điểm viết sử “phản dân tộc” của Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên, Triệu Đà bị vạch mặt chỉ trán là giặc xâm lược. Nhà Triệu và nước Nam Việt bị xóa khỏi chính sử. Vào thập kỷ 1970, từ những phát hiện khảo cổ về thời đại Hùng Vương, Nhà nước Xích Quỷ cùng các vị tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân bị loại bỏ. Từ 4000 năm văn hiến, Sử Việt chỉ còn lại 2700 năm! Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trùm lấp lịch sử dân tộc! Cái được gọi là Lịch sử Việt Nam xa dần quy chuẩn của khoa học lịch sử nhân loại, trở thành một công cụ tuyên truyền. Ở Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội người ta nói thẳng với sinh viên: “ Chúng ta học Sử nhưng nội dung chủ yếu là tuyên huấn. Nay mai ra trường, các anh chị sẽ là những cán bộ tuyên huấn!”
Sau hơn nửa thế kỷ thống trị của tứ trụ Lâm Lê Tấn Vượng, sử học Việt Nam hoàn toàn trở thành công cụ tuyên truyền mà đỉnh cao là cuốn Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học. Để khách quan, xin bạn đọc suy ngẫm những dòng sau của một học giả từng là giảng viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, hiện đang sống ở Hoa KỲ:
“Bộ sách nguyên là dự án lớn do Viện Sử Học thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội trong nước chủ trì từ năm 2002, toàn bộ 15 quyển nặng 24kg, dày 9,084 trang, với một tập thể tác giả 30 người gồm 24 tiến sĩ, 3 thạc sĩ, và 3 nghiên cứu viên. Tất cả 30 người này là cán bộ của Viện Sử Học, cũng có nghĩa là các công chức mà nhiệm vụ là viết sử theo sự chỉ đạo của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do đó, họ không viết trong tư cách của những sử gia. Nên biết rằng Viện Sử Học nói riêng, hay Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội nói chung, là những cơ quan lý thuyết của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.”
“… Quan niệm viết sử của Viện Sử Học Hà Nội là nhằm phục vụ chính trị, khác với quan niệm viết sử của Thế Giới Tự Do Dân Chủ là trình bầy lại quá khứ y như nó đã xảy ra. Sử của Viện Sử Học Hà Nội, vì thế, có thể là những sự kiện quá khứ, mà cũng có thể là những câu chuyện dựng lên tùy nhu cầu chính trị. Hay sự kiện lịch sử có thể biên soạn dài ngắn khác nhau là tùy chủ đích chính trị.” “Phương pháp viết sử của Viện Sử Học Hà Nội là biên soạn sao cho đúng với lý thuyết Cộng Sản quốc tế.”
“Phương pháp viết thông sử của thế giới văn minh là tiêu hóa những ý kiến hay những giả thuyết và nhận định về những sự kiện lịch sử của các tác giả trước đó rồi tổng hợp thành sử. Những trang sử tổng hợp rất súc tích ấy không có khoảng trống cho sự trích dẫn từ những trang chuyên sử của người khác, lại càng không có phần cho ý kiến người này hay giả thuyết của người kia hay nhận định của người nọ. Nếu cần, những chi tiết kể trên chỉ đưa vào phần chú thích hay cước chú, mà không dông dài trong phần chính văn. Tiếc thay, đó lại chính là cách viết của nhiều tập thể tác giả bộ chính sử của Nhà Nước này. Dở hai tập Tập 2 và Tập 4, độc giả phải đọc những đoạn dài trích dẫn sách xưa.
“Trang 31 trong Tập 4 chép lại ba trang 41, 42, và 43 của sách Phủ Biên Tạp Lục cộng với hai trang 238 và 239 của sách Toàn Thư. Đến trang 41 thì tác giả chép lại bốn trang 36, 37, 38, và 39 của sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên. Trang 83 thì chép lại bốn trang 36, 37, 38, và 39 của sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí cộng với hai trang 417 và 418 của sách Cương Mục. Và trang 119 thì chép lại ba trang 148, 150, và 151 của sách Phủ Biên Tạp Lúc. Cứ chép như thế suốt ba Chương I, II, và III từ trang 23 đến trang 165 trong Tập 4! Thật không có dáng vẻ gì của một công trình tổng hợp lịch sử, mà chỉ là sự sao chép lười biếng các sách sử cổ xưa!”
“Sự phân bố các tập sách không hợp lý. Tập thể ban biên soạn bộ Lịch Sử Việt Nam này, vì đặt trọng tâm bộ sách vào một đảng chính trị thay vì lịch sử của một dân tộc, nên đã bó rọ các thời Thượng Cổ và Bắc Thuộc làm một (Tập 1, 671 trang) để dành khung cảnh bao la cho lịch sử Đảng, 5 năm cũng thành một tập như Tập 10: Từ Năm 1945 Đến Năm 1950 (627 trang) và Tập 11: Từ Năm 1951 Đến Năm 1954 (499 trang).”“Chín (9) quyển đầu với 5,904 trang là phần thông sử ghi chép quá khứ dân Việt trong mấy ngàn năm. Sáu (6) quyển sau với 3,180 trang là lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000.”
“Qua những nhận định trên, bộ Lịch Sử Việt Nam 15 quyển mới phát hành này không có dáng vẻ của một công trình tổng hợp lịch sử, từ cách biên soạn mất quân bình đến việc xóa nhoà ranh giới giữa thời sự và lịch sử.” [2]
Những nhận xét trên là trung thực, công bằng nhưng không phải là ý kiến cá biệt. Rất nhiều trí thức trong nước cũng nhận thấy như vậy. Càng đông hơn là đại đa số dân chúng cảm nhận rằng, cái mà họ phải học, phải đọc không phải là Sử Việt bởi lẽ trong đó thiếu vắng Hồn thiêng dân tộc. Khi đánh mất hồn dân tộc, Sử không còn là Sử nữa! Không chỉ cuốn này mà đại công trình Quốc Sử 30 tập với kinh phí 200 tỷ (có người nói 300?) của Hội Sử học do Giáo sư Phan Huy Lê tổng chủ biên cũng còn rất nhều vấn đề phải bàn, khiến người viết bài này phải nhiều lần trao đổi với ông.[3]
Việc ra đi của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, trên thực tế đã khép lại thời thống trị của “tứ trụ”. Nhiều người biết thế nào là “tứ trụ” nhưng không mấy ai hiểu cái nguyên do nảy sinh hiện tượng dị thường này. Đó là sản phẩm đẻ non đái ép sau đại họa Nhân văn-Giai phẩm. Nếu đất nước yên hàn, với những bậc thầy uyên bác, đầy bản lĩnh như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Trần Đức Thảo… trên bục giảng thì không ai có thể làm biến dạng khoa học lịch sử Việt Nam. 
Mặc dù những lời tụng ca của lớp lớp học trò, mặc dù sự vinh danh tột cùng với công thần tiêu biểu, những người “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” không ai có thể yên lòng với di sản mà “tứ trụ” để lại. Không phải lịch sử mà đó chỉ là đống tài liệu giáo điều xơ cứng. Đi qua chương trình này, tuổi trẻ Việt Nam trở nên tối tăm vong bản, tin rằng tổ tiên mình là người vượn “đi thẳng“, rằng tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ Hán, người Việt không có chữ viết, rằng văn hóa Việt là sự bắt chước (“tiếp biến”) từ văn hóa Tàu. Họ cũng không biết tới Quốc Tổ Kinh Dương Vương và nhà nước Xích Quỷ, coi người khai sáng lịch sử dân tộc Triệu Đà là giặc xâm lược…
Ai? Ai là người dám đứng lên, đủ tâm đủ trí dọn đống xà bần khổng lồ mà “tứ trụ” để lại, giải phóng mặt bằng, xây dựng KHOA HỌC LỊCH SỬ ĐÍCH THỰC CỦA DÂN TỘC VIỆT?
Sài Gòn, Mùa Thu năm Mậu Tuất.

Tài liệu tham khảo
  1. Lời học giả Cao Xuân Hạo kể với người viết năm 1998.
  2. Giáo sư Trần Anh Tuấn: VỀ BỘ LỊCH SỬ VIỆT NAM 15 TẬP CỦA VIỆN SỬ HỌC VN
  1. Hà Văn Thùy. Trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê về Sử Việt
https://baotiengdan.com › Chính trị
  1. Hà Văn Thùy. Trao đổi tiếp với Giáo sư Phan Huy Lê về Sử Việthttps://www.nhatbaovanhoa.com/…/ha-van-thuy-trao-doi-tiep-voi-gs-phan-huy-le-ve-…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

52 lãnh đạo và cán bộ Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM đồng loạt có đơn xin nghỉ việc


Chiều 25-12, nguồn tin của Tuổi Trẻ Online cho biết Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM đang thiếu các nhân sự chủ chốt do đơn xin nghỉ việc dồn dập.
Tuyến metro số 1 Bến Th.à.n.h – Suối Tiên đoạn qua quận 9 – Ảnh: QUANG ĐỊNH
Trong báo cáo gửi UBND TP.HCM hồi tháng 11-2018, Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM nêu khó khăn về công tác nhân sự tại ban này.
Theo báo cáo, việc triển khai các tuyến đường sắt đô thị đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tình trạng thiếu nhân sự chủ chốt các phòng ban và cả lãnh đạo Ban Quản lý đường sắt đô thị TP .HCM ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ.

Cụ thể, tính từ tháng 7-2016 đến tháng 11-2018 có tới 45 người trên tổng số 173 người ban này nghỉ việc. Trong số đó có 5 lãnh đạo phòng ban, 37 chuyên viên và thêm 3 người nghỉ do tinh giản biên chế.
Ngoài số nhân sự nghỉ nêu trên, còn có ông Hoàng Như Cương – bí thư đảng ủy, phó ban – cũng đã nộp đơn lên TP.HCM xin nghỉ việc. Đến ngày 16-11-2018 ông Cương nộp đơn xin chấm dứt hợp đồng làm việc sau 45 ngày.
Theo xác minh của Tuổi Trẻ Online, ông Cương đã đi nước ngoài với lý do có việc gia đình khi chưa được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Còn ngày 25-11, ông Dương Hữu Hòa – chủ tịch công đoàn của ban, giám đốc Ban Quản lý dự a'n 1 – cũng đã nộp đơn xin nghỉ việc lần 3 vào ngày 25-10, đến ngày 14-11-2018 ông Hòa tiếp tục nộp đơn xin đơn phương chấm dứt hợp đồng kể từ ngày 1-1-2019.
Lý do ông Hòa đưa ra là sức khỏe kém phải đi chữa bệnh. Trả lời Tuổi Trẻ Online, ông Hòa cho biết do ban chưa đồng ý nên ông vẫn đi làm bình thường cho tới nay.
Ông Phan Nhật Linh, trưởng phòng kế hoạch – hợp đồng, cũng nộp đơn xin nghỉ việc ngày 25-10, ông Linh sau đó tiếp tục nộp đơn xin đơn phương chấm dứt hợp đồng kể từ 31-12.
3 chuyên viên khác của ban này cũng nộp đơn xin nghỉ từ ngày 1-12.
Ngoài ra, ông Lê Nguyễn Minh Quang – trưởng ban Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM – cũng đã 2 lần xin nghỉ việc.
Bất thường ở Ban quản lý đường sắt đô thị sau những lần 2 tuyến Metro đội vốn
Hàng loạt động thái bất thường
Ông Hoàng Như Cương (Phó Ban Quản lý đường sắt đô thị TP HCM) được cho là đi Mỹ từ hôm 9/12 khi chưa xin phép. Hiện, các cơ quan chức năng TP HCM đang xa'c minh, tìm hướng x.ử lý đối với h.à.n.h vi đi nước ngoài khi chưa được cấp thẩm quyền cho phép theo quy định.
Trước đó, ông Cương đã có đơn nộp cơ quan trình UBND TP HCM về việc xin nghỉ việc không hưởng lương từ 10 đến 31/12/2018. Khi th.à.n.h phố chưa chấp thuận thì ông này đã qua mỹ để giải quyê't chuyện riêng.
Hồi giữa tha'ng 12, UBND TP HCM cũng ban h.à.n.h công văn câ'm công chức không xuất ngoại, trừ các trường hợp đặc biệt do người đứng đ.ầ.u UBND TP quyê't định. Từ ngày 21/12, th.à.n.h phố đã phân công bà Vũ Minh Huyền (Phó Bí thư Đảng ủy) phụ trách chức vụ Phó Ban Quản lý đường sắt đô thị phụ trách Đảng ủy Ban.
Trong khi đó, Trưởng Ban Quản lý đường sắt đô thị TP HCM Lê Nguyễn Minh Quang đã có đơn xin thôi việc nhưng chưa được UBND TP HCM phê duyệt. Hiện, ông Quang chưa nhận được bất cứ quyê't định chính thức nên vẫn tiếp tục làm việc bình thường. Trước đó, ông Quang từng 2 lần khác viết đơn xin thôi chức vụ nhưng chưa được UBND TP HCM chấp thuận.

Ông Hoàng Như Cương, Phó Ban quản lý đường sắt đô thị TP HCM.
Ông Quang từng là Tổng giám đốc Công ty Bachy Soletanche Việt Nam, một công ty chuyên về hạ tầng. Hiện, công ty này đang cùng phía Nhật Bản đảm nhiệm dự a'n tuyến metro đ.ầ.u tiên của th.à.n.h phố.
Hồi tha'ng 6/2016, ông nhận quyê't định bổ nhiệm chức vụ Trưởng ban Quản lý đường sắt đô thị TP HCM trong thời gian 5 năm. Vị trí này tương đương giám đốc sở và cơ quan ông này làm việc trực thuộc UBND TP HCM. Trước khi trao quyê't định làm Trưởng Ban quản lý đường sắt đô thị TP, ông Quang cũng trúng cử đại biểu HĐND TP khoá IX nhiệm kỳ 2016-2021.
Vừa qua ông đã trúng cử đại biểu HĐND tại đơn vị bầu cử quận Tân Bình nhiệm kỳ 2016 – 2021 với tỷ lệ đồng ý đạt 62,7%. Trong chương trình h.à.n.h động của m.ì.nh, ông cho biết sẽ đ.ẩ.y mạnh cải cách h.à.n.h chính, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cho TP và việc học, việc làm của thanh niên.
Ban quản lý đường sắt đô thị TP HCM được th.à.n.h lập hồi năm 2007, với chức năng và nhiệm vụ là chủ đ.ầ.u tư của các dự a'n đường sắt đô thị trên địa bàn th.à.n.h phố. Theo đó, 8 tuyến metro dự định được xây dựng, hiện 3 tuyến đang được Ban quản lý đường sắt đô thị triển khai gồm: Tuyến số 1 (Bến Th.à.n.h – Suối Tiên), số 2 (giai đoạn 1, Bến Th.à.n.h – Tham Lương) và số 5 (giai đoạn 1, ngã tư Bảy Hiền – cầu Sài Gòn).
Dự a'n Metro đội vốn nhiều lần
Hồi giữa tha'ng 10, tại buổi làm việc của Đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM với các sở ngành, ông Hoàng Như Cương khẳng định với tình h.ì.n.h thiếu vốn như hiện nay, tuyến metro số 1 (Bến Th.à.n.h – Suối Tiên) không thể hoàn th.à.n.h đúng tiến độ vào năm 2020 như dự kiến.
Khởi công tha'ng 8/2012, tuyến metro số 1 – tuyến đường sắt đô thị đ.ầ.u tiên của TP HCM dài gần 20 km, đi qua các quận 1, 2, 9, Bình Thạnh, Thủ Đức (TP HCM) và huyện Dĩ An (Bình Dương). Trong đó 2,6 km đi ngầm (3 nhà ga) và hơn 17 km trên cao (11 nhà ga).
Hiện, công trình đã hoàn th.à.n.h hơn 57% khối lượng công việc, tuy nhiên có nguy cơ ngừng thi công do tình trạng thiếu vốn do những rắc rối vốn đ.ầ.u tư. Cụ thể, hồi năm 2007, th.à.n.h phố phê duyệt dự a'n Metro số 1 với tổng mức đ.ầ.u tư gần 17.400 tỷ đồng (hơn 126.500 triệu yen).
Sau đó dự a'n, được chuyển giao cho Ban quản lý đường sắt đô thi làm chủ đ.ầ.u tư. Đơn vị này chọn nhà thầu cùng với việc làm rõ thiết kế cơ sở dẫn đến tăng tổng mức đ.ầ.u tư của dự a'n lên là 47.325 tỷ đồng (hơn 235.500 triệu yen) vào năm 2009.

Tuyến Metro số 1 Bến Th.à.n.h – Suối Tiên đội vốn gần gấp 3 lần.
Hồi tha'ng 8/2011, Thủ tướng cho phép UBND TP HCM duyệt điều chỉnh dự a'n Metro số 1 với tổng mức đ.ầ.u tư mới là hơn 47.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, lúc này dự a'n lại thuộc diện phải trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đ.ầ.u tư.
Trước tình h.ì.n.h này, TP HCM đã phải liên tục tạm ứng ngân sách để thanh toa'n cho nhà thầu thi công nhằm bảo đảm tuyến Metro số 1 duy trì được tiến độ thi công, hoàn th.à.n.h theo đúng kế hoạch.
Trong một cuộc hội thảo quy hoạch TP HCM, ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch UBND TP HCM chia sẻ, tuyến metro số 1 đang làm bình thường, th.à.n.h phố đang chờ ý kiến Trung ương về chấp thuận tăng mức đ.ầ.u tư.
“Chúng ta cứ nghe th.à.n.h phố thiếu vốn, thực sự th.à.n.h phố đều ứng được vốn nhưng do tổng mức đ.ầ.u tư thay đổi theo đúng thực tế dự a'n mà tư vấn thiết kế ban đ.ầ.u chưa đúng.
Th.à.n.h phố đã ký quyê't định vay có sẵn với Nhật Bản, 35.000 tỷ đồng đã sẵn sàng, chờ các cấp thẩm quyền gật đ.ầ.u thì th.à.n.h phố có vốn đó. Trong lúc chờ, th.à.n.h phố tạm ứng và đủ sức triển khai dự a'n này”, ông Tuyến cho biết.
Bên cạnh đó, tuyến Metro số 2 (Bến Th.à.n.h – Tham Lương) cũng đang được xin điều chỉnh tổng mức đ.ầ.u tư gần gấp đôi, từ 26.000 tỷ đồng lên gần 48.000 tỷ đồng. Nhiều nguyên nhân được cho là quá trình triển khai có điều chỉnh về thiết kế cơ sở, thời gian chuẩn bị kéo dài, chậm trễ trong quá trình triển khai, tăng khối lượng xây dựng, trượt giá…
Đầu tha'ng 11/2018, Ban quản lý đường sắt đô thị đã có công văn gửi UBND TP kiến nghị điều chỉnh thời gian hoàn tất thi công tuyến Metro số 2 Bến Th.à.n.h Tham Lương đến tha'ng 12/2020 thay vì hoàn tất trong năm 2018.
Theo Quyết định số 1819 của Kiểm toa'n Nhà nước, cơ quan này đang xa'c định tính trung thực của báo cáo tài chính dự a'n, pha't hiện những tồn tại, bất cập liên quan tuyến Metro số 1 để kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xa'c định trách nhiệm cá nhân, tập thể để kiến nghị x.ử lý theo quy định của pha'p luật.
Hồi đ.ầ.u tha'ng 11/2018, ông Võ Phi Anh, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 (Cienco 6), được pha't hiện t.ử vong trong tư thế treo cổ tại khu vực cầu thang Văn phòng ban điều h.à.n.h dự a'n gói thầu số 2 của tuyến Metro số 1 Bến Th.à.n.h – Suối Tiên tại phường Trường Thọ, quận Thủ Đức. Nạn nhân được cho là đang bị điều tra liên quan tới 1 vụ a'n kinh tế ở Bình Dương.
Cụ thể, Công an tỉnh Bình Dương đang thụ lý điều tra những sai phạm xảy ra tại dự a'n khu nhà ở của ca'n bộ công nhân viên do Công ty cổ phần Xây dựng công trình giao thông 710 làm chủ đ.ầ.u tư tại phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An. Công ty 710 trước đây có vốn nhà nước, thuộc Tổng công ty Cienco 6 nhưng tới nay nhà nước đã thoái vốn hoàn toàn.
https://tuoitre.vn/52-173-can-bo-ban-quan-ly-duong-sat-do-thi-da-nghi-nop-don-nghi-viec-20181225140942373.htm



Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG CHUYỆN KINH HÃI VỀ VỤ NĂM CAM (1)


Fb: NB Hoàng Hải Vân
Tôi là người viết những bài báo đầu tiên vạch trần việc bảo kê cho Năm Cam của cả 3 cán bộ cấp cao : Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam Trần Mai Hạnh, Trung tướng Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Quốc Huy và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Phạm Sỹ Chiến. Trong đó, ông Trần Mai Hạnh và Bùi Quốc Huy là ủy viên Trung ương Đảng.
Giờ nghĩ lại vẫn thấy kinh hãi, nếu như ba ông đó không mất chức thì chắc chắn tôi dù có chạy lên núi cũng không tìm được đất sống. Tổng Biên tập Báo Thanh Niên Nguyễn Công Khế nói với tôi trước khi cho đăng những bài đó, rằng anh chấp nhận “về vườn”, nhưng tôi chắc anh dù có “về vườn” cũng khó mà sống sót.
Tôi nói khó sống sót là nói theo nghĩa đen. Bởi vì nếu cuộc họp Ban chấp hành Trung ương Đảng diễn ra sau khi có bài báo về ông Bùi Quốc Huy mà không bỏ phiếu kỷ luật được ông thì toàn bộ hồ sơ về ông sẽ bị xếp xó, và ông có khả năng sau đó trở thành Bộ trưởng Công An. Và cuộc họp đó đã bỏ phiếu kỷ luật ông với tỷ lệ 60%, nghĩa là chỉ cần có thêm hơn 10% số ủy viên Trung ương một chút không tán thành kỷ luật thì không những chúng tôi chết chắc mà vụ án Năm Cam sẽ chẳng bao giờ được đem ra xét xử. Chúng tôi chết chỉ là chuyện nhỏ, tội phạm tiếp tục hoành hành mới là chuyện lớn.
Có người nói tướng Nguyễn Việt Thành đã “dùng báo chí để làm án”, nói như vậy là không biết gì về sự thật. Chẳng một ai trong Ban chuyên án vụ Năm Cam xúi chúng tôi làm việc đó cả. Vả lại Ban chuyên án lúc đó rất yếu thế tại Bộ Công an, họ không có nhiều điều kiện để tiếp cận hồ sơ liên quan đến đường dây bảo kê tội phạm. Ông Nguyễn Việt Thành sau khi bắt Năm Cam đã bị ông Bùi Quốc Huy gọi điện chửi đến nóng máy điện thoại, ông dẫu có gan bằng trời cũng không dám xúi người khác động đến ông Bùi Quốc Huy. Anh Nguyễn Công Khế phải dắt ông Nguyễn Việt Thành đến gặp ông Sáu Dân để được trấn an. Cho nên tự chúng tôi có những điều tra theo các nguồn tin riêng không liên quan gì đến Ban chuyên án.
Đại tá Nguyễn Hữu Ngọc, người trực tiếp bắt Năm Cam lần thứ nhất năm 1995, đã không được phân công tham gia Ban Chuyên án lần này. Ông Ngọc chẳng bức xúc gì việc ông không tham gia Ban chuyên án. Điều ông bức xúc từ lâu là người ta đã thả Năm Cam ra và chính một vài lãnh đạo Bộ Công an (như ông Bùi Quốc Huy) cùng một bộ phận cảnh sát cơ quan công an TP.HCM đã bảo kê cho những hoạt động phi pháp tày đình của Năm Cam. Biết ông Ngọc nắm được nhiều thông tin, chúng tôi có hỏi ông chuyện này chuyện kia nhưng nhất định ông không cung cấp bất cứ một tin tức gì. Ông là một cán bộ điều tra hình sự rất có nguyên tắc. Ông chỉ nói me mé con đường đi tìm tài liệu, tìm không được hỏi lại cho rõ đường thì ông im. Cuối cùng thì tự chúng tôi cũng tìm được toàn bộ những tài liệu liên quan đến ông Trần Mai Hạnh và Phạm Sỹ Chiến. Hỏi ông những tài liệu đó đủ chưa thì ông không trả lời. Chúng tôi phải kiểm chứng nhiều nguồn khác nhau và thu thập hết những tài liệu có liên quan. Khi thấy đủ cơ sở, Tổng Biên tập phân công tôi viết bài.
Lẽ ra bài tôi viết về ông Trần Mai Hạnh được đăng trước cái ngày đăng chính thức là ngày 2-5-2002 một tuần lễ. Nhưng khi bài báo đã lên khuôn thì ông Hồng Vinh, lúc đó là Phó Trưởng ban Tư tưởng văn hóa trung ương (nay là Ban Tuyên giáo) gọi điện cho Ban Biên tập ra lệnh cấm đăng. Như vậy là việc đăng bài về ông Trần Mai Hạnh đã bị lộ. Sở dĩ bị lộ là do ở Hà Nội anh Nguyễn Việt Chiến quá hăng hái với vụ việc, đã đi gặp người này người kia để phỏng vấn, nên sự việc đến tai ông Hồng Vinh.
Là tờ báo gần như đơn độc (có thêm báo Tiền phong tiếp sức) vạch mặt tội ác của Năm Cam trước khi Năm Cam bị bắt lần thứ nhất, nên Thanh Niên hiểu hơn ai hết, rằng nếu không triệt phá được đường dây bảo kê cho Năm Cam thì trước sau gì Năm Cam cũng được thả ra. Lần thứ nhất thả ra, tập đoàn tội phạm này phát triển với quy mô lớn hơn, tàn bạo hơn. Nếu thả ra một lần nữa thì tác hại sẽ khôn lường. Cho nên phải vạch mặt cho được những kẻ bảo kê, trước tiên là ông Trần Mai Hạnh.
Tôi còn nhớ, ngày 30-4 tôi xuống vườn nhà anh Khế ở quận 9. Tôi phân tích với anh, rằng chúng ta chưa đăng thì họ cấm, nhưng nếu chúng ta cứ đăng thì tôi chắc họ chẳng thể làm gì được chúng ta, vì làm khó chúng ta họ sẽ mang tiếng là bảo kê cho Năm Cam. Tôi nói vậy vì tôi biết anh Khế cũng đang tính toán. Anh bảo tôi, mai ngày lễ (1-5) rồi, để tối mai tính.
Tối ngày 1-5, tôi chuẩn bị trang báo đã dàn sẵn đợi anh đến. Anh đến tòa soạn cầm trang báo đọc kỹ, đi tới đi lui, đọc thêm một lần nữa, rồi đi tới đi lui. Cuối cùng, anh cầm máy điện thoại giơ lên, đưa trang báo cho tôi, nói : “ĐM, đăng !”, vừa nói vừa tắt máy điện thoại, đút túi quần lên xe đi thẳng về nhà. Đó là hình ảnh hào sảng oai phong nhất của một Tổng Biên tập mà tôi không bao giờ quên được.
Sáng hôm phát hành báo, tất cả điện thoại đều nghẽn vì bạn đọc gọi tới tấp đến hoan nghênh. Nhưng ở Hà Nội thì im phăng phắc. Im phăng phắc trong nhiều ngày liền. Để tự vệ, tôi đến phỏng vấn ông Sáu Dân. Ông hoan nghênh báo Thanh Niên và nói báo Thanh Niên đã “phá một cái lệ”, là lần đầu tiên phanh phui chuyện tiêu cực của một Ủy viên Trung ương Đảng trên mặt báo. Nhiều ngày sau, anh Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin mới gọi điện cho anh Khế cười đùa vui vẻ. Tôi nghe nói lại rằng ông Nông Đức Mạnh Tổng Bí thư lúc đó có nói, đó là “quyền của báo chí”. Nghe như vậy mới thấy nhẹ nhõm. Mãi tới 1 tuần sau thì các báo khác mới dám đăng về chuyện của ông Trần Mai Hạnh, sau khi không thấy Thanh niên bị làm sao. Đây mới là bài báo mở đầu. (còn tiếp).
Hoàng Hải Vân - 31.8.2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang