Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Phi công CS Việt - USS Mỹ: 'Kẻ thù xưa, anh em nay'


https://baomai.blogspot.com/
Cuộc hội ngộ hiếm có giữa các cựu lính phi công Cộng Sản Bắc Việt và Hoa Kỳ sau hơn 40 kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc

Không biết là vô tình hay hữu ý nhưng gần như cùng thời điểm khi bộ phim tư liệu 'The Vietnam War' (Chiến tranh Việt Nam) ra mắt, những người lính phi công Bắc Việt và Hoa Kỳ cũng đã có một buổi giao lưu gặp gỡ hiếm hoi.

Trong khán phòng khoảng một trăm người, tại bảo tàng tàu sân bay USS Midway, những người tham gia hầu hết đều ở độ tuổi thất thập cổ lai hy. Một số còn nhận ra nhau, reo lên "Anh này bắn hạ tôi năm xưa!" như thể gặp lại một bạn lâu năm.

https://baomai.blogspot.com/

Quả thực, buổi gặp gỡ "From Dogfights to Dente" (Từ Không chiến đến Hòa giải) tối 21/9/2017 tại bảo tàng tàu sân bay USS Midway, ở San Diego, California, không phải là buổi gặp mặt đầu tiên giữa các cựu lính phi công Bắc Việt - Hoa Kỳ.

https://baomai.blogspot.com/

Tháng 4/2016, 11 cựu lính phí công Hoa Kỳ đã sang Hà nội gặp gỡ địch thủ Cộng Sản năm xưa. Và có vẻ buổi gặp gỡ cá nhân đầu tiên, vốn là đứa con tinh thần giữa Trung tướng Nguyễn Đức Soát và Đại tá Charlie "Shark" Tutt, đã mở đường cho cuộc gặp gỡ thứ hai vào tối 21/9 vừa qua.

Hay như cách Đại tá Lê Thanh Đạo nói tại buổi giao lưu: "Chỉ mới một năm không gặp thôi mà đã thấy nhớ rồi."

Đoàn cựu phi công chiến đấu của Không quân nhân dân Việt Nam (Bắc Việt), gồm 11 người, dẫn đầu đoàn là Trung tướng Nguyễn Đức Soát, người đã có một bài phát biểu mở đầu buổi giao lưu.

https://baomai.blogspot.com/
Trung tướng Nguyễn Đức Soát dẫn đầu đoàn lính phi công Việt Nam tại buổi giao lưu tường thuật của Tổ chức Bảo tàng USS Midway

"Cách đây hơn 40 năm, chúng ta, các phi công trẻ đều thực hiện nhiệm vụ mà đất nước giao cho mình. Ngày nay khi quan hệ hai nước tốt lên... chúng ta nhìn lại trận đánh ngày xưa để hiểu thêm về nhau, chia sẻ nỗi đau mất mát mà cuộc chiến nào cũng để lại cho mỗi phía."

"Mục đích của buổi gặp gỡ là hiểu thêm về các trận không chiến. Nhưng mục đích cao cả hơn là góp phần xây dựng mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đúng như quyết tâm của hai nước, gác lại quá khứ, hướng đến tương lai."

https://baomai.blogspot.com/

Một cựu phi công Mỹ khác phát biểu tại buổi gặp mặt thì nói: "40 năm trước, năm 1965, Bắc Việt có 40 phi công. Và 40 phi công này đã chiến đấu lại Hải quân Mỹ, Không quân Mỹ, Thủy quân lục chiến Mỹ và cả các lực lượng chiến đấu từ các nước đồng minh của Mỹ. Chúng ta, khác họ, chúng ta có thể trở về nhà sau 10 tháng chiến đấu. Còn họ, họ đã ở quê nhà rồi. Nhưng họ vẫn luôn phải trở lại chiến trường."

"Cuộc gặp năm ngoái giữa chúng tôi, họ đã khiến tôi thực sự cảm phục. Tôi hi vọng họ cũng sẽ dành được sự cảm phục từ quý vị," vị cựu sĩ quan Mỹ cũng từng tham gia buổi gặp gỡ năm ngoái tại Hà Nội nói thêm.

Ông có căm thù Mỹ không?

https://baomai.blogspot.com/

Buổi giao lưu đầu tiên diễn ra với sự tham gia của Trung tướng Đức Soát, Đại tá Nguyễn Thanh Quý và Đại úy John Cerak của Không quân Hoa Kỳ.

"Chúng tôi đang bay qua không phận Lào, sau đó quay trở lại về phía Đông, liên tục dùng radar rà soát, thì đột nhiên, ông Nguyễn Đức Soát đây đã phá hỏng một ngày đẹp trời," Đại úy John Cerak nói chỉ tay về ông Soát trong khi khán phòng rộ lên tiếng cười.

"Ông Nguyễn Đức Soát, ông đã bắn hạ sáu máy bay Mỹ, đây là có phải là vì lòng hận thù không?" Người điều phối buổi giao lưu Scott McGaugh hỏi.

Vị Trung tướng 72 tuổi trả lời:

https://baomai.blogspot.com/

"Riêng đặc thù của không quân, chúng tôi chỉ thấy máy bay thôi. Khi vào không chiến, máy bay này theo máy bay kia. Các phi công là những người lính mà cảm giác về chết chóc ít xảy ra vì người ta không nhìn thấy. Không ai mong bắn chết người khác, chỉ mong bắn hạ máy bay của đối phương thôi.

https://baomai.blogspot.com/

"Cách đây bảy năm tôi gặp Đại tá Charlie Tutt, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tôi bàn với ông ấy tổ chức cho các cựu phi công từng tham chiến ở Việt Nam gặp nhau. Cho nên tình cảm của tôi đối với nhân dân Mỹ như thế, các bạn hiểu cả..."

https://baomai.blogspot.com/
Đại tá Nguyễn Thanh Quý (trái) tại buổi giao lưu tường thuật của Tổ chức Bảo tàng USS Midway

Có phi công Nga và Trung Cộng tham chiến?

Một người trong khán đài hỏi "Có phi công Nga và Trung Cộng tham chiến hay không?"

Đại tá Nguyễn Thanh Quý phân trần: "Trong cuộc chiến, phi công giai đoạn đó được Liên Xô cũ và Trung Cộng đào tạo. Trong chiến tranh không có phi công Nga, Trung Cộng nào tham gia. Chúng tôi có bí mật quân sự riêng. Ở Nga chúng tôi chỉ học kỹ thuật. Còn chiến thuật là chúng tôi tự tìm tòi. Các sĩ quan Nga không được vào sở chỉ huy, điều hành, không được dự buổi rút kinh nghiệm.

https://baomai.blogspot.com/

"Có nhóm ba phi công chuyên gia, một mặt là giúp bay hồi phục khi các giáo viên bận đi đánh nhau. Có một lần là tháng 9/1972, một phi công học bay được một thiếu tá người Nga bay kèm giúp bay hồi phục kỹ thuật thì bị bốn chiếc F4 tấn công. Máy bay tập thì không đeo tên lửa. Bốn chiếc F4 quần cho đến khi gần hết dầu thì các phi công nhảy dù, nên mới có chuyện một phi công người Nga nhảy dù. Nhưng là trong trường hợp bay hồi phục, chứ không phải chiến đấu."

https://baomai.blogspot.com/
Ông Nguyễn Hưng, tự giới thiệu là lính Biệt Động của Việt Nam Cộng Hòa tham gia đặt câu hỏi tại buổi giao lưu

Sự xuất hiện của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa tại buổi giao lưu cũng gây chút bất ngờ. Ông Nguyễn Hưng, tự giới thiệu là lính biệt động quân của lực lượng Việt Nam Cộng Hòa và chỉ tay về phía cựu phi công Bắc Việt, cười lớn nói "They shot me down! (Họ bắn hạ tôi đấy!)"

