Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

“Mặt trăng, ngươi đến từ đâu?” – Câu hỏi chưa có lời đáp

Mặt trăng đã đi theo Trái đất kể từ khi nào? Có lẽ nó đã ngắm nhìn Trái đất lâu hơn rất nhiều khi loài người xuất hiện trên Trái đất.

Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi con người lần đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng. Đó là ngày 19/7/1969, khi các phi hành gia người Mỹ của tàu Apollo 11 thực hiện sứ mệnh khám phá vệ tinh tự nhiên. Tuy nhiên cho tới nay, con người vẫn không khôn ngoan hơn trước bao nhiêu khi hiểu biết về Mặt trăng. Ngược lại, các nhà khoa học đang lúng túng bởi những dữ liệu thu thập được từ các thiết bị đặt trên Mặt trăng. Khi nhìn lên Mặt trăng vào ban đêm, chúng ta vẫn chỉ có một cảm giác xa lạ tương tự. Chúng ta không thể kìm được ngoài việc hỏi: “Mặt trăng, ngươi có thể nói với chúng ta thêm một chút về bản thân ngươi được không? Chẳng hạn, ngươi đến từ đâu?”
Hiện tại, có ba giả thuyết chính giải thích về nguồn gốc của Mặt trăng. Giả thuyết thứ nhất là bụi và những đám khí vũ trụ đã hình thành Mặt trăng, cũng giống Trái đất chúng ta 4,6 tỷ năm trước đây. Giả thuyết thứ hai là Mặt trăng đã vỡ ra từ vỏ Trái đất bởi các lực ly tâm, và để lại một vùng trũng – được cho là Thái Bình Dương ngày nay. Giả thuyết thứ ba là Mặt trăng là một hành tinh độc lập bắt được lực hấp dẫn từ Trái đất khi đi ngang qua, và nó xoay quanh Trái đất kể từ đó.
Hầu hết các nhà khoa học ban đầu tin vào giả thuyết thứ nhất, mặc dù một số thích giả thuyết thứ hai hơn. Tuy nhiên, việc phân tích các mẫu đất Mặt trăng được mang về bởi các phi hành gia chỉ ra rằng kết cấu Mặt trăng là khác với Trái đất. Trái đất có nhiều sắt và ít silicon hơn cấu thành nên nó, trong khi Mặt trăng thì ngược lại. Ngoài ra, Trái đất có rất ít quặng titan, trong khi Mặt trăng có rất nhiều. Như vậy các phát hiện này cho thấy Mặt trăng không phải được vỡ ra từ Trái đất. Cũng bằng cách tiếp cận tương tự, giả thuyết đầu tiên là không vững chắc. Nếu Mặt trăng và Trái đất được hình thành bởi quy trình tương tự và cùng lúc, thì tại sao chúng lại khác nhau về kết cấu? Các nhà khoa học đã bỏ qua giả thuyết đầu tiên, và chỉ còn lại giả thuyết thứ ba. Nếu Mặt trăng đi vào hệ mặt trời từ không gian bên ngoài, thì nó nên bay về phía mặt trời, thay vì Trái đất, vì lực hấp dẫn của mặt trời lớn hơn Trái đất rất nhiều.
Như vậy không giả thuyết nào trong ba giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra là có thể trả lời tường tận mọi câu hỏi. Nguồn gốc Mặt trăng vẫn là một bí ẩn. Có rất nhiều không gian cho con người đưa ra các giả thuyết mới về nguồn gốc Mặt trăng. Bất kể chúng có vẻ nực cười như thế nào, người ta không nên dán nhãn chúng là phản khoa học mà không suy xét cẩn thận.
Một số “trùng hợp” đặc biệt giữa mặt trời, Trái đất và Mặt trăng
Hãy nhìn xem và nghĩ về một số hiện tượng thiên văn đặc biệt khó tin giữa mặt trời, Trái đất và Mặt trăng.
Khoảng cách trung bình giữa Trái đất và Mặt trăng là 380.000 km, còn giữa mặt trời và Trái đất là 150.000.000 km. Cái sau lớn hơn 395 lần so với cái trước. Đường kính mặt trời là khoảng 1.380.000 km, trong khi Mặt trăng là 3.400 km, tỷ lệ giữa chúng cũng lại là 395 lần. Cả hai đều là 395. Liệu có thể là ngẫu nhiên không? Điều này có nghĩa là gì?
Hãy nghĩ về nó. Mặt trời lớn hơn Mặt trăng 395 lần, nhưng xa hơn Trái đất 395 lần so với Mặt trăng. Cả hai đều có cùng kích thước khi nhìn từ Trái đất, bởi vì khoảng cách là khác nhau. Đây là một hiện tượng tự nhiên hay nhân tạo? Liệu người ta có thể tìm thấy ba hành tinh có cùng loại “ngẫu nhiên” này chăng?
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Hai hành tinh thay nhau chiếu sáng Trái đất, một ban ngày và một ban đêm. Không có ví dụ nào khác của hiện tượng như vậy trong hệ mặt trời của chúng ta. Nhà khoa học uy tín, Isaac Asimov, từng nói rằng theo dữ liệu hiện có, Mặt trăng về nguyên tắc không nên tồn tại ở vị trí đó. Ông cũng cho biết: “Mặt trăng đủ lớn để gây ra nhật thực (solar eclipse), nhưng đủ nhỏ để gây ra hiện tượng tán mặt trời (corona). Thiên văn học của chúng ta không thể giải thích sự ngẫu nhiên trong các ngẫu nhiên này.”
Liệu đây có thực sự là ngẫu nhiên? Không hẳn, theo một số nhà khoa học. William R. Sheldon, một nhà khoa học, nói: “Để theo quỹ đạo xoay quanh Trái đất, một con tàu vũ trụ phải duy trì một tốc lực 10.800 dặm/giờ ở độ cao 100 dặm. Tương tự, để Mặt trăng giữ quỹ đạo cân bằng với lực hấp dẫn của Trái đất, nó cũng cần một tốc lực, sức nặng, và độ cao chính xác”. Câu hỏi là: nếu một bộ các điều kiện hiện tại là không thể đạt được bằng tự nhiên, thì tại sao chúng đi theo cách này?
Quá lớn để trở thành một vệ tinh
Có một vài hành tinh trong hệ mặt trời có thể trở thành các vệ tinh tự nhiên. Tuy nhiên, Mặt trăng lớn một cách bất thường để có thể là một vệ tinh. Nó quá lớn so với hành tinh mẹ của nó. Chúng ta hãy thử so sánh các dữ liệu sau đây. Đường kính Trái đất là 12.756 km, đường kính Mặt trăng là 3.467 km, tức bằng khoảng 27% đường kính Trái đất. Đường kính sao Hỏa là 6.787 km, và nó có 2 vệ tinh. Cái lớn hơn có đường kính 23 km, tức khoảng 0,34% đường kính sao Hỏa. Đường kính sao Mộc là 142.800 km, và nó có 13 vệ tinh. Cái lớn nhất có đường kính 5.000 km, tức 3,5% đường kính sao Mộc. Đường kính sao Thổ là 120.000 km, và nó có 23 vệ tinh. Cái lớn nhất có đường kính 4.500 km, bằng khoảng 3,75% đường kính sao Thổ. Không vệ tinh nào có đường kính vượt quá 5% đường kính hành tinh mẹ của chúng, nhưng đường kính Mặt trăng lại bằng 27% đường kính Trái đất. Chẳng phải khi so sánh, Mặt trăng lớn một cách bất thường? Dữ liệu thực sự chỉ ra rằng Mặt trăng là khác thường.
Các hố thiên thạch đều quá nông
Các nhà khoa học nói với chúng ta rằng các hố trên bề mặt Mặt trăng được gây ra bởi tác động của thiên thạch hay sao chổi. Cũng có các hố thiên thạch trên Trái đất. Theo tính toán khoa học, nếu một tảng thiên thạch đường kính cỡ vài dặm đâm vào Trái đất hay Mặt trăng với vận tốc 30.000 dặm/giây, nó tương đương với 1 triệu tấn thuốc nổ, và sẽ tạo ra hố thiên thạch có độ sâu 4-5 lần đường kính của nó. Các hố thiên thạch trên Trái đất đã chứng minh tính toán này là chính xác. Thế nhưng các hố thiên thạch trên bề mặt Mặt trăng lại nông một cách khác thường. Lấy ví dụ, Gagrin Crater, hố sâu nhất, chỉ sâu 4 dặm, mặc dù đường kính của nó là 186 dặm. Với đường kính 186 dặm này, độ sâu hố thiên thạch nên là ít nhất 700 dặm, thay vì 4 dặm, một độ sâu chỉ bằng 12% đường kính. Đây là một điều không thể giải thích về mặt khoa học.
Tại sao như vậy? Các nhà thiên văn học không thể giải thích một cách hoàn hảo, và họ dường như không muốn đi sâu thêm nữa. Họ biết rằng một giải thích hoàn hảo sẽ lật đổ các lý thuyết đã được thiết lập. Giải thích duy nhất là lớp vỏ Mặt trăng được cấu thành bởi một thứ vật chất cứng nằm dưới bề mặt của nó 4 dặm, lớp bề mặt bao phủ bởi đá và bụi. Các thiên thạch đã không thể xuyên qua lớp vỏ cứng này. Và rồi, thứ vật chất rất cứng ấy rốt cuộc là gì?
Thứ kim loại gần như không thể tồn tại
Không có gì là lạ nếu các miệng núi lửa trên bề mặt Mặt trăng có một lượng lớn nham thạch. Nhưng điều kỳ lạ là nham thạch ấy chứa các nguyên tố kim loại như titanium, chromium, yttrium, v.v. mà rất hiếm thấy trên Trái đất. Các kim loại này đều rất cứng, đồng thời có tính chịu nhiệt và ăn mòn rất mạnh. Các nhà khoa học ước tính cần nhiệt độ 2.000-3.000º C để làm tan chảy các kim loại này. Nhưng Mặt trăng là một trái cầu đã nguội lạnh mà không có hoạt động núi lửa nào trong 3 tỷ năm. Vậy tại sao Mặt trăng sản sinh ra quá nhiều thứ kim loại có sức chịu nhiệt cao như thế? Ngoài ra, việc phân tích 380 kg mẫu đất Mặt trăng được đem về bởi các phi hành gia cho thấy có sắt và titan tinh khiết. Các khoáng chất kim loại tinh khiết như vậy là không thể tìm thấy dưới điều kiện tự nhiên.
Những sự thật không thể giải thích này nói với chúng ta điều gì? Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng chứng tỏ các nhân tố kim loại này không được hình thành dưới điều kiện tự nhiên, mà được chiết lọc. Vậy thì câu hỏi là bởi ai, và khi nào?
Mặt không thể được nhìn thấy từ Trái đất 
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Luôn có một mặt của Mặt trăng quay về phía Trái đất. Con người không thể thấy mặt bên kia, cho tới khi phi thuyền đáp lên đó và chụp ảnh. Các nhà thiên văn luôn nghĩ rằng mặt sau của Mặt trăng nên tương tự mặt trước, với nhiều hố thiên thạch và biển dung nham. Nhưng các bức ảnh cho thấy một cảnh tượng hoàn toàn khác. Mặt sau của Mặt trăng rất mấp mô. Hầu hết là các hố nhỏ và những rặng núi với rất ít biển dung nham.
Các nhà khoa học không thể giải thích sự khác biệt. Về mặt lý thuyết, xác suất bị thiên thạch đánh nên là như nhau giữa hai bên mặt của Mặt trăng, nếu đây là một hành tinh hình thành một cách tự nhiên. Vậy tại sao có sự khác biệt? Tại sao luôn có một phía của Mặt trăng quay mặt về Trái đất? Lời giải thích từ các nhà khoa học là Mặt trăng xoay quanh trục của nó với vận tốc 16,56 km/giờ, và cũng xoay quanh Trái đất với vận tốc tương đương. Do đó một phía của Mặt trăng luôn quay mặt về Trái đất.
Hiện tượng này không tồn tại ở bất cứ hành tinh nào khác cùng các vệ tinh của nó trong hệ mặt trời của chúng ta, ngoại trừ Trái đất và Mặt trăng. Liệu có thể lại là “ngẫu nhiên” cùng các “ngẫu nhiên” khác? Có lời giải thích nào ngoài “ngẫu nhiên” chăng?
Các hiện tượng kỳ lạ trong vài trăm năm qua
Trong 300 năm qua, các nhà thiên văn học đã quan sát nhiều hiện tượng không thể giải thích về Mặt trăng. Casini đã khám phá ra một đám mây bao phủ Mặt trăng vào năm 1671. Tháng 4/1786, William Herser, cha đẻ của thiên văn học hiện đại, đã quan sát được các dấu hiệu núi lửa phun trào trên Mặt trăng, mặc dù các nhà khoa học tin rằng không có hoạt động núi lửa nào trên Mặt trăng trong 3 tỷ năm qua. Và rồi, điều gì đã được quan sát mà trông như núi lửa phun trào?
Năm 1843, nhà thiên văn người Đức John Schicoto, người đã vẽ hàng trăm tấm bản đồ Mặt trăng, đã phát hiện ra rằng hố thiên thạch Leany Crater, với đường kính gốc vài km, đã trở nên nhỏ hơn. Ngày nay, Leany Crater chỉ là một chấm nhỏ với trầm tích màu trắng bao quanh nó. Các nhà khoa học không hiểu tại sao. Ngày 24/4/1882, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng có những vật thể không xác định di chuyển trên bề mặt vùng Aristocrat (Aristocrat’s Zone). Ngày 19/10/1945, người ta đã quan sát được 3 điểm sáng trên bức tường Darwin (Darwin Wall) tại bề mặt Mặt trăng.
Tối ngày 6/7/1954, trưởng Đài Quan trắc Thiên văn Minnesota và các cộng sự của ông đã nhìn thấy một đường tối bên trong miệng núi lửa Picallomy, rồi biến mất ngay sau đó. Ngày 8/9/1955, tia chớp đã xuất hiện hai lần dọc bờ núi lửa Ross. Lại nữa, ngày 9/2/1956, Tiến sĩ Toyota thuộc Đại học Meiji, Nhật Bản đã nhìn thấy vài vật thể tối dường như đã hình thành hình dạng các ký tự DYAX và JWA.
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Ngày 4/2/1966, một xe vũ trụ không người lái của Nga, Moon Goddess 9, đã đáp xuống biển Rain (Rain Sea) tại Mặt trăng và chụp được hai dãy cấu trúc giống kim tự tháp cách đều nhau. Tiến sĩ Van Sunder tuyên bố: “Chúng có thể phản chiếu mạnh ánh mặt trời, khá giống các dấu trên đường băng”. Từ tính toán độ dài và độ sâu, người ta phát hiện các cấu trúc này có độ cao khoảng tòa nhà 15 tầng. Tiến sĩ Van Sunder nói: “Không có cao nguyên gần đó, nơi những tảng đá có thể lăn xuống vị trí hiện tại để hình thành các dạng hình học trên.”
Thêm nữa, Moon Goddess 9 cũng chụp được một cái hang bí ẩn ở bờ của biển Stormy (Stormy Sea). Chuyên gia nghiên cứu Mặt trăng, Tiến sĩ Wilkins tin rằng những cái hang tròn này thông trực tiếp tới trung tâm Mặt trăng. Bản thân Wilkins từng khám phá ra một cái hang khổng lồ tại hố Casiny A. Ngày 20/11/1966, tàu vũ trụ American Orbit 2 Exploration Spaceship đã chụp được vài kiến trúc hình kim tự tháp từ độ cao 46 km trên biển Tranquility (Tranquility Sea). Các nhà khoa học ước tính các kim tự tháp cao từ 15-25 mét và cũng được định vị hình học. Các kiến trúc có màu nhạt hơn đất và đá quanh chúng, và chúng rõ ràng không phải các vật thể tự nhiên.
Ngày 11/9/1967, nhóm thiên văn học Montelow đã phát hiện một “đám mây đen với những đường viền màu tía” trên biển Tranquility. Hiện tượng kỳ lạ này không được quan sát bởi mắt thường, mà bởi các nhà thiên văn và tàu thăm dò. Điều này có nghĩa Mặt trăng còn nhiều bí mật chưa được nhân loại biết đến.
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
UFO trên Mặt trăng
Ngày 24/11/1968, tàu Apollo 8, trong khi điều tra các điểm đỗ trong tương lai, đã chạm trán một vật thể bay khổng lồ với kích cỡ vài dặm vuông. Khi Apollo 8 trở lại cùng địa điểm từ quỹ đạo của nó quanh Mặt trăng, vật thể kia đã không còn ở đó. Nó là gì? Không ai biết. Tàu Apollo 10, khi đang ở độ cao 50.000 feet phía trên Mặt trăng, đã được tiếp cận bởi một vật thể bay không xác định. Vụ chạm trán này đã được ghi lại thành phim tài liệu. Ngày 19/7/1969, tàu Apollo 11 mang theo ba phi hành gia, những người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng. Khi trên đường tới Mặt trăng, các phi hành gia đã nhìn thấy một vật thể lạ thường trước mặt họ. Nhìn từ khoảng cách 6.000 dặm, họ ban đầu nghĩ rằng đó phải là cánh quạt tên lửa từ Apollo 4. Nhưng khi nhìn qua ống nhòm, họ phát hiện rằng vật thể này có hình chữ L. “Nó trông như một cái va-li được mở”, Armstrong nói. Khi nhìn xa hơn bằng một kính lục phân, họ phát hiện vật thể trông như một hình trụ. Một phi hành gia khác, Aldrin, cho biết: “Chúng tôi cũng thấy vài vật thể nhỏ hơn đi ngang qua, gây náo loạn tàu chúng tôi, rồi chúng tôi thấy vật thể sáng màu hơn này bay ngang qua”. Ngày 21/7, khi Aldrin đi vào Landing Capsule để kiểm tra lần cuối, anh đột nhiên nhìn thấy hai vật thể đang bay lượn. Một trong số chúng lớn hơn và sáng hơn, bay với vận tốc cao hướng song song với mặt trước phi thuyền, rồi biến mất ngay sau đó. Nó lại xuất hiện mấy giây sau. Vào thời điểm ấy, hai vật thể phát ra những luồng sáng hợp vào nhau. Rồi chúng thình lình tách nhau ra, thăng lên nhanh chóng rồi biến mất.
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Khi các phi hành gia đang chuẩn bị đáp xuống Mặt trăng, họ nghe một tiếng nói từ Trung tâm Điều khiển: “Trung tâm Điều khiển gọi Apollo 11, điều gì đang xảy ra ở đó?” Apollo 11 trả lời: “Những đứa trẻ nghịch ngợm, Sir… rất nhiều họ… Oh, my God, ngài sẽ không tin nó. Tôi nói rằng có các phi thuyền khác ở đó… trên bờ các hố tròn, và chúng được đỗ ngay ngắn… và chúng đang nhìn chúng tôi từ Mặt trăng…” Nhà khoa học người Nga, Tiến sĩ Arched nói: “Theo những tín hiệu đứt quãng của chúng tôi, vụ chạm trán với các vật thể bay khi tàu Apollo 11 đáp xuống đã được báo cáo ngay lập tức.” Ngày 20/11/1969, hai phi hành gia Conrad và Brian của tàu Apollo 12 đã quan sát thấy các vật thể bay khi họ đáp xuống Mặt trăng. Các phi hành gia đáp xuống Mặt trăng từ tàu Apollo 15 vào tháng 8/1971, Apollo 16 vào tháng 4/1972, và Apollo 17 vào tháng 12/1972 cũng đã chạm trán các vật thể bay.
Gary, một nhà khoa học, từng nói: “Gần như tất cả các phi hành gia đều đã nhìn thấy những vật thể bay không xác định”. Edwards, phi hành gia thứ sáu đáp xuống Mặt trăng, nói: “Câu hỏi duy nhất là họ đến từ đâu?” John Younger, phi hành gia thứ chín đáp xuống Mặt trăng, nói: “Nếu bạn không tin điều đó, cũng bằng bạn không tin một điều chắc chắn”. Năm 1979, nguyên giám đốc truyền thông NASA Molly Chertlin tuyên bố rằng “chạm trán các vật thể bay” là hết sức phổ biến. Bà tiếp tục: “Tất cả các phi thuyền đều đã bị đi theo bởi một số vật thể bay, hoặc ở xa hoặc ở gần. Cho dù điều gì xảy ra, các phi hành gia sẽ liên lạc với trung tâm chúng tôi”.
Nhiều năm sau, Armstrong tiết lộ: “Thật không thể tin được… Chúng tôi đều được cảnh báo có những thành phố hay phi thuyền trên Mặt trăng… Tôi chỉ có thể nói rằng phi thuyền của họ cực kỳ siêu đẳng và chúng rất lớn…” Hàng ngàn hiện tượng bí ẩn trên Mặt trăng, như ánh chớp kỳ bí, những đám mây đen trắng, các cấu trúc, những vật thể bay và nhiều nữa, đều là sự thật và đã được quan sát bởi các phi hành gia và nhà khoa học. Thật khó để giải thích chúng là gì.
Mặt trăng là một phi thuyền rỗng
Năm 1970, các nhà khoa học Nga Alexander Scherbakov và Mihkai Vasin đã đưa ra giả thuyết “Phi thuyền Mặt trăng” gây sốc để giải thích nguồn gốc Mặt trăng. Họ tin rằng Mặt trăng thực tế không phải một vệ tinh tự nhiên của Trái đất, mà là một phi thuyền được tạo ra bởi các sinh mệnh có trí tuệ, và được thiết kế và tạo hình như một hành tinh. Có rất nhiều tài liệu về nền văn minh của họ được lưu giữ bên trong Mặt trăng, và được cố ý đặt trên Trái đất. Tất cả các khám phá về Mặt trăng thực ra là công trình xuất chúng của các sinh mệnh có trí tuệ sống bên trong đó. Tất nhiên, giới khoa học khinh miệt lý thuyết này. Tuy nhiên, không thể chối cãi được rằng Mặt trăng dường như còn được chúng ta biết quá ít.
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Điều khiến các nhà khoa học bối rối nhất chính là dữ liệu thu thập được từ các thiết bị để lại trên Mặt trăng, thứ đo được các hoạt động rung trên lớp vỏ Mặt trăng. Các dữ liệu chỉ ra rằng các làn sóng rung chỉ lan ra từ tâm chấn dọc theo bề mặt Mặt trăng, chứ không đi vào trung tâm Mặt trăng. Điều này cho thấy Mặt trăng là rỗng và nó không có gì khác ngoài cái vỏ. Nếu nó là một hành tinh đặc, thì các làn sóng rung lẽ ra phải truyền vào trung tâm. Làm sao chúng chỉ chạy dọc theo bề mặt?
Xây dựng lại mới các lý thuyết về Mặt trăng
Hãy thử xây dựng một lý thuyết mới về Mặt trăng. Nó là rỗng và có hai lớp vỏ. Lớp vỏ ngoài cùng bao gồm đá và các quặng khoáng. Thiên thạch chỉ có thể đâm xuyên qua lớp vỏ này. Các hố thiên thạch được biết không sâu quá 4 dặm. Như vậy lớp vỏ ngoài cùng này dày gần 5 dặm. Lớp vỏ bên trong thì cứng, bao bọc bởi thứ hợp kim nhân tạo và không rõ dày bao nhiêu – có lẽ là vài dặm. Các nguyên tố kim loại của nó, bao gồm sắt, titanium, chromium, v.v. có tính chống nhiệt, áp suất và ăn mòn cao. Đây là một hợp kim chưa được biết đến trên Trái đất.
Dữ liệu về rung lắc trên Mặt trăng chỉ ra rằng các làn sóng rung truyền dọc theo bề mặt chứ không đi vào trung tâm. Điều này có nghĩa là Mặt trăng chỉ có hai lớp vỏ nói trên. Do đó Mặt trăng phải là nhân tạo, thay vì được hình thành tự nhiên. Các sinh mệnh có trí tuệ đã tiến hành những tính toán chính xác để phóng Mặt trăng từ Trái đất vào thời xa xưa và đặt nó tại vị trí có thể chiếu sáng Trái đất vào ban đêm. Tóm lại, không có giả thuyết nào trong ba giả thuyết về nguồn gốc Mặt trăng là đúng.
Mặt trăng, căn cứ trên Mặt trăng,
Các sinh mệnh đã xây dựng Mặt trăng chỉ cho phép một mặt của nó quay về Trái đất, bởi vì có nhiều thiết bị quan sát trên Trái đất. Phía này được mài nhẵn để phản chiếu ánh sáng mặt trời, còn họ sinh sống ở bên trong Mặt trăng, gần phía sau. Bởi vì nhiệt độ bề mặt Mặt trăng thay đổi từ 127º C vào buổi trưa đến -183º C vào ban đêm, nên các cư dân đó phải sống bên trong Mặt trăng.
Các sinh mệnh tạo ra Mặt trăng đã sáng chế ra các đĩa bay và họ thường bay ra để nghiên cứu, duy trì thiết bị bề mặt, hoặc theo dõi các hoạt động của con người trên Trái đất. Họ đôi khi bị bắt gặp bởi các phi hành gia từ Trái đất hay bị quan sát bởi các kính thiên văn trên Trái đất. Chúng ta không biết họ là sinh vật ngoài hành tinh đến, hay là cư dân đã ở đó từ lâu. Có lẽ không lâu nữa, con người trên Trái đất sẽ tìm ra sự thật về Mặt trăng.
Chúng ta đã xây dựng lý thuyết này để giải thích nguồn gốc và kết cấu Mặt trăng bằng cách sử dụng các hiện tượng không thể giải thích bằng khoa học truyền thống. Lý thuyết này giải quyết hoàn hảo và từng bí ẩn bao quanh Mặt trăng. Ai có thể bảo cách tiếp cận này là không khoa học?
Theo chanhkien

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tần Thủy Hoàng đáng kể gì?

“Tần Thủy Hoàng đáng kể gì? Ông ta chỉ chôn sống 460 nho sĩ, còn chúng ta đã giết cả 46.000 ngàn tên trí thức hủ nho ấy chứ… Chúng ta còn vượt xa ông ta đến cả trăm lần’’. Đó là những lời tự hào của Mao Trạch Đông trong chiến dịch đàn áp trí thức lớn nhất trong lịch sử.

đàn áp trí thức, Phong trào trăm hoa, cảnh hữu,
Bắt bớ tầng lớp trí thức trong cuộc vận động chống cánh hữu. (Ảnh sưu tầm từ Internet)
Sau khi ĐCSTQ lên nắm quyền vào năm 1949, Mao Trách Đông đã tạo ra một bầu không khí sợ hãi và khủng bố bao trùm lên dân chúng. Cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1950, Mao huy động nông dân Trung Quốc giết hại tầng lớp “địa chủ”, dẫn đến hàng trăm ngàn đến vài triệu người chết.
Ở một số khu vực, những nông dân bị chính trị hóa của Mao ngang nhiên trở thành thẩm phán, bồi thẩm đoàn, và hành quyết tầng lớp địa chủ. Giữa thời kỳ khắc nghiệt này, các nhà trí thức dường như thiếu một tiếng nói về đảng cộng sản.

Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Krushchev lên án người tiền nhiệm độc tài Joseph Stalin, điều này như thúc giục Mao hành động, vì Trung Quốc đang vận hành mô hình kinh tế tương tự như của chính quyền Stalin.
“Hãy để trăm hoa đua nở, trăm phái tranh luận”, Mao trích dẫn một bài thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Năm 1956, “Phong trào Trăm hoa” do đó được đề ra, nhằm khuyến khích công chúng, đặc biệt là giới trí thức, đưa ra những phê bình về các lãnh đạo ĐCSTQ và đề xuất giải pháp cho các chính sách quốc gia.
Thủ tướng Trung Quốc thời đó, Chu Ân Lai nói, “Chính phủ cần những lời bình luận từ người dân. Nếu không có những lời phê bình này, chính phủ sẽ không thể hoạt động như một Chế độ Độc tài Dân chủ Nhân dân.
Vì vậy mà nền tảng của một chính phủ lành mạnh sẽ bị mất đi … Chúng ta phải học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ, tiếp nhận mọi hình thức phê bình lành mạnh, và làm những gì có thể để hồi đáp những phê bình ấy”.
Tuy nhiên, “Phong trào Trăm hoa” chẳng những không có tác dụng khắc phục sai lầm trong các chiến dịch đẫm máu của Mao, mà còn biến thành cuộc công kích lớn nhất trong lịch sử nhắm vào giới trí thức, vì hàng trăm ngàn người muốn nói ra ý kiến coi như đã tự xác định số phận của họ với ĐCSTQ.
đàn áp trí thức, Phong trào trăm hoa, cảnh hữu,
Chương Bá Quân bị sập bẫy, bị coi là kẻ cánh hữu số một ở Trung Quốc. (Ảnh: history.dwnews.com)
Những trí thức thuộc các lĩnh vực khác nhau như luật sư, học giả, nhà khoa học, nhà văn,… đã nhanh chóng tham gia vào chiến dịch. Họ chỉ trích các quan chức cộng sản về mức sống thấp, can thiệp quá mức vào các công việc của họ, bên cạnh đó là “những mô hình rập khuôn Liên Xô mù quáng” với các khẩu hiệu, áp phích và tham nhũng. Hơn nữa, các đảng viên cộng sản đã được hưởng quá nhiều đặc ân khiến họ trở thành một nhóm người khác biệt trong xã hội.
Các tấm áp phích treo tường treo trên khắp Trung Quốc, tố cáo mọi khía cạnh của chế độ cộng sản, và các đảng viên thì bị chỉ trích.

Trong năm 1957, hàng triệu lá thư đã đổ về văn phòng Thủ tướng Chu Ân Lai và văn phòng của các nhà cầm quyền khác. Một số người còn tổ chức các cuộc mít tinh, đưa lên áp phích, và thậm chí xuất bản những bài báo phê bình.
“Những đảng viên, họ chiếm vị trí thuận lợi trong ban lãnh đạo, và có vẻ được hưởng quá nhiều đặc quyền trong mọi lĩnh vực”, trích dẫn từ bức thư của một vị giáo sư đại học.
“Các nhà trí thức nhiệt thành ủng hộ Đảng và công nhận sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng trong vài năm qua mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng vẫn chưa được tốt đẹp và trở thành một vấn đề trong đời sống chính trị của chúng ta mà cần khẩn trương điều chỉnh lại. Vậy đâu là chìa khóa của vấn đề?
Theo tôi, một đảng lãnh đạo quốc gia không đồng nghĩa với việc đảng đó sở hữu cả quốc gia. Công chúng ủng hộ Đảng, nhưng họ đã quên rằng họ mới chính là chủ nhân của đất nước”, theo một lá thư từ biên tập viên tờ báo Guangming Daily.
Sử gia, nhà phê bình chính sách Mao, Jung Chang nói về phong trào:
“Phải mất một năm trước khi các nhà trí thức có can đảm để đáp lại lời kêu gọi của Mao, trước hết là phê bình mạnh mẽ về các mô hình giáo dục, sau đó rộng hơn về hệ thống chính trị xã hội tổng thể. Xét về hệ thống giáo dục, có những khiếu nại về việc sao chép rập khuôn từ Liên Xô, thiếu hụt các chương trình giảng dạy, bỏ bê các môn khoa học xã hội, quá thực tế hóa chủ nghĩa Mác – Lênin và coi nó như một học thuyết chính thống phải chấp nhận vô điều kiện…
Các phê bình về xã hội chủ yếu tập trung vào vai trò độc tôn của đảng trong tất cả các quyết định, khoảng cách giữa các chuyên gia của đảng và ngoài đảng ngày càng tăng, dẫn đến hiện tượng lạm dụng chức quyền chèn ép tài năng xảy ra ở khắp nơi”.
Sự chỉ trích mạnh mẽ cuối cùng có ảnh hưởng không tốt tới Mao và tay chân của ông, họ đã hành xử vượt ra khỏi phạm vi “phê bình lành mạnh” ban đầu. Sau đó ông đã tuyên bố những bức thư này là “tai hại và không kiểm soát được”.
Vì vậy, vào giữa năm 1957, những lời phê bình đã trở thành 1 cái gì đó không thể tha thứ. Những người chỉ trích ĐCSTQ và Mao bị tố cáo là “cánh hữu”, và Phong trào Trăm Hoa đã nhường chỗ cho phong trào Chống Cánh hữu, bắt đầu vào mùa hè năm 1957.
Mao sau đó đã bất ngờ vây bắt họ, đưa đi hành quyết hoặc ép đi lao động cưỡng bức trong các trại cải tạo. Mao sau đó tuyên bố đây là chiến dịch “dụ rắn ra khỏi hang” và ông ta đã chiến thắng. Từ 300.000 đến 550.000 người đã bị liệt vào phe cánh hữu, trong đó có nhiều trí thức, nghệ sĩ, nhà khoa học và nhà văn.
đàn áp trí thức, Phong trào trăm hoa, cảnh hữu,
Xử tử những phần tử được liệt vào phản động, gián điệp, cánh hữu. (Ảnh sưu tầm từ Internet)
Chính quyền của Mao được so sánh với triều đại Tần Thủy Hoàng, người đã chôn sống hàng trăm nho sinh, hơn 2.000 năm trước.
Tuy nhiên, trong bài phát biểu với các quan chức ĐCSTQ năm 1958, khi nhắc đến Tần Thủy Hoàng, ông nói: “Tần Thủy Hoàng đáng kể gì? Ông ta chỉ chôn sống 460 nho sĩ, còn chúng ta đã giết cả 46.000 ngàn tên trí thức hủ nho ấy chứ. Trong cuộc trấn áp phản cách mạng, chẳng phải chúng ta đã giết cả những tên trí thức phản cách mạng hay sao? Tôi đã tranh luận với những người theo phái dân chủ buộc tội chúng ta là hành động như Tần Thủy Hoàng. Tôi nói rằng họ đã nhầm. Chúng ta còn vượt xa ông ta đến cả trăm lần ấy chứ’’.
Nhiều năm sau đó, vẫn có nhiều người tin rằng Mao Trạch Đông chỉ bắt đầu tấn công những người trí thức sau khi không thể chịu đựng được những lời phê bình quá gay gắt của họ. Tuy nhiên, sự thực hóa ra lại không phải vậy. Con dao đồ tể đã được mài sẵn từ lâu, “dụ rắn ra khỏi hang” chính là để lừa họ rơi vào cái bẫy này.
Thực ra, khi người ta đọc lại các ý kiến đề xuất với ĐCS Trung Quốc, thì không có một ai trong số những người bị buộc tội là “cánh hữu” đề xuất rằng Đảng Cộng sản nên bị lật đổ; tất cả những gì mà họ đề xuất là những lời phê bình với mong muốn có thay đổi tốt đẹp hơn.
Vì điều này mà hàng chục nghìn người đã bị mất tự do, và hàng triệu gia đình đã phải chịu thống khổ. Tiếp theo là các cuộc vận động khác nữa như “giãi bày tâm sự với Đảng”, để moi ra những người có chủ trương cứng rắn, chiến dịch mới “Tân Tam Phản”, nhằm đẩy những người trí thức về nông thôn để lao động khổ sai, và bắt những người cánh hữu đã bị sót trong lần đầu.
Ngày nay, cuộc thảo luận về Phong trào Chống Cánh hữu vẫn bị kiểm duyệt rất gắt gao ở Trung Quốc. Dự án Truyền thông Trung Quốc của Đại học Hồng Kông năm 2009 được coi là “chủ đề nguy hiểm” vì nó liên quan đến tội ác của Mao Trạch Đông và về những thất bại nghiêm trọng trong hệ thống chính trị Trung Quốc.
Theo The Epochtimes

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nơi có những thứ xa hoa đến điên rồ


Các nước Trung Đông giàu vàng đen nên bắt chước Dubai có lẽ sung sướng hơn. Giới nhà giàu ở Dubai sẵn sàng chi ra các khoản lớn nhằm nâng chất lượng cuộc sống lên một đẳng cấp mới.
Cảnh sát đi Bentley, Ferrari, Lamborghini là chuyện bình thường trên phố.

Đến xe cũng phải mạ vàng hết mới chịu.

Đến trượt tuyết trong nhà khi ngoài trời nóng 50 độ C.




Dubai có những tòa nhà cao hàng trăm tầng mọc san sát nhau.


Và luôn có những tòa tháp cao hơn tiếp tục được xây dựng để thi nhau phá kỷ lục.


Đến xe Jeep cũng phải lớn gấp đôi bình thường.


Trực thăng chuyên chở những xế hộp hạng sang để tránh tắc đường.


Máy rút tiền nhả ra... vàng.


Thay vì nuôi chó mèo làm thú cưng thì báo đốm mới là con vật được giới nhà giàu ở Dubai chuộng nhất.


Chúng có cả vú nuôi và một phòng để thức ăn riêng cho mình.


Hổ cũng vậy, bạn có thể gặp nhan nhản chúng trên đường mà chẳng cần phải vào vườn thú.


