Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Thi pháp học Trần Đình Sử


Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử. Ảnh: FB Trần Đình Sử.


Chu Mộng Long

Tôi gọi là thi pháp học Trần Đình Sử như tôi đã từng viết, rằng thi pháp học thế giới khi được truyền bá vào Việt Nam đã “Trần Đình Sử hóa” một cách sâu sắc. Đến lượt những người kế thừa, ảnh hưởng thi pháp học Trần Đình Sử đã sử dụng toàn bộ lý thuyết của ông làm công cụ cho một cuộc đổi mới căn bản nghiên cứu, phê bình văn học tại Việt Nam.

Công bằng mà nói, trước và cùng thời Trần Đình Sử, không phải không có người biết đến thi pháp học. Ở miền Nam trước 1975, thậm chí ngoài Bắc trước và trong thời đổi mới cũng đã có người tiếp cận lý thuyết và ứng dụng thi pháp học. Nhưng thi pháp học vẫn là một cái gì mơ hồ trong khái niệm, trong hệ thống thuật ngữ và phương pháp luận. Ở miền Nam, thi pháp học nép mình trong các lý thuyết lớn khác như Cấu trúc luận, Hiện sinh luận, Phân tâm học…; trong khi ngoài Bắc, thi pháp học như là phái sinh của ngôn ngữ học, kí hiệu học, phong cách học. Không phủ nhận những công trình này có những thành tựu không nhỏ trong nghiên cứu phê bình văn học tại Việt Nam.

Tuy nhiên, những thành tựu ấy không đủ năng lượng cho một sự bùng nổ để làm đổi mới căn bản nghiên cứu phê bình văn học đang thống trị: nghiên cứu, phê bình xã hội học dung tục. Phải bắt đầu từ Trần Đình Sử với cả loạt công trình: Thi pháp thơ Tố Hữu(1987), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1989), Thi pháp Truyện Kiều (2002), Dẫn luận thi pháp học (1998, 2004)…, khuynh hướng nghiên cứu, phê bình xã hội học dung tục mới thực sự bị đẩy ra bên lề cho những người phê bình không chuyên.

Thi pháp học Trần Đình Sử không phủ định các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình văn học khác, nhưng có giá trị đả kích mạnh mẽ vào khuynh hướng nghiên cứu, phê bình xã hội học dung tục, bởi chính khuynh hướng này là thủ phạm cưỡng hiếp và giết chết văn học, từ sáng tạo đến dạy học và đọc văn.

Tuyên truyền cho một cuộc cách mạng về nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam không chỉ có Trần Đình Sử, nhưng sức ảnh hưởng mạnh mẽ từ thi pháp học Trần Đình Sử là điều không thể phủ nhận. Một sự thật hiển nhiên, sức ảnh hưởng ấy một phần nhờ lợi thế của nhà sư phạm – Trần Đình Sử đưa lý thuyết của mình vào giảng đường đại học, đào tạo sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh với hàng triệu sản phẩm. Nhưng điều quan trọng hơn, những gì phức tạp của thi pháp học thế giới, những gì mơ hồ và hạn hữu của thi pháp học từng truyền bá ở Việt Nam đã được ông tổng hợp, tháo gỡ, tường giải và phát triển (theo quan điểm của ông) trong một hệ thống nhất quán, khoa học, đến mức ai cũng có thể tiếp thu và áp dụng trong việc nghiên cứu, phê bình văn học.

Tất nhiên, việc áp dụng tùy tiện làm méo mó thi pháp học lại là chuyện khác. Sự thật, áp dụng thi pháp học không dễ dãi như trước đó những người không cần học văn vẫn viết nghiên cứu phê bình văn học. Thi pháp học thể hiện một trình độ khác hẳn với nghiên cứu, phê bình “tay ngang”.

Tôi nhấn mạnh điều tôi đã nói: hệ thống các vấn đề của thi pháp học được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam là của Trần Đình Sử trong sự kế thừa thi pháp học thế giới nhưng cũng đầy sáng tạo với hệ thống và cách kiến giải riêng. Từ giáo trình và những công trình đầu tiên với hệ thống: Quan niệm nghệ thuật về con người, Không gian nghệ thuật, Thời gian nghệ thuật, Thi pháp chi tiết nghệ thuật, thi pháp cốt truyện, Thi pháp kết cấu, Thi pháp lời văn, sau khi được phổ biến gần như đã được sử dụng đến quen thuộc trong các luận văn, luận án và các công trình khác nhau. Đến lần tái bản này, Trần Đình Sử bổ sung thêm, điều chỉnh và sáp nhập với một số tên gọi chương mục mới: Tác giả và kiểu tác giả, Tính cấu trúc và cấu trúc thể loại, Cấu trúc và tính nội dung của truyện kể, Tổ chức chủ thể của văn bản, Ngôn từ nghệ thuật. Lần đầu tiên tại Việt Nam, thi pháp học được diễn dịch một cách hệ thống với phương pháp luận và thao tác ứng dụng hiển minh. Việc sử dụng cả hệ thống vấn đề hay một vấn đề nào đó của thi pháp học Trần Đình Sử là hiển nhiên, nhưng copy của ông thành của mình rồi phủ nhận ông là trò láu cá trong học thuật.

Thật thú vị là những người lên tiếng chê Trần Đình Sử và “trường phái” Trần Đình Sử, nhưng vẫn sử dụng ông một cách vụng trộm, dù là sử dụng ở cấp độ nào đó.

Vì sự nhiễu nhương của học thuật, lần tái bản này, Trần Đình Sử buộc phải nói rõ quan điểm và đóng góp của mình: “Tôi quan niệm thi pháp học nghiên cứu văn học như những thế giới nghệ thuật mà tương ứng với nó là các ý thức nghệ thuật. Nó khám phá các nguyên tắc tạo nên các thế giới nghệ thuật phân biệt với thực tại, bắt đầu từ quan niệm nghệ thuật, tiếp theo là các hình thức nhân vật, không gian, thời gian, kiểu sự kiện, cốt truyện và cuối cùng là cấu trúc, văn bản với các hình thức ngôn từ. Hình thức ngôn từ mang toàn bộ cái nhìn của nhà văn và các phương diện nêu trên của thế giới nghệ thuật” [tr.441]. Quan niệm này có kế thừa nhưng không hoàn toàn sao chép từ thi pháp học thế giới, khác nhiều so với thi pháp học của từng trường phái như Hình thức luận, Phê bình mới, Cấu trúc luận, Ký hiệu học, Hiện tượng luận, thậm chí Hậu cấu trúc luận.

Trần Đình Sử không tự cho thi pháp học của mình là tất cả. Thi pháp học không là cả vũ trụ ôm trùm mọi nghiên cứu, phê bình văn học, nhưng cũng không là con đường hẹp và đi vào ngõ cụt. Thi pháp học là chân trời mở, muốn hay không muốn, nghiên cứu văn học và nghệ thuật nói chung đến lúc phải đoạn tuyệt với sự suy diễn chủ quan và căn bệnh xã hội học dung tục. Nghệ thuật phải bắt đầu bằng hình thức, sống bằng hình thức (Hegel). Tổ chức hình thức tự nó mang nội dung mà ông gọi là “hình thức của quan niệm”. Ông nhìn thấy sự copy Nga hay phương Tây, kể cả sự copy chính ông, đã không tránh khỏi đẩy thi pháp học vào sự thô thiển máy móc. Ông đề cao sự sáng tạo: “Tôi cho rằng bất cứ lý thuyết nào cũng có thể bị vận dụng thô thiển, không riêng gì thi pháp học, vấn đề là bản lĩnh của người nghiên cứu chứ không phải bản thân lý thuyết. Cho rằng thi pháp học đã lỗi thời là do không hiểu thi pháp học. Với thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của hình thức, thi pháp học là một lý luận và thao tác mở, có khả năng thu nạp các lý thuyết khác vào quỹ đạo tìm tòi các nguyên tắc, phương thức, phương tiện nghệ thuật. Ngay trong lý luận hiện tại, biết vận dụng thì thi pháp học vẫn có thể nêu ra nhận thức mới về một thế giới nghệ thuật nhất định.” [tr.447]. Ông cũng nhìn ra hạn chế của thi pháp học ở Việt Nam, trong đó có thi pháp học của ông, rằng “thi pháp học, phong cách học Việt Nam vẫn đi theo phương hướng chủ yếu của lý thuyết cấu trúc, hệ thống, chưa bước sang giai đoạn giải cấu trúc và hậu hiện đại. Mặc dù ở phương Tây đã có tiếng hô lên “tác giả đã chết”, song thi pháp học Việt Nam, tác giả vẫn còn ở vị trí trung tâm”. [tr.446]. Nhìn thấy để chính tác giả tự cải chính, tự phát triển hoặc gợi ý cho sự phát triển cũng là công lao của ông. Thì đấy, trong các công trình vận dụng thi pháp học tại Việt Nam, tác giả vẫn giữ ngôi thống trị khi người ta mượn tác phẩm để ngợi ca tác giả như nịnh thần xưa ngợi ca ông vua của mình. Trong khi tác giả, về bản chất, những gì thuộc về con người không xa lạ với anh ta.

Thật ngô nghê khi nhiều luận văn, luận án, công trình tách hai phần nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, trong đó, phần hình thức nghệ thuật lại vận dụng thi pháp học để kiến giải ngược lại nội dung, mà lại không thoát ra khỏi nội dung xã hội học dung tục. Cách làm đó tưởng là dung hòa hai cực đối lập, song thực chất là râu ông nọ cắm cằm bà kia làm méo mó thi pháp học đúng nghĩa.

Cuối cùng, Trần Đình Sử trăn trở làm thế nào để thi pháp học tiếp tục phát triển chứ không phải bị thay thế. Theo tôi, thi pháp học hiện đại không là hiện tượng đột biến mà có từ thời cổ đại khi các nhà mỹ học đã biết rõ nghệ thuật sống ở hình thức và tự thân hình thức mang nội dung của nó. Chỉ vì trong một thời gian dù không dài, từ khi xuất hiện tư tưởng nội dung quyết định hình thức, thậm chí cực đoan đến mức phủ định hình thức, người ta đã sát hại cách hiểu nghệ thuật đúng đắn đó. Cái gì đúng sẽ luôn được kế thừa và phát triển theo nhu cầu thời đại. Ở phương Tây, khi chủ nghĩa hình thức, lý thuyết cấu trúc – kí hiệu bị phản biện, thi pháp học vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Giải cấu trúc (Deconstruction)  tự nó đang là một thi pháp học mới. Giải cấu trúc bắt đầu từ văn bản và ký hiệu của văn bản, nhưng bằng các thao tác phá hủy sự cố kết giả tạo của cấu trúc – hình thức do tác giả làm ra để đi đến tái tạo một cấu trúc – hình thức mới trên tinh thần sáng tạo của bạn đọc. Nó giải các trung tâm, trong đó có huyền thoại tác giả đang thống trị dai dẳng trong đời sống văn học. Nó hiện thực hóa một lối đọc hiểu văn bản theo nguyên lý differance – mỗi diễn giải luôn gắn liền với một không – thời gian khác biệt. Nó xác định cấu trúc – hình thức không là hệ thống khép kín, tự trị lệ thuộc duy nhất vào ý thức chủ quan của tác giả. Văn bản nghệ thuật là một hệ thống kí hiệu đặc thù, không tồn tại một cách diễn giải mà vô số cách diễn giải thông qua các tương tác đa chiều, trong bản thân văn bản và giữa các văn bản, trong ý đồ của tác giả và những gì ngoài ý đồ – giữa bạn đọc với bạn đọc. Nó là hệ thống mở phi tâm, bên dưới ý thức chủ quan của tác giả là vô thức của các cá nhân và vô thức của cả cộng đồng với tất cả sự đa dạng, sinh động của tinh thần. Thi pháp học giải cấu trúc, do đó, dung nạp cả phân tâm học, hiện tượng học, chú giải học để làm giàu cho nghiên cứu, phê bình thi pháp.

Sự giới hạn của Trần Đình Sử với tiêu đề Dẫn luận Thi pháp học văn học tưởng đóng khung ở nghệ thuật ngôn từ, nhưng thực chất đang gợi ý về một sự mở rộng cho các loại hình nghệ thuật khác trong nghiên cứu phê bình thi pháp. Thi pháp học đã vươn đếntính liên văn bản (Intertextiality), không chỉ giới hạn liên văn bản trong lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ mà còn liên văn bản với các hình thức nghệ thuật và các hình thức văn hóa khác nhau. Chính cái nhìn đó, giải cấu trúc phát hiện ra hình thức nghệ thuật là một trò chơi ảo của ký hiệu, biểu trưng, và quan trọng hơn, nó tìm cách đánh vỡ trò chơi ảo ấy để đi tìm sự thật bị giấu kín sau tầng tầng lớp lớp văn hóa che phủ theo thời gian. Giữa văn hóa và tự nhiên, giữa cấm kỵ và tự do, giữa kiểm duyệt và chống kiểm duyệt được đặt trong thế tương tác mạnh mẽ để giải triệt để các huyền thoại như một trò chơi của quyền lực đang thống trị.

Quy Nhơn, tháng 4 năm 2018

CML

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc: Cuộc chiến giành quân quyền vẫn chưa kết thúc?


Ngày 12/4, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã tổ chức tập trận Hải quân trên Biển Đông. Nhưng dưới chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình, tập trận Hải quân được cho là lớn nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) này lại bộc lộ những vấn đề khác.

Tập Cận Bình
Ông Tập Cận Bình phát biểu trước Hải quân (Ảnh cắt từ video CCTV)
Theo trang mạng Quân đội Trung Quốc (81.cn) đưa tin ngày 12/4, trong bài phát biểu khởi động diễn tập quân đội, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh việc xây dựng một lực lượng Hải quân mạnh mẽ hiện nay là rất cấp bách, tuyên bố muốn xây dựng Hải quân Trung Quốc thành lực lượng hải quân hàng đầu thế giới.
Theo thông tin, tham gia vào hoạt động diễn quân này có 48 tàu chiến, 76 máy bay, hơn 10.000 quân lính, là hoạt động diễn quân trên biển lớn nhất lịch sử ĐCSTQ.

Tình hình khẩn cấp?

Theo nguồn tin, trong trong bài diễn văn khai màn tập trận Hải quân, ông Tập nhấn mạnh việc xây dựng lực lượng hải quân Trung Quốc hùng mạnh là nhiệm vụ rất cấp bách. Do vấn đề chống tham nhũng, Hải quân Trung Quốc đã không thể hùng mạnh như mong đợi.
Thực tế, qua thông điệp trả lời liên quan đến lính Hải quân giải ngũ được gọi trở lại (ngày 12/7/2016) cho thấy trong tập trận hải quân Trung Quốc hai năm trở lại đây binh lính đã giải ngũ cũng phải tham gia.
Trước đó, ngày 17/6/2015, báo quân đội Trung Quốc đưa tin, từ ngày 13/6, trong 4 ngày tập trận trên biển ở Nam Hải (Biển Đông Việt Nam), ngoài những người lính đang làm nhiệm vụ còn có hơn 120 sĩ quan giải ngũ tham gia.
SCMP Hồng Kông (South China Morning Post) dẫn lời một quan sát viên quốc phòng cho biết, quân đội Trung Quốc triệu tập sĩ quan Hải quân giải ngũ tham gia tập trận trên biển cho thấy tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nhân sự có chuyên môn tốt chỉ đạo huấn luyện. Nếu không điều chỉnh vấn đề nhân sự yếu kém và chủ nghĩa quan liêu thì tương lai sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn.
Đối với việc triệu tập quân nhân về hưu tham gia tập trận, Nhân dân Nhật báo và Hoàn cầu Thời báo Trung Quốc dẫn lời một đại tá quân đội giấu tên chuyên nghiên cứu về lực lượng hải quân cho biết, “Nhiều nhân viên kỹ thuật có tài của quân đội Trung Quốc bị bạc đãi, không được trọng dụng, nguyên nhân quan trọng do nạn tham nhũng mà ra”.
Thời điểm nhạy cảm trước Đại hội 19 vào năm ngoái đã xảy ra scandal Chính ủy hạm đội Hải quân Hoàng Hồng Phi (Huang Hongfei) bất ngờ chết trong phòng sau khi bị say rượu. Ngay thời điểm chiếc tàu khu trục Nam Kinh 052D tiên tiến nhất thuộc hạm đội Biển Đông đang trong giai đoạn thử nghiệm thì Chính ủy phụ trách lại thiệt mạng, vụ việc làm các quan chức cấp cao quân đội vô cùng căng thẳng.
Nhật báo Apple Hồng Kông có chỉ ra, tàu khu trục Nam Kinh là loại mới nhất, rất quan trọng với Hải quân Trung Quốc, sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh Hải quân, thậm chí có nghi ngờ vụ việc liên quan đến điều tra tham nhũng.
Theo Đài phát thanh Á châu Tự do (RFA) đưa tin ngày 21/9/2017, giai đoạn đầu tập trận Hải quân chung “Liên hợp trên biển – 2017” giữa Trung Quốc và Nga kéo dài ba ngày, kết thúc ngày 20/9. Trong lần diễn tập này, Thủy quân lục chiến Trung Quốc và Nga đã thi đấu cùng nhau. Thông tin dẫn nguồn tin từ tờ “Ngôi sao Đỏ” (Red Star) của Nga cho biết quân Nga đã chiếm ưu thế tuyệt đối trong các kỹ chiến thuật trận chiến. Trong thi đấu bắn súng thật và tên lửa chống tăng, độ chuẩn xác của quân Nga cũng vượt trội.

Sóng ngầm mua quan bán chức vẫn mạnh mẽ

Nhiều quan sát cho rằng Trung Quốc thời ông Giang Trạch Dân nắm quyền là thời mà tình trạng mua quan bán chức bùng nổ nhất. Một trong những thân tín của ông Giang là cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Quách Bá Hùng từng nói: “Thay đổi ta thì vẫn còn người của ta.” Con trai Quách Chính Cương của ông ta cũng nói: “Một nửa số cán bộ quân đội là gia đình ta đưa lên.”
Giống như toàn bộ quân đội ĐCSTQ, tình trạng tham nhũng trong Hải quân cũng tràn lan.
Trong những năm gần đây, Hải quân Trung Quốc đã liên tục bị ông Tập Cận Bình thanh lọc. Kể từ sau Đại hội 18 ĐCSTQ, hàng loạt tướng lĩnh hải quân Trung Quốc bị công khai thông báo “ngã ngựa”, tiêu biểu như Thiếu tướng Trình Kiệt (Cheng Jie) là Phó trưởng tham mưu Hạm đội Bắc Hải, Thiếu tướng Uông Ngọc (Wang Yu) là Trưởng ban Trang bị Hạm đội Nam Hải.
Kể từ năm ngoái đến nay đã có nhiều tướng lĩnh bị thẩm vấn, tiêu biểu như Trung tướng Dương Thế Quang (Yang Shiguang) là Chủ nhiệm Ban Công tác Chính trị Hải quân, Thiếu tướng Lệ Giang Đàm (Li Jiangtan) là Phó Chính ủy Hạm đội Đông Hải, Thiếu tướng Lưu Hồng Thâm (Luu Hongshen) là cựu Tham mưu trưởng Hạm đội Đông Hải, Thiếu tướng Lưu Kế Trinh (Luu Jizhen) là Trưởng ban Hậu cần Hạm đội Đông Hải. Có thông tin cho rằng cựu Chính ủy Hải quân Trung Quốc Hồ Nghiêm Lâm (Hu Yanlin) cũng đã bị điều tra.
Ngày 1/9 năm ngoái, Kyodo News của Nhật Bản đưa tin, cựu Tư lệnh Hải quân Ngô Thắng Lợi (Wu Shengli) sắp giải nhiệm vào tháng 1/2018 nhưng đã bị bắt điều tra “vì vi phạm kỷ luật”. Tuy nhiên, thông tin này chưa được chính thức xác nhận.
Bên cạnh đó là tình trạng nhiều sĩ quan hải quân tự sát. Ngày 02/9/2014, Thiếu tướng Hải quân Khương Trung Hoa (Jiang Zhonghua) là Trưởng ban Trang bị Hạm đội Nam Hải nhảy lầu tự sát tại Chiết Giang. Ngày 13/11 năm đó, Phó Chính ủy Hải quân Mã Phát Dương (Ma Fayang) nhảy lầu tự sát ngay tòa nhà trụ sở Hải quân Trung Quốc, thông tin cho rằng quan chức này bị yêu cầu đến “nói chuyện” với Ban Kiểm tra Kỷ luật Quân đội.
Vào ngày 13/8/2016, Đại tá Hải quân Lý Phụ Văn (Li Fuwen) nhảy lầu tự tử tại Trụ sở Hải quân Bắc Kinh.
Theo trang tin DuoWei New (trụ sở tại Mỹ) đưa tin ngày 30/12/2017, Đại tá Hải quân Tôn Hữu Thắng (Zong Yousheng) là Chủ nhiệm Ban Chính trị Bộ đội 92609 đã tự tử thiệt
Trong những tướng lĩnh tự sát, nhiều người bị cho là liên quan đến che chở cho phe cánh. Trang kết nối weixin Shiju-yan từng chỉ ra, nhân sự quân đội được ông cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng cài cắm còn nhiều hơn cả ông Từ Tài Hậu. Phó Chính ủy Hải quân Mã Phát Tường (Ma Faxiang) nhảy lầu tự tử có liên quan đến Quách Bá Hùng. Quan chức này chọn cách tự tử để bao che cho hàng loạt đồng bọn, lễ tang cũng được tổ chức theo quy cách cao cấp. Nhưng sự cố này lại làm ông Tập Cận Bình tức giận, cho rằng có nhiều vấn đề trong giới tướng lĩnh cấp cao hải quân.
Kể từ năm ngoái, hàng ngũ lãnh đạo hàng đầu của Hải quân đã được điều chỉnh liên tục, Tư lệnh Hải quân cũng bị thay thế vào tháng 1/2017. Tháng 1/2018, Tư lệnh Hạm đội Biển Đông là Trung tướng Thẩm Kim Long (Shen Jinlong) được thăng chức Tư lệnh Hải quân Trung Quốc thay ông Ngô Thắng Lợi, là trường hợp đầu tiên được thăng chức trực tiếp từ vị trí Tư lệnh Hạm đội lên thẳng làm chỉ huy lực lượng Hải quân. Nguồn tin cho biết ông Thẩm Kim Long được chính ông Tập Cận Bình đưa lên phá cách, cho thấy ông Tập hoàn toàn mất lòng tin vào giới lãnh đạo hàng đầu Hải quân.
Ngoài ra, chỉ trong tháng Chín năm ngoái, ông Tập Cận Bình đã liên tục cho người “nhảy dù” kiểm soát lực lượng Hải quân, trong đó có ba vị trí hàng đầu “nhảy dù”, đó là Tần Sinh Tường (Qin shengxiang) làm Chính ủy Hải quân, Lưu Huấn Ngôn (Liu Xunyan) làm Phó Chính ủy, Phùng Đơn Vũ (Ping Danyu) làm Phó Tư lệnh Hải quân.
Ngày 26/4 năm ngoái, Trung Quốc hạ thủy hàng không mẫu hạm đầu tiên do nước này sản xuất, nhưng không khí nội bộ lực lượng Hải quân lại u ám. Ông Tập Cận Bình đã không tham dự lễ hạ thủy như nhiều nguồn tin đã đưa, trong khi cả Tư lệnh Hải quân khi đó là ông Ngô Thắng Lợi cũng bất ngờ vắng mặt.
Sau đó, khi ông Tập Cận Bình đi thị sát Hải quân vào sáng ngày 24/5 đã có bài phát biểu, một lần nữa lại yêu cầu Hải quân “phải quét triệt để ảnh hưởng độc hại của Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu”.
MingPao của Hồng Kông có bình luận, “Dường như thanh trừng nội bộ của Hải quân vẫn chưa kết thúc, không loại trừ còn những tướng lĩnh cấp cao hơn bị xử lý.”
Ngay sau ngày bế mạc Đại hội 19, ngày 26/10/2017 ông Tập đã ngay lập tức tổ chức một cuộc họp quân sự cấp cao và đưa ra sáu “cần thiết” đối với quân đội, trong đó “lòng trung thành” được đặt đầu tiên.
Sau đó Nhật báo Apple Hồng Kông đã có bài viết cho rằng, hiện vẫn còn có vấn đề với quân đội của ông Tập Cận Bình. Tác giả bài viết nhận định cải cách quân đội của ông Tập vẫn chưa thể kết thúc, cuộc chiến bảo vệ quyền lực trong quân đội vẫn đang hiện hữu.
Huệ Anh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người dân Đồng Tâm kỷ niệm ngày đứng lên chống lại nhóm lợi ích cướp đất...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thấy gì qua vụ Mỹ và đồng minh tập kích Syria bằng tên lửa hành trình



FB Quang Phan
Một viên thiếu tướng ở Việt Nam đã nói rằng "Vụ tấn công của Mỹ-Anh-Pháp đã bị bẻ gẫy - Thắng lợi của Nga và Syria". Anh ta viện dẫn ra rất nhiều lý lẽ, nhưng lý lẽ ấy phù hợp với việc dạy cấp hai trường làng và nói khoét cho đám học trò nghe. Kỳ khôi là anh ta đã lên báo, làm xấu hổ cả quân đội Việt Nam (khi có một vị tướng như vậy).

Vậy, thấy gì qua vụ Mỹ và đồng minh tập kích Syria bằng tên lửa hành trình?

1. Sự tủi hổ của Putin

Sáng ngày 14/4, bất chấp sự hăm dọa từ Nga Sa Hoàng, Mỹ và hai nước đồng minh chủ chốt là Anh và Pháp đã trút xuống Syria khoảng 105 quả tên lửa hành trình các loại. Tủi hổ nhất có lẽ là Sa hoàng Putin, Đại sứ Nga tại Hoa Kỳ phải nói rằng: Xúc phạm Tổng thống Putin là điều không thể chấp nhận được

2. Vũ khí mới chứng tỏ uy lực

Nếu như Tomahawk nổi danh là sứ giả chiến tranh, thì Storm Shadow và SCALP đều là những tên lửa hành trình mới xuất hiện từ đầu TK. Qua những lần can thiệp vũ trang tại Lybia, Syria, 02 loại tên lửa này đã chứng tỏ được uy lực và tính chính xác của mình.

3. Tính chính xác cao độ của vũ khí Phương Tây và lời hứa của một Siêu cường.

Sáng nay, báo chí đưa tin cuộc sống của người dân Syria tại Damascus vẫn diễn ra bình thường. Đường xá vẫn tắc, người dân thành phố này vẫn uống coffee, đi chợ và mua sắm... Điều này cho thấy tính chính xác rất cao của các loại tên lửa do Mỹ và Đồng Minh sử dụng.

Các căn cứ quân sự (đã được phía Syria sơ tán người), các căn cứ được coi là nơi Syria nghiên cứu và chế tạo vũ khí Hóa học bị tấn công nhưng cuộc sống người dân không hề bị ảnh hưởng. Mỹ đã tuân thủ lời hứa: "Chúng tôi làm tất cả những gì có thể để tối thiểu nguy cơ thương vong của dân thường".

4. Truyền thông bịp bợm từ phía Nga 

Phía Nga loan báo Syria bắn hạ 71 tên lửa hành trình của Mỹ và đồng minh (tương đương với 2/3 số tên lửa được Mỹ sử dụng trong cuộc tấn công này).

Bộ QP Nga thông cáo là Syria đã sử dụng các loại tên lửa S125, S200, Buk và Kvadrat nhằm bẻ gãy đòn tấn công của phía Mỹ và đồng minh. Đây đều là loại tên phòng không tầm trung xa.

Loại vũ khí phía Syria khả dĩ có thể bắn chặn được tên lửa của liên quân là Pantsir-S1 đã không được sử dụng - Do lo ngại bị Liên quân áp chế, tấn công.

Trong khi đó Tomahawk, Storm Shadow và SCALP đều là loại tên lửa bay bám địa hình, độ cao bay chỉ khoảng vài chục met so với mặt đất, có tính năng tàng hình. Việc sử dụng tên lửa phòng không tầm trung - xa để chống lại những tên lửa như vậy là không hiệu quả.

Tự bản thân thông tin đã nói rõ sự phi lý, bịp bợm từ phía truyền thông chính thống của Nga. Sự phi lý ấy không thể gột mặt cho Putin được, hãy về mặc áo đàn bà và tiếp tục khóc đi ông.

5. Anh tướng nhà quê

Một viên thiếu tướng ở Việt Nam đã nói rằng "Vụ tấn công của Mỹ-Anh-Pháp đã bị bẻ gẫy - Thắng lợi của Nga và Syria". Anh ta viện dẫn ra rất nhiều lý lẽ, nhưng lý lẽ ấy phù hợp với việc dạy cấp hai trường làng và nói khoét cho đám học trò nghe. Kỳ khôi là anh ta đã lên báo, làm xấu hổ cả quân đội Việt Nam (khi có một vị tướng như vậy).


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La


Hai trận mưa đá trong một ngày khiến hàng chục hecta mận, mơ sắp thu hoạch tại Mộc Châu bị hư hỏng, người dân mất trắng.

Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
Hai trận mưa đá lúc chiều tối ngày 14/4 (cơn mưa thứ nhất từ 17h đến 17h40, cơn thứ hai từ 19h15 đến 20h) trên địa bàn huyện Vân Hồ và thị trấn Mộc Châu (Sơn La) khiến hàng chục hecta hoa màu, cây ăn quả của người dân bị ảnh hưởng nặng nề. Lượng mưa dày, đường kính hạt đá từ 2 đến 5 cm. (Ảnh: Minh Thảo)
Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
Mưa đá khiến mận rụng trải thảm trên mặt đất khắp các vườn mận tại nhiều xã như Nà Ka, Tân Lập, Vân Hồ, thuộc huyện Vân Hồ đúng vào thời điểm thu hoạch.
Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
Những quả mận đang vào thời điểm thu hoạch bị đá làm vỡ nứt, rơi rụng khắp nơi trong vườn. Quả mận khi rụng còn chưa chín nên cũng không thể tận dụng để làm gì.
Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
"Gia đình có 400 gốc mận còn 3 tuần nữa thu hoạch, trận mưa đá khiến mận rụng gần 90%. 100 gốc đào đang mùa quả chín của gia đình cũng bị rụng, tổng thiệt hại trên 200 triệu đồng", ông Sồng A Già, 55 tuổi, bản Chiềng Đi 2 (xã Vân Hồ, Mộc Châu, Sơn La) cho biết.
Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
Còn nhà anh Giàng A Sáng (49 tuổi, bản Chiềng Đi 2) có 130 gốc mận, hàng năm cho thu hoạch trung bình trên 10 tấn. Với giá ban buôn tại vườn là 15.000 đồng/kg, anh thu hơn 100 triệu đồng. "Tuy nhiên, cơn mưa đá tối qua làm rụng mất 70% số mận trên cây. Vụ này coi như mất trắng", anh xót xa.
Mận rụng như trải thảm sau mưa đá ở Sơn La
Những cây mận ngày hôm trước còn sum suê trĩu quả, nay trơ cành trụi lá. Chính quyền địa phương đang thống kê thiệt hại.
Thuỳ Dung - Hoàng Thành

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gửi ông Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng!


Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng.




Nhà báo Trần Ngọc Lam Giang
15-4-2018

Trước khi nói đến Luật Thuế tài sản đang gây phản ứng trong dư luận qua đề xuất nện thêm thuế với nhà ở trên 700 triệu, xe ô tô trên 1,5 tỉ, việc hàng chục năm qua, Bộ Tài chính áp thuế xe ô tô tới 200%, 300% tuỳ theo dung tích đã là việc kéo lùi lịch sử, kéo lùi văn minh, là điều không thể chấp nhận nổi.

Như tôi đã nói ở rất nhiều bài viết cả trên báo lẫn mạng xã hội này, việc áp thuế ô tô gấp 3 lần giá trị thực không những không hạn chế được lượng ô tô, không những không tạo ra động lực cho việc phát triển hạ tầng giao thông mà còn trái lại.

Những chiếc xe có giá 200-300 triệu đồng, là những dòng xe cực kỳ rẻ tiền, kém an toàn trên thế giới, qua cảng, về hãng vào showroom đã được bán với mức giá cả tỉ đồng.

Xe hơn 400 triệu đồng như Camry chẳng hạn bán với giá ngót nghét gần 2 tỉ đồng.

Phần lớn người tiêu dùng đều bị lừa vì cứ nghĩ rằng mình mua xe giá cao nghĩa là xịn mà đâu biết rằng đang bỏ cả tỉ đồng để rước về những chiếc xe ọp ẹp như giấy.

Tôi nói thẳng với Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng:

1. Oánh thuế cao xe hơi nhằm bảo vệ, phát triển ô tô nội địa ư?

Sau bao nhiêu năm, chúng ta có thứ gì?

2. Oánh thuế cao để hạn chế lượng ô tô ư?

Nếu một hộ gia đình đã nhất quyết phải mua ô tô thì họ đã tính rất kỹ, với bất cứ giá nào người ta cũng phải mua vì nhu cầu quá cần thiết.

Nhưng thay vì được mua những chiếc xe đúng giá trị, một mình chơi một kiểu: Toyota Yaris giá chưa tới 300 triệu về nện thuế, bán ra 748 triệu đồng; Corrolla Altis 18.000 USD về bán 800-900 triệu đồng; Toyota Landcruiser Prado 53.000 USD về bán gần 3 tỉ đồng…

Người tiêu dùng bắt buộc phải mua những chiếc xe ít tiền hơn – đương nhiên giá trị thực, chất lượng thực chỉ còn bằng 1/3 – có nghĩa là những chiếc xe vô cùng rẻ mạt, vô cùng thiếu tính năng an toàn so với số tiền 500 triệu đồng-700 triệu đồng-1 tỉ đồng bỏ ra.

3. Oánh thuế vì đường tắc, lấy tiền đầu tư hạ tầng giao thông ư?

Cũng chả phải nốt, đây hoàn toàn là nguỵ biện, đánh tráo khái niệm một cách cực kỳ tinh vi.

Đường tắc chỉ diễn ra ở một nhúm nhỏ phạm vi Hà Nội, SG và vài thành phố khác, cớ sao đem lý do này nguỵ biện cho 63 tỉnh, thành.

Và thử hỏi có được bao nhiêu con đường xây mới những năm qua mà không kèm trạm BOT??

Thưa ông Dũng, đã có quá nhiều người dân phải chết lãng xẹt vì tai nạn trong bối cảnh giao thông công cộng còn quá yếu kém, bất cập.

Phần đa trong số 100 triệu người dân phải đi lại, phó thác tính mạng trên những chiếc xe máy mong manh, hễ đụng là chết.

Xe hơi – phương tiện giao thông căn bản tại tất cả các nước cả trăm năm nay, phát minh của nhân loại để đảm bảo tính mạng, sự sống, là bạn của con người, giúp con người thụ hưởng, an toàn, hạnh phúc từ đâu trong con mắt những nhà làm thuế lại xem xe hơi là kẻ thù?

Đổi sinh mạng của hàng chục nghìn người chết vì tai nạn giao thông mà nguyên nhân thống kê phần lớn là đi xe máy (không thể mua ô tô do giá quá cao khi mà ở tất cả các nước, một chiếc ô tô cũ chỉ ngang với chiếc xe máy mới tại Việt Nam) mỗi năm, tương đương hàng vạn gia đình chia lìa, tang tóc: mẹ mất con, vợ mất chồng, ông bà mất cháu… để thu những đồng tiền như thế thật có đáng không?

Tôi muốn hỏi: Số tiền hàng triệu tỉ đồng thu được từ thuế (hàng trăm triệu tới hàng tỉ đồng/chiếc xe ô tô – 2,7 triệu xe) và xe máy (45 triệu xe) đang được sử dụng để làm gì, thưa ông???
 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vẫn còn nước mắt


Một người mẹ liệt sĩ bên mộ con trai. Ảnh: internet



Đỗ Duy Ngọc
15-4-2018

Tháng tư. Khi cái nóng miền Nam lên đến đỉnh điểm và cờ đỏ giăng đầy lối phố, là đến ngày kỷ niệm. Ngày mà cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cho rằng: Triệu người vui cũng có triệu người buồn.

Người bên thắng trận có triệu người vui, nhưng thật ra trong niềm vui cũng có chất chứa sâu kín nỗi buồn. Hàng ngàn thanh niên miền Bắc sinh Bắc tử Nam, đã đi và không về cho một chiến thắng cuối cùng. Họ nằm lại và cho đến giờ, cuộc chiến tranh chấm dứt đã 43 năm, gần nửa thế kỷ qua rồi, thịt xương của họ đã thành cát bụi, đã hoà lẫn với đất cát, tro than, cây cỏ. Người thân của họ vẫn trông chờ, tìm kiếm trong vô vọng.

Những bà mẹ miền Bắc chiều chiều vẫn ngóng về Nam, thắp nén nhang gọi hồn con về. Cắm nén nhang lên bàn thờ nhiều khi chỉ là khung ảnh trống không có hình, nhiều khi chỉ ghi một cái tên, cũng có khi là chân dung của một người rất trẻ. Họ ra đi trong chiến tranh và không trở về trong ngày hoà bình, thân xác của họ được vùi vội vàng đâu đó và bây giờ không còn dấu tích. Bạn bè, đồng đội trở về nhưng họ không về. Có người cho đến giờ vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ. Và hàng ngày những bà mẹ già buồn bã vẫn đợi tin con. Ngày lễ chiến thắng nhiều người vui nhưng mẹ lại buồn dù con mẹ là người lính của đoàn quân thắng trận.

Một người không về là nỗi đau không riêng người mẹ, nó là nỗi xót xa, khổ đau của cha, của anh em và còn là nỗi đau của người vợ mất chổng, những đứa con lớn lên không biết mặt cha. Chiến tranh đi qua như một con lốc dữ, để lại những nỗi đau không lấp được.
 
Hàng dãy mộ bia trùng trùng điệp điệp ở Trường Sơn, ở các nghĩa trang liệt sĩ, nhiều đến không còn nước mắt để khóc thương. 
Người ta có thể tung hô, hùng hồn đọc diễn văn, vui chơi với ngày chiến thắng. Nhưng những bà mẹ, người cha, người vợ làm sao vui khi vẫn chưa tìm thấy hài cốt người thân của mình, hay chỉ thấy con, cháu mình chỉ còn là nấm mồ hiu quạnh.

 
Một người mẹ liệt sĩ thăm mộ con. Ảnh: internet

Bên thua cuộc là hàng triệu người buồn. Họ bị mất nhiều thứ: công việc, nhà cửa, tương lai không biết về đâu? Là chia ly, là ly tán, là những bất hạnh dồn dập.

Họ cũng có những người thân cầm súng chết trong cuộc chiến. Và cũng có rất nhiều người không về. Trong cơn hoảng loạn của tháng ba, cả tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến bị kẹt lại ở biển Thuận An, pháo dội, súng nổ, nhiều người đã chết và vùi thây trong hố chôn tập thể. Trên con đường từ Phú Bổn về trong những ngày cuối tháng tư, bao nhiêu xác người đã nằm lại bên đường, họ nằm đó và cát bụi thời gian phủ thây họ, gia đình bặt tin và lấy ngày đó làm ngày giỗ. 

Những ngày cuối của cuộc chiến, xác người vẫn ngã xuống và nhiều người bây giờ cũng không tìm thấy xương cốt mộ bia. Rồi khi lá cờ của bên chiến thắng tung bay trên những thành phố, hàng ngàn người vào trại cải tạo, và hàng ngàn người cũng không trở về, họ chết và thân xác được chôn vội vàng giữa vùng đồi núi xa lạ hoang vu. Người thân của họ đi tìm mà mấy người tìm gặp. 
 
 
Nhiều người đã bọ mạng trong các “trại cải tạo” sau “ngày chiến thắng”. Ảnh: internet

Hàng trăm ngàn người đi về phía biển, hàng triệu người bất chấp hiểm nguy đi ra biển và hàng trăm ngàn người chôn vùi thân xác dưới đáy đại dương. Hàng trăm, hàng ngàn người đàn bà bị hãm hiếp trên con đường đi về phía biển ấy, có người bị chết xác quăng xuống biển, cũng có người đi được đến nơi và sống đến bây giờ, nhưng dấu tích của vết thương theo suốt đời họ, không xoá được. Có hàng trăm, hàng ngàn cô gái bị bắt đi và mấy chục năm rồi không tin tức, có thể họ chết lần mòn trong những căn nhà chứa ở Thái Lan. Thế giới cho rằng đó là cuộc di dân tồi tệ nhất của lịch sử.
 
  
Những người dân bỏ nước ra đi sau ngày hòa bình. Ảnh: internet

Nỗi đau tức tưởi đó làm sao quên, nên tháng tư đối với họ là tháng nước mắt.

Như thế, trong ngày chiến thắng của bên thắng cuộc, cả hai phía vẫn còn những nỗi đau khó xoá. Cả hai phía đều vẫn còn nước mắt. Nước mắt khóc cho một dân tộc bất hạnh có cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ hai mươi. Một cuộc chiến tranh giữa anh em mà đã 43 năm rồi vẫn chưa hàn gắn được. Thời gian đã trôi qua, cuộc chiến tranh đã lùi xa, nhưng VẪN CÒN NƯỚC MẮT.


Phần nhận xét hiển thị trên trang