"Tôi muốn hỏi các cựu phi công Hoa Kỳ ở đây, ai là người đã ném quả bom xuống bệnh viện Bạch Mai, xuống Khâm Thiên," ông Hưng hỏi.

https://baomai.blogspot.com/

Câu hỏi khó gây ra một sự lúng túng cho cả khán phòng, nhưng người điều phối Scott Gaugh khéo léo tránh né bằng cách thay thế với câu hỏi "Các ông nghĩ sao về độ chính xác của bom Mỹ?"

https://baomai.blogspot.com/

Nhưng sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, Clint Johnson lại không tránh né, trả lời "Họ đã làm hết sức có thể để tránh thương vong cho thường dân. Chúng tôi đã rất cẩn thận để không đánh bom sai nơi... nhưng tai nạn xảy ra. Một số người đã không cẩn thận nhưng chúng tôi có quy định rất nghiêm ngặt. Nếu anh không tuân theo, anh có thể mất sự nghiệp phi công vĩnh viễn hoặc đi tù."

Về phía Cộng Sản Bắc Việt, Đại tá Lê Thanh Đạo trả lời:

"Tôi không biện minh cho những quả bom của máy bay Mỹ ném vào khu nhà dân nhiều dân thường. Nhiều trẻ em đã bị chết, tuy nhiên tôi cũng hiểu kỷ luật quân đội Mỹ là rất rõ ràng. Nhưng bệnh viện Bạch Mai thì rất sát khu chỉ huy không quân của chúng tôi. Quả bom không trúng hầm chỉ huy mà 'lạc' sang bệnh viện.

"Điều đó tôi thấy người ném bom không có lỗi, nhưng để gây ra chiến tranh mới có lỗi"

Buổi giao lưu chuyển hướng sang cuộc sống cá nhân giữa thời chiến. Đại tá Lê Thanh Đạo thì tự hào giới thiệu người vợ cùng theo ông đến buổi giao lưu.

"Đây là bà vợ tôi, trong chiến tranh là tuần cũng lên thăm chồng xem còn sống hay không, đến nỗi có tay chỉ huy nói là cô cứ lên như thế này là làm mất sức chiến đấu của chúng tôi."

https://baomai.blogspot.com/
Đại úy Clint Johnson (trái) và đại tá Lê Thanh Đạo (phải) cùng người thông dịch viên tại buổi giao lưu tối 21/9 tại bảo tàng USS Midway.

"Ngược lại chúng tôi có vợ con nên càng hăng hái hơn, may quá lúc đó tôi đã bắn được bốn chiếc máy bay rồi cho nên tôi vẫn được động viên khen thưởng. Công bắn hạ tên lửa là do vợ tôi cả.

Chiến tranh là thứ ngu xuẩn nhất loài người từng làm

Trả lời phóng viên tờ San Diego Union-Tribune, Đại úy Hải quân Jack "Fingers" Ensch nói:

https://baomai.blogspot.com/

"Nhà tù nhỏ nhất thế giới là giữa hai tai anh. Nếu anh cứ tiếp tục căm thù, thì họ cũng vẫn cách xa nửa thế giới. Họ không biết anh đang nghĩ về họ, hận thù họ hay những thứ như thế. Họ tiếp tục với cuộc sống của mình. Nếu anh vẫn hận thù, thì anh vẫn bị giam cầm."

Trước khi kết thúc buổi tọa đàm, khi được mời chia sẻ những lời cuối, Đại úy Clint Johnson nói:

"Tôi không bao giờ ghét kẻ thù. Cả hai đều làm những điều mà chúng tôi nghĩ là tốt nhất. Người Mỹ muốn ngăn cản sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, còn người Việt Nam chỉ muốn thống nhất đất nước, không thể tranh cãi gì được với một một sứ mệnh như thế.

https://baomai.blogspot.com/

"Rất tiếc là quốc gia chúng ta phải giao chiến như thế. Tôi không nghĩ bên nào thực sự căm ghét bên nào. Họ có thể thù ghét một số hành động, nhưng tôi không tin họ căm ghét đối thủ của mình trên chiến trường," ông Johnson nói.

Còn Đại tá Lê Thanh Đạo thì nhắc lại thông điệp mà Trung tướng Đức Soát đã nói trong phát biểu mở đầu:

"Chúng ta đã ngồi đây như những người bạn. Chúng ta hãy khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, tình hữu nghị Việt-Mỹ của chúng ta."

 https://baomai.blogspot.com/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tòa Tối cao bỏ điều trần về lệnh cấm nhập cảnh


https://baomai.blogspot.com/ 

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã rút hồ sơ liên quan tới lệnh cấm nhập cảnh của Tổng thống Trump ra khỏi nghị trình làm việc tháng 10 sau khi Tổng thống Donald Trump công bố luật mới hôm Chủ nhật vừa rồi. Được loan báo vào đúng thời điểm lệnh cấm du hành cũ sắp hết hạn, các quy định mới tăng số các nước bị chi phối bởi các quy định mới, tuy nhiên lần này, những giới hạn đối với sự đi lại không hết hạn mà có thể được thi hành vô thời hạn. Thông tín viên Molly McKitterick có thêm các chi tiết sau đây.

Như được dự kiến rộng rãi, các giới hạn mới về du hành nhắm vào những ‘mối đe dọa cá thể đến từ những nước cá thể’.

Đặc biệt, luật mới cấm:

https://baomai.blogspot.com/ 

* Di dân hay không di dân đến từ các nước Chad, Libya và Yemen. Thành phần này không được nhập cảnh, dù bằng visa làm ăn, du lịch hay cả hai.

* Công dân Iran nhập cảnh Mỹ, nhưng đặc biệt miễn trừ cho sinh viên, mặc dù họ phải trải qua các biện pháp kiểm tra phụ trội.

* Di dân/khách đến từ Triều Tiên và Syria.

* Ngăn di trú đối với công dân Somalia và buộc khách du hành phải trải qua kiểm tra đặc biệt.

* Rút tên Sudan ra khỏi danh sách bị cấm.

Tại một hội nghị về luật di trú ở Đại học Georgetown hôm thứ Hai, lệnh cấm du hành là chủ đề nóng được mang ra thảo luận.

https://baomai.blogspot.com/

Trong khi tuyên bố của Tổng thống Donald Trump nói ông phải hành động để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ, nhiều người tỏ ra hoài nghi về những động cơ của ông.

Ông Arturo Sarukhan, cựu đại sứ Mexico tại Hoa Kỳ phát biểu:

https://baomai.blogspot.com/

“Trên thế giới có những mối đe dọa có thực, và những cá nhân mà chúng ta phải luôn theo dõi… Nhưng vấn đề ở đây là đôi khi vấn đề xảy ra trong bối cảnh rộng lớn của chính sách bảo vệ các lợi ích của người bản xứ và cư dân chống lại di dân, và tình cảm bài ngoại. Khi điều đó xảy ra, đôi khi rất khó có thể phân biệt động cơ thực thụ là an ninh quốc gia, hay là những yếu tố khác.”

Ông Trump nói các giới hạn mới sẽ có hiệu lực cho tới khi các nước liên quan cải thiện hệ thống kiểm tra an ninh của họ.

Người phát ngôn của Tòa Bạch Ốc Sarah Huckabee Sanders nói:

https://baomai.blogspot.com/

“Cách thức lệnh cấm du hành được thiết lập, là các nước khác phải đáp ứng những đòi hỏi tối thiểu, và tham gia chia sẻ thông tin. Trong thời gian qua, một số nước đã đạt tiến bộ và thỏa đáng các đòi hỏi tối thiểu mà Hoa Kỳ vạch ra.”

Các quy định mới sẽ được chính phủ tái xét theo định kỳ, và có thể bị thách thức tại tòa, nếu không đưa ra trước tòa án tối cao.

Tòa tối cao đã chuẩn bị lắng nghe những lập luận về tính hợp pháp của sắc lệnh cấm du hành của Tổng thống Trump, nhưng phiên bản mới có thể bị thách thức lại, khởi sự tại các tòa án cấp dưới.

https://baomai.blogspot.com/

Bà Jeanne M. Atkinson, Giám Đốc Trung tâm Công giáo Hỗ trợ Pháp lý cho người Di dân nói:

https://baomai.blogspot.com/

“Điều gì sẽ xảy ra tại Tòa Tối cao giờ đây khi lệnh cấm du hành đã thay đổi? Theo tôi, nếu ở lại đây hôm nay và lắng nghe mọi người thì chúng ta sẽ nghe những ý kiến rất là khác nhau. Đây là một vấn đề phức tạp bởi vì những thay đổi trong lệnh cấm du hành. Đây là một lệnh cấm du hành mới, và phải được xem xét riêng biệt.”

Trong khi đó, phần đã đáo hạn của lệnh cấm du hành cũ có thể được khôi phục, trong khi lệnh mới có hiệu lực từ ngày 18/10.

https://baomai.blogspot.com/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THE VIETNAM WAR phụ đề tiếng Việt do KPBS làm by anle20


Tôi tìm kiếm 10 tập này do chính PBS phụ đề tiếng Việt.Hy vọng bà con ta để dành xem từ từ không bị PBS xóa.
THE VIETNAM WAR, phim tài liệu dài 18 tiếng của Ken Burns và Lynn Novick sẽ ra mắt vào ngày 17 tháng 9 năm 2017 trên đài truyền hình PBS. Nó kể về câu chuyện sử thi của một trong những sự kiện gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử nước Mỹ. Burns và Novick đã trải qua 10 năm làm phim. Câu chuyện bao gồm lời tường thuật của gần 80 nhân chứng từ mọi phía – những người Mỹ chiến đấu trong chiến tranh và những người chống lại chiến tranh, cũng như các chiến binh và thường dân từ Bắc và Nam, Việt Nam.
Đây là một bộ phim rất công phu nhiều tư liệu sống động nói lên sự thật của cuộc chiến.
Tất nhiên là phim của người Mỹ làm, nên chủ yếu những tư liệu về người Mỹ, quan điểm chiến tranh của Mỹ.Có những quan điểm chúng ta bất đồng.Nhưng phim giải quyết được câu hỏi bấy lâu nay ta thường hỏi ” Tại sao Mỹ tham chiến ,và cuộc chiến đã diễn ra như thế nào ? Trên tất cả là Mỹ tham chiến để chống chủ nghĩa Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á như thế nào ? Và Vietnam thực sự là bãi chiến trường của Mỹ và phe Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc ”
Đây là links của 10 tập phim có phụ đề tiếng Việt.Phải mất thì giờ để xem dần.Lần này tôi sưu tầm phim phụ đề tiếng Việt do chính PBS dịch.Hy vọng bà con ta để dành xem lâu dài mà không bị xóa.
Các bạn bấm vào từng link dưới đây để xem từng tập.
 
 
 
 
 
 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

5 đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại


Mỹ chắc chắn là quốc gia mạnh nhất thế giới hiện nay xét về mặt quân sự. Mỹ kết hợp tài năng thương mại của người Anh với chủ nghĩa tự do và các nguồn lực cấp độ lục địa. Giống người La Mã, người Mỹ có nền văn hóa hấp dẫn. Giống người Mông Cổ, Mỹ có thể tung ra các đòn hủy diệt. Tương tự người Arab, Mỹ đã lan truyền một ý thức hệ phổ quát ra toàn cầu. Như Đế chế Ba Tư, Mỹ kết hợp các nền văn hóa khác nhau và kết nối các khu vực lại. Với tất cả các lý do này, Mỹ có một tương lai dài phía trước với tư cách một cường quốc lớn. 

Trong tất cả các đế chế từng nổi lên và thịnh vượng trên Trái Đất này, đâu là 5 đế chế hùng mạnh nhất? Làm thế nào có thể lựa chọn ra 5 đế chế trong hàng trăm đế chế từng ngự trị trong 5.000 năm qua? Bất cứ công thức nào về “5 đế chế hùng mạnh nhất” đều luôn tiềm ẩn yếu tố chủ quan, bởi lẽ tất cả các đế chế đều có thời vinh quang và có tầm ảnh hưởng theo cách riêng của mình.

Nhưng nếu xét trên nhiều tiêu chí thì có một số đế chế nổi bật hẳn lên vì chúng rất mạnh, lớn và có ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn của lịch sử nên xứng đáng được gọi là vĩ đại nhất.

Cây bút Akhilesh Pillalamarri trên tạp chí National Interest (Mỹ) đã lựa ra 5 đế chế như thế. Tác giả Pillalamarri đã loại Trung Quốc và Ấn Độ ra khỏi “top 5 đế chế” này, bởi theo tác giả, tầm ảnh hưởng của đế chế Trung Hoa và Ấn Độ chỉ ở mức khu vực:

Đế chế Ba Tư thứ nhất



Đế chế Ba Tư của triều đại Achaemenid được Cyrus Đại đế thành lập vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Vị vua này có tước hiệu Vua của các Vua (Shahanshah). Mặc dù Đế chế Ba Tư có kết thúc bi thảm trong tay Alexander Đại đế (của Vương quốc Macedonia) vào năm 330 trước Công nguyên, đế chế này vẫn để lại di sản dài lâu cho sự phát triển sau này của các nền văn minh thế giới và các đế chế tương lai. Đế chế Ba Tư là một đế chế chủ chốt trong lịch sử loài người, bởi lẽ đây là đế chế thực sự đầu tiên – nó đã đặt ra các chuẩn mực về thế nào là đế chế cho các đế chế tương lai.

Đế chế Ba Tư nói trên tồn tại vào một thời điểm độc nhất vô nhị trong lịch sử, khi phần lớn thế giới văn minh có người sinh sống đều tập trung ở Trung Đông hoặc gần Trung Đông. Kết quả là, Đế chế Ba Tư khi thống trị hầu hết Trung Đông thời điểm đó thì cũng đồng thời cai trị một tỷ lệ dân số thế giới lớn hơn bất cứ đế chế nào khác trong lịch sử. Cụ thể, vào năm 480 trước Công nguyên, đế chế này có dân số xấp xỉ 49,4 triệu người, bằng 44% dân số toàn thế giới lúc đó.

Đế chế Ba Tư là đế chế đầu tiên kết nối nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Ấn Độ, châu Âu và vùng Địa Trung Hải. Đế chế này đã khơi mào cho khái niệm đế chế ở những nơi như Hy Lạp và Ấn Độ.

Một đế chế lớn như vậy chỉ có thể quy tụ lại được nhờ vào sức mạnh quân sự. Các thành tựu quân sự của Đế chế Ba Tư là rất đáng nể, dù rằng chúng hay bị lãng quên do thất bại bất ngờ của đế chế này trước các đội quân của Alexander Đại đế. Các chiến dịch khác nhau của Ba Tư đã chinh phục được nhiều nền văn minh tiên tiến của thế giới khi ấy như là Babylon, Lydian, Ai Cập, và khu vực Hindu của Gandhara nằm ở nước Pakistan ngày nay.

Loại bỏ các yếu tố phóng đại và diễn giải sai thì người Ba Tư vẫn tin rằng họ đã đạt được các mục tiêu của mình ở Hy Lạp và rằng có nhiều người Hy Lạp sống trong Đế chế Ba Tư hơn là sống bên ngoài. Đế chế Ba Tư đã mở ra cả một thời kỳ hòa hợp và hòa bình ở Trung Đông trong 200 năm – một chiến tích hiếm khi được lặp lại.

Xét về mặt khái niệm đế quốc thì di sản của Đế chế Ba Tư để lại cho thế giới bao gồm việc sử dụng một mạng lưới đường bộ, hệ thống bưu chính, một ngôn ngữ hành chính thống nhất (tiếng Aramaic dùng trong toàn đế chế), chế độ tự trị dành cho các dân tộc thiểu số, và một chế độ quan liêu. Tôn giáo Ba Tư – Bái Hỏa giáo – có ảnh hưởng đến sự phát triển của các khái niệm chính yếu như tự do ý chí, thiên đường và địa ngục trong các tôn giáo Abraham cho tới đạo Do Thái.

Đế chế La Mã



Đế chế này thì rõ ràng có tầm ảnh hưởng lớn. Đế chế La Mã đã từ lâu là đế chế tinh hoa tiêu biểu cho thế giới phương Tây. Nhưng tầm quan trọng của nó không phải là do phương Tây tự nhận như vậy: Đế chế La Mã thực sự là một trong những đế chế lớn nhất của lịch sử nhân loại. Người La Mã đã thể hiện một năng lực đáng kinh sợ trong việc chinh phục và giữ được một vùng lãnh thổ vô cùng rộng lớn trong khoảng thời gian tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm nếu tính cả Đế chế Đông La Mã (Đế chế Byzantine). Điều đáng chú ý là đế chế này được cố kết lại không chỉ bằng sức mạnh bạo tàn. Một khi đã bị chinh phục, người dân trong đế chế đó đều mong ước trở thành người La Mã – điều này đồng nghĩa với việc tham dự vào một nền văn hóa tinh tế, tao nhã kinh điển.

Thế giới hiện đại có một số đặc điểm kế thừa từ Đế chế La Mã. Người La Mã chiếm lấy rồi phát huy nền văn hóa bản địa của Hy Lạp, truyền lại cho các thế hệ sau nền kiến trúc, triết học và khoa học của Hy Lạp. Người La Mã sau khi theo Kitô giáo đã nâng tôn giáo này từ một giáo phái nhỏ thành một trong các tôn giáo lớn của thế giới.

Luật La Mã cũng ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống pháp lý sau này của thế giới phương Tây. Các thể chế La Mã cũng truyền cảm hứng cho hệ thống chính quyền của nhiều quốc gia hiện đại. Mặc dù Hy Lạp nổi tiếng là nơi “khai sinh chế độ dân chủ”, những người sáng lập ra nước Mỹ chủ yếu chịu ảnh hưởng của thực tiễn ở nước Anh và La Mã. Trên thực tế, nhiều vị trong số đó thường bày tỏ mình không thích cuộc thử nghiệm dân chủ ở Athens, đồng thời bày tỏ ngưỡng mộ hình thức quản trị hỗn hợp của La Mã nơi các thành phần quân chủ, quý tộc và dân chủ chia sẻ quyền lực. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập của Mỹ gần gũi với sự phân chia thể chế của La Mã. Khi Cộng hòa La Mã chuyển thành Đế chế La Mã, ý tưởng và quyền hành của Caesar đã truyền cảm hứng cho các bậc cai trị sau này.

Người La Mã là một dân tộc kiên cường. Họ có khả năng hồi phục sau vô số bước thụt lùi, tập hợp lại rồi đánh bại kẻ thù. Mặc dầu vị tướng Carthage là Hannibal gần như phá hủy hoàn toàn La Mã sau trận chiến Cannae năm 216 trước Công nguyên, người La Mã cuối cùng vẫn có thể phái một đội quân tới Carthage để để đánh bại thành bang này vào thời điểm 14 năm sau đó. Về mặt quân sự, các đội quân lê dương của La Mã thống trị trong nhiều thế kỷ, giúp La Mã thống trị gần như tất cả các dân tộc văn minh khác ở Địa Trung Hải và Cận Đông (ngoại trừ đế chế Ba Tư) trong hàng trăm năm, và chỉ phải đối mặt với một số cuộc đột kích nhỏ của các bộ lạc kém tổ chức.

Khi Đế chế La Mã thực sự sụp đổ, thì đó chủ yếu là do khủng hoảng bên trong và nội chiến hơn là do cuộc xâm chiếm của các bộ tộc German. Đế chế Đông La Mã kéo dài tới năm 1453, mang lại cho lịch sử chính trị của nhà nước La Mã một tuổi thọ lớn tới hai thiên niên kỷ.

Vương quốc Caliphate



Đế chế Arab, còn được biết đến với cái tên Caliphate, là một thể chế chính trị do nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad sáng lập. Đế chế này bao gồm hầu hết bán đảo Arabia vào thời điểm Muhammad qua đời vào năm 632. Gọi nó là Đế chế Arab sẽ hợp lý hơn gọi là Đế chế Hồi giáo, bởi lẽ trong khi đạo Hồi có gốc gác và lan truyền rộng ra từ đế chế này, về sau có thêm nhiều đế chế của người Hồi giáo và do người Hồi giáo thống trị nhưng không phải là Arab.

Muhammad được kế vị bởi 4 vị Caliph được lựa chọn qua cơ chế đồng thuận cho đến năm 661. Sau đó triều Caliphate Umayyad cha truyền con nối thống trị tiếp cho đến năm 750, kế tiếp là triều Caliphate Abbasid, mặc dù các cuộc chinh phục đã kết thúc vào thời điểm này.

Đế chế Arab về thực chất chấm dứt tồn tại vào khoảng năm 900, mặc dù triều Abbasid duy trì vai trò tôn giáo với tư cách là các Caliph ở Baghdad cho đến tận khi thành phố này bị người Mông Cổ phá hủy vào năm 1258. Sau năm 900, đế chế này bị tan rã về chính trị, với sự trỗi dậy của nhiều triều đại đối nghịch, trong đó có nhiều đối thủ gốc Turk và Ba Tư, cũng như các Caliphate kình địch ở Tây Ban Nha và Ai Cập.

Tuy nhiên, trong thời của mình, Đế chế Arab vẫn là phi thường, với các chiến công và di sản của nó. Điều ngưỡng mộ là, một dân tộc kiểu bộ lạc, có tổ chức lỏng lẻo nằm ngoài rìa của văn minh thế giới lại có thể đánh bại Đế chế Byzantine và lật đổ Đế chế Ba Tư triều Sassanid – hai đế chế này đều có dân số và nguồn lực khổng lồ áp đảo so với Sa mạc Arabia.

Các cuộc chinh phục của Arab là một ví dụ tiêu biểu chứng minh sự nhiệt tình về hệ tư tưởng có thể bù đắp cho sự yếu kém về công nghệ và tổ chức. Các vị tướng Arab thuộc thời kỳ này xứng đáng được xếp vào hàng các thiên tài quân sự vĩ đại nhất của thế giới, đặc biệt là vị Caliph thứ 3, Omar, người đã chinh phục khu vực từ Ai Cập tới Ba Tư trong 10 năm. Trong 100 năm, Đế chế Arab đã phát triển lên quy mô lớn gấp vài lần Đế chế La Mã ở giai đoạn đỉnh cao.

Nhờ vị trí của mình mà Đế chế Arab, cũng như Đế chế Ba Tư trước đó, đã kết nối các trung tâm văn minh thế giới ở châu Phi, châu Âu, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc. Kết quả, lần đầu tiên hàng hóa và tri thức từ tất cả các vùng này có thể kết hợp với nhau, mang lại các khái niệm mới như là algebra (Đại số).

Di sản cuối cùng của Đế chế Arab, đương nhiên, chính là đạo Hồi, mà ngày nay có hơn một tỷ tín đồ.

Đế chế Mông Cổ



Đế chế Mông Cổ là một đế chế khác nằm ở ngoại vi. Đế chế này gây bất ngờ lớn khi nó đánh bại được các kẻ thù mạnh và đông dân hơn rất nhiều. Đây là đế chế có lãnh thổ liên tục lớn nhất thế giới và là đế chế sử dụng đòn khủng bố với tất cả các kẻ thù.

Đế chế do thủ lĩnh Mông Cổ Temujin lập ra. Thủ lĩnh này nắm tước hiệu Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206. Đế chế Mông Cổ đầu tiên mở rộng bằng cách “tỉa dần” từng phần của lãnh thổ Trung Hoa như các bộ lạc thảo nguyên từng làm trước đó.

Nhưng khoảnh khắc bước ngoặt của Đế chế Mông Cổ là khi các sứ giả của họ bị các lãnh đạo của Đế chế Khwarazmian láng giềng (bao gồm Iran, Afghanistan, và Central Asia) giết chết. Thành Cát Tư Hãn coi đây là một sự sỉ nhục lớn và sự trả thù sau đó của Mông Cổ đã phá hủy hoàn toàn Trung Á, chấm dứt kỷ nguyên vàng của nó. Các cuộc xâm lược do Mông Cổ tiến hành cộng với việc thiết lập các tuyến hàng hải châu Âu sau đó (giúp tránh phải đi qua Con đường Tơ lụa) đã đặt dấu chấm hết cho vài trò quan trọng của khu vực Trung Á.

Mặc dù chỉ có khoảng 2 triệu người Mông Cổ trên toàn thế giới khi ấy, họ vẫn chính phục được hầu hết Trung Đông, Nga, và Trung Quốc. Vào thời đỉnh cao, họ chỉ vấp phải một số thất bại nhỏ ngoại trừ cuộc xâm lược Nhật Bản không thành công và trận chiến Ain Jalut năm 1260 chống lại người Mamluk cầm quyền ở Ai Cập.

Làm thế nào mà người Mông Cổ lại có thể đạt được các chiến tích này? Bất chấp dân số nhỏ, người Mông Cổ có thể tung ra trận các đội quân lớn và cơ động bởi họ mang theo các đàn gia súc và duy trì năng lượng cho binh sĩ bằng thịt ngựa. Vào kỷ nguyên chưa có công nghệ đông lạnh, về mặt hậu cần, người Trung Quốc rất khó tung ra trận một đội quân tương xứng.

Các cuộc chinh phục của Mông Cổ đã lấy đi mạng sống của hàng triệu người. Nhưng sau đó Mông Cổ đã mở ra một kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng khi thương mại mở rộng trên lãnh thổ rộng lớn của họ. Tuy nhiên về lâu dài, người Mông Cổ tỏ ra kém hiệu quả trong việc quản lý đế chế của mình – đế chế này cuối cùng bị chia tách thành 4 vương quốc khan, rồi sau đó mỗi vương quốc này lại bị tan rã hoặc chia nhỏ hơn.

Đế chế Anh



Người Anh thực sự góp phần quan trọng tạo nên thế giới hiện đại. Các thể chế dân chủ đại diện của Anh truyền cảm hứng cho các triết gia khai sáng Pháp như là Montesquieu sáng tạo ra các học thuyết chính trị hiện đại có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia châu Âu hiện đại.

Các đặc điểm chính của Mỹ – sự gắn bó chặt với chủ nghĩa tự do, tư tưởng pháp trị, quyền dân sự và thương mại – được kế thừa từ người Anh và đã lan rộng ra thế giới. Hầu hết các đặc điểm này đều tiến hóa một cách hữu cơ qua lịch sử dài lâu của nước Anh hơn là nhờ vào kết quả của một kế hoạch tổng thể nào đó.

Cũng chính các đặc điểm trên đã giúp Đế chế Anh phát triển, thịnh vượng và giữ được lãnh thổ do nó kiểm soát. Hơn nữa, tấm gương của nó được học tập rộng rãi, cho dù là vì sức mạnh tài chính hay hải quân của đế chế này.

Vào thời đỉnh cao của mình trong thế kỷ 20, Đế chế Anh trải dài qua 1/4 thế giới – đế chế lớn nhất (về diện tích) trong lịch sử. Chiến tích này đạt được phần lớn là nhờ các thắng lợi về mặt tổ chức và sức mạnh tài chính của nước Anh, rồi mới đến vai trò của một quân đội lớn. Chẳng hạn việc Anh chinh phục Ấn Độ chủ yếu được tiến hành bởi những người lính Ấn Độ nhận lương và bổng lộc của người Anh để phục vụ Anh. London cũng thể hiện khả năng xuất sắc trong việc xử lý nhiều cuộc chiến cùng một lúc. Người Anh hiếm khi thua trận.

Kết luận

Vậy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ so với các gã khổng lồ này thì như thế nào? Mỹ chắc chắn là quốc gia mạnh nhất thế giới hiện nay xét về mặt quân sự. Mỹ kết hợp tài năng thương mại của người Anh với chủ nghĩa tự do và các nguồn lực cấp độ lục địa. Giống người La Mã, người Mỹ có nền văn hóa hấp dẫn. Giống người Mông Cổ, Mỹ có thể tung ra các đòn hủy diệt. Tương tự người Arab, Mỹ đã lan truyền một ý thức hệ phổ quát ra toàn cầu. Như Đế chế Ba Tư, Mỹ kết hợp các nền văn hóa khác nhau và kết nối các khu vực lại.

Với tất cả các lý do này, Mỹ có một tương lai dài phía trước với tư cách một cường quốc lớn. Thế nhưng Mỹ cần phải nhớ lại các bài học của các đế chế xưa nếu không muốn lặp lại các sai lầm của chúng.

Bất chấp việc có một đội quân hùng mạnh, thành La Mã vẫn thất thủ. Sự chia rẽ và lục đục trong nội bộ có thể tiêu diệt cả những đế chế mạnh nhất. Người Ba Tư bị chinh phục không phải do họ yếu mà là do giới lãnh đạo của họ đã thất bại. Mặc dù người Mông Cổ giành chiến thắng trong chiến tranh, họ lại không thể giành thắng lợi trong thời bình và cuối cùng đã không thể duy trì lâu dài chế độ của mình ở bất cứ đâu. Người Arab tạo ra một nền văn minh rực rỡ, nhưng những kẻ mới đến đã hấp thụ các mặt tích cực của họ rồi đẩy họ xuống “chiếu dưới”. Cuối cùng, người Anh đã kiệt sức khi ôm đồm làm nhiều thứ cùng một lúc, cố gắng giương cao lợi ích của họ, trật tự toàn cầu, và hệ thống châu Âu…


Biên dịch: Trung Hiếu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ "hot girl" xứ Thanh, “sắp” rồi bà con nhé!


Hi vọng lạy giời, không phải nghe những cụm từ “nhàm chán” đến… chối tai như “kiểm điểm nghiêm khắc” hay “rút kinh nghiệm sâu sắc” bởi sợi dây kinh nghiệm đã quá dài và sự việc cũng đã sắp nửa năm.

Vâng, xin được nhắc lại, vụ "hot girl" xứ Thanh “sắp” có kết luận rồi bà con nhé.
Theo thông tin từ Dân trí cách đây 5 ngày (21/9), một lãnh đạo Văn phòng UB Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết: “Tuần tới sẽ họp Ban Thường vụ, Ban chấp hành xem xét xử lý, lúc đó có kết quả sẽ thông tin đến báo chí”.


Sở dĩ phải “nhắc lại” dù mới chỉ là “sắp” là bởi nhiều, rất nhiều bà con ta gửi thư về BLOG Dân trí hỏi về việc này. Nhiều người bi quan, cho rằng vụ việc “chìm xuồng” rồi, “ỉm” đi rồi, “hóa bùn…” rồi nên bức xúc và sốt ruột.

Thật ra, sự bức xúc, sốt ruột cũng có cái lý của nó.

Không bức xúc sao được khi đây là một vụ “đình đám”, được cả nước quan tâm và có lẽ cũng không khó khăn gì trong việc điều tra, xem xét. Thế mà đã gần 6 tháng qua, cái vụ việc “nhỏ như cái móng tay” vẫn biệt tăm, biệt tích.

Nhớ lại khi sự việc vừa xảy ra, ngày 5/4, trả lời báo Dân trí, Trần Quang Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết sẽ làm việc với tinh thần khẩn trương và chính xác nhất có thể và theo quy định thì một cuộc thanh kiểm tra sẽ kéo dài 3 tháng, song cũng có thể kết thúc sớm hơn.
Ba tháng sau, ngày 4/7, phóng viên Dân trí đặt câu hỏi thì một cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa nói: “Thực ra trong quy định không nhất thiết phải 3 tháng vì việc kiểm tra dấu hiệu vi phạm không quy định thời gian. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong điều lệ nó có quy định, còn kiểm tra dấu hiệu vi phạm tùy từng nội dung, tính chất mức độ thì thời gian dài hay ngắn”.

Có lẽ để tiện theo dõi, cũng cần nhắc lại con đường thăng tiến kỳ ảo của cô gái trẻ Quỳnh Anh. Năm 2008, tốt nghiệp Cao đẳng Công nghệ tin học Nghệ An, được nhận vào làm hợp đồng tại Văn phòng Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp cử nhân tin học (hệ tại chức), bà Quỳnh Anh được nhận vào làm hợp đồng tại Trung tâm kiểm định chất lượng của Sở Xây dựng Thanh Hóa rồi sau đó được điều về Phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản của sở này.

Thế nhưng chỉ khoảng một năm sau kỳ nghỉ sinh con(tháng 4/2015), bà được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng Phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản rồi cũng chỉ 6 tháng sau (tháng 10/2015), được bổ nhiệm làm Trưởng phòng.

Như vậy là chỉ trong 3 năm (2012-2015), từ một nhân viên hợp đồng, bà Quỳnh Anh đã leo lên đến chức trưởng một phòng đầy quyền uy của sở Xây dựng Thanh Hóa, một tỉnh lớn của cả nước.

Phải nói thẳng, con đường thăng tiến của bà Quỳnh Anh tuy “kỳ ảo và thần tốc”, song chỉ là một khâu nhỏ, rất nhỏ trong các vấn đề mà dư luận đã và đang đặt ra. Điều mà dư luận quan tâm hơn, là nguồn gốc khối tài sản không lồ gồm nhiều nhà, biệt thự, xe hơi loại sang… dù mức thu nhập chỉ có 60 triệu đồng/năm như trong bản khai.

Trở lại với sự chậm trễ công bố kết luận, ngày 4/7, trong bài “Chúng tôi thật sự lấy làm tiếc, xin thông báo: “Vẫn chưa có kết quả”!” BLOG Dân trí đã đặt thẳng câu hỏi: Việc này đã giao cho ai? Có làm hay không? Nếu có thì tại sao không làm được? Có hay không ý đồ “để lâu hóa bùn”?

Tóm lại, chỉ có 2 khả năng. Thứ nhất là không chịu làm, không muốn làm. Thứ hai, năng lực quá yếu kém. Vì thế đề nghị chuyển vụ việc lên UBKT TW nhưng trước khi đó, cần phải cho những cán bộ được giao nghỉ việc bởi có một việc cỏn con, 3 tháng không hoàn thành thì nên giải tán cho khỏi phí tiền dân và không chỉ có thế, còn làm hại uy tín của Đảng.

Cách đây hơn một tháng (15/8, trong bài “Vụ hot girl Quỳnh Anh với “trách nhiệm người đứng đầu” của Bí thư Thanh Hóa”, người viết bài này đã khẳng định báo Dân trí và bạn đọc Dân trí sẽ tiếp tục theo dõi và bày tỏ thái độ, không để cho “sự im lặng đáng sợ” này tồn tại.

Giờ đây, nếu thông tin tuần tới sẽ có kết quả từ lãnh đạo Văn phòng UB Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa là chính xác thì đã đến lúc chúng ta hồi hộp chờ đợi và mong rằng, kết quả sẽ đúng với bản chất sự việc đồng thời có những hình thức xử lý thỏa đáng.

Hi vọng lạy giời, không phải nghe những cụm từ “nhàm chán” đến… chối tai như “kiểm điểm nghiêm khắc” hay “rút kinh nghiệm sâu sắc” bởi sợi dây kinh nghiệm đã quá dài và sự việc cũng đã sắp nửa năm.

Bùi Hoàng Tám
(Dân trí)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc Biến Thương Mại Thành Vũ Khí


Tác giả: Brahma Chellaney
Biên dịch: Nguyễn Thanh Mai
Biên tập: Lê Hồng Hiệp
china-trade
Bài liên quan: Huyền Thoại về Những Đòn Trừng Phạt của Trung Quốc trong Tranh Chấp Biển Đông: https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/09/16/huyen-thoai-ve-nhung-don-trung-phat-cua-trung-quoc-trong-tranh-chap-bien-dong/
Trung Quốc phủ nhận sự pha trộn giữa thương mại và chính trị, tuy nhiên, lâu nay quốc gia này lại sử dụng thương mại để trừng phạt các nước từ chối phục tùng mình. Việc gần đây Trung Quốc nặng tay trừng phạt Hàn Quốc để phản ứng lại quyết định triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) của quốc gia này chỉ là một ví dụ mới nhất về việc sử dụng thương mại như một vũ khí chính trị của chính quyền Trung Quốc.
Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích và rồi tận dụng sự phụ thuộc kinh tế của các quốc gia khác để ép buộc họ ủng hộ những mục tiêu trong chính sách đối ngoại của mình. Các hình phạt kinh tế của Trung Quốc đa dạng từ việc hạn chế nhập khẩu hoặc tẩy chay không chính thức hàng hóa đến từ một quốc gia bị nhắm tới, cho đến việc tạm dừng xuất khẩu các mặt hàng chiến lược (như các loại khoáng sản đất hiếm) và vận động trong nước chống lại các doanh nghiệp cụ thể của nước ngoài. Các công cụ khác bao gồm việc đình chỉ các chuyến du lịch và ngăn chặn đường vào ngư trường đánh bắt cá. Tất cả đều được sử dụng cẩn thận để tránh sự trục trặc có thể làm hại đến những lợi ích thương mại riêng của Trung Quốc.
Mông Cổ đã trở thành một trường hợp kinh điển cho tình trạng ép buộc địa-kinh tế như vậy, sau khi quốc gia này tiếp đón đức Đại Lai Lạt Ma vào tháng 11 vừa qua. Với việc hấp thụ 90% lượng xuất khẩu của Mông Cổ, chính quyền Trung Quốc đã quyết định dạy cho Mông Cổ một bài học. Sau khi áp đặt các loại phí trừng phạt lên các hàng hóa xuất khẩu từ Mông Cổ, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố “hy vọng rằng Mông Cổ đã để tâm sâu sắc đến bài học này” và sẽ “tuyệt đối tuân theo lời hứa” không mời đón thủ lĩnh tinh thần của Tây Tạng một lần nào nữa.
Một trường hợp nổi tiếng hơn là những đòn trả đũa thương mại của Trung Quốc đối với Na Uy sau khi giải Nobel Hòa Bình được trao cho nhà bất đồng chính kiến bị cầm tù người Trung Quốc Lưu Hiểu Ba. Hậu quả là sản lượng xuất khẩu cá hồi của Na Uy vào Trung Quốc đã sụt giảm.
Vào năm 2010, Trung Quốc đã tận dụng thế độc quyền trong ngành sản xuất toàn cầu các loại khoáng sản đất hiếm thiết yếu để giáng đòn trừng phạt thương mại lên Nhật Bản và phương Tây, thông qua một lệnh cấm xuất khẩu không báo trước. Vào năm 2012, sau khi những tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với quần đảo Senkaku (mà Nhật Bản lần đầu kiểm soát vào năm 1895) dấy lên, Trung Quốc lại một lần nữa sử dụng thương mại như một vũ khí chiến lược, làm Nhật Bản thiệt hại hàng tỷ đô la.
Cũng tương tự, vào tháng 4 năm 2012, theo sau một vụ việc xảy ra gần bãi cạn tranh chấp Scarborough trên Biển Đông, Trung Quốc đã hăm dọa Philippines không chỉ  bằng việc triển khai các tàu giám sát mà còn phát đi một thông điệp cảnh báo công dân Trung Quốc không nên đi du lịch đến Philippines và áp đặt các hạn chế đột ngột đối với việc nhập khẩu chuối (làm nhiều nhà nông Philippine bị phá sản). Với sự chú ý quốc tế đổ dồn vào các hành động thương mại của mình, sau đó Trung Quốc đã chiếm được bãi cạn một cách êm thấm.
Những đòn trả đũa thương mại gần đây của Trung Quốc nhằm vào Hàn Quốc vì triển khai hệ thống THAAD nên được nhìn nhận dưới góc độ này. Những đòn trả đũa này không được tiến hành để chống lại Mỹ, quốc gia đã triển khai hệ thống phòng thủ trước mối đe dọa tên lửa dấy lên từ Triều Tiên và vốn có đủ sức mạnh để mạnh tay đáp trả. Và đây cũng không phải là lần đầu tiên: vào năm 2000, khi Hàn Quốc tăng các mức thuế quan đối với mặt hàng tỏi để bảo hộ nông dân nước này trước một cơn lũ nhập khẩu, Trung Quốc đã phản ứng lại bằng lệnh cấm nhập khẩu điện thoại di động và polyethylene của Hàn Quốc. Sự trả đũa có tác động mạnh vào các sản phẩm không liên quan được nhằm không chỉ để xúc tiến các ngành công nghiệp trong nước mà còn để đảm bảo rằng Hàn Quốc sẽ thiệt hại nhiều hơn nhiều so với Trung Quốc.
Trung Quốc sẽ không sử dụng cây dùi cui thương mại khi quốc gia này có thể bị thiệt hại nhiều hơn nước bị trừng phạt, như được minh họa bởi sự kiện căng thẳng quân sự Trung-Ấn diễn ra gần đây ở điểm giao nhau của biên giới Tây Tạng, Bhutan và bang Sikkim của Ấn Độ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi trọng mối quan hệ thương mại không cân xứng với Ấn Độ (với lượng xuất khẩu vào Ấn Độ cao gấp hơn năm lần lượng nhập khẩu) như là một vũ khí chiến lược để làm suy yếu ngành sản xuất của Ấn Độ và đồng thời thu về những khoản lãi lớn. Vì vậy, thay vì tạm dừng thương mại ở vùng biên giới – việc có thể kích hoạt các đòn trả đũa kinh tế từ Ấn Độ, Trung Quốc đã cắt đứt sự tiếp cận lâu nay của những người hành hương Ấn Độ đối với các khu thánh địa ở Tây Tạng.
Ở những nơi có ảnh hưởng thương mại, Trung Quốc không hề ngần ngại sử dụng nó. Một nghiên cứu vào năm 2010 đã chỉ ra rằng các quốc gia có nhà lãnh đạo gặp đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải chịu một sự sụt giảm nhanh chóng 8,1-16,9% tổng lượng xuất khẩu sang Trung Quốc. Vì hậu quả này, hiện nay, hầu hết tất cả các quốc gia, đáng chú ý là ngoại trừ Ấn Độ và Mỹ, đều tránh mối liên hệ trực tiếp với vị thủ lĩnh Tây Tạng này.
Có một thực tế khắc nghiệt là Trung Quốc đang biến thành một tên bạo chúa thương mại, chà đạp lên những luật lệ quốc tế. Những vi phạm của quốc gia này bao gồm việc duy trì những hàng rào phi thuế quan để ngăn cản sự cạnh tranh với nước ngoài; trợ cấp xuất khẩu; làm thị trường nội địa nghiêng về phía có lợi cho các công ty Trung Quốc; xâm phạm sở hữu trí tuệ; sử dụng những điều luật chống độc quyền để moi lấy các nhượng bộ; và cấp vốn mua lại các công ty nước ngoài để lấy về nước các công nghệ của họ.
Trung Quốc thậm chí còn coi các hiệp ước song phương không hơn gì những công cụ để quốc gia này đạt được các mục tiêu của mình. Theo quan điểm của Trung Quốc, không một hiệp ước nào còn sức mạnh ràng buộc một khi nó đã phục vụ xong những mục tiêu trước mắt, như các quan chức đã thể hiện gần đây khi vứt bỏ Tuyên bố chung Anh-Trung Quốc năm 1984 – một tuyên bố mở đường cho sự chuyển giao Hồng Kông về tay Trung Quốc vào năm 1997.
Trớ trêu thay, Trung Quốc đã phát triển cơ bắp thương mại của mình với sự giúp đỡ từ Mỹ, quốc gia đóng vai trò then chốt trong sự đi lên về kinh tế của Trung Quốc, qua việc tránh các biện pháp trừng phạt và hội nhập quốc gia này vào các thể chế toàn cầu. Việc bầu Donald Trump làm tổng thống đã được cho là sẽ kết thúc sự tự tung tự tác trong thương mại của Trung Quốc. Tuy nhiên, thay vì thực hiện các hành động ngăn chặn một quốc gia từng bị ông chỉ trích là kẻ gian lận thương mại thì Donald Trump lại đang giúp đưa Trung Quốc hùng mạnh trở lại, bao gồm bằng việc rút lui khỏi Hiệp định TPP và giảm bớt ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Hiệp định TPP mà thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đang nỗ lực hồi sinh dù không có sự tham gia của Mỹ có thể giúp kiềm chế những hành vi theo hướng chủ nghĩa trọng thương không ngừng của Trung Quốc, thông qua việc tạo ra một cộng đồng kinh tế thân thiện với thị trường và dựa trên các luật lệ. Tuy nhiên, để TPP thực sự có hiệu quả trong việc cân bằng lại thanh kiếm thương mại đang được sử dụng bởi một chế độ độc tài tập trung cao và đầy uy quyền, thì nó cần phải được mở rộng để bao gồm cả Ấn Độ và Hàn Quốc.
Việc Trung Quốc vũ khí hóa thương mại cho đến nay vẫn tiếp diễn mà không bị ngăn chặn. Chỉ có một chiến lược quốc tế có phối hợp, với hiệp định TPP được làm sống lại như một yếu tố then chốt, mới có thể tạo ra cơ may để buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tuân theo luật lệ.
Brahma Chellaney, Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách (đặt tại New Delhi) và Nghiên cứu viên tại Học viện Robert Bosch tại Berlin, là tác giả của 9 cuốn sách, trong đó có Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, and Water, Peace, và War: Confronting the Global Water Crisis. 
Bản dịch tiếng Việt được thực hiện và đăng lần đầu bởi Dự án Nghiên cứu quốc tế tại https://nghiencuuquocte.org/2017/09/22/trung-quoc-bien-thuong-mai-thanh-vu-khi/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân 100 năm ngày sinh triết gia Trần Đức Thảo, nghe Phùng Quán kể chuyện vui về ông


Nhân 100 năm ngày sinh triết gia Trần Đức Thảo (26/9/1917-2017):

CHUYỆN VUI VỀ TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO 

Phùng Quán

            Anh Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học, bạn tôi từ mấy chục năm nay.

            Anh vừa là học trò vừa là hàng xóm của triết gia Trần Đức Thảo, trước ngõ Hàng Chuối và sau này ở khu tập thể Kim Liên. Anh kể:

            Mình đang ngồi dịch sách bỗng ngửi thấy mùi cháy khét. Nhìn sang buồng thầy Thảo, thấy khói tuôn ra ngách cửa. Mình hổt hoảng xô cửa vào. Cả gian buồng mờ mịt khói. Lạ lùng nhất là thấy thầy đang đứng bên cửa sổ, giữa đám khói, hai tay vung vẩy, miệng lẩm bẩm độc thoại, như đang trình bày một vấn đề gì đó với cả đám đông vô hình trước mặt. Mình gọi giật: “Anh Thảo! Anh Thảo! Buồng anh cái gì cháy thế?”. Thầy giật mình có vẻ ngơ ngác như vừa bị đánh thức khỏi cơn mê ngủ: “Cháy à? Cái gì cháy, ở đâu nhỉ? ờ … ờ… khói ở đâu mà nhiều thế?”. “Thì khói ngay trong buồng anh chứ đâu!” Mình xông vào giữa đám khói, tìm quanh gian buồng. Một lúc mới phát hiện ra cái bếp dầu để khuất sau tủ sách, trên bếp một cái xoong nhôm bị nung đỏ rực. Té ra thầy nấu cơm, cơm cạn, quên cả đậy vung, quên cả tắt bếp. Xoong cơm nấu một bữa ăn cả ngày, cháy thành than và đang bốc khói mùi khét lẹt. Phải vất vả lắm mình mới tắt được cái bếp dầu nóng rẫy, và bưng được cái xoong than cơm ra khỏi buồng. Mình không bưng thì thầy không thể dùng tay không mà bê cái xoong… “Anh đang làm gì mà mải mê thế?” – mình hỏi. Thầy gỡ cặp kính ra khỏi mắt, lau lau vào vạt áo, nói: “Mình đang chú giải một chương hết sức lý thú và quan trọng trong toàn bộ trước tác của Hêghen…”. Rồi thầy ngồi luôn vào bàn viết… như không còn nhớ gì đến vụ hoả hoạn chết người suýt nữa xảy ra.

*
*          *

            Thầy ở tầng gác ba. Các gian buồng ở khu tập thể được thiết kế rất giống nhau. Một buổi trưa thầy đi chợ về, tay xách cái làn đựng mớ rau muống, mấy bìa đậu phụ, chai nước mắm… Mới trèo lên đến tầng hai, thấy gian buồng cạnh cầu thang cửa khép hờ, thầy đẩy cửa bước vào: cửa buồng của thầy cũng thường khép hờ như vậy.

            Người đãng trí thi thoảng cũng có thể vào nhầm buồng. Nhưng vừa bước vào họ đã nhận ra ngay. Nhưng thầy Thảo thì không. Mặc dầu vật dụng trong buồng này sang trọng gấp mười vật dụng trong buồng của thầy. Riêng cái giường của thầy, hẹp mà trải chiếc chiếu mốc meo. Còn buồng này giường rộng gấp đôi, trải vải hoa sặc sỡ. Thầy thản nhiên để cái làn xuống nhà, nằm lăn ra giường, mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà, và thượng cả hai chân lấm bụi lên vải hoa. Chị chủ nhà quét tước ngoài hành lang, bước vào, trố mắt nhìn: “Anh Thảo vào chơi lúc nào mà em không để ý?”. Thầy hơi ngẩng đầu lên, nhìn chị chủ nhà, mặt nhăn lại, nói: “Xin lỗi chị tôi vừa đi về hơi mệt. Có gì cần trao đổi, mời chị đến chiều…”. “Nhưng đây là buồng nhà em kia mà!”. Thầy hớt hải ngồi dậy, nhìn quanh buồng, vẻ ngơ ngác: “Ừ nhỉ, chết thật! Đúng là tôi nhầm… Thành thật xin lỗi chị…”.

            Một hôm, thầy gọi mình sang - Hạo kể - Tôi đọc em nghe cái này, rồi em góp ý kiến xem, tôi viết thế đã được chưa… Mình chuẩn bị tinh thần để nghe một thiên khảo luận triết học.

            Nhưng té ra là một bức thư gửi Uỷ ban nhân dân khu phố và ban lãnh đạo khối phố. Thư được viết với văn phong chuẩn mực, chính xác của một thiên bút ký triết học. Nội dung tóm tắt của bức thư như sau: Sau khi bố tôi mất, trong khu phố có dư luận Trần Đức Thảo đối xử với bố không tốt, bố ốm không thuốc men, chăm sóc chu đáo, nên bệnh tình ngày càng trầm trọng… Tôi xin thanh minh là dư luận đó không đúng. Tôi đã nuôi dưỡng bố tôi rất tận tình, lúc đó bố tôi ốm, tôi lo chạy chữa thuốc men đầy đủ, mặc dầu hoàn cảnh kinh tế rất eo hẹp. Nếu cần thiết, Uỷ ban cho người đến điều tra các hộ hàng xóm để xác minh ý kiến trình bày của tôi v.v…

            Mình ngồi ngẩn ra, nhìn thầy và tự hỏi: “Không biết thầy đã điên chưa đây?”. Mình hỏi: “Những việc này cần thiết gì mà thầy phải mất công đến như vậy?” Thầy nhìn mình, mắt chớp chớp sau cặp kính trắng, có vẻ lấy làm lạ sao cậu học trò mình lại đặt ra một câu hỏi ngu ngốc thế? Thầy cẩn thận gấp bức thư đút vào phong bì, nói: “Việc này theo tôi rất cần thiết. Để chính quyền người ta khỏi hiểu nhầm đạo đức của người trí thức”.

*
*          *

            Sau ngày ông cụ mất ít lâu, thầy muốn dẹp bỏ những vật dụng thường dùng của bố, vì gian buồng quá chật chội. Nhưng một mình thầy không đủ sức chuyển những vật dụng khá nặng từ tầng gác ba xuống sân.

            Một buổi trưa, thầy đi đâu về, thấy mấy chị buôn chè chai đồng nát ngồi túm tụm trên bãi cỏ, soạn xếp những vật dụng mua được. Thầy quan sát có rất nhiều thứ mà mình đang muốn bỏ đi. Thầy nói với các chị: “Tôi có một số đồ đạc bỏ đi giống những thứ này, nhưng không mang xuống được. Tôi muốn nhờ các chị khiêng giúp, có được không?”.  Các chị vui vẻ nhận lời ngay. Giường, tủ buýp-phê, ghế đẩu, ghế tựa, chậu thau, chăn màn, áo quần, giày dép… được đưa xuống, chất thành một đống lớn. Các chị lại còn giúp thầy quét tước gian buồng khá tươm tất. Thầy rất cảm động trước lòng tốt và nhiệt tình của các chị. Thầy nói: “Tôi muốn phiền các chị mang những đồ đạc đó ra khỏi sân. Vứt ngổn ngang ở đó bà con trong khu tập thể họ phê bình làm mất trật tự, vệ sinh công cộng. Tiền công bao nhiêu, các chị cho tôi biết”. Các chị nói: “Chị em chúng tôi thấy hoàn cảnh bác neo đơn, dọn dẹp giúp bác, chẳng phải công xá gì đâu ạ”. Một giáo sư đại học ở tầng trên, nhìn xuống đống đồ đạc dưới sân, tiếc ngẩn người: “Giường tủ, chăn màn còn tốt thế kia, sao ông ấy không nhờ mình khiêng giúp!” Còn thầy thì phấn khởi ra mặt vì khỏi tốn đồng tiền công nào mà giải quyết được một việc sức mình không sao giải quyết nổi.

            Thầy gọi Cao Xuân Hạo sang xem gian buồng vừa được dọn sạch đồ đạc gật gù đắc ý: “Bà con lao động thật tốt, thật từ tâm, thật đáng kính trọng!”.


*
*          *

            Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen…

            “Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây rợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to, được tặng Huân chương Độc lập hạng Hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu. Toàn cán bộ cấp cao, có danh giá đến dự. Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái “pooc ba ga”, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo này thì sống cơ cực trần ai – bà cụ chép miệng thương cảm: Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”

            Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: “Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti-vi…”. Bà già bĩu môi: “Ông đừng cho tôi già cả mà nói lỡm tôi!”.

Phùng Quán
Tiền phong Chủ nhật, 16/5/1993

Phần nhận xét hiển thị trên trang