Trường đua lạc đà được điều khiển bởi những con robot.


Người không có tiền có thể lấy thực phẩm miễn phí trong siêu thị.


Còn người giàu chi vài chục nghìn USD để ăn món tráng miệng.


Phòng ngủ của khách sạn hạng sang còn lắp đặt cả bể cá đại dương để khách thư giãn.


Chơi Tennis phải trên nóc nhà cao tầng mới đã.


Miễn là có tiền, người dân Dubai có thể trải nghiệm đủ kiểu ăn chơi ngay tại thành phố này, từ chèo thuyền, lướt ván...


Thích cưỡi ngựa tốc độ cao, chiếc xe này là giải pháp.

Mimi (theo Brightside)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cựu lãnh đạo Đà Nẵng gửi “tâm thư" lên cấp cao nêu đích danh ông Huỳnh Đức Thơ



VĨNH SƠN (GDVN)


(GDVN) - Người gửi tâm thư công khai xuất hiện và cam kết chịu trách nhiệm trước Nhân dân, trước Đảng và Pháp luật về các nội dung được nêu ra và mong được làm rõ.

Ông Nguyễn Đăng Lâm, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (tiền thân của Đà Nẵng ngày nay) vừa có bức “tâm thư” dài 05 trang với tiêu đề:“Đề nghị xem xét những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng – Huỳnh Đức Thơ”.
Đã kê khai sao cơ quan của Đảng không kiểm tra?
Hôm 22/3, xác nhận với Báo điện tử Giáo dục Việt Nam rằng mình là chủ nhân của bức tâm thư nêu trên, ông Nguyễn Đăng Lâm chia sẻ: Sau khi học nghị quyết Trung ương 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng - ngăn chặn - đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, bản thân ông thấy có nhiều vấn đề thành phố Đà Nẵng cần phải xem xét, chấn chỉnh.
Ông Nguyễn Đăng Lâm, nguyên Phó chủ tịch Quảng Nam - Đà Nẵng kiến nghị cơ quan chức năng làm rõ số tài sản của Chủ tịch Đà Nẵng, ông Huỳnh Đức Thơ. Ảnh: VS
“Mấy hôm nay rộ lên việc báo chí nói về tài sản của ông Thơ (Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ) thì tôi rất bức xúc.
Tâm thư của tôi là mong lãnh đạo thấy được, đã ra nghị quyết phải làm đến nơi đến chốn, còn làm nửa vời thì lòng tin của người dân khó mà đạt được theo ý nguyện của Đảng.
Tôi không nhằm đánh vào một cá nhân nào hết. Nhưng tôi thấy đã là Chủ tịch, Phó bí thư của một thành phố thì phải gương mẫu trong đạo đức, lối sống…” ông Lâm nói.
Trang cuối cùng trong bức tâm thư của ông Nguyễn Đăng Lâm. Ảnh nhân vật cung cấp cho Báo điện tử Giáo dục Việt Nam.
Theo ông Lâm, dù tài sản anh đã kê khai nhưng tại sao cơ quan của Đảng không kiểm tra? Tài sản đó ở đâu ra mà nhiều thế? Quá trình từ lúc kê khai đến nay có phát sinh thì có bổ sung không?
Nếu không làm rõ thì sẽ  làm mất uy tín của Đảng.
“Tâm tư, tình cảm của tôi, một cán bộ nghỉ hưu, nhưng với hơn 40 năm tuổi Đảng, cũng đã đóng góp công sức cho sự nghiệp cách mạng, thấy như thế là không được.
Tôi có gửi bức thư đề nghị các cơ quan chức năng làm rõ để cho Đảng viên và quần chúng họ tin tưởng.
Tôi không quy chụp ai mà chỉ là tâm thư khẩn, nói lên nguyện vọng của một Đảng viên trước thực tại để cán bộ Đảng viên yên tâm” ông Lâm cho biết thêm.
Ông Lâm cho rằng, trong sự việc này (kê khai khối tài sản của ông Thơ) thì trắng ra trắng, đen ra đen. Cái gì sai thì phải nói sai, không được lấp lửng.
“Tự nhiên, một đồng chí Chủ tịch có tài sản lớn như vậy thì đâu có thể chấp nhận được. Ngay như tôi là một sinh viên tốt nghiệp ở Hà Nội, năm 1971, tình nguyện về quê hương chiến đấu.
Và từ đó đến nay, tôi chỉ có một cái nhà này thôi (ở quận Hải Châu, Đà Nẵng), còn không có tài sản nào khác.
Đây là hạnh phúc được nhân dân, Đảng và nhà nước ưu ái, xã hội cũng chấp nhận. Hai vợ chồng suốt 40 năm cách mạng (vợ ông cũng 40 năm tuổi Đảng) có cái nhà thì không ai nói gì.
Nhưng ở đây (tài sản kê khai của ông Huỳnh Đức Thơ-PV), nào là nhà cửa, đất đai, vốn liếng, liên doanh, góp vốn, rồi đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản… thì lớn quá. Một cán bộ lãnh đạo thì không nên có những tài sản quá lớn như vậy” ông Lâm nói.
Phải minh bạch để dân tin tưởng
Ông Lâm cho rằng, các cơ quan chức năng phải vào cuộc để làm rõ nguồn gốc số tài sản trên của ông Thơ.
“Số tài sản như vậy đối với một người làm công ăn lương thì cũng đã là quá lớn. Ngày xưa, ông Thơ chỉ là một giám đốc doanh nghiệp nhỏ về nuôi trồng thủy sản, khi đó tôi là Phó Chủ tịch nên biết mà.
Hồi đó, tài sản ông không bao nhiêu. Vậy tại sao giờ lại có tài sản lớn như vậy? Tôi đọc báo cũng thấy ngỡ ngàng” ông Lâm chia sẻ.
Dù anh có kê khai minh bạch nhưng tại sao cơ quan kiểm tra Đảng và nhà nước không làm rõ để dân yên tâm?
Nếu làm rõ là anh minh bạch, chân chính thì người ta cũng không nghi ngại gì. Tôi gửi tâm thư cũng chỉ với mong muốn đó – ông Lâm cho hay.
“Số tài sản liệt kê trong tâm thư của tôi giống như báo chí đã nói và ông Thơ cũng đã thừa nhận thì một cán bộ bình thường không thể có tài sản như thế được. Cần phải làm rõ. Nếu chứng minh được của cha mẹ, của gia đình hay từ một nguồn nào đó thì cũng đỡ trong dư luận”.
Thông qua tâm thư này, tôi không phải đánh vào cá nhân ai mà mong muốn đã là lãnh đạo chủ chốt của Đà Nẵng thì phải sống trong sạch.
Tất nhiên người ta nói trong sạch thì không phải là không có tài sản gì hết nhưng số tài sản đó vừa với đồng lương và cống hiến của mình.
Ông Thơ là một cán bộ trưởng thành sau giải phóng chứ không phải là những người kỳ cựu ở đây.
“Mong muốn của tôi thì chắc chắn có người nói này khác. Nhưng sau khi học nghị quyết Trung ương 4 thì mình có trách nhiệm phản ánh” ông Lâm nói thêm.
“Tôi mong muốn những cán bộ trẻ họ tiếp bước lên làm được những gì kế bước anh em. Truyền thống của anh em Quảng Nam – Đà Nẵng xưa kia và Đà Nẵng ngày nay, mảnh đất trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ.
Tốn biết bao xương máu mới có ngày hôm nay thì cán bộ bây giờ họ có thể có tài sản, có nhà ở, có xe ô tô đi… nhưng nó phải đồng nghĩa với túi tiền, mức lương, công sức lao động. Những cái này tôi không kết luận tham ô mà có nhưng phải minh bạch ra” ông Lâm khuyến nghị.
“Như mình làm cán bộ nghỉ hưu, có được cái nhà là mừng rồi. Như thế là mình được ưu ái chứ còn những người bạn chiến đấu đang nằm dưới đáy mồ, có được hưởng gì đâu.
Một đơn vị ngày xưa, cả 1.200 người vào mở đường giải phóng, có biết bao nhiêu người ngã xuống trên đường vì sốt rét, bom đạn… Họ có được hưởng gì đâu. Bây giờ mình còn lại là quá hạnh phúc” ông Lâm bày tỏ.
Cũng theo ông Lâm, việc công khai tài sản không chỉ đối với ông Thơ mà đã lãnh đạo có chức có quyền thì cần phải công khai rõ ràng, minh bạch. Không để tình trạng về hưu rồi được xem như “hạ cánh an toàn”.
“Những anh nào có chức có quyền thì phải mình bạch, công khai tài sản. Trong chi bộ hay kể cả trong tổ dân phố sinh hoạt thì họ cũng cần phải biết số tài sản này. Cái này của mình còn yếu lắm, chỉ là kê khai hình thức”.
Từ đó, ông Lâm kiến nghị, tất cả phải công khai, minh bạch để người dân giám sát.
Ông Nguyễn Đăng Lâm cho biết, tâm thư của mình được gửi tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các ban ngành có trách nhiệm khác.
Nội dung gồm có 3 điều chính mà ông mong muốn được làm rõ là: Thứ nhất là quá trình được bổ nhiệm, cất nhắc công Huỳnh Đức Thơ từ thời điểm còn là Giám đốc Công ty cung ứng và phát triển kỹ thuật Đà Nẵng (cũ) lên nhiều vị trí qua trọng của thành phố.
Đặc biệt, chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 4/2014 đến tháng 1/2015), ông Thơ bất ngờ có "đại nhảy vọt" qua 4 chức vụ lớn, cao nhất là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Thứ 2, có dấu hiệu suy thoái đạo đức, lối sống; khai báo bổ sung lý lịch không chuẩn xác, không đầy đủ. Từ khi làm Chủ tịch thành phố, có biểu hiện bổ nhiệm vây cánh, thân hữu bất thường.
Thứ 3, sở hữu khối tài sản lớn; trong đó đặc biệt đáng chú ý là việc ông góp vốn đầu tư ở 5 doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, là điểm nóng gây bức xúc dư luận nhiều năm nay. 
Ông mong muốn tất cả các vấn đề trên cần được làm rõ, điều đó không chỉ tốt cho cá nhân ông Huỳnh Đức Thơ mà còn mang lại niềm tin cho người dân Đà Nẵng, cho sự hòa thuận, đoàn kết và phát triển của thành phố này.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến lược gai mít


Hôm nay, ít người nhớ được rằng nước ta đã xuất xưởng chiếc máy vi tính đầu tiên của châu Á từ phòng thí nghiệm.

Khi tôi viết những dòng này thì Viện Tin học, tiền thân của Viện Công nghệ Thông tin, vừa tổ chức 40 năm thành lập. Năm 1977, tôi về công tác ở Viện - những nhà ngói cấp 4 ở làng Liễu Giai (Hà Nội), bên cạnh là khu tập thể “sáu anh em chia nhau một phòng”.
Thời ấy khổ, nhưng không ngăn được những nhiệt huyết khoa học. Nhờ anh Alain Teissonnière, chuyên gia công nghệ thông tin người Pháp, lãnh đạo Viện khi đó là giáo sư Phan Đình Diệu và nhóm kỹ sư trẻ, dự án xây dựng máy vi tính ra đời. 
Những kỹ sư miệt mài với chip mới lạ, với những dòng phần mềm đầu tiên được viết để dạy máy vi tính. Thực tập bên Pháp, khi về, họ xách vali đầy chip cho máy tính, ổ đĩa mềm, đĩa cứng và cả mỏ hàn, dù hồi đó số tiền đủ mua một ngôi nhà ở Hà Nội.
Họ thức trắng đêm, quên ăn, quên ngủ, dù nhà rất nghèo. Đạp xe đến văn phòng, không may ngã, cặp lồng cơm đổ ra đường, chỉ thấy muối vừng, mấy cọng rau muống già và quả cà pháo. Các bà vợ đạp xe mang cơm cho chồng. Một chị than “mấy đêm rồi, anh Việt (Ngô Trung Việt) nhà em không về nhà”. Cô khác kêu “Anh Khôi (Phạm Ngọc Khôi) bỏ đi lên Viện cả tuần nay”. 
Năm ấy, chiếc máy tính VT80 ra đời. Việt Nam trở thành nước thứ ba trên thế giới chế tạo thành công máy vi tính. Khi đó khu vực châu Á nói chung, trừ Nhật Bản, còn rất lạ lẫm với vi xử lý. Các đoàn từ Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Ấn Độ đến thăm Viện nườm nượp, một nơi mà dân làng vẫn dùng phân tươi, nước giải để tưới hoa và rau, đi vệ sinh phải đeo khẩu trang. Thế mà hôm nay, các quốc gia này đã bỏ Việt Nam một khoảng cách số theo đúng nghĩa đen và bóng.
Nếu hợp tác với nước ngoài, được đầu tư và sản xuất công nghiệp thì những máy vi tính đầu tiên có thể ra với thế giới mang dòng chữ “Made in Vietnam”. Nhưng, một số vị lãnh đạo ngành có ảnh hưởng tới đầu tư không nhìn ra điều đó. Nhập PC 2.000 $ mang về bán 4.000 $ tại thị trường Việt Nam dễ như đồ ăn nhanh bên phương Tây là cơ hội vàng kiếm tiền. Viện biến thành công ty buôn bán, các bộ, các ngành cũng thế. Giấc mơ vi tính Việt Nam ngừng ở đó, buôn bán PC thay cho tư duy dài hơi cho nền công nghệ non trẻ, thế mạnh IT đã bị bẻ gẫy.
Từng là người phụ trách IT của vùng Đông Á Thái Bình Dương của World Bank, tôi có dịp đi công tác nhiều châu lục. Mỗi khi có dịp dạo quanh phố phường, tôi để ý đến những sản phẩm Made in Vietnam. Nhiều nhất là giầy dép, quần áo, thực phẩm đông lạnh, hoa quả, và món phở nổi tiếng. Tuy nhiên, tịnh không thấy một sản phẩm IT mang nhãn Việt Nam. Vào BestBuy (cửa hàng điện tử) bên Mỹ cũng vậy, hoàn toàn vắng bóng.
Ngành IT đã có thể trở thành một ngành “mũi nhọn” và trên thực tế từng được xác định là một ngành “mũi nhọn” của nước ta. Nhưng trong một chiến lược phát triển kiểu quả mít, bây giờ mũi nhọn ấy đã cùn mòn nếu so với mặt bằng chung của thế giới.
Mũi nhọn kiểu quả mít, nghĩa là ngành nào cũng được xác định là “mũi nhọn”, dù gai quả mít chả đâm được ai. Mỗi khi bàn đến chiến lược phát triển kiểu quả mít này tôi lại nghĩ đến cái cách mà Việt Nam đã đầu tư cho ngành IT năm xưa, và tự hỏi rằng nếu như có ít “mũi nhọn” hơn, nếu như chúng ta (hay chính xác hơn là những vị mà chúng ta giao phó điều phối nguồn lực) tập trung hơn thì hôm nay Việt Nam đã có thể ở đâu trên bản đồ công nghệ thông tin thế giới?
Hơn nửa thế kỷ trước có bài báo của giáo sư Tạ Quang Bửu nói về thế mạnh của học sinh Việt Nam là giỏi toán. Ông cho rằng, sĩ tử nhà nghèo chỉ có bút chì và giấy nháp sẽ giải được những bài toán thế kỷ mà không cần đầu tư nhiều tiền. Ông đã tiên đoán đúng, Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields, nhưng lại đơm hoa kết trái ở xứ người.
Truyền thống giỏi toán đó là cơ hội cho ngành IT với lớp trẻ yêu khoa học kỹ thuật, thích tìm tòi. Cha anh họ từng ăn cơm cặp lồng làm nên cái máy vi tính thời cấm vận, thì chẳng có lý do gì với nền công nghệ hiện đại như hiện nay, hạ tầng Internet thuộc vào tốt nhất trong vùng, thế hệ trẻ không có sản phẩm bên Mỹ. 
Cơ hội vẫn còn. Theo Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2016, vào năm 2020 sẽ có 26 tỷ thiết bị nối Internet, 4 tỷ người dùng Internet. Máy vi tính đầu tiên tính từng byte thì từ năm nay lưu lượng đã tính bằng zettabyte - tỷ giga byte. Năm 2020 sẽ có 2,3 tỷ giga byte truyền toàn cầu. 
Ngành IT chiếm 6% giá trị kinh tế toàn cầu và miếng bánh vẫn còn cho những quốc gia mới nổi và lực lượng lao động trẻ như Việt Nam. Vấn đề chỉ là chúng ta cư xử với “mũi nhọn” như thế nào, tập trung đầu tư hay san sẻ với hàng trăm “mũi nhọn” khác.
Gốc nông dân, lớn lên và trưởng thành như một công dân toàn cầu, tôi mê mẩn những gói thực phẩm làng quê Việt ở xứ người. Nhưng sẽ vui hơn nếu có gói IT Made in Vietnam có trên quầy hàng BestBuy ở thủ đô Hoa Kỳ. 
Để làm được điều đó thì IT và nông nghiệp không thể là một trong hàng trăm cái gai mềm trên quả mít. 
Hiệu Minh


Xứ sở bị mù…voi


Một góc trên đỉnh Sơn Trà. Ảnh: HM
Phương Tây có câu “Con voi trong phòng khách” ý nói là sự việc ai cũng thấy nhưng không ai dám nói vì một lý do tế nhị nào đó. Con voi rất to, làm sao giấu được, thế mà không “nhìn” ra mới là chuyện lạ.

Có một thời đi xe bus ở Hà Nội kẻ cắp ngang nhiên móc túi người đi xe, hành khách nhìn thấy nhưng không ai dám nói vì sợ bị trả thù bởi luật pháp không nghiệm. Đó là con voi trên xe bus.
Đến thời mở cửa, tham nhũng, hối lộ tràn lan, quan bỗng nhiên giầu một cách kỳ lạ, nhưng không ai dám hỏi, tiền “ý” ở đâu ra. Có con voi trên chính trường.
Nhìn một vị to to có chuyện liên quan đến tiền nong, lợi ích nhóm, và nhiều chuyện khác, nhưng vì tình đồng chí nên ngại nói, họ gọi là đồng chí X. To hơn cả voi ma-mút thời tiền sử mà không ai “nhìn” thấy, con voi chính hiệu trong phòng VIP.
Tòa nhà 10 Lê Trực xây lù lù cao gần 20 tầng ngay cạnh lăng cụ Hồ, họp đảng, họp chính phủ, họp quốc hội, ai đi qua mà chả nhìn thấy. Thế mà con voi xây dựng ấy vẫn ngang nhiên tồn tại cả năm. Cho đến một hôm có một người không thích voi. Chưa bị chặt vòi nhưng cũng chưa hết chuyện voi Lê Trực.
Và gần đây con voi xuất hiện trên bán đảo Sơn Trà với mấy chục biệt thự đang đổ móng. Ở xứ mà ai đó cần thổ ra một câu chống đối chế độ có thể bị còng tay, thì làm gì mà chính quyền không biết từ khi các nhà đầu tư “bổ nhát quốc đầu tiên”.
Hồi năm 2015 thăm Đà Nẵng, mình đi xe máy vòng vèo mấy tiếng lên đỉnh Sơn Trà, nơi có mấy trạm radar từ thời xưa. Mấy ngọn núi có rừng che phủ, hai bên là biển xanh đẹp chưa từng thấy.
Thấy mấy cái chùa to đùng, các tượng to đùng mà chán. Chả hiểu tại sao nước mình thì bé, làm cái gì cũng to, hoành tráng. Thủ đô to, chùa to, tượng to, bánh dâng thánh to. Có lẽ người bé, nhiều thứ bé nên dân ta hay mơ to.
Dọc theo lối cảng Tiên Sa có tầu bè đi lại nhộn nhịp, xe máy leo dốc qua triền núi lên cao tới 700m, với 4000 hectar rừng có lẽ nguyên sinh, đặc biệt có khỉ đầu trắng.
Hôm đó lên đỉnh gặp một anh bán đồ giải khát và hỏi chuyện thì biết được chiều chiều hay sáng sớm, hàng đàn khỉ vẫn ra đường đi dạo. Người đi một mình dễ bị tấn công.
Trạm radar cũ thời xưa. Ảnh: HM
Một kho báu quốc gia như thế mà người ta cho đào móng xây biệt thự, biến thành khu vui chơi giải trí. Tầm nhìn ngắn hạn dài không quá tờ đô la nên phân lô bán đất là nhanh.
Con voi biệt thự Sơn Trà chắc ở đây khá lâu nhưng chính quyền được doanh nghiệp tặng xe xịn, số xịn, mà không lên nổi đó để xem sự tình ra sao.
May quá có một ngư phủ nhìn ra con voi này. Họ típ cho báo chí và thế là con voi Sơn Trà được mọi người bàn thảo. Chả hiểu rồi voi có đuổi hết khỉ Sơn Trà đi không? Hay có tiền, có quà, tặng xe, mọi việc sẽ đâu vào đó. Phạt và cho tồn tại thì chắc chắn khỉ bạc tóc cũng sẽ đi hết.
Biệt thự Sơn Trà chỉ là chuyện nhỏ của một đất nước nhỏ có nhiều chuyện lớn. Sống lâu trong tuyên truyền theo đảng và chính phủ, dân tin chính quyền làm gì cũng đúng. Nói ra sợ bị trả thù, bị bắt và bị tù tội. Trong thực tế, đố ai tìm ra “tính đảng” trong biệt thự Sơn Trà hay 10 Lê Trực.
Ngày xưa thấy kẻ cắp móc túi không ai dàm nói thì nay đến thời kẻ cắp bán nước cũng vậy thôi. Đó là hệ lụy của truyền thông một chiều, pháp luật chồng chéo theo chỉ thị và không nghiêm, sự phản biện xã hội bị triệt tiêu.
Nếu báo chí và mạng xã hội được làm đúng chức năng phản biện và pháp luật nghiêm thì con kiến bò cũng thấy.
Thấy con voi to đùng đang phá phách mà không ai nhìn ra, thì đó là xứ sở bị mù…voi.
HM 23-3-2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão: “Sự việc Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ tôi cho là không bình thường”


>> Không để hình thành các băng nhóm kiểu “xã hội đen”
>> "Đà Nẵng còn nhiều việc phải làