Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Cái hố của chúng tôi - Dạ Ngân





Image result for cái hố

Màn hình hiện lên tin nhắn “Xem ti-vi thấy khu vực đó sạt lở, nhỏ có sao không?”.
Tôi trả lời không hề gì và hỏi thăm hai vợ chồng anh dạo này ra sao. Thực tình tôi chỉ muốn hỏi thăm một mình Tri. Vợ anh nghe đâu đang muốn rũ bỏ anh như vứt một tấm giẻ. Có thể, vì anh giống một tấm giẻ thật nếu chỉ xét thương tật và ngoại hình.
Ngồi bâng khuâng rất lâu bởi cái tin nhắn đó. Hỏi thăm thông thường thôi mà. Cái lý là vậy, lý cho vợ anh, cho bà con, cho lối xóm, những người quen biết chung của chúng tôi. Sâu xa, không chỉ có cái lý ấy. Cho đọc tin, chồng nhắc “Tết này nhớ G7 với báo Tết qua đường bưu điện cho anh ấy”.
Từ chỗ mà Tri hay nhắn tin hỏi về sạt lở tới nhà anh già một ngày đường. Xa và bứt rứt vì chỗ Tri là quê tôi. Ai người Việt đều có những chữ quê hương nhau cuống trong lòng, tôi đoan chắc. Nhưng tôi và Tri, đâu chỉ có vậy.
Trong những hình ảnh về con sông quê nhà, chiếc xuồng của Tri day dứt tôi nhiều nhất. Không, chính xác là Tri với chiếc xuồng ấy, Tri làm ra nội tâm của chiếc xuồng, như nhân vật chính với sân khấu trong một vở bi. Nhỏ như chiếc lá cũ, chiếc xuồng ấy, người đàn ông còn cũ hơn. Hoàng hôn, biền lá, lục bình và chim bìm bịp, như thể hợp lực nhau để khắc họa cho kỳ được một số phận.
Một lần tôi chủ ý đi xe ôm từ Vị Thanh về vịnh nhà để ghé lại với Tri. Mọi khi, vợ chồng tôi và những bà con trên Sài Gòn và trên tỉnh hay về qua Vị Thanh, đi luôn ô tô sâu xuống bến phà nhỏ, gửi xe ở đó và qua sông, đi bộ về vườn nhà. Chồng động viên “Ừ, em ghé đi, Tri là món nợ đâu chỉ chuyện ân tình”. Vợ chồng tôi hiểu nhau từ những câu rất ngắn. Xe ôm là tách ra, đi quá lên bến phà, rẽ phải, đường lổn nhổn đất và đá hộc. Bên kia con sông máu thịt là vịnh nhà của tôi và cả của Tri. Nhưng anh đã theo vợ về bên này sông, không phải anh yếm thế mà ra vậy. Vợ anh là con gái rựou của một góa phụ có thổ cư rộng và anh “là con trai chứ không phải con rể”, theo lời nhà gái trong ngày cưới.
Lần đầu tôi bước vào nhà Tri cho dù chúng tôi gặp nhau rất thường, mỗi năm ở bên vịnh nhà, trong ngày giỗ dượng cả tôi mà Tri gọi là bác ruột. Tôi có lỗi với Tri không, khi mà cả hai đã vào lục tuần tôi mới lần đầu đặt chân vào ngưỡng nhà anh? Không biết nữa, chỉ thấy ngậm ngùi khi ghé qua và càng ngậm ngùi hơn khi chợt nghĩ đến.
Tri ở cạnh nhà má vợ, tốt, quá tốt, ở riêng với cái thế của anh đỡ tổn thương hơn. Một khuôn rào bằng cây xanh tương xứng với một cốt cách. Vòm cổng bằng hoa giấy nhiều màu, bạch, vàng, phớt đỏ. Khu thổ cư cho thấy anh thừa hưởng rất đậm gene làm vườn của ba mình, cây vú sữa, cây mãng cầu dai, cây dâu, cây bưởi, cây khế, cây chanh, cây thanh long, mọi thứ. Ngôi nhà bê tông nhỏ nhắn, bước vào chạm ngay những chậu bon-sai hàng hiên. Một cái thùng bằng inox có giá đỡ chứa nước bơm từ giếng lên cho hệ thống nước ống và la-va-bô. Không trực tiếp thấy, tôi cũng có thể hình dung ra một cuộc sống trầm tư, cầu toàn, say mê hoàn thiện.
Nghe tiếng người, vợ Tri từ một căn nhà lá cuối vườn bước lên. Thì ra bếp thường xuyên là ở đó. Mái bếp lợp lá dừa nước, vách thưng ván xẻ, những chiếc cà ràng, cái gác nhỏ cất lá dừa phơi khô để nhóm lửa, khu chứa củi ngăn nắp như thể triển lãm và một chiếc giá võng gợi cảm trên nền đất nện bóng như sừng. Ngôi nhà và chái bếp như vậy mà vợ chồng trục trặc sao? Chồng tôi từng ước một ngôi nhà tiếp đất để đôi tay siêng năng của anh trổ tài, nhưng chúng tôi trót cả đời với nhà chung cư, đơn giản vì không đủ tiền để thỏa nguyện.
Vợ Tri gọi tôi bằng chị, chúng tôi bên này sông, bên kia sông, nhưng biết nhau từ nhỏ. Vẻ con một của chị ta vẫn vậy, nhàn nhã, cớm nắng, và chắc chắn là ít siêng năng. Đến tai tôi nhiều lời bình về chị ta, ỷ lại, phó mặc, gần đây lại đứng núi này trông núi nọ. Trong chuyện đôi lứa, tôi nghĩ, người phụ nữ nào cũng có thể ngóng xa ngóng gần khi chồng mình là một người thương tật cột sống, cột sống là sinh mệnh của sức khỏe, khả năng làm chồng và những khát vọng nữa. Tôi thương cả hai, dĩ nhiên lòng tôi bao giờ cũng nghiêng về Tri. Đã ngoài năm mươi, tóc chị nàng vẫn dợn sóng và đen ánh như xưa. Bộ đồ màu mỡ gà trông hơi phô, khiêu khích. Người phụ nữ nói năng dè dặt, thăm dò, hẳn chị ta biết tôi có nghe chuyện Tri bị vợ dọa bỏ.
Vợ Tri nói anh đang kiếm cá trên sông. Đúng như tôi từng hình dung, sông vắng, chiều chạng vạng, lục bình nhúc nhắc, biền lá thở dài và một cánh bìm bịp bay sợt qua, sãi cánh nâu sồng. Tôi được mời lên nhà chính, người đàn bà đi pha cà phê G7. Nhìn nhanh vô phòng sát vách kê xa lông, thấy chiếc giường đơn, cái tủ nhỏ, chao đèn và quyển sách để mở. Không thấy dấu ấn đàn bà ở phòng này, chắc trong kia mới là phòng của nữ chủ nhân. Hai người không có mối dây con cái, nhà cửa có thể ngăn nắp nhưng nó mãi mãi như vậy, một không khí tĩnh, tệ hơn, một không khí chết.
Tầm mắt thẳng với bến sông. Quá đỗi yên bình. Lá dừa nước giao nhau như mái vòm, sàn nước đóng bằng những miếng cau lão ghép, trông kỹ lưỡng trên mức bình thường. Tôi ngắm vuốt ngôi nhà. “Đừng nói là chính tay ổng làm nhà này nghen” – tôi nói với vợ Tri. “Ảnh làm thiệt chớ, thiết kế, chỉ huy thợ, đi lựa gạch, đi mua đủ thứ. Cái nhà bếp thì một tay ảnh từ đầu chí cuối. Đó là hồi trước, giờ… hết hơi rồi ”. Đúng, ngày trước vợ sẽ tít toét nói về chồng, mấy chục năm đã qua, thánh cũng thành kẻ bình thường huống chi Tri chỉ là người sống không thể thiếu cây gậy gỗ. Chúng tôi đưa đẩy với nhau đề tài ngày xưa Tri đi làm mộc, đi dựng nhà lấy tiền công trang trải cuộc sống của đôi vợ chồng mới ra riêng. Vợ được cưng, vợ phải dành sức lực để đẻ con nhưng những đứa con lần lượt ra đi khi còn chưa ra đời. Tri nghĩ có thể do mình cằn cỗi và vợ thì lấy chồng muộn, hay do trời chưa thấu cái tình của anh dành cho vợ. Anh không nhận đi làm mộc xa nhà nữa, để đỡ đần vợ, xô nước, thau giặt, con cá, bữa cơm. Anh còn nuôi cả heo nái để có tiền đắp đổi, nuôi con vịt con gà, lấy trứng bồi bổ cho cả hai. Dân quê kháo, nuôi nái lợi về tiền nhưng tổn về đức, thảo nào vợ không sinh đẻ nổi! Tri buông chăn nuôi, tuyệt vọng, quay ra làm vườn, sống cuộc sống thanh bần.
Chiếc xuồng về bến. Tôi lặng người ngắm anh từ xa, để một lần thấy anh gác dầm, buộc dây mũi, nhấc gậy và bước lên không gian mấy chục năm chồng vợ của mình. Không biết nhà đang khách, anh làm mọi việc chậm rãi, u buồn, một ngư ông không dám ước cá vàng, thong thả, như thể giờ đã đến cõi, cứ xoay vần cho hết cỡ đi, đây đâu có ngán. Anh đứng lên, gầy hơn nên trông cao hơn trước, bộ quần áo rách, tả tơi, kiêu bạc.
Tôi bước nhanh ra. Tri rạng rỡ vì bất ngờ. Nếu mảnh pháo ở cột sống không làm hai chân anh teo như thể gấp khúc thì anh cao vót và hàng ria mép lãng tử không thua cánh minh tinh. Tôi thích nhất ở anh hàng ria rất công phu này, nó thông tin về một khí chất. Ông lão đánh cá với giấc mơ đạm bạc và bình yên.
Nhỏ về vườn giỗ ông nội hả?”. Vợ anh cầm rổ đi lướt qua chúng tôi để đưa mớ cá dưới xuồng lên, không mừng không vui với thành quả của chồng. “Mấy khi nhỏ qua đây, ở ăn cơm với cá, nghen!”. Tôi lắc đầu. Sao cái gì ở anh, giọng nói, cách nói, những câu ngắn, những chữ thân thương lúc nào cũng làm tôi muốn trào nước mắt. Có thể ngồi ăn với vợ chồng anh được không, người đàn bà đang nổi loạn ấy? Tôi sợ những câu nói mất kiểm soát, ngại cả việc anh hay nhắn tin hỏi thăm tôi có thể bị hiểu lầm. Tôi nói không ở lâu được, mọi người đã về bên vịnh để cúng tiên thường. Anh không cầm giữ thêm, hướng tôi đi ra vườn. “Vậy để anh hái bưởi hái thanh long gởi về bển cúng ông”. Anh kéo chiếc thang tự đóng như thể mặt bàn nhiều nấc, chắc là chiếc bàn đặc biệt của gã thợ mộc đặc biệt. Anh làm được tất cả, trèo lên, hái trái và cẩn thận trèo xuống, không một lỗi nhỏ. Anh là vận động viên paralympic trong đường đua của chính mình.
Ông nội tôi và ông nội anh là bạn vườn tược, trà rượu từ thời thanh xuân. Sau đó ba tôi và ba anh là bạn trong ban đờn ca tài tử. Cuộc chiến giành độc lập trong tay người Pháp, ba tôi đi theo Việt Minh, ba anh ở nhà vì ông là ông giáo trường làng, bao nhiêu đứa trẻ cần ông. Sau năm 1954, ba tôi tiếp tục cuộc chiến thứ hai, ba anh vẫn là ông giáo, thầy của chị em nhà tôi. Tôi và anh cùng tuổi nhưng anh học sớm và học giỏi, lúc nào cũng ở lớp trên. Ngồi trong vườn thổ cư thấp thoáng bóng dáng khu vườn xưa nhà anh, duy hồi đó chưa có cây thanh long, chúng tôi im lặng hồi lâu, tuổi thần tiên của những đứa trẻ, không gì, không gì có thể quay ngược lại cho chúng tôi thời hoa trái ấy nữa
Năm Đồng khởi một chín sáu mươi, ba tôi bị người của phía Ngô Đình Diệm bắt, xử tù và đày đi đảo. Ở vịnh nhà, bỗng dưng ông giáo cũng bị bên trong bắt, đồn là chỉ điểm, đưa đi không tung tích. Ngẫu nhiên, ngẫu nhiên đến mức kỳ lạ, ngày ba tôi chết trong tù ngoài đảo thì cũng là ngày người của bên trong báo ba anh đã “đền tội”. Tội gì, không có câu trả lời. Xác đâu, mộ đâu, cũng không có câu trả lời. Chỉ có tin báo bằng miệng để gia đình biết ngày mà làm giỗ. Ông nội tôi đau buồn vì ba tôi là con một, thêm phẫn uất cho ba anh vì mọi chuyện rơi vào hoài nghi, mịt mùng. Có điều tạm gọi là an ủi – nếu đành nghĩ như vậy – thì ba tôi bị tra tấn chết chứ không bị lên máy chém, còn ba anh thì không chết bằng “mã tấu làm việc”!
Trường tan, vịnh nhà xơ xác chiến trận, nội của hai bên cũng lần lượt qua đời. Má tôi đẩy bầy con vào vòng tay đồng chí của chồng còn má anh thì đưa hai anh em Tri ra Vị Thanh ăn học tiếp. Bà giáo sống tạm trong vườn bà con ở vùng ven, anh trai Tri bị bắt quân dịch còn Tri, trong trận pháo kích của bên trong ra thị xã, một mảnh pháo đã giết chết ước nguyện học cao lên mãi của anh. Vườn hương hỏa nhà anh ở trong quê bị tịch thu, chia cho dân nghèo của xóm. Má tôi là gia đình có công cũng nhận được một suất ruộng nhà anh. Bà yêu cần nhận thổ cư, bà nói để nữa yên bình, sẽ trao nó lại cho bà giáo. Và đúng như bà dự định. Anh trai Tri sau thời gian học tập cải tạo ngắn trở về vịnh nhà, tạm bợ trên chút đất thổ cư má tôi giữ cho bấy lâu. Hai bà má sì sụp với khói hương bàn thờ nhà mình nhưng giỗ hai người cha thì không ai đi dự ở nhà ai được. Khắc nghiệt một cách kỳ quặc, cái ngày trùng hợp ấy luôn nhắc chúng tôi về cuộc chiến. Sau này anh trai tôi thỉnh bàn thờ ba lên tỉnh, má tôi và bà giáo lần lượt đến cõi, vườn nhà tôi thuộc về chị tôi và giỗ ông bà nội. Anh trai Tri làm nhiệm vụ con trưởng, trên mảnh đất nhỏ như bàn tay. Đám cưới Tri với cô gái lỡ thì bên kia sông tôi biết muộn, nghe nói cả xóm khóc mừng cho anh.
Vườn anh năm nay trúng mùa dâu không?”. Năm ngoái, chúng tôi gặp nhau trong ngày giỗ bác ruột anh, dượng cả tôi. Anh bơi xuồng về vịnh, lên chỗ giỗ như thế nào tôi không hay, khi nghe mọi người gọi “Nhỏ ơi có quà” thì anh đã ngồi trang trọng ở hàng hiên, bên cây gậy bất ly thân. “Anh mang cho nhỏ mấy trái dâu ngon nhứt trong vườn nhà”. Dĩ nhiên là những chùm dâu ngon nhất. Mọi người vây quanh chúng tôi, xúm xít xem tình bạn bứt rứt này. Hai đứa từ nhỏ đều mê sách, anh mơ làm kiến trúc sư, tôi mơ làm cô giáo dạy văn. Nhưng chưa vào tuổi hoa niên thì cả hai đã rơi xuống hố. Chúng tôi lóp ngóp bên này với bên kia, vướng víu, cách trở, âm thầm. Hòa bình, hậu chiến xám xịt dài như vô tận, anh cam phận tàn phế, tôi như nghe tiếng anh trong hố, em trèo lên đi, em đi con đường của gia tộc em đi, đừng bận tâm anh. Tôi rời vườn, rời vịnh và rời anh từ hồi còn chiến tranh ấy chứ, má tôi chỉ chừa chị tôi ở lại với bà thôi. Tôi xa thêm vịnh nhà khi lấy chồng, lên thành, xa tít tắp. Anh là người được vợ chồng tôi hay nhắc để cảm thương, khâm phục. “Dâu rớt giá thê thảm, tại vườn họ mua có năm trăm đồng một ký, anh hạ hết dâu rồi. Đi, còn chừa đúng một cây, may ra có vài chùm chín nẫu”.
Chúng tôi ngồi lại trên những thân dâu già bị đốn hạ. Thấy cái dáng màu mỡ gà ra vô chỗ chái bếp và xộc ra mùi cá chiên nhiều tỏi. Bao nhiêu câu muốn hỏi về tình trạng hôn nhân và dự định khi việc đổ vỡ không ngăn được. Tri chưa kịp thay quần áo đi câu về, bộ cánh thật giống nhân vật Áo vũ cơ hàn trong vở cải lương mà hồi nhỏ chúng tôi thường mê mẩn nghe trên đài phát thanh Sài Gòn. “Có thật chuyện vợ anh muốn ly thân?”. Tôi buột miệng, thời gian thăm anh không còn nhiều. Tri cười nụ “Nhỏ thấy đó, mọi thứ đều có bàn tay anh. Anh sống bằng danh dự mà. Không bám víu, không buông xuôi, tự trọng cho đến lúc biết chắc không cứu vãn làm gì nữa. Có điều…”.
Ba tôi có mộ có bia đàng hoàng ở nghĩa trang của tù nhân trên đảo. Còn ba của Tri, câu chuyện mục nát dần với thời gian. Chỉ nghe loáng thoáng vụ đập chết ông cùng với hai người cùng bị qui là “chỉ điểm” nữa ở hướng đó đó. Bưng hay doi, trong biền lá hay trên một mô đất, sóng nước và sạt lở, làm sao lần ra được cái hố chung ấy? Vô vọng.
Rõ ràng chúng tôi đã trèo lên nhưng chuyện ba anh chưa mồ yên mả đẹp đã đẩy chúng tôi xuống. Ở anh là chữ hiếu, tâm tư đứa con trai út, và còn những gì nữa? Ở tôi và cả chồng tôi là cảm giác nợ và những tự vấn quái quỷ cứ khiến mình bất an, cười cũng không thể cười trọn vẹn được. Tôi đứng lên khỏi những thân dâu bị giết chết vì thời giá, tôi giúp anh đứng lên nhưng anh không quen được giúp, thấy như vướng víu. Tâm tư tôi nói với anh, đừng có bảo em bò lên khỏi hố, bỏ mặc anh nha. Không, không thể nào, khi anh còn ở dưới cái hố ấy thì em sẽ nhớ, sẽ thương, sẽ không an lòng và sẽ luôn cầu mong cho anh có một phép màu, anh có nghĩ vậy không?
Tôi đi vô bếp chào người đàn bà đang hồi xuân của Tri. Dĩa cá, tô canh chua, những cọng rau sống trong vườn nhà. Mâm cơm hấp dẫn lắm. Hy vọng vẫn còn. Bữa ăn còn có thể ngồi chung. Tôi từ biệt, cậu xe ôm vẫn ngồi đợi ở quán nước cách nhà anh một đỗi.
Áo vũ cơ hàn.


Dạ Ngân

Thanh Đa, tháng 12/2014
(từ: VV)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những công trình tôn giáo vĩ đại nhất thế giới


Quần thể Tu đạo viện Meteora (Hi Lạp)

 
Bắt đầu xây dựng từ thế kỷ 14, Quần thể bao gồm 6 Tu đạo viện, nằm cheo leo trên núi, là một trong những công trình kiến trúc Đông Chính Giáo lớn nhất và quan trọng nhất của Hy Lạp.

 
Công trình kiến trúc diệu kỳ này bao hàm trong nó sự vĩ đại của những bàn tay xây dựng. Cũng chỉ có những tín đồ thực sự mới vượt qua được con đường gian khổ để leo lên đến vùng đất thánh này.

 

Tu đạo viện nằm trên độ cao 400m tính từ điểm thấp nhất của Thung lũng Pinios.

 
"Meteora" có nghĩa là "lơ lửng giữa từng không trung", hoặc là "nơi thiên đường".

Chùa Taung Kalat (Myanmar)
 
Xây dựng trên miệng núi lửa, cao 737m. Du khách leo từ dưới lên, qua 777 bậc thang đá, là có thể tận mắt ngắm nhìn quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ nơi đây.

Chùa Huyệt Hổ (Bhutan)
 
Chùa nằm ngang chừng vách đá nơi Thung lũng Hồ Paro, cách điểm thấp nhất của thung lũng 900m

 
Chùa nằm ở vách đá có độ dốc rất lớn, gần như dốc 90 độ.

 
Gần như cả ngày mây bao bọc, càng làm tăng thêm độ huyền bí của ngôi chùa.

Tu đạo viện Sumela (Thổ Nhĩ Kỳ)
 
Xây dựng năm 386 sau Công nguyên, nằm trên vách đá cheo leo, cách mặt nước biển 1200m.

 
Trải qua năm tháng, Tu đạo viện đã qua một số lần trùng tu.

 
Thời Thế chiến thứ nhất, Tu đạo viện từng bị phế bỏ, sau đó vài chục năm mới bắt đầu dần khôi phục hoạt động.

Chùa Huyền Không Sơn Tây (Trung Quốc)
 
Nằm trên vách núi, cao 75m.

 

Chùa gồm 40 gian, hành lang, cầu, nối với nhau qua những lối đi bằng gỗ.
Lan Thư (News. Zing.vn)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Nếu một người mù dẫn dắt một người mù, thì cả hai sẽ cùng rơi xuống hố.”


Tại Tây phương, khi nghệ thuật vươn đến sự hoàn mỹ và hài hòa cao độ trong thời kỳ Phục Hưng, thì trung tâm của nó nằm tại Rome, thành phố của các Giáo hoàng, các nhà thờ, cung điện, và các bức họa.
Người xưa tin rằng, mỗi nền văn hóa đều là một món quà quý giá mà thiên thượng truyền xuống cho nhân loại, mỗi nền văn minh đều khởi đầu nhờ sự dẫn dắt của chư Thần. Trong loạt bài viết tìm hiểu về nghệ thuật Phục Hưng, báo Trí Thức VN muốn giới thiệu tới độc giả nền văn hóa phương Tây ở thời kỳ đỉnh cao của nó – Thời kỳ Phục Hưng.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Bức tranh “Thằng mù lại dắt thằng mù” hay còn gọi là “Ngụ ngôn về thằng mù” là một trong những tác phẩm nổi tiếng theo trường phái Flemish thời kỳ Phục hưng của danh họa Pieter Bruegel bố, được hoàn thành vào năm 1568. Đây là bức tranh sơn dầu miêu tả câu ngụ ngôn về người mù trong Kinh Phúc Âm, hiện đang được lưu giữ trong bộ sưu tập của Viện bảo tàng nghệ thuật Museo di Capodimonte ở Naples, Ý.
Bức tranh này đã cho thấy con mắt quan sát tinh tế của Bruegel. Mỗi nhân vật trong tranh không chỉ đơn giản là mù, mà còn bị một loại bệnh về mắt khác nhau, từ chứng vảy cá làm mắt mờ đến chứng teo nhãn cầu, có người còn bị khoét mắt. Tất cả những người đàn ông mù trong tranh đều ngẩng cao đầu nhằm tận dụng tối đa các giác quan khác. Bố cục đường chéo của tranh củng cố thêm chuyển động không theo trật tự của cả sáu nhân vật mù trong tranh: từng người thi nhau ngã. “Thằng mù lại dắt thằng mù” được coi là tác phẩm bậc thầy về sự chính xác về chi tiết cũng như bố cục.
Bruegel vẽ bức tranh này một năm trước khi ông qua đời. Nó bộc lộ một tâm trạng có phần buồn bã, nguyên nhân có thể là do việc Chính quyền Habsburg thành lập Hội đồng giải quyết tranh chấp vào năm 1567. Hội đồng này đã ra quyết định bắt giữ và xử tử rất nhiều người nhằm áp đặt sự thống trị của Tây Ban Nha và xóa bỏ đạo Tin Lành.

Ngụ ngôn về thằng mù

Kinh Phúc Âm Matthew có viết rằng:
“Nếu một người mù dẫn dắt một người mù, thì cả hai sẽ cùng rơi xuống hố.”
Hoàn cảnh mà Kinh Thánh nhắc tới ngụ ngôn này là khi chúa Jesus nói tới các tín đồ của giáo phái Pharisees, một nhánh của Do Thái giáo. Nhưng ngụ ngôn này thực chất là một câu chuyện không chỉ xuất hiện trong Kinh Thánh. Nó có thể được tìm thấy trong nhiều tài liệu cổ khác nhau. Ví dụ như kinh Vệ Đà cũng có viết rằng:
“Sống trong ngu dốt, nhưng chúng lại cảm thấy mình khôn ngoan và hiểu biết, những kẻ ngốc đi từ chỗ này tới chỗ kia mà không định hướng, cũng giống như một người mù bị dắt bởi một người mù.”
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Minh họa cho chuyện thằng mù dắt nhau trong một bức tranh khác của Bruegel. (Xem bài: 125 câu tục ngữ bên trong một tác phẩm Phục Hưng)
Tương tự như vậy, một câu nói trong Phật giáo cũng được lưu truyền ở vùng Sri Lanka như sau:
“Có một hàng những người mù, người sau nắm lấy kẻ đằng trước: kẻ đi đầu không nhìn thấy gì, kẻ đi giữa không nhìn thấy gì, và kẻ đi cuối cũng không nhìn thấy gì.”
Erasmus xuất bản cuốn Adagia hai năm trước khi Bruegel vẽ bức tranh này, và trong cuốn Adagia cũng có trích câu “Caecus caeco dux” trong thơ của Horace, một nhà thơ La Mã sống vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. “Caecus caeco dux” có nghĩa là “Thằng mù dẫn thằng mù”.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Tác phẩm cùng chủ đề của Sebastian Vrancx vẽ vào đầu thế kỷ 17.
Người xem tranh của Bruegel thời bấy giờ hẳn là rất quen thuộc với các tích trong văn học cổ điển hoặc tôn giáo.

Bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Bruegel

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Dựa vào Kinh Thánh, hoặc giả cuốn Adagia, Bruegel đã nâng số người mù trong câu nói ngụ ngôn này từ hai thành sáu. Khuôn mặt người mù đầu tiên không rõ nét; người thứ hai đang ở tư thế xoay đầu khi ngã, có thể để tránh mặt khỏi va vào đất; người mù thứ ba có đeo đồ bảo vệ ống chân, đang ở trạng thái chân kiễng đầu gối chùng, mặt ngửa lên trời, cầm chung gậy với người thứ hai, vì thế cùng bị kéo ngã xuống; những người khác chưa ngã, vẫn còn ở tư thế ổn định, nhưng dường như họ sẽ không thoát khỏi số phận tương tự.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Kẻ đi đầu có mang theo cây đàn bị ngã.
Trong nhiều bức tranh cùng chủ đề, những người mù thường được vẽ với đôi mắt nhắm, nhưng ở đây mỗi người mù lại có một trạng thái khuyết tật khác nhau. Mắt người đàn ông đầu tiên bị mất thị giác; người thứ hai bị khoét mắt, mất luôn cả mi mắt; người thứ ba bị chứng vảy cá làm mắt mờ; người thứ tư bị teo nhãn cầu; người thì thứ năm hoặc bị mù, hoặc không có khả năng cảm nhận ánh sáng hoặc bị chứng sợ ánh sáng; người thứ sáu bị bệnh pemfigut hoặc bọng nước pemfigut.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Khuyết tật về mắt của những người trong tranh là khác nhau.
Những người mù đang đi dọc theo một con đường mòn, một bên là sông, một bên là ngôi làng có nhà thờ. Bên cạnh đó còn có một người chăn bò trong bối cảnh, nhưng do thời gian làm hư hại nên người chăn bò không còn rõ nữa. Trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Bruegel con chép lại của Bruegel bố, chúng ta có thể thấy rõ ràng hơn.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Người chăn bò.
Mặt và thân hình của những người mù, cũng như bối cảnh bao gồm nhà thờ, được vẽ với các chi tiết vô cùng tinh tế, tỉ mỉ. Tư thế ngã ngửa lưng của người mù dẫn đoàn cho thấy khả năng vẽ hình không gian bậc thầy của Bruegel. Thông thường bối cảnh trong tranh của Bruegel là tưởng tượng không thật, nhưng trong bức tranh này, toàn bộ phong cảnh đều dựa trên thực tế. Ngôi làng trong tranh có tên là Sint Anna Pede, còn nhà thờ mang tên Sint Anna.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Về bố cục, có thể chia bức tranh làm chín phần, ngăn cách bởi một loạt các đường xiên chéo song song. Các đường này lại tiếp tục được chia bởi mạng lưới các đường thẳng từ các góc. Bố cục này giúp người xem theo dõi được hành động chứ không chỉ trạng thái đứng yên của từng nhân vật. Những người mù giống nhau về trang phục và nét mặt; và họ dường như có thể đi tiếp theo người khác trong một chuyển động đơn giản, và lên tới cực điểm là cú ngã, bắt đầu từ phía bên tay trái theo trật tự “đi lang thang, dò dẫm, lo sợ, sẩy chân, rồi vấp ngã”. Sự tiếp nối những mái đầu là tuân theo một đường cong, khoảng cách càng nới rộng, khi sự tiếp nối nhau bị kéo dãn, cho thấy người đi sau cần tăng tốc để bắt kịp người đi trước. Độ nghiêng của các mái nhà trong bối cảnh càng củng cố thêm cảm xúc của người xem về bố cục.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Một đặc điểm khiến các học giả cảm thấy Bruegel đang ám chỉ tới các vấn đề xã hội thời bấy giờ là vì những người mù này không ăn mặc trang phục nông dân, hay trang phục của người nghèo, mà đều ăn mặc khá đàng hoàng, ngoại trừ một vài chiếc áo choàng trông có vẻ hơi rách mướp ở bên ngoài. Có thể thông qua chi tiết này, Bruegel muốn ám chỉ tới những kẻ thuộc giới quý tộc đang mù quáng dẫn nhau xuống hố sâu của chính trị.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Một linh mục?
Trong số những người mù, đằng sau lớp áo choàng, chúng ta cũng có thể nhận ra hình ảnh của một vị linh mục, có thể Bruegel đang ám chỉ những người mang thiên chức mà lại phớt lờ lời răn của Chúa. Người ăn mày đi đầu còn mang theo đàn, vì thế có thể Bruegel ngụ ý về những nhạc sĩ đã quên đi trách nhiệm cất tiếng hát ngợi ca chư Thần.

Hình ảnh người mù trong nghệ thuật phương Tây

Ở thời Hy Lạp cổ đại, những người mù được mô tả là có những người năng khiếu thiên bẩm, nhận được quà tặng của Chúa trời, ví như các ca sĩ mù có giọng ca có thể với tới thiên thượng như Homer. Đến thời Trung cổ ở Châu Âu, người mù được mô tả là các nhân vật có khả năng đặc biệt, ví dụ Bartimaeus có khả năng chữa lành bệnh mù lòa ở gần Jericho trong Kinh Phúc Âm.
Sau này, tín ngưỡng phương Tây đã có sự phân cực khi nhìn nhận về vấn đề được cứu rỗi. Một số người cho rằng việc làm các điều thiện như bố thí cho người mù lòa và người nghèo là những việc tốt, cùng với đức tin thì sẽ giúp các con chiên được cứu vớt. Trong khi đó, một số người cho rằng nghèo ốm đau khổ cũng giống như khái niệm duyên số của phương Đông, vì vậy nếu cứ hữu ý đi làm phúc mà không chú trọng vào đức tin thì cũng không được cứu rỗi. Điều này cũng xảy ra tương tự ở phương Đông, khi các nhà sư quá chú ý tới việc xây chùa, giúp người nghèo, mà quên đi việc đọc kinh sách, ngồi thiền, tu luyện thì sẽ bị gọi là những người “hữu vi”, không phải là “vô vi”.
Việc nhìn nhận người mù cũng theo sự phân cực trong tín ngưỡng mà có sự thay đổi. Thậm chí trong một số tác phẩm văn học dân gian khi đó, người mù còn bị mô tả là những kẻ đểu cáng, ma cà bông, và là đối tượng của các trò chơi khăm.
Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel
Tác phẩm cùng chủ đề của Domenico Fetti vẽ vào năm 1621-1622.
Trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù”, Bruegel lại mượn hình ảnh người mù, những người thiệt thòi dễ bị tổn thương trong xã hội làm nhân vật trung tâm, để châm biếm nhân tình thế thái, châm biếm những biến động trong tín ngưỡng tôn giáo, trong xã hội thời bấy giờ. Nghệ thuật chân chính luôn bao hàm tầng tầng trăn trở của người nghệ sĩ…
Cát Hải / TrithucVN
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự dối trá phải trả giá!




Bích Diệp 
(Dân trí) - Nhưng điều quan trọng ở đây, có lẽ ông Khải chưa nhìn ra được, đó là sự trung thực, là chữ “tín” trong kinh doanh, là sự tuân thủ pháp luật, tôn trọng người tiêu dùng. Không ai có thể thông cảm với hành vi cắt mác hàng Trung Quốc, đính tên thương hiệu vào để rồi trục lợi, bán ra với mức giá “trên trời” như thế.

Vẫn đang là những ngày tháng 10, tháng có ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) và thật khó khăn khi phải viết ra những dòng dưới đây, vào thời điểm mà nhẽ ra cần tôn vinh các doanh nhân Việt.

Câu chuyện bắt đầu từ chiếc khăn lụa tơ tằm được một doanh nghiệp ở Hà Nội mua về làm quà tặng cho đối tác. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như chiếc khăn đó không mang tới hai cái mác: một nhãn với nội dung “Khaisilk made in Vietnam” còn một nhãn nữa với nội dung “made in China”.

Có lẽ chẳng cần phải nói thêm, bạn đọc cũng biết sự nổi tiếng của thương hiệu Khaisilk là như thế nào. Nếu không phải là một doanh nghiệp thuộc loại “cây đa, cây đề” thì chiếc khăn ấy khó mà với tới 644.000 đồng/chiếc, một mức giá có thể mua cả 10 chiếc khăn kiểu dáng tương tự đang bày bán phổ biến trên thị trường.

Tôi từng cầu mong sao đây chỉ là một “tai nạn”, một sự nhầm lẫn mà thôi. Tôi trông chờ câu trả lời từ ông Hoàng Khải sẽ có thể làm rõ hiểu nhầm, có thể trấn an và khiến những người tiêu dùng như tôi thở phào nhẹ nhõm. Nhưng không. Hoàn toàn không có sự hiểu nhầm hay nhầm lẫn nào cả! Ông Khải thừa nhận và xin lỗi…

Ông thừa nhận chỉ 50% hàng hóa Khaisilk là hàng Việt, 50% là hàng nhập. Ông cho biết sẽ bồi thường dù nhận thức có thể mất hàng mấy năm trời để gây dựng lại “sự mất mát đau đớn” này. Ông còn nói: Lẽ ra tại cửa hàng phải có “Khaisilk made in Việt Nam” và “Khaisilk made in Trung Quốc”, chứ không thể đánh lận con đen.

Vâng, người tiêu dùng chúng tôi dẫu sao cũng phải “cảm ơn” ông Khải. Cảm ơn ông đã không vòng vo chối tội mà nhận luôn sai lầm của doanh nghiệp mình. Ai đó còn cho rằng ông là người “dám làm, dám chịu”. Nhưng rất tiếc ông Khải ạ, thật khó để nhận lời xin lỗi của ông sau bao nhiêu năm ông đánh cắp niềm tin, lừa dối khách hàng.

Tôi thấy tiếc cho Hoàng Khải và tên tuổi Khaisilk với thương hiệu dày công dựng nên sau hàng chục năm lăn lộn. Tôi thấy tiếc cho niềm tin vụn vỡ mà người tiêu dùng từng đặt vào ông, tiếc cho một doanh nhân từng là cảm hứng cho rất nhiều bạn trẻ khởi nghiệp, tiếc cho những phát ngôn về đạo đức kinh doanh mà ông chia sẻ rất nhiều nay lại bị chính ông phản bội…

Và tất nhiên, những sai lầm đó chẳng thể một lời xin lỗi là xong. Gian dối là tối kỵ trong kinh doanh, nên doanh nghiệp gian dối nhất định phải trả giá trước pháp luật, trước chính quyền.

Sau khi vụ việc gây lùm xùm trên mạng xã hội và báo chí, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã chỉ đạo yêu cầu Cục Quản lý thị trường phối hợp với Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng kiểm tra, xem xét và làm rõ các thông tin trên; nếu có dấu hiệu vi phạm liên quan đến xuất xứ hàng hóa, hàng giả, hàng nhái, bảo vệ người tiêu dùng, các đơn vị đề nghị ngay hướng xử lý. Chiều 26/10, một đội quản lý thị trường của Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội đã khám xét và thu giữ một số sản phẩm của cửa hàng Khaisilk số 113 Hàng Gai.

Hành động của người đứng đầu Bộ Công Thương nhận được sự tán thưởng của đông đảo dư luận. Song, nhẽ ra (vâng, thật tiếc vẫn phải dùng từ này), đơn vị quản lý thị trường đưa vụ việc này ra ánh sáng sớm hơn, chứ không phải đợi đến bây giờ...

Nói một cách công bằng, “made in China” không hoàn toàn là xấu. Chúng ta vẫn biết rất nhiều hàng nhập từ Trung Quốc là phục vụ cho sản xuất, hay nói cách khác, chiếc áo “Made in Vietnam” ta mặc có thể chỉ được gia công trong nước mà thôi còn sợi vải là nhập từ nước bạn. Hàng Trung Quốc đúng như ông Khải nói, về mẫu mã, chất lượng rất khó phân biệt với hàng Việt Nam.

Nhưng điều quan trọng ở đây, có lẽ ông Khải chưa nhìn ra được, đó là sự trung thực, là chữ “tín” trong kinh doanh, là sự tuân thủ pháp luật, tôn trọng người tiêu dùng. Không ai có thể thông cảm với hành vi cắt mác hàng Trung Quốc, đính tên thương hiệu vào để rồi trục lợi, bán ra với mức giá “trên trời” như thế.

Có thể đâu đó còn rất nhiều người như ông Khải, vẫn còn rất nhiều thương nhân, doanh nhân Việt chưa ý thức được những hành vi gian dối dù to, dù nhỏ của họ đang “dìm chết” hàng Việt Nam trên chính sân nhà – nơi hàng vạn, hàng triệu doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh chân chính khác đang phải nỗ lực ngày đêm để tìm chỗ đứng cho mình.

Nên thật mong, đây sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh, để nhắc nhở mỗi người kinh doanh về lòng tự trọng, về tinh thần tự tôn dân tộc, trước khi đòi hỏi “người Việt dùng hàng Việt”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang