Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018
TIN TỨC THẾ GIỚI
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Vụ Eximbank, dấu hiệu ghê gớm về cơn khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Những đại gia nào đang đầu tư "miếng bánh" Thủ Thiêm?
Theo Nguyên Hưng/Đất Việt
Dân Trí - Thất lạc bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm có khiến việc đầu tư của Lotte, Sunshine, Phát Đạt, Hongkong Land, Quốc Lộc Phát... tại đây bị ảnh hưởng?
Khu đô thị mới Thủ Thiêm, tọa lạc bên bờ Đông sông Sài Gòn đối diện quận 1, với tổng diện tích 657 héc ta.
Đây là khu vực được quy hoạch là một trung tâm mới, hiện đại và mở rộng của TPHCM, với các chức năng chính là trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ cao cấp, có vị trí quốc tế, là trung tâm văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí.
Theo quy hoạch 1/2000 được duyệt, khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm thuộc địa bàn các phường An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông và một phần phường Bình An, Bình Khánh. Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm được chia làm 5 khu vực chính gồm Khu vực “lõi trung tâm” chính, Khu dân cư phía Bắc, Khu dân cư dọc Đại lộ Mai Chí Thọ, Khu dân cư phía Đông, Khu châu thổ phía Nam.
Để “giấc mơ” Thủ Thiêm thành siêu đô thị, sánh ngang với Singapore, Thái Lan…chính quyền TPHCM phải mất hơn 10 năm để giải tỏa trắng bán đảo này với khoảng 15.000 hộ dân gần 30.000 tỷ đồng để bồi thường, tái định cư.
Hiện có các nhà đầu tư lớn vào siêu đô thị này gồm Đại Quang Minh, Lotte, Sunshine, Phát Đạt, Hongkong Land, Quốc Lộc Phát...
Đầu tháng 9/2017, UBND TP.HCM chấp thuận cho Công ty CP Quốc Lộc Phát đầu tư dự án phát triển Khu phức hợp Sóng Việt tại khu chức năng số 1 – KĐT mới Thủ Thiêm.
Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến gần 7.300 tỷ đồng, diện tích khoảng 75.965 m2, gồm 4 lô đất cạnh sông Sài Gòn.
Khu phức hợp Sóng Việt sẽ trở thành trung tâm tài chính, ngân hàng, thương mại, dịch vụ và nhà ở có đủ các tiện nghi về hạ tầng đô thị hoàn chỉnh và các dịch vụ liên quan; sẽ có trung tâm thương mại tiêu chuẩn quốc tế…
Trước đó, TP.HCM yêu cầu nhà đầu tư được chỉ định thực hiện dự án này phải cam kết ký quỹ 100 tỷ đồng và nộp tiền sử dụng đất khoảng 2.000 tỷ đồng cho 4 lô đất nói trên. Quốc Lộc Phát đã đáp ứng yêu cầu này. Công ty bắt đầu triển khai kinh doanh từ năm 2014, vốn điều lệ là 1.500 tỷ đồng.
Thành viên sáng lập gồm một tổ chức và ba cá nhân, trong đó cổ đông lớn nhất là CTCP Đầu tư xây dựng Hải Đăng (có 60 triệu cổ phần, trị giá tương ứng 600 tỷ đồng, chiếm 40% tổng vốn điều lệ); đứng thứ hai là ông Phạm Quang Hưng (giữ 45 triệu cổ phần, tương đương 450 tỷ đồng, chiếm 30%).
Dự án tiêu biểu nhất tại khu đất Thủ Thiêm có lẽ phải kể đến khu phức hợp thông minh - Eco Smart City của Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) trị giá 1 tỷ USD. Năm 2015, Lotte đã ký với UBND TP.HCM hợp đồng quỹ đất trị giá 2.000 tỷ đồng tại khu vực Thủ thiêm.
Theo kế hoạch, Lotte sẽ triển khai đầu tư xây dựng "siêu" dự án tỷ đô này trong vòng khoảng 72 tháng, khai thác trong 50 năm với tổng vốn đầu tư (không gồm chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng) là 20.100 tỷ đồng. Nguồn vốn sẽ do nhà đầu tư thu xếp.
Tương tự, Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM (Mã chứng khoán: CII) đã được nhận khoảng 90.000 m2 đất sử dụng ổn định lâu dài (để xây dựng nhà ở) và 6.000 m2 đất sử dụng 50 năm (để xây dựng văn phòng cho thuê), trả tiền thuê đất một lần cho toàn thời gian thuê.
Đổi lại, CII sẽ đầu tư dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu dân cư phía Bắc và hoàn thiện đường trục Bắc - Nam (đoạn từ chân cầu Thủ Thiêm 1 đến đường Mai Chí Thọ) trong khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Công ty Cổ phần Phát triển BĐS Phát Đạt (Mã chứng khoán: PDR) cũng đã được UBND Thành phố cho phép nghiên cứu đề án đầu tư xây dựng cầu Thủ Thiêm 4 nối khu đô thị Thủ Thiêm và đường Nguyễn Văn Linh, quận 7.
Trong đó, Tổng mức đầu tư dự án cầu Thủ Thiêm 4 của Phát Đạt khoảng 5.253,94 tỷ đồng. Theo UBND TP.HCM, về quỹ đất để thanh toán cho Nhà đầu tư thực hiện dự án này sẽ gồm 16 lô nhà đất "vàng" trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm và các quận trung tâm thành phố.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Bản đồ Thủ Thiêm "mất tích" và chuyện dừng thanh tra đột ngột
Trương Châu Hữu Danh
(Dân Việt) Câu chuyện mất bản đồ, hay câu chuyện đột ngột dừng thanh tra một dự án khuất tất liên quan hàng chục ngàn hộ dân, đến giờ này không còn là chuyện "nội bộ" của TPHCM và Thanh tra Chính phủ với những văn bản lẽ ra phải công khai lại được che giấu bằng "dấu mật", phải được xử lý rốt ráo từ cấp cao hơn.
Chuyện cái bản đồ Thủ Thiêm "bị mất", Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã từng phát hiện ra từ hồi cuối tháng 11.2017 khi ông làm việc với TP.HCM. Tại cuộc họp đó, TP.HCM đã báo cáo “các sở ngành liên quan đều không tìm thấy”.
Cho đến cuộc họp báo ngày 2.2, một lần nữa TP.HCM "lại không tìm thấy" dù bản đồ này liên quan trực tiếp đến ít nhất 15.000 hộ dân.
Trưa 2.5, Chánh Văn phòng UBND TP. HCM Võ Văn Hoan đã chủ trì cuộc họp báo định kỳ để thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tháng 4 trên địa bàn. Tại cuộc họp, các cơ quan báo chí cũng như các cán bộ dự họp khá bất ngờ khi phóng viên Hồ Văn của báo Dân Việt đặt câu hỏi "Bản đồ đi kèm Quyết định 367 về quy hoạch xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm (KĐTMTT) năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ hiện nay đang ở đâu?". Người chuyên quản lý việc vẽ bản đồ - Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP.HCM Nguyễn Thanh Nhã tiếp tục cho biết... đến giờ vẫn tìm chưa ra.
"TP đã chỉ đạo các sở - ngành rà soát lại từng nguồn, đơn vị tư vấn trước đây và cũng có văn bản hỏi các bộ - ngành trung ương nhưng đến giờ vẫn chưa tìm thấy" - ông Nhã nói.
Theo ông Nhã, từ năm 1996 đến nay đã hơn 20 năm, nhiều đơn vị đã chuyển địa điểm nên không lưu trữ bản đồ này. Ông Nhã cho biết tài liệu hồ sơ thì có lưu nhưng bản đồ đi kèm lại không có, đồng thời khẳng định TP đã báo cáo Chính phủ và Bộ Tư pháp để xin ý kiến.
Nói rõ hơn, Chánh Văn phòng UBND TP.HCM Võ Văn Hoan cho hay bản đồ KĐTMTT chưa tìm thấy trong bộ hồ sơ lưu chứ không phải là không có, các bộ, ngành cũng đang cố gắng tìm.
"Trong thủ tục trình Chính phủ phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định thì mới được phê duyệt. Rất tiếc, hơn 20 năm rồi, không hiểu lúc ấy công tác lưu trữ làm như thế nào, đến hôm nay vẫn chưa tìm thấy bản đồ quy hoạch đó. Quyết định 367 kèm theo bản đồ là cơ sở pháp lý để Thủ tướng phê duyệt dự án nên không thể không có bản đồ được" - ông Hoan nhấn mạnh. Theo ông Hoan, TP đã chỉ đạo phải tìm bằng được và "nghe nói" đã tìm thấy bản photocopy chứ không phải bản gốc, bản màu.
Thực ra thì bản đồ không hề mất. Ngay trong năm 1996, bản đồ này đã được đăng trên báo Lao Động, công khai ở địa phương bị thu hồi đất. Hiện nay, hàng chục người dân xin được bản sao ở Chi cục Văn thư lưu trữ, dấu mộc đỏ chót. Thậm chí, công dân Lê Văn Lung - người đi khiếu nại 20 năm qua, ngoài "bản đồ gốc" còn nắm giữ hàng trăm bản đồ giải thửa của bà con xung quanh.
"Họ cần chúng tôi sẽ cho không. Nhưng không có bản đồ thì làm sao mà thu hồi đất. Họ sợ lộ vụ Thủ Thiêm nên thủ tiêu thôi chứ mất sao được!" - ông Lung cười chua chát.
Bản đồ đi kèm Quyết định 367 được xem là "chìa khóa" giải quyết chuyện khiếu nại, khiếu kiện của người dân ở Thủ Thiêm kéo dài nhiều năm qua. Để đầu tư xây dựng "siêu dự án" này, TP HCM đã mất nhiều năm giải tỏa gần như toàn bộ bán đảo Thủ Thiêm, khoảng 15.000 hộ dân đã di dời. TP.HCM cũng đã huy động gần 30.000 tỷ đồng để chi trả bồi thường, tái định cư. Cũng từ đó, chuyện khiếu nại của người dân ở khu vực này phát sinh. Vấn đề khiếu nại kéo dài, mấu chốt nằm ở việc xác định ranh giới quy hoạch.
Theo "bản đồ gốc", phần thu hồi tập trung đất nông nghiệp, ít đất dân cư và các cơ sở công cộng, trường học. Nhưng sau đó, hàng loạt hộ dân cũng bị thu hồi đất vì không hiểu sao nằm ngoài quy hoạch cũng bị thu hồi. Những công dân ở đây chua xót khi có nhiều ngôi trường đạt chuẩn quốc gia vừa xây xong đã bị đập phá nhường đất cho dự án. Nhiều nhà cửa nằm ngoài quy hoạch cũng bị cưỡng chế di dời.
Mấy năm qua, xung quanh Trụ sở tiếp Công dân của Thanh tra Chính phủ ngoài Hà Đông (Hà Nội) bỗng dưng xuất hiện "làng Thủ Thiêm" khi cả trăm người dân Thủ Thiêm kéo ra đây sống vạ vật kế bên để khiếu nại kéo dài.
Năm 2015, người dân mừng khấp khởi khi Thanh tra Chính phủ ra quyết định thanh tra Dự án Thủ Thiêm. Nhưng, đoàn thanh tra sau vài ngày làm việc, phát hiện hàng loạt sai phạm thì Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh bất ngờ có văn bản "Mật" đề nghị hoãn thanh tra toàn bộ dự án.
Vào giữa năm 2016, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong đã đối thoại với đại diện các hộ dân khiếu nại trong dự án. Tại cuộc đối thoại, các hộ dân cho rằng họ không nằm trong quy hoạch KĐTMTT và đề nghị chính quyền cung cấp bản đồ đi kèm Quyết định 367 để xác định ranh giới. Tuy nhiên, người ta không thể cung cấp được bản đồ này. Qua năm 2017, ông Ngô Văn Khánh có văn bản thông tin sẽ thanh tra dự án này trên cơ sở kế thừa các kết quả cũ. Tuy nhiên, đến nay đã gần giữa năm 2018, dự án này vẫn chưa bị thanh tra.
Câu chuyện mất bản đồ, hay câu chuyện đột ngột dừng thanh tra một dự án khuất tất liên quan hàng chục ngàn hộ dân, đến giờ này không còn là chuyện "nội bộ" của TP.HCM và Thanh tra Chính phủ với những văn bản lẽ ra phải công khai lại được che giấu bằng dấu "mật", phải được xử lý rốt ráo từ cấp cao hơn.
Chưa lúc nào hơn lúc này, người dân Thủ Thiêm lại trông chờ hình ảnh cái lò đốt sạch củi khô đến vậy.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Bà Phan Thị Mỹ Thanh vẫn tiếp xúc cử tri với vai trò trưởng đoàn ĐBQH
Bà Phan Thị Mỹ Thanh tại buổi tiếp xúc cử tri sáng nay tại huyện Nhơn Trạch.
Xuân Hoàng
Soha
02/05/2018 17:00
02/05/2018 17:00
Tại buổi tiếp xúc, một cử tri đã đặt câu hỏi trực tiếp về hình thức xử lý đối với bà Phan Thị Mỹ Thanh như thế nào và được trả lời sẽ xử lý theo đúng quy trình.
Kiến nghị xử lý Phó Bí thư Đồng Nai Phan Thị Mỹ Thanh
Sai phạm mới của Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Phan Thị Mỹ Thanh là gì?
Bà Phan Thị Mỹ Thanh vi phạm rất nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật.
Sáng 2-5, Tổ Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) số 1 (đơn vị Đồng Nai) gồm ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; bà Phan Thị Mỹ Thanh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai; và bà Nguyễn Thị Như Ý- Chủ tịch Liên đoàn Lao Động tỉnh Đồng Nai đã có buổi tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XIV tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Tại buổi tiếp xúc, nhiều cử tri đã đặt câu hỏi về các vấn đề như khiếu kiện, khiếu nại kéo dài; tình trạng phân lô bán nền tràn lan; quy hoạch treo; ô nhiễm môi trường; đạo đức cán bộ…
Đặc biệt, cử tri Nguyễn Thị Kim Loan (ngụ ấp Xóm Hố, xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch) đặt câu hỏi trực tiếp về các sai phạm và việc xử lý đối với bà Phan Thị Mỹ Thanh, đang ngồi ở vị trí Trưởng Đoàn ĐBQH.
Bà Loan đặt câu hỏi: Trung ương đã có kết luận và đưa ra mức kỷ luật đối với bà Thanh, vậy về mặt nhà nước, bà Thanh sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời câu hỏi này, ông Võ Văn Thưởng cho biết trong trường hợp bà Thanh, sẽ có hình thức xử lý kịp thời và đồng bộ về mặt chính quyền cũng như các hình thức xử lý khác của Đảng.
"Ban Bí thư Trung ương Đảng sẽ tiếp tục xem xét báo cáo về kết quả kiểm tra đối với đồng chí Phan Thị Mỹ Thanh.
Từ kết quả kiểm tra, sẽ có quyết định về kỷ luật, xử lý cán bộ đúng với mức độ vi phạm, với tính chất vi phạm trong công việc, còn cụ thể hiện nay thế nào tôi cũng không nói trước được…
Nói chung, hình thức kỷ luật đối với cán bộ, Đàng viên về mặt chính quyền cũng sẽ được xử lý kịp thời, đồng bộ với các hình thức xử lý của Đảng. Việc xử lý như thế nào sẽ được thông báo rộng rãi"- ông Thưởng nói.
theo Người lao động.
Mà không biết các ông bà trong Đồng Nai, rồi cả ông trưởng ban tuyên giáo nhìn thấy bà ấy vẫn ghế trên ngồi tót sỗ sàng có thấy trơ quá không nhỉ?
Đúng là trơ như...
Thôi, chả nói nữa. Kẻo khi chị em họ nhà đĩ phản ứng mình, bảo đách của chúng em còn mềm mại nhạy cảm hơn cái mặt kia, không tin anh cứ kiểm tra xem thì bỏ mịa!
____________________
Trần Thanh Cảnh:
Các cụ nhà tôi khi mắng một kẻ trơ tráo nào đó hay rủa: " CÁI MẶT TRƠ NHƯ ĐÁCH ĐĨ"! Trước nay tôi cứ băn khoăn mãi về câu này. Giờ nhìn mặt bà Phan Thị Mỹ Thanh thì tôi hiểu!
Trần Thanh Cảnh:
Các cụ nhà tôi khi mắng một kẻ trơ tráo nào đó hay rủa: " CÁI MẶT TRƠ NHƯ ĐÁCH ĐĨ"! Trước nay tôi cứ băn khoăn mãi về câu này. Giờ nhìn mặt bà Phan Thị Mỹ Thanh thì tôi hiểu!
Mà không biết các ông bà trong Đồng Nai, rồi cả ông trưởng ban tuyên giáo nhìn thấy bà ấy vẫn ghế trên ngồi tót sỗ sàng có thấy trơ quá không nhỉ?
Đúng là trơ như...
Thôi, chả nói nữa. Kẻo khi chị em họ nhà đĩ phản ứng mình, bảo đách của chúng em còn mềm mại nhạy cảm hơn cái mặt kia, không tin anh cứ kiểm tra xem thì bỏ mịa!
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Nóng: Phó cục trưởng C50, Bộ Công an chết trong phòng làm việc?
Bác Trọng nói có tội chết cũng phải lôi lên xét hỏi. Liệu tên này chết, nhà nước có thu hồi tài sản tham nhũng hắn để lại cho vợ con không nhỉ ? Hay là chết rồi thì thôi, không khởi tố truy cứu, cũng không thu hồi lại ?
Môi trường & Đô thị 04/05/2018 - Theo nguồn tin riêng của Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử, Đại tá Võ Tuấn Dũng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội pham sử dụng công nghệ cao (C50) đã tự vẫn trong tư thế treo cổ (tại trụ sở làm việc Bộ Công an số 47 Phạm Văn Đồng, Hà Nội).
Theo nguồn tin riêng của Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử, sáng sớm nay (4/5/2018), Đại tá Võ Tuấn Dũng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội pham sử dụng công nghệ cao (C50), Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an đã tự vẫn trong tư thế treo cổ tại phòng làm việc (tại trụ sở làm việc Bộ Công an số 47 Phạm Văn Đồng, Hà Nội).
Trước đó, Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử đã có loạt bài phản ánh về đường dây đánh bạc ngàn tỷ của cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh và cựu Thiếu tướng Nguyễn Thanh Hóa đã bị khởi tố và bắt tạm giam vừa qua.
Trong quá trình cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Phú Thọ điều tra mở rộng vụ án "Sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tổ chức đánh bạc, đánh bạc, mua bán trái phép hóa đơn và rửa tiền" xảy ra tại Phú Thọ và một số tỉnh, thành, cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã khởi tố và bắt tạm giam 4 tháng đối với cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát và cựu Thiếu tướng Nguyễn Thanh Hóa, nguyên Cục trưởng C50 là lãnh đạo trực tiếp của ông Võ Tuấn Dũng.
Hiện các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra làm rõ về nguyên nhân cái chết.
Môi trường và Đô thị Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật…
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Tư liệu từ ô Cống:
BÀN VỀ MỘT SỐ THẤT BẠI VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Đình Cống - Viết ra vài điều phản biện, lật lại để xem mặt trái của tấm huân chương, may ra có thể cung cấp được vài thông tin và ý kiến cho những người tử tế, còn có lương tri để tránh bớt nhầm lẫn, chỉ biết nghe tuyên truyền một chiều.
Đối ngoại và đối nội không phải chỉ là hoạt động của Quốc gia mà là của mọi tổ chức, mọi gia đình, mọi con người. Có 2 loại người với xu hướng khác nhau, hướng nội và hướng ngoại. Thông thường người hướng nội quan tâm nhiều đến đối nội, người hướng ngoại thích thú với đối ngoại hơn. Nhưng hướng về một phía nhiều quá sẽ thành cực đoan, không tốt. Vấn đề là giữ được quan hệ, giữ được cân bằng giữa hai lĩnh vực này.
Ngẫm nghĩ cho kỹ thấy rằng đối nội là gốc gác, cách gì cũng phải có. Vì vậy đối ngoại phải xuất phát từ đối nội và phục vụ cho đối nội. Trong hai việc, nếu bắt buộc phải ưu tiên cho một việc thì người khôn ngoan sẽ chọn đối nội, phải làm tốt đối nội mới có cơ sở vững chắc để đối ngoại. Ngược lại những người mắc“ bệnh sĩ “ sẽ chọn đối ngoại. Họ quá xem trọng hình thức và lời khen chê của mọi người, cố làm ra vẻ ta đây sang trọng, giỏi giang. Ca dao VN có bài nhận xét về loại người này : “ Ra đường võng giá nghênh ngang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày…”
Bệnh sĩ của một con người đã tai hại, bệnh sĩ của một dân tộc, một đất nước càng tệ hại hơn. Nhưng nói bệnh sĩ của dân tộc có lẽ không đúng mà là của những người lãnh đạo, quản lý rồi lây lan ra trong xã hội. Khi đối nội chưa được tốt mà muốn khuếch trương đối ngoại để được nhiều tiếng khen thì buộc lòng phải tìm cách che giấu những thói hư tật xấu, che giấu những tệ nạn gặp phải. Như thế là phạm vào tội dối trá.
Các nước đều rất quan tâm đến ngoại giao. Tuy vậy cũng có một số nước ít quan tâm, họ chú trọng nhiều hơn đến đối nội. Bhutan là một trong những nước như vậy. Ở đó nhân dân được hưởng nền tự do, hạnh phúc vào loại bậc nhất của Châu Á và Thế giới, nhưng trong nhiều năm trước đây ( và ngay cả bây giờ ) Bhutan có rất ít quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt không quan hệ với Trung quốc, mặc dầu 2 nước có biên giới chung khá dài .
Trong hơn 70 năm qua đối ngoại của Chính phủ Việt Nam có nhiều thành tích tốt đẹp và cũng phạm phải nhiều sai lầm, thất bại. Thành tích đã được nói và viết nhiều, tôi không phủ nhận, chỉ xin không viết lại. Vì là ý kiến phản biện nên chỉ viết về một số việc được cho là thất bại hoặc sai lầm. Không biết trong các tài liệu mật Chính phủ có tổng kết về chúng hay không, còn công khai không thấy nói đến, hoặc chỉ nói chung chung. Tôi chỉ muốn kể ra và phân tích một vài điều để ai cần thì rút ra bài học và kinh nghiệm.Tôi không làm trong ngành ngoại giao, những điều tôi kể ra chỉ được thu thập từ thông tin đại chúng.
Thất bại buổi đầu. Trong thời gian dài trên 5 năm, sau 1945, không có nước nào hưởng ứng lời kêu gọi trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Tiếp theo là sự im lặng của Tổng thống Mỹ khi nhận những bức thư cầu xin, mặc dầu Chủ tịch Hồ đã tìm mọi cách ca ngợi Mỹ, trông chờ vào Mỹ. Tại sao vậy ?. Chính nghĩa, thiện chí, thông minh của chúng ta để ở đâu mà bên ngoài nhìn vào người ta không thấy, không công nhận. Phải chăng là tại sự chống phá của các thế lực thù địch và phản động. Tôi nghĩ rằng sự chống phá cũng có nhưng cơ bản nhất là tại Đảng Cộng sản phạm sai lầm trong việc tuyên bố tự giải tán rồi rút vào hoạt động bí mật. Đó là một mưu đồ lừa dối thiên hạ. Đó là sản phẩm của những đầu óc kém trí tuệ, chỉ quen dùng mưu mẹo trong những việc như đánh du kích và cướp của, cướp quyền. Người ta thừa biết anh dối trá, lừa gạt thì làm sao người ta công nhận anh được, làm sao người ta giúp anh được.
Hiệp ước với Pháp. Sai lầm tiếp theo là không tạm nhường Nam Bộ cho Pháp vào năm 1946. Việc này được cho là ý chí kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, được nhiều người ca ngợi. Theo Hiệp ước Nhà Nguyễn ký với Pháp thì Nam kỳ là nhượng địa chứ không phải thuộc địa hoặc bảo hộ. Tháng 7/ 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi , tháng 9/ 1945 Pháp đòi lại, ta không chịu trả mới xẩy ra Nam bộ kháng chiến. Nếu khôn ngoan ra, tạm nhường vài năm rồi cũng sẽ thu hồi được. Vụ cố giữ cho được đất Nam kỳ là thuộc loại “Tham bát bỏ mâm” vì phải kháng chiến 9 năm và mất 20 năm chia cắt với không biết bao nhiêu xương máu và thù hận để thống nhất. Cuối cùng thống nhất được lãnh thổ trong sự chia rẽ dân tộc, cái giá phải trả quá đắt.
Hiệp định Genève. Hiệp định chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17. Nghe kể rằng Phạm Văn Đồng phải lau nước mắt khi ký. Chúng ta tính rằng nếu phải tạm thời chia cắt thì ranh giới ở vĩ tuyến 14. Nếu đấu tranh quá căng mà phải lùi thì cũng không thể đến vĩ tuyến 16. Nhưng rồi bị sức ép của Chu Ân Lai mà Phạm Văn Đồng ngậm đắng nuốt cay chấp nhận vĩ tuyến 17. Đây là do kết hợp giữa 2 yếu tố : sự đếu cáng của Chu và sự hèn yếu của Phạm. Nếu so với những sứ thần của VN trong lịch sử như Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Đỗ Khắc Chung, Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan… thì Phạm Văn Đồng kém xa. Ông Đồng kém vì thiếu dũng khí trước Chu Ân Lai và Môlôtôp, và cũng tại vì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản VN mắc nợ người ta quá nhiều, chịu lệ thuộc quá nhiều. Phải làm theo lệnh nước ngoài thì có khác gì chính phủ bù nhìn.
Đuổi đại sứ Mỹ. Sai lầm ngoại giao một cách ngờ nghệch mà tưởng là anh dũng và thông minh là việc để đại sứ Mỹ ở Sài gòn ngày 30/4/1975 bỏ chạy bằng máy bay trực thăng. Khi quân giải phóng tiến vàoThành phố ngày 30 tháng 4, Đại sứ Mactin cho nhân viên ra đi trước còn mình ở lại đến phút cuối cùng. Ông ta chờ một lời mời ở lại. Lời mời đó đã không có để rồi VN phải mất 20 năm, chịu không biết bao nhiêu sự cấm vận, cực khổ mới nối lại được. Đó là sai lầm của những người thừa kiêu ngạo mà thiếu trí tuệ.
Hội nghị Thành Đô. Sai lầm nguy hiểm là Hội nghị Thành Đô 1990. Ba nhân vật chủ chốt hồi đó là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười thay mặt Đảng Cộng sản và Nhà nước VN đã cúi đầu nhận thần phục Trung cộng. Theo Nguyễn Cơ Thạch ( Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hồi đó) thì với hội nghị này VN sắp bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới đầy nguy hiểm. Đó là hành động ngoại giao đầu hàng.
Thuật đu dây. Hiện nay nhiều người cho rằng VN đang thực hiện thuật đu dây giữa Mỹ và Trung quốc. Người này cho là đúng, là hay, ngươì khác lại phê là sai, là dở. Xem qua lịch sử vài ngàn năm của các nước thấy rằng đã có những nước giữ được ổn định và phát triển nhờ thuật này, nhưng cũng nhiều nước vì đu dây mà lâm vào cảnh lên bờ xuống ruộng, đấy nhân dân vào cảnh lầm than. Nước Trịnh thời Xuân Thu ( Đông Chu Liệt Quốc ) là một thí dụ. Để sử dụng có hiệu quả thuật đu dây cần phải có một số điều kiện . Thế mà theo tôi VN đang thiếu các điều kiện đó.
Tạm kể một vài sai lầm và thất bại điển hình, còn có thể kể ra nhiều nữa, nhưng tạm dừng để bàn thêm chuyện khác.
Điều quan trọng trong ngoại giao ( cũng như trong các quan hệ khác ) là phải biết mình, biết người, phải tôn trọng phương châm đối ngoại trên cơ sở của đối nội và phục vụ cho đối nội, đối với các nước bạn bè phải trung thực, chân thành, hạn chế đến xóa bỏ bệnh sĩ.
Về biết mình. Trong nhiều năm chúng ta tự đánh giá quá cao, như là lãnh đạo vô cùng sáng suốt, nhân dân vô cùng anh hùng, rồi tự huyễn hoặc, tự vẽ phấn tô son. Biết đâu rằng thực chất trong nhiều năm VN chỉ là anh lính xung kích của phong trào cộng sản, mà cụ thể là nằm dưới sự điều khiển của Trung quốc. Tự hào là một nước nhỏ mà đánh thắng 2 đế quốc lớn. Thực ra có phải như thế đâu. Trong chiến tranh ta chỉ là anh lính xung kích, đánh Mỹ thay cho Liên xô và Trung quốc. Ta bắn rơi được vài ngàn máy bay Mỹ, giết được vài vạn lính Mỹ thì ngược lại Mỹ cũng gây ra cho ta những thiệt hại nặng nề hơn về của và người. Ta nói Mỹ vào xâm lược VN, ta đã đánh thắng và đuổi đi. Mỹ nói họ vào để ngăn chặn tên lính xung kích của cộng sản Trung quốc lan xuống vùng Đông Nam Á. Nhận thấy rằng bằng một vài cách khác ngăn chặn được rồi, đạt mục đích rồi thì họ rút ra, họ không có mục đích xâm lược, họ muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Trong khi ta đem lực lượng không những của toàn quốc mà còn có một phần của Trung quốc và Liên xô để đánh nhau với một đội quân vài vạn người, chỉ gồm một phần nhỏ của quân đội Mỹ mà cho rằng đánh thắng đế quốc Mỹ thì quả thật đã huyênh hoang một tấc đến trời. Cho rằng đã đánh thắng được Pháp và Mỹ thì rồi việc gì ta cũng làm được là một lập luận vô cùng sai trái, thế mà người ta cứ tuyên truyền mãi. Đến thời kỳ xây dựng trong hòa bình mới lộ rõ mọi sự yếu kém và sai lầm. Nhưng đã lỡ mồm khoác lác về tài năng, về sáng suốt. Đâm lao phải theo lao, phải tiếp tục tuyên truyền ta khôn, ta giỏi.
Về biết người . Trong chiến tranh với Mỹ nhân dân thế giới thương hại nhân dân VN, ủng hộ, cứu trợ cho nhân dân chứ họ chẳng yêu quý gì thể chế cộng sản mà nhà nước theo đuổi. Và họ thương hại chứ không nể trọng. Nếu có cảm phục thì chỉ cảm phục trong thời gian ngắn về đức tính chịu hy sinh gian khổ trong chiến tranh, còn trong việc đấu tranh cho tự do, dân chủ , nhân quyền thì họ coi thường, coi khinh. Với nạn thuyền nhân thì họ càng kinh ngạc và phẩn nộ. Ngày nay một số không ít người Việt ra nước ngoài bị nhiều người sở tại cánh giác, xem là bọn ăn cắp và gây rối.
Với các quốc gia, chúng ta có quan hệ ngoại giao với rất nhiều nước, ký nhiều hiệp định hợp tác toàn diện và chiến lược, nhận được một số viện trợ ODA, nhưng thử hỏi có nước nào thân thiết với ta như kiểu quan hệ giữa Mỹ với Nhật hoặc với Nam Hàn. Mang tiếng có nhiều bạn nhưng khi mà bị mắc kẹt vào ý thức hệ cộng sản thì không thể nào có bạn thân thiết trong những nước theo chế độ dân chủ. Họ đi lại, quan hệ với ta chỉ là theo hình thức ngoại giao.
Quan trọng là ta đã biết Mỹ và Trung quốc đến đâu. Với Mỹ, từ trước 1945 Hồ Chí Minh rất muốn thân thiện. Vì kiên trì cộng sản và dối trá mà không nhận được giúp đỡ, chúng ta bị Mao Trạch Đông lừa gạt mà nhận định sai về họ, xem là kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tuy đã có thay đổi nhiều nhưng vẫn chưa đạt được như mong muốn. Với Trung quốc, quan hệ trong lịch sử là khá phức tạp giữa phụ thuộc, bạn, thù. Ngày nay đa số nhân dân xem Trung quốc là kẻ thù truyền kiếp với tham vọng bá quyền, muốn thôn tính Việt Nam; nhưng lãnh đạo nhà nước lại chịu khuất phục, chịu lệ thuộc và đàn áp những người dân chống Trung quốc. Đây là một mâu thuẩn quá nặng nề, làm hủy hoại sự thống nhất ý chí dân tộc.
Về đối nội. Quan trọng và cơ bản nhất của đối nội là giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, nó gồm cả 2 mặt : hợp tác và đấu tranh xử lý mâu thuẩn. Về vấn đề này ở Việt nam có nhiều quan điểm khác lạ với rất nhiều nước dân chủ. Với một hệ thống 3 tầng ( đảng, chính quyền, mặt trận ) chồng chéo , dẫm đạp lên nhau, sự quản lý nhà nước của VN thuộc loại tồi tệ, kém hiệu quả, lãng phí vào loại bậc nhất thế giới. Chính quyền tồn tại nhờ vào 2 thế lực chính, công an và tuyên truyền, nhưng lại bất lực trước nhiều tai họa của xã hội, của môi trường. Mấu chốt nhất là lãnh đạo vẫn kiên trì con đường Mác Lê XHCN, họ cho rằng đó là nguyện vọng của toàn dân, trong lúc dân chẳng được hỏi ý kiến.
Phân tích qua như vậy để thấy đối ngoại của VN không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc xuất phát từ đối nội và quay về phục vụ cho đối nội.
Về bệnh sĩ. Đây là loại bệnh không gây chết người, lại làm cho người ta sung sướng, tự hào trong chốc lát, nhưng mang lại tai họa trong bản chất và lâu dài. Có lẽ người Việt mắc bệnh sĩ thuộc hạng nặng nhất thế giới. Bệnh này có nguồn gốc từ trong những yếu kém của nền văn hóa dân tộc, gặp được môi trường thuận lới là đường lối tuyên truyền của cộng sản mà nó phát triển nhanh chóng, rộng khắp.
Trong nước bệnh sĩ biến tướng ra bệnh thành tích dổm, là việc chạy khen thưởng, huân chương, danh hiệu anh hùng, danh hiệu gia đình và đơn vị văn hóa, nông thôn mới, bằng cấp dổm các loại v.v…
Hễ thế giới có Công ước gì mới thì VN là một trong những nước ký đầu tiên. Ký xong, tuyên truyền xong rồi để đó, không cần thực hiện. Có được các di sản vật thể và đặc biệt là phi vật thể nào thì cố mà chạy để UNESCO công nhận. Một số điệu hò, điệu hát thi nhau chạy, theo kiểu “ con gà tức nhau tiếng gáy”. Cái điệu hát A ở vùng kia được rồi thì điệu hò B của vùng ta tốn bao nhiêu cũng cố mà chạy cho được chứ. Phải chi tiêu khá tốn kém để chạy được rồi, tổ chức ăn mừng rồi, xong thì để đó, chẳng dùng làm gì, chẳng mấy ai nhớ tới, chỉ là để thỏa bệnh sĩ trong thời gian ngắn.
Ở Liên hiệp quốc, có cơ quan gì thì ta cố chạy, cố vận động các nước ủng hộ để vào cho được. Vào được Hội đồng nhân quyền trong khi nhân quyền trong nước bị nhiều nơi lên án. Vào được Hội đồng bảo an trong lúc đất đai và biển đảo mất dần vào tay bọn bành trướng Trung cộng. Vào được Ủy ban luật pháp trong khi những bản án oan sai và bị tẩy chay ngày càng nhiều. Như vậy phải chăng vào các co quan của Liên hiệp quốc là chỉ để thỏa mãn bệnh sĩ.
Rồi rất nhiều đoàn cấp cao tấp nập đi lại thăm nhau. Trong việc thăm này cái lợi cho những người tham gia, sự tốn kém của công quỹ là rõ ràng, còn Quốc gia, nhân dân được gì không, hiệu quả như thế nào thì chưa thấy ai khảo sát và tổng kết.
Vài lời chốt lại. Cứ nghe báo cáo và tuyên truyền một chiều thì mọi người tưởng nhầm là thành tích và tài năng đối ngoại của chúng ta trong hơn 70 năm qua thuộc loại nhất nhì thế giới và rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.
Ngẫm nghĩ cho kỹ thấy rằng đối nội là gốc gác, cách gì cũng phải có. Vì vậy đối ngoại phải xuất phát từ đối nội và phục vụ cho đối nội. Trong hai việc, nếu bắt buộc phải ưu tiên cho một việc thì người khôn ngoan sẽ chọn đối nội, phải làm tốt đối nội mới có cơ sở vững chắc để đối ngoại. Ngược lại những người mắc“ bệnh sĩ “ sẽ chọn đối ngoại. Họ quá xem trọng hình thức và lời khen chê của mọi người, cố làm ra vẻ ta đây sang trọng, giỏi giang. Ca dao VN có bài nhận xét về loại người này : “ Ra đường võng giá nghênh ngang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày…”
Bệnh sĩ của một con người đã tai hại, bệnh sĩ của một dân tộc, một đất nước càng tệ hại hơn. Nhưng nói bệnh sĩ của dân tộc có lẽ không đúng mà là của những người lãnh đạo, quản lý rồi lây lan ra trong xã hội. Khi đối nội chưa được tốt mà muốn khuếch trương đối ngoại để được nhiều tiếng khen thì buộc lòng phải tìm cách che giấu những thói hư tật xấu, che giấu những tệ nạn gặp phải. Như thế là phạm vào tội dối trá.
Các nước đều rất quan tâm đến ngoại giao. Tuy vậy cũng có một số nước ít quan tâm, họ chú trọng nhiều hơn đến đối nội. Bhutan là một trong những nước như vậy. Ở đó nhân dân được hưởng nền tự do, hạnh phúc vào loại bậc nhất của Châu Á và Thế giới, nhưng trong nhiều năm trước đây ( và ngay cả bây giờ ) Bhutan có rất ít quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt không quan hệ với Trung quốc, mặc dầu 2 nước có biên giới chung khá dài .
Trong hơn 70 năm qua đối ngoại của Chính phủ Việt Nam có nhiều thành tích tốt đẹp và cũng phạm phải nhiều sai lầm, thất bại. Thành tích đã được nói và viết nhiều, tôi không phủ nhận, chỉ xin không viết lại. Vì là ý kiến phản biện nên chỉ viết về một số việc được cho là thất bại hoặc sai lầm. Không biết trong các tài liệu mật Chính phủ có tổng kết về chúng hay không, còn công khai không thấy nói đến, hoặc chỉ nói chung chung. Tôi chỉ muốn kể ra và phân tích một vài điều để ai cần thì rút ra bài học và kinh nghiệm.Tôi không làm trong ngành ngoại giao, những điều tôi kể ra chỉ được thu thập từ thông tin đại chúng.
Thất bại buổi đầu. Trong thời gian dài trên 5 năm, sau 1945, không có nước nào hưởng ứng lời kêu gọi trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Tiếp theo là sự im lặng của Tổng thống Mỹ khi nhận những bức thư cầu xin, mặc dầu Chủ tịch Hồ đã tìm mọi cách ca ngợi Mỹ, trông chờ vào Mỹ. Tại sao vậy ?. Chính nghĩa, thiện chí, thông minh của chúng ta để ở đâu mà bên ngoài nhìn vào người ta không thấy, không công nhận. Phải chăng là tại sự chống phá của các thế lực thù địch và phản động. Tôi nghĩ rằng sự chống phá cũng có nhưng cơ bản nhất là tại Đảng Cộng sản phạm sai lầm trong việc tuyên bố tự giải tán rồi rút vào hoạt động bí mật. Đó là một mưu đồ lừa dối thiên hạ. Đó là sản phẩm của những đầu óc kém trí tuệ, chỉ quen dùng mưu mẹo trong những việc như đánh du kích và cướp của, cướp quyền. Người ta thừa biết anh dối trá, lừa gạt thì làm sao người ta công nhận anh được, làm sao người ta giúp anh được.
Hiệp ước với Pháp. Sai lầm tiếp theo là không tạm nhường Nam Bộ cho Pháp vào năm 1946. Việc này được cho là ý chí kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, được nhiều người ca ngợi. Theo Hiệp ước Nhà Nguyễn ký với Pháp thì Nam kỳ là nhượng địa chứ không phải thuộc địa hoặc bảo hộ. Tháng 7/ 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi , tháng 9/ 1945 Pháp đòi lại, ta không chịu trả mới xẩy ra Nam bộ kháng chiến. Nếu khôn ngoan ra, tạm nhường vài năm rồi cũng sẽ thu hồi được. Vụ cố giữ cho được đất Nam kỳ là thuộc loại “Tham bát bỏ mâm” vì phải kháng chiến 9 năm và mất 20 năm chia cắt với không biết bao nhiêu xương máu và thù hận để thống nhất. Cuối cùng thống nhất được lãnh thổ trong sự chia rẽ dân tộc, cái giá phải trả quá đắt.
Hiệp định Genève. Hiệp định chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17. Nghe kể rằng Phạm Văn Đồng phải lau nước mắt khi ký. Chúng ta tính rằng nếu phải tạm thời chia cắt thì ranh giới ở vĩ tuyến 14. Nếu đấu tranh quá căng mà phải lùi thì cũng không thể đến vĩ tuyến 16. Nhưng rồi bị sức ép của Chu Ân Lai mà Phạm Văn Đồng ngậm đắng nuốt cay chấp nhận vĩ tuyến 17. Đây là do kết hợp giữa 2 yếu tố : sự đếu cáng của Chu và sự hèn yếu của Phạm. Nếu so với những sứ thần của VN trong lịch sử như Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Đỗ Khắc Chung, Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan… thì Phạm Văn Đồng kém xa. Ông Đồng kém vì thiếu dũng khí trước Chu Ân Lai và Môlôtôp, và cũng tại vì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản VN mắc nợ người ta quá nhiều, chịu lệ thuộc quá nhiều. Phải làm theo lệnh nước ngoài thì có khác gì chính phủ bù nhìn.
Đuổi đại sứ Mỹ. Sai lầm ngoại giao một cách ngờ nghệch mà tưởng là anh dũng và thông minh là việc để đại sứ Mỹ ở Sài gòn ngày 30/4/1975 bỏ chạy bằng máy bay trực thăng. Khi quân giải phóng tiến vàoThành phố ngày 30 tháng 4, Đại sứ Mactin cho nhân viên ra đi trước còn mình ở lại đến phút cuối cùng. Ông ta chờ một lời mời ở lại. Lời mời đó đã không có để rồi VN phải mất 20 năm, chịu không biết bao nhiêu sự cấm vận, cực khổ mới nối lại được. Đó là sai lầm của những người thừa kiêu ngạo mà thiếu trí tuệ.
Hội nghị Thành Đô. Sai lầm nguy hiểm là Hội nghị Thành Đô 1990. Ba nhân vật chủ chốt hồi đó là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười thay mặt Đảng Cộng sản và Nhà nước VN đã cúi đầu nhận thần phục Trung cộng. Theo Nguyễn Cơ Thạch ( Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hồi đó) thì với hội nghị này VN sắp bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới đầy nguy hiểm. Đó là hành động ngoại giao đầu hàng.
Thuật đu dây. Hiện nay nhiều người cho rằng VN đang thực hiện thuật đu dây giữa Mỹ và Trung quốc. Người này cho là đúng, là hay, ngươì khác lại phê là sai, là dở. Xem qua lịch sử vài ngàn năm của các nước thấy rằng đã có những nước giữ được ổn định và phát triển nhờ thuật này, nhưng cũng nhiều nước vì đu dây mà lâm vào cảnh lên bờ xuống ruộng, đấy nhân dân vào cảnh lầm than. Nước Trịnh thời Xuân Thu ( Đông Chu Liệt Quốc ) là một thí dụ. Để sử dụng có hiệu quả thuật đu dây cần phải có một số điều kiện . Thế mà theo tôi VN đang thiếu các điều kiện đó.
Tạm kể một vài sai lầm và thất bại điển hình, còn có thể kể ra nhiều nữa, nhưng tạm dừng để bàn thêm chuyện khác.
Điều quan trọng trong ngoại giao ( cũng như trong các quan hệ khác ) là phải biết mình, biết người, phải tôn trọng phương châm đối ngoại trên cơ sở của đối nội và phục vụ cho đối nội, đối với các nước bạn bè phải trung thực, chân thành, hạn chế đến xóa bỏ bệnh sĩ.
Về biết mình. Trong nhiều năm chúng ta tự đánh giá quá cao, như là lãnh đạo vô cùng sáng suốt, nhân dân vô cùng anh hùng, rồi tự huyễn hoặc, tự vẽ phấn tô son. Biết đâu rằng thực chất trong nhiều năm VN chỉ là anh lính xung kích của phong trào cộng sản, mà cụ thể là nằm dưới sự điều khiển của Trung quốc. Tự hào là một nước nhỏ mà đánh thắng 2 đế quốc lớn. Thực ra có phải như thế đâu. Trong chiến tranh ta chỉ là anh lính xung kích, đánh Mỹ thay cho Liên xô và Trung quốc. Ta bắn rơi được vài ngàn máy bay Mỹ, giết được vài vạn lính Mỹ thì ngược lại Mỹ cũng gây ra cho ta những thiệt hại nặng nề hơn về của và người. Ta nói Mỹ vào xâm lược VN, ta đã đánh thắng và đuổi đi. Mỹ nói họ vào để ngăn chặn tên lính xung kích của cộng sản Trung quốc lan xuống vùng Đông Nam Á. Nhận thấy rằng bằng một vài cách khác ngăn chặn được rồi, đạt mục đích rồi thì họ rút ra, họ không có mục đích xâm lược, họ muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Trong khi ta đem lực lượng không những của toàn quốc mà còn có một phần của Trung quốc và Liên xô để đánh nhau với một đội quân vài vạn người, chỉ gồm một phần nhỏ của quân đội Mỹ mà cho rằng đánh thắng đế quốc Mỹ thì quả thật đã huyênh hoang một tấc đến trời. Cho rằng đã đánh thắng được Pháp và Mỹ thì rồi việc gì ta cũng làm được là một lập luận vô cùng sai trái, thế mà người ta cứ tuyên truyền mãi. Đến thời kỳ xây dựng trong hòa bình mới lộ rõ mọi sự yếu kém và sai lầm. Nhưng đã lỡ mồm khoác lác về tài năng, về sáng suốt. Đâm lao phải theo lao, phải tiếp tục tuyên truyền ta khôn, ta giỏi.
Về biết người . Trong chiến tranh với Mỹ nhân dân thế giới thương hại nhân dân VN, ủng hộ, cứu trợ cho nhân dân chứ họ chẳng yêu quý gì thể chế cộng sản mà nhà nước theo đuổi. Và họ thương hại chứ không nể trọng. Nếu có cảm phục thì chỉ cảm phục trong thời gian ngắn về đức tính chịu hy sinh gian khổ trong chiến tranh, còn trong việc đấu tranh cho tự do, dân chủ , nhân quyền thì họ coi thường, coi khinh. Với nạn thuyền nhân thì họ càng kinh ngạc và phẩn nộ. Ngày nay một số không ít người Việt ra nước ngoài bị nhiều người sở tại cánh giác, xem là bọn ăn cắp và gây rối.
Với các quốc gia, chúng ta có quan hệ ngoại giao với rất nhiều nước, ký nhiều hiệp định hợp tác toàn diện và chiến lược, nhận được một số viện trợ ODA, nhưng thử hỏi có nước nào thân thiết với ta như kiểu quan hệ giữa Mỹ với Nhật hoặc với Nam Hàn. Mang tiếng có nhiều bạn nhưng khi mà bị mắc kẹt vào ý thức hệ cộng sản thì không thể nào có bạn thân thiết trong những nước theo chế độ dân chủ. Họ đi lại, quan hệ với ta chỉ là theo hình thức ngoại giao.
Quan trọng là ta đã biết Mỹ và Trung quốc đến đâu. Với Mỹ, từ trước 1945 Hồ Chí Minh rất muốn thân thiện. Vì kiên trì cộng sản và dối trá mà không nhận được giúp đỡ, chúng ta bị Mao Trạch Đông lừa gạt mà nhận định sai về họ, xem là kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tuy đã có thay đổi nhiều nhưng vẫn chưa đạt được như mong muốn. Với Trung quốc, quan hệ trong lịch sử là khá phức tạp giữa phụ thuộc, bạn, thù. Ngày nay đa số nhân dân xem Trung quốc là kẻ thù truyền kiếp với tham vọng bá quyền, muốn thôn tính Việt Nam; nhưng lãnh đạo nhà nước lại chịu khuất phục, chịu lệ thuộc và đàn áp những người dân chống Trung quốc. Đây là một mâu thuẩn quá nặng nề, làm hủy hoại sự thống nhất ý chí dân tộc.
Về đối nội. Quan trọng và cơ bản nhất của đối nội là giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, nó gồm cả 2 mặt : hợp tác và đấu tranh xử lý mâu thuẩn. Về vấn đề này ở Việt nam có nhiều quan điểm khác lạ với rất nhiều nước dân chủ. Với một hệ thống 3 tầng ( đảng, chính quyền, mặt trận ) chồng chéo , dẫm đạp lên nhau, sự quản lý nhà nước của VN thuộc loại tồi tệ, kém hiệu quả, lãng phí vào loại bậc nhất thế giới. Chính quyền tồn tại nhờ vào 2 thế lực chính, công an và tuyên truyền, nhưng lại bất lực trước nhiều tai họa của xã hội, của môi trường. Mấu chốt nhất là lãnh đạo vẫn kiên trì con đường Mác Lê XHCN, họ cho rằng đó là nguyện vọng của toàn dân, trong lúc dân chẳng được hỏi ý kiến.
Phân tích qua như vậy để thấy đối ngoại của VN không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc xuất phát từ đối nội và quay về phục vụ cho đối nội.
Về bệnh sĩ. Đây là loại bệnh không gây chết người, lại làm cho người ta sung sướng, tự hào trong chốc lát, nhưng mang lại tai họa trong bản chất và lâu dài. Có lẽ người Việt mắc bệnh sĩ thuộc hạng nặng nhất thế giới. Bệnh này có nguồn gốc từ trong những yếu kém của nền văn hóa dân tộc, gặp được môi trường thuận lới là đường lối tuyên truyền của cộng sản mà nó phát triển nhanh chóng, rộng khắp.
Trong nước bệnh sĩ biến tướng ra bệnh thành tích dổm, là việc chạy khen thưởng, huân chương, danh hiệu anh hùng, danh hiệu gia đình và đơn vị văn hóa, nông thôn mới, bằng cấp dổm các loại v.v…
Ra nước ngoài, hễ thế giới có cuộc thi gì thì Việt Nam cố chọn vài người, tập trung huấn luyện, bồi dưỡng thật lực, không kể tốn kém, đi thi mà kiếm lấy huân chương, để khoe khoang là chủ yếu, chẳng cần đại diện cho một cơ sở nào, còn tình trạng lạc hậu của các nghành nghề thì mặc kệ trời đất. Thì đấy, năng suất lao động thuộc loại thấp nhất mà thợ đi thi tay nghề đạt huy chương vàng, giỏi nhất khu vực; giáo dục xuống cấp trầm trọng mà học sinh thi thế giới môn nào cũng được vài huy chương vàng bạc.
Hễ thế giới có Công ước gì mới thì VN là một trong những nước ký đầu tiên. Ký xong, tuyên truyền xong rồi để đó, không cần thực hiện. Có được các di sản vật thể và đặc biệt là phi vật thể nào thì cố mà chạy để UNESCO công nhận. Một số điệu hò, điệu hát thi nhau chạy, theo kiểu “ con gà tức nhau tiếng gáy”. Cái điệu hát A ở vùng kia được rồi thì điệu hò B của vùng ta tốn bao nhiêu cũng cố mà chạy cho được chứ. Phải chi tiêu khá tốn kém để chạy được rồi, tổ chức ăn mừng rồi, xong thì để đó, chẳng dùng làm gì, chẳng mấy ai nhớ tới, chỉ là để thỏa bệnh sĩ trong thời gian ngắn.
Ở Liên hiệp quốc, có cơ quan gì thì ta cố chạy, cố vận động các nước ủng hộ để vào cho được. Vào được Hội đồng nhân quyền trong khi nhân quyền trong nước bị nhiều nơi lên án. Vào được Hội đồng bảo an trong lúc đất đai và biển đảo mất dần vào tay bọn bành trướng Trung cộng. Vào được Ủy ban luật pháp trong khi những bản án oan sai và bị tẩy chay ngày càng nhiều. Như vậy phải chăng vào các co quan của Liên hiệp quốc là chỉ để thỏa mãn bệnh sĩ.
Rồi rất nhiều đoàn cấp cao tấp nập đi lại thăm nhau. Trong việc thăm này cái lợi cho những người tham gia, sự tốn kém của công quỹ là rõ ràng, còn Quốc gia, nhân dân được gì không, hiệu quả như thế nào thì chưa thấy ai khảo sát và tổng kết.
Vài lời chốt lại. Cứ nghe báo cáo và tuyên truyền một chiều thì mọi người tưởng nhầm là thành tích và tài năng đối ngoại của chúng ta trong hơn 70 năm qua thuộc loại nhất nhì thế giới và rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.
Viết ra vài điều phản biện, lật lại để xem mặt trái của tấm huân chương, may ra có thể cung cấp được vài thông tin và ý kiến cho những người tử tế, còn có lương tri để tránh bớt nhầm lẫn, chỉ biết nghe tuyên truyền một chiều.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
