Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Báo Văn Nghệ – Sự chết thảm có phương pháp



Nguyễn Quang Lập
Theo FB NQL

Tui bỏ đọc báo Văn Nghệ từ khi rời báo Văn Nghệ, suất báo Văn Nghệ của tui chuyển cho ông già vợ, ông già vợ mất thì chuyển cho ông chú vợ.
Ngay từ 1997-1998 tui đã nhiều lần nói với Nguyễn Quang Thiều và Nguyễn Thành Phong, báo Văn Nghệ sẽ chết và chết rất thảm.
Làm sao không chết thảm khi ban lãnh đạo chỉ chú mục làm vừa lòng cấp trên, làm tiền, làm danh chứ chẳng ai chịu làm báo, và sự thật thì chẳng ai biết làm báo.
Vui nhất là mấy ông đó khi ra khỏi vòng thì cong đuôi lên chửi, kẻ làm danh chửi kẻ làm tiền, kẻ làm tiền chửi kẻ làm vừa lòng cấp trên…. Chửi công khai bằng những bài viết rất “tâm huyết”. Chỉ có ông Hữu Thỉnh là tuyệt không thấy ổng chửi ai. Té ra ông Hữu Thỉnh là người tử tế nhất, hi hi.
Một tờ báo mà ông Hữu Thỉnh là người tử tế nhất, sao lại không chết thảm được chứ. Hu hu.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc có thành Number One vào năm 2050?


Ai sẽ là siêu cường vào năm 2050. Ảnh: Internet
Nhớ năm 2008 đi từ sân bay về khách sạn China World Hotel nằm giữa Bắc Kinh, chàng lái taxi trông rõ nhà quê như Tổng Cua ở Hoa Lư, tôi hỏi đường bằng tiếng Anh thì toàn gật lắc, nhưng lại nói rất rõ bằng tiếng Anh “China Number One – Trung Quốc số 1” và giơ ngón tay cái lên, vẻ tự hào.

Gần 10 năm sau, báo cáo của Tập Cận Bình dài hơn 3 tiếng đọc tại ĐH ĐCS TQ đã nêu rõ, giấc mộng Trung Hoa sẽ thành quốc gia số 1 của thế giới vào năm 2050, không khác người lái xe taxi thuở nào.
Năm 2012, còm sỹ Tịt Tuốt viết còm hay về đề tài China Number One trên blog. Lão Tịt dẫn lời nhà báo Yan Xuetong (New York Times), người được thế giới phương tây mệnh danh là “hiếu chiến” đã có bài phân tích “làm thế nào để Trung Quốc có thể đánh bại Mỹ” đã cho rằng là điều này là có thể.
Trung Quốc có thể đánh bại Mỹ để trở thành lãnh đạo thế giới nhưng không phải chỉ với sức mạnh của kinh tế và quân sự, mà còn bằng đức độ của giai cấp thống trị Trung Quốc hiện nay. “Chủ nghĩa hiện thực không có nghĩa là các chính trị gia chỉ cần quan tâm đến sức mạnh quân sự và kinh tế. Trong thực tế, đạo đức có thể đóng một vai trò quan trọng trong hình thành cạnh tranh quốc tế giữa các quyền lực chính trị và sự phân cách người chiến thắng, kẻ thất bại”, nhà báo Xuetong viết.
Qua nghiên cứu hệ tư tưởng chính trị của các vương triều hùng mạnh cổ đại Trung Hoa, ông đã đưa ra một vài nhận định về tầm quan trọng của văn hoá đạo đức của quyền lực. Ông cho rằng “Chế độ độc tài dựa trên lực lượng quân sự – chắc chắn tạo ra kẻ thù. Quyền lực nhân đạo sẽ giành chiến thắng trong bất kỳ cuộc cạnh tranh nào với quyền bá chủ hay chuyên chế.”
Quan điểm dùng đức để cai trị chẳng có gì mới cả mà có từ thời Khổng Tử “Làm chính trị bằng đức độ cũng ví như sao Bắc Đẩu, cứ nguyên một chỗ mà các sao khác phải hướng về chầu. Người trên chuộng Lễ thì dân chẳng dám bỏ niềm cung kính; người trên chuộng Nghĩa, dân chẳng dám không kính phục; người trên chuộng thành Tín, dân chẳng dám sai ngoa trong việc giao ước. Nếu người cầm quyền ở đủ Lễ, Nghĩa, Tín như vậy, thì dân chúng từ bốn phương sẽ mang con đến mà phục dịch.”
Trong cuộc chạy đua giữa Mỹ và TQ để chiếm lĩnh uy quyền tối cao thế giới, rõ ràng kẻ thắng cuộc đua là kẻ cải thiện và gia tăng mối quan hệ quốc tế rộng lớn hơn. Chân lý thuộc về kẻ mạnh. Sức mạnh của kẻ thắng cuộc không phải từ nòng súng, không phải từ đồng đô la hay đồng Nhân dân tệ, mà là sức mạnh từ trái tim.
Để lãnh đạo thế giới TQ phải chiếm được trái tim nhân loại, có thể không phải toàn nhân loại, nhưng ít nhất cũng là một bộ phận lớn toàn cầu.
Yan Xuetong kết luận “Làm thế nào Trung Quốc có thể giành chiến thắng trái tim nhân loại? Theo triết học cổ đại Trung Quốc thì phải bắt đầu từ ở nhà (Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ – HM trích). Quyền lực nhân đạo bắt đầu là tạo ra mô hình mong muốn ở nhà truyền cảm hứng cho người nước ngoài.”
Tin cho hay, sau đại hội 19, Trung Quốc sẽ đưa tư tưởng Tập Cận Bình vào trường học và ngăn tư tưởng phương Tây lan truyền.
Chưa hiểu rõ tư tưởng Tập là gì nhưng có thể đoán đó là dân tộc cực đoan khá giống với trào lưu thế giới hiện nay mà đứng đầu là Trump cùng một số lãnh đạo châu Âu đang làm. Thế giới đi theo dân tộc cực đoan thì Trung Quốc sẽ là số 1 vì Mỹ không dạy trong trường xu hướng này mà chỉ là nhất thời.
Có một giai thoại về người Tầu di cư thế kỷ trước. Người đàn bà gánh đôi thúng, một bên là đứa bé, bên kia là xoong chảo nồi niêu, trông rất nhếch nhác.
Bà thuê tạm vỉa hè của một gia đình để bán mỳ vằn thắn. Sau một năm bà thuê gian phía ngoài. Sau vài năm, bà mua luôn cả nhà và hơn một thập kỷ, mua luôn cả dãy phố.
Sự thành đạt của họ bắt đầu từ món ăn bình dân và ít người để ý. Đó là sự lặng lẽ kiểu Trung Hoa, giống như họ hội nhập theo kiểu “mèo đen, mèo trắng” từ thời Đặng Tiểu Bình, và hiện là nền kinh tế thứ 2 trên thế giới.
Cho dù mô hình phát triển chưa bền vững vì thách thức về dân số, về năng lượng toàn cầu, về lương thực, về nước, môi trường và sức sản xuất, chưa kể sự bất công trong xã hội có thể làm xáo trộn hệ thống chính trị, thì trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc là đối trọng duy nhất của Hoa Kỳ.
China Number One là có thể, ít nhất là trong não trạng của người lái xe taxi ở Bắc Kinh và Tập Cận Bình vào hôm nay (24-10) khi họ kết thúc ĐH ĐCS Trung Quốc.
HM. 24-10-2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quỹ BHXH thất thoát hơn ngàn tỉ, ai chịu trách nhiệm ?


Thế Kha






















(NLĐO) - Trong khi cơ quan soạn thảo lo lắng vỡ quỹ bảo hiểm xã hội, đề nghị nâng tuổi nghỉ hưu thì các ĐB Quốc hội chất vấn về chuyện quỹ BHXH thất thoát hơn 1.000 tỉ đồng nhưng đến nay chưa rõ trách nhiệm thuộc về ai.

Thảo luận tại tổ về dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi sáng 29-5, đại biểu (ĐB) Quốc hội Nguyễn Văn Hưng (đoàn TP HCM) bức xúc việc BHXH dùng tiền cho công ty cho thuê tài chính vay, thất thoát cả ngàn tỉ đồng nhưng đến nay không giải trình rõ trách nhiệm thuộc về ai, lấy đâu tiền bù lại số tiền này?

Đồng tình, ĐB Trần Thanh Hải - Phó Chủ tịch thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho rằng BHXH là cơ quan sự nghiệp nhưng lại được quyền lấy tiền người lao động đóng góp để chi cho việc khác thì cần phải xem lại. Dự thảo luật chưa đưa ra được chế tài đối với trường hợp người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm hoặc lợi dụng để chiếm đoạt tiền BHXH. “Tôi thấy có những thay đổi trong dự thảo luật còn gây băn khoăn. Ban soạn thảo lo vỡ quỹ BHXH nhưng lại tính khắc phục bằng cách đổ lên đầu người đóng bảo hiểm là không công bằng” - ông Hải nói.

ĐB Lê Trọng Sang cho biết BHXH đang đầu tư ra ngoài “gớm lắm” nhưng lại mất khả năng thu hồi. “Trước đây tôi hình dung chỉ có doanh nghiệp đầu tư ra ngoài nhưng quỹ BHXH cũng đầu tư ra ngoài ngành. Nếu sử dụng tiền đó vào công trình quan trọng của quốc gia, công cộng, cổ phiếu trái phiếu của nhà nước thì còn được. Còn bây giờ thì lại lo lắng vỡ quỹ” - ông Sang bức xúc.

ĐB Huỳnh Ngọc Ánh thẳng thắn: “Tôi hay bất cứ ĐB Quốc hội nào cũng thế thôi. Mấy bữa nữa tôi nghỉ hưu mà lương hưu thấp hơn thì tôi không chịu. Lúc về hưu mà hưởng lương chỉ bằng 50% bây giờ thì chắc chắn không ai đồng tình rồi. Tôi hỏi nhiều nhà khoa học thì họ đều nói không hiểu nghiên cứu kiểu gì mà lấy năm 2034 vỡ quỹ BHXH và phải điều chỉnh như vậy. Vỡ quỹ hay không vỡ quỹ do anh quản lý. Các anh tính đúng tính đủ, thu đúng, thu đủ để đảm bảo quỹ. Không thể nói lo người về hưu như tôi hưởng nhiều mà phải điều chỉnh”.

Dẫn ra tình trạng nợ bảo hiểm nhiều, chi phí cho đội ngũ làm bảo hiểm quá lớn dẫn tới nguy cơ thâm hụt, thiếu, ông Huỳnh Ngọc Ánh cho rằng nếu giải quyết bài toán hiện nay tốt hơn thì không thể dẫn nỗi lo vỡ quỹ BHXH. “20 năm nữa thế hệ hiện nay mới bắt buộc đóng bảo hiểm thì phải bổ sung vào quỹ. Họ cũng đóng đủ thì sao vỡ quỹ được. Nhiều nhà khoa học nói với tôi rằng câu chuyện ban soạn thảo đề ra không thực tế, không thể từ lo lắng vỡ quỹ bảo hiểm rồi lại nói tới câu chuyện nâng tuổi nghỉ hưu được” - ông Ánh bày tỏ.

"Không khắc phục được chuyện nợ đọng như bây giờ. Bảo hiểm như thuế, đến tháng không đóng thì phải khấu trừ ngay tại ngân hàng" - ĐB Huỳnh Ngọc Ánh đề xuất.

" Công đoàn có quyền khởi kiện bảo hiểm để bảo vệ người lao động nhưng không biết khởi kiện ai?. Công đoàn đại diện cho người lao động mà lại đi kiện doanh nghiệp đóng bảo hiểm, công đoàn có dám kiện giám đốc không, như thế là bất hợp lý ? Tôi đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu lại cách thiết kế, làm sao để đảm bảo đóng đúng, đóng đủ không có chuyện nợ nần như bây giờ. Không thấy có câu nào cơ quan bảo hiểm đi đòi nợ, nếu mai mốt có nợ nần bảo hiểm kiện ra tòa thì chả có luật nào điều chỉnh cả" - ĐB Ánh thẳng thắn.

ĐB Ngô Ngọc Bình (đoàn TP HCM), nhận xét đọc dự thảo Luật BHXH thấy mất đi nhiều hơn được nên cần nghiên cứu lại. "Việc mở rộng đối tượng thì đối tượng thế nào, bởi đi sâu vào mới thấy phần đông người lao động hiện nay rất khốn khó. Quan điểm của Đảng trong nghị quyết 21 Trung ương, mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện nhưng phải bổ sung vấn đề còn bất cập trong bảo hiểm. Như vấn đề tách bảo hiểm xã hội khỏi đơn vị hành chính ra khỏi khu vực doanh nghiệp, sự nghiệp khác, tách riêng luật bảo hiểm với bộ máy công quyền như các nước trên thế giới; đưa nội dung bảo hiểm xã hội vào luật công chức, viên chức, nghĩa vụ quân sự, công an nhân dân, phải quy định về chế độ hưu trí của bộ máy công quyền.

Không đồng tình với đề xuất nâng độ tuổi lao động, ĐB Phạm Khánh Phong Lan (TP HCM) phân tích: Khi còn trong độ tuổi lao động thì không chấp nhận cào bằng lương bởi lúc này là làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi đến tuổi nghỉ hưu thì không thể xảy ra câu chuyện có người hưởng lương hưu cao chót vót, cao gấp 3-4 lần so với người khác như hiện nay được. Bà Lan cho rằng đây là vấn đề an sinh xã hội. “Lương của công nhân hiện nay còn không đủ sống thì đừng đòi hỏi có thể giúp họ sống no đủ với lương hưu. Chúng ta phải làm sao để xây dựng chính sách có sự hòa đồng” - bà Lan nêu quan điểm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đông y gọi đây là huyệt “trường thọ” với nhiều tác dụng, càng bấm càng khỏe!



Huyệt dũng tuyền là một trong những huyệt quan trọng nhất trên cơ thể, Đông y gọi là huyệt "trường thọ", kết nối từ chân đến thận, thải độc, cải thiện nội tiết và các bệnh khác.
[Đọc nhanh] Đông y gọi đây là huyệt trường thọ với nhiều tác dụng, càng bấm càng khỏe! - Ảnh 1.
*Theo Tạp chí Dưỡng sinh Trung Quốc
Phần nhận xét hiển thị trên trang

giấc mơ tôi trong xứ sở



Tôi luôn mơ giấc mơ suốt ngày trên đường 
Tranh thủ khẩn trương giữa trăm dòng xe chạy 
Không ngớt gặp người này kẻ kia 
Những kẻ thất học bội thực chữ 
Những người đường hoàng vô trật tự 
Vượt đèn đỏ luồn lách đi ngược chiều…
Tới hội nhà văn và những hội tương tự 
Tất cả một mực yêu nước để chẳng làm gì 
Cần thiết kết tập thành bè thành đảng 
Chỉ có họ mà thôi 
Cùng những ngày chân lý sáng soi.
Họ sẽ bắn vịt trời loài ăn bám không khí 
Chúng không thể uy vũ bằng cú vọ kên kên 
Và diều hâu và quạ nữa đều thuộc dòng ưu việt 
Tính cách đích thực con người mới Gletkin* 
Vứt bỏ sọ não cùng nhận thức xót thương. 
Kết thúc giấc mơ thật đáng sợ 
Chàng trẻ tuổi đu bay trên xe gắn máy 
Đâm sầm vào tôi 
Và một tiếng la khiến tôi tỉnh giấc: 
Mày chấn thương sọ não bởi mày ngoan cố 
Níu giữ cái sọ não đáng nguyền rủa.
Ôi buồn kinh khủng chỉ là giấc mơ 
Tôi vẫn còn nguyên não bộ 
Để liên tưởng lời thơ của một bậc tu hành: 
Tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở 
Nhưng làm sao tôi đừng mơ nữa 
Mãi một giấc mơ về xứ sở tôi.

*Gletkin, một nhân vật trong Darkness At Noon của Arthur Koestler

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nói ra thật là buồn



Mai Dũng

HOANG MANG QUÁ VIỆT NAM ƠI

Nhiều khi rất buồn thấy rõ đất nước ta quá nghèo, dân ta rất khổ nhưng con đường đi lên là một viễn cảnh mờ mịt.

Thật ra Việt nam chưa khi nào được ghi nhận là quốc gia có xếp hạng trên bất cứ nước nào. Xưa vẫn thế và nay vẫn vậy.

Đánh giá về một đất nước, người ta thường nhìn nhận về quy mô của các công trình kiến trúc, cuộc sống người dân, kinh tế, chính trị, quốc phòng. Ở đây không đề cập chủ đề chính trị, quốc phòng tuy rằng nó ảnh hưởng nhiều tới mức độ phát triển của một quốc gia. Đơn giản chỉ là những cảm nhận về nguyên nhân và mức độ nghèo nàn lạc hậu của nước mình qua nhiều thế kỷ.

Các công trình kiến trúc cổ của Việt Nam chỉ có thành nhà Hồ, thành Thăng Long, kinh thành Huế. Các công trình ấy thật thảm hại nếu so với chùa Vàng, chùa Phật Ngọc, chùa Doi Suthep, cung điện Hoàng Gia của Thái Lan; Càng không thể sánh được với Chùa Vàng (Yangon), chùa Vàng Shwezigon, đền Shwesandaw, đền Mahamuni của Myanmar; Càng không thể sánh được với đền thờ Prambanan, quần thể đền thờ phật giáo Borobudar (lớn nhất thế giới) của Indonesia; Càng không thể sánh được với quần thể Angkor Thom, Angkor Wat của Cambodia (Angkor Wat có diện tích 40.000 ha ~ 401 km2).

Trong mấy ngàn năm lịch sử, chúng ta luôn luôn kém, chưa bao giờ hơn láng giềng.

Ta thấy ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào dân ta cũng nghèo mạt dù là thời hoàng kim Lý - Trần – Lê, Việt Nam luôn thua kém các dân tộc. Vậy nên, cái hèn mạt của nước ta có yếu tố dân tộc tính.

Nhiều nhà nghiên cứu trong ngoài nước chỉ ra, người Việt có nhiều điểm kém so với các dân tộc khác trên thế giời, chủ yếu là Không có một nền tảng triết học nên thế giới quan rất thiếu minh triết dẫn đến nhiều thói xấu, tư duy lệc lạc. Cũng chính vì vậy, người Việt thường thích áp đặt. Người Việt không phải thông minh mà chỉ là khôn lỏi. Đã vậy, tính tự cao tự đại quá lớn nên không chịu học hỏi và vì vậy rất dễ bằng lòng tự mãn với thành quả bé nhỏ đã đạt được. Đã vậy lại lười. Ai nói người Việt nam cần cù chịu khó tôi phản đối.

Việt nam dù không phải và duy nhất không có nền triết học nhưng người Việt hoang mang trước các trường phái triết học trên thế giới và luôn tự mâu thuẫn. Việt Nam chịu ảnh hưởng triết học Nho Giáo, Khổng Giáo cho tới thế kỷ 20. Cuối thế kỷ 16 khi các nhà truyền giáo Châu Âu vào giảng đạo, Thiên Chúa Giáo bắt đầu hình thành và phát triển. Trên nền tảng triế học lai tạp ấy rất nhiều giá trị bị đánh giá sai lệch, dẫn đến đảo lộn các qui tắc ứng xử trong xã hội cũng như trong đường lối phát triển kinh tế.

Người Việt chỉ ưa khoa bảng và những ngành có tính bề nổi, phân biệt và quá coi trọng ngành nào có chữ “sỹ”.

Có ai đời thế kỷ 20 mà Việt nam vẫn kỳ thị Thương mại, doanh nhân, coi thương nhân là “con” buôn, “bọn” phe phẩy trong khi ngành thương mại, doanh nghiệp (bao gồm cả nhà máy, xí nghiệp sản xuất, ngân hàng) là trung tâm của xã hội, tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trong xã hội, đóng thuế nuôi bộ máy nhà nước. Nhưng nói cho cùng Việt nam chưa có những dnh nghiệp thực sự như các nước cho nên những người giàu có nhất nhì Việt nam chưa đáng coi là các doanh nhân thực sự (trong sạch).

Chân thành, có trách nhiệm với xã hội là 2 đức tính đáng quí nhất của doanh nhân. Thiếu nó không thể là doanh nhân lớn, không thể thành công, nếu có thành công thì chỉ là tạm bợ vì hưởng lợi từ chính sách ưu đãi có được do cấu kết, ăn chia với quan chức. Thành công đó có lớn thì chỉ có hại lớn cho người dân cho nước.

Người Việt có hai thái cực đầy mâu thuẫn về tiền bạc. Thái cực thứ nhất là coi khinh đồng tiền: “khinh đồng tiền” nên không thèm làm giàu. Thái cực thứ hai là tuyệt đối hoá đồng tiền: “Có tiền mua tiên cũng được và vì vậy khi đã tuyệt đối hoá đồng tiền họ sẽ kiếm tiền bằng mọi giá, bỏ qua nhân cách, bất chấp hậu quả.

Các xã hội phát triển, văn minh họ đánh giá đúng giá trị đồng tiền, họ không tuyệt đối hoá, họ không coi khinh đồng tiền, họ coi đồng tiền là phương tiện trao đổi hàng hoá, đồng tiền là thước đo giá trị lao động, đồng tiền giúp họ có cuộc sống tốt hơn, đào tạo nâng cao trình độ, chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, báo hiếu cha mẹ, giải trí, du lịch và làm công tác xã hội.

Người Việt chúng ta quan niệm lệch lạc về người giỏi. Thời phong kiến khoa cử chỉ chọn người giỏi làm thơ viết văn đâu có thi cử về các ngành khoa học. Nửa cuối thế kỷ 20 ở miền Bắc lại quan niệm người giỏi là giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn Toán, tất cả những học sinh giỏi nhất lên đại học đều học Toán, Lý trong khi người giỏi thật sự cần đủ kiến thức khoa học lẫn xã hội.

Người Việt từ cổ chí kim coi trọng bằng cấp đến cực đoan. Ngày xưa cứ thi đỗ trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn thì bổ làm quan. Ngày trước đi học chỉ dậy văn thơ, câu đối thì làm sao biết phát triển kinh tế đất nước.

Ngày nay ta có trên 24 ngàn Tiến sỹ nhưng con ốc vít cũng không làm nổi vì hầu như các Tiến sỹ đều chui vào bộ máy lãnh đạo rồi bỏ luôn những kiến thức đã học. Thậm chí những văn bằng đó do mua mà có. Làm sao mà đám lãnh đạo ấy có thể lãnh đạo được đất nước.

Vì không có một nền triết học tử tế nên tư duy không thể minh triết. Người Việt đặc biệt thích áp đặt.

Trong một gia đình ở nước ngoài như Anh, Mỹ có thể bố, mẹ, con theo ba đảng phái khác nhau nhưng họ tôn trọng nhau không có chuyện vì khác biệt chính kiến mà xa lánh nhau. Người Việt hoàn toàn khác. Nếu mày không cùng chính kiến với tao, mày là kẻ thù, và khi đó, mọi thứ ở mày là sai (kể cả đúng mười mươi cũng thế). Lúc đó sự cuồng quan điểm nơi họ làm cho họ coi quan điểm cá nhân của họ cao hơn cả huyết thống dân tộc, đồng bào.

Cái nhỏ nhất người Việt ăn món gì thấy ngon thì luôn nghĩ người khác phải ăn thế mới ngon. Quan điểm của mình phải là duy nhất đúng, ai không giống ta là sai hết. Ai không theo ta là địch. Đến cả những người đang cầm cờ đấu tranh cho dân chủ mà cũng thế thì hết thuốc chữa.

Đất nước hơn 40 năm đi qua chiến tranh các nhà lãnh đạo vẫn còn phân biệt kẻ thắng người thua, người dân hai miền vẫn chia rẽ Bắc Kỳ - Nam Kỳ, chưa chịu hoà giải. Kẻ thù như trái núi trước mắt thì không thấy như mù nhưng chỉ có ai đó trong chính đồng bào mình nói sai một câu đã chồm lên như muốn ăn sống nuốt tươi hèn đến thế là cùng. Tỉnh nào bênh tỉnh ấy, người miền nào cũng chằm chặp khen chuộng nơi mình sống mà không chịu nhìn nhận cái toàn cục quốc gia dân tộc làm trọng.

Có lẽ cái hố chia rẽ dân tộc này còn lâu mới được lấp đầy.

Người Việt không phải là dân tộc chăm chỉ cần cù.

Mới đẻ con ra đã nghĩ ngày sau này nó lớn nhờ cậy nó. Đi làm chỉ nhăm nhăm nhăm tính đến lúc về hưu vui thú điền viên, con cái chăm sóc tuổi già.

Xem TV các bạn đều thấy các nhà hàng sang trọng, các tài xế Taxi, những người làm dịch vụ tại các trung tâm như vệ sinh, điện nước đều do những người đầu bạc đảm nhiệm. Trong khi ở Việt nam ngoài 50 là đã thấy suốt ngày ngồi đánh cờ, ra công viên nhảy đầm đông như hội.

Ở Thành phố số thanh niên thất nghiệp, không việc làm, la cà quán sá, cà phê, chơi bài cả ngày. Rất ít người nghĩ mình tự lập nghiệp, tự tạo ra công ăn việc làm cho chính mình và cho xã hội. Những người có việc làm ở công sở thì đi muộn về sớm, hở ra là ăn cắp. Chưa có quốc gia nào các hang quán bia rượu cà phê nhiều và đông đúc trong giờ làm việc như Việt nam.

Không chỉ lười lao động, người Việt còn lười học, lười suy nghĩ, lười vận động. Cứ lên Facebook thì biết, hầu hết mọi người chưa kịp đọc đã like, còm loạn hết cả. Chưa kịp hiểu ý người khác đã bình luận, không hợp ý mình thì chửi bới.

Học sinh hiện nay chỉ cắm mặt vào điện thoại, không còn mấy ai chịu đọc sách như xưa nữa. Như vậy làm sao mở mang được sự học và có tầm vóc Văn hoá?

Nói ra thật là buồn và chẳng thấy hy vọng ở đâu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm sao để tránh những vụ như Đồng Tâm?



Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung về Đồng Tâm gặp dân hôm 22/4                 

Ngô Ngọc Trai - Thông tin mới nhất liên quan đến vụ việc tranh chấp đất đai ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội là mới đây huyện ủy Mỹ Đức đã khai trừ đảng đối với bà Nguyễn Thị Lan, Bí thư đảng ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã.

Như vậy là sau chuỗi sự kiện người dân bắt giữ rồi thả 38 cán bộ đảng viên và cảnh sát cơ động, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cam kết không khởi tố, nhưng sau đó cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hà Nội lại ra quyết định khởi tố triệu tập người dân Đồng Tâm, tới nay Bí thư đảng ủy xã bị khai trừ, cho thấy vụ việc vẫn còn căng thẳng.

Theo chiều hướng này vụ việc ở Đồng Tâm sẽ còn là điểm nóng dư luận trong một thời gian dài nữa, những tính toán rất có thể sai lầm của các bên không loại trừ sẽ dẫn đến tái diễn bùng nổ bạo lực. Về phía chính quyền cho thấy họ đã quyết ăn thua đủ và không muốn cho qua chuyện này, còn người dân thì có vẻ như cũng dám chấp nhận hy sinh.

Vậy làm sao để giảm tránh những vụ việc như Đồng Tâm về sau?

Vai trò của Tòa án

Một điều thấy rõ trong vụ việc này là mặc dù tranh chấp kéo dài qua nhiều năm những đã không được Tòa án đứng ra phân định đúng sai về sự việc.

Cho đến thời điểm này những kết luận về đất đồng Sênh là đất quốc phòng hay đất của người dân đều chỉ là kết luận thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo của các cấp chính quyền địa phương gồm xã, huyện và thành phố Hà Nội.

Theo thông tin bài báo ‘Khai trừ Đảng Bí thư Đảng ủy xã Đồng Tâm’ trên báo Motthegioi cho biết thì, ngày 31.10.2016 UBND TP. Hà Nội đã có kết luận nội dung tố cáo của một số công dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm về việc việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, di dời một số hộ dân đang sử dụng đất tại khu vực sân bay Miếu Môn.

Huyện uỷ Mỹ Đức cho rằng, mặc dù văn bản của thành phố Hà Nội đã khẳng định đất khu vực sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng nhưng bà Nguyễn Thị Lan đã không chỉ đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện đúng theo tinh thần trên nên đã kỷ luật khai trừ bà Lan.

Nhưng ở đây có một vấn đề, đó là kết luận của UBND thành phố Hà Nội là kết luận của người có trách nhiệm nghĩa vụ liên quan đến việc quản lý khu đất, đó không phải là kết quả giải quyết của một cơ quan trung gian công tâm, không thiên vị và bất vụ lợi, giúp tạo dựng sự tin tưởng của người dân vào kết quả giải quyết.

Nếu vụ việc tranh cãi về nguồn gốc đất được giải quyết bởi Tòa án, thì mặc dù ngành Tòa án VN hiện cũng còn tồn tại nhiều vấn đề, nhưng dù sao đó cũng là cách giải quyết khả dĩ trong việc đưa đến một kết quả đỡ bị chống đối.

Vì quy trình giải quyết của Tòa án là công khai, tại đó phía người dân được đưa ra mọi ý kiến lập luận, được cất lên tiếng nói và được lắng nghe, họ có cơ hội giãi bày tâm trạng, giải tỏa nỗi niềm, cái có ý nghĩa tinh thần không kém phần quan trọng so với việc đòi hỏi lợi ích vật chất.

Một người dân chào nhóm cảnh sát cơ động khi họ được thả tự do hôm 22/4                 
Các binh sỹ và sỹ quan cảnh sát của chính quyền Hà Nội trong ngày được trao trả tự do ở Đồng Tâm, Hà Nội vài tháng trước đây.                 

Còn quy trình giải quyết khiếu nại là lối giải quyết áp đặt quan điểm của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Và người dân sẽ không thể tâm phục khẩu phục cho một lối giải quyết như vậy, mà điều này là rất quan trọng trong việc giữ ổn cố đời sống xã hội.

Thực tế cho thấy, khiếu nại đến cái người lấy đất mà mong người ta thay đổi ý kiến thì cái cơ chế như vậy luôn khiến cho người dân ở vào trạng thái tuyệt vọng.

Hơn cả pháp luật

Vấn đề bản chất tranh chấp đất đai tại Đồng Tâm là do tồn tại sự thiếu rõ ràng về hồ sơ giấy tờ căn cứ.

Cho nên việc giải quyết vụ việc không chỉ đơn thuần căn cứ theo các quy định pháp luật hiện tại.

Có thể hình dung là mấy chục năm trước do nhu cầu của chiến tranh, một cấp chính quyền nào đó đã quyết định sử dụng khu đất ở Đồng Tâm làm sân bay. Nhưng ranh giới mốc giới không xác định rõ ràng và không lập hàng rào quản lý chặt chẽ, dẫn đến người dân tái sử dụng, đến nay chính quyền lại muốn lấy ra cho quân đội.

Nhiều vấn đề sẽ cần làm rõ như xác định gianh giới mốc giới ở đâu, chứng từ sổ sách có lưu giữ không, nhân chứng địa phương ý kiến thế nào, trách nhiệm của cơ quan được giao quản lý đất ra sao, quyền lợi người dân sử dụng đất giải quyết thế nào?

Phải dựa vào các dự kiện thực tế như vậy thì việc giải quyết mới thấu tình đạt lý, và quyền lợi chính đáng cho các bên mới được bảo đảm. Điều đó đòi hỏi sự việc phải được giải quyết bởi Tòa án chứ không thể do chính quyền địa phương giải quyết mà được.

Sự không rõ ràng của hồ sơ chứng cứ khiến cho việc vận dụng pháp luật bị hạn chế và cần đến nhiều nhận định chủ quan, khi đó càng cần đến sự xét đoán công tâm khách quan của Tòa án thay vì Ủy ban nhân dân là cơ quan có trách nhiệm liên quan.

Cho nên giải quyết vụ việc ở Đồng Tâm ngay từ ban đầu đã sai về cách làm, đó cũng do bởi pháp luật về giải quyết khiếu nại đã quy định như vậy và thực tế đáng buồn là Tòa án đã không được nhờ cậy.

Vẫn là Tòa án

Trong một xã hội ai sẽ là người đứng ra bảo vệ cho người dân trước sự xâm hại, mà rất nhiều khi kẻ xâm hại lại là chính quyền?

Trả lời câu hỏi này, lịch sử văn minh nhân loại đã nghĩ ra mô hình chính quyền với ba quyền phân lập gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để nhánh quyền lực này sẽ khắc chế ngăn chặn nhánh kia bảo vệ người dân.

Khi phân chia quyền lực làm ba nhánh, người ta hy vọng rằng sự tha hóa thối nát nếu có sẽ xảy ra không đồng thời, và một trong các nhánh còn lại vẫn giữ được sự trung thành bảo vệ người dân.


Ở VN lâu nay ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp không được phân chia mà tập trung khiến cho quyền lực của các cấp chính quyền quá lớn tạo nguy cơ xấu đối với quyền lợi dân chúng.

Trong vụ việc ở Đồng Tâm thì chính quyền địa phương nắm giữ cả bà quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, người dân không có chỗ nương tựa vào đâu để bảo vệ quyền lợi.

Tòa án đã không hề có vai trò và không hề được nhắc đến như là một thiết chế giải pháp có năng lực giải quyết vụ việc. Quyền hạn của Tòa án quá yếu kém nên không đảm đương được vai trò là định chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân.

  Rất nhiều vấn đề lộn xộn hiện nay trong đời sống xã hội đều có nguyên nhân là tư pháp yếu kém đã không đóng góp giúp ích được nhiều cho quản trị quốc gia.
Rộng hơn một chút, rất nhiều vấn đề lộn xộn hiện nay trong đời sống xã hội đều có nguyên nhân là tư pháp yếu kém đã không đóng góp giúp ích được nhiều cho quản trị quốc gia. Nói cách khác, do Tòa án được thiết kế kém quyền trong hệ thống bộ máy nhà nước lâu nay, đó là nguyên nhân đã dẫn đến nhiều thực trạng xấu của đời sống xã hội.

Nay vụ Đồng Tâm đã xảy ra như vậy, để tránh những trường hợp tương tự về sau, đã đến lúc các ban ngành cần nhận ra vai trò của Tòa án trong quản trị quốc gia, tháo gỡ các xung đột quyền lợi.

Ngành tư pháp VN cần được tăng quyền để làm tốt hơn vai trò trò phân xử tranh cãi, ngăn chặn những sai trái lạm quyền của các cấp chính quyền. Để việc cưỡng chế người dân chỉ được thực hiện sau khi đã có quyết định giải quyết của Tòa án về vụ việc.

Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một luật sư hiện đang hành nghề tại Hà Nội.

LS Ngô Ngọc Trai 
Gửi từ Hà Nội 


Phần nhận xét hiển thị trên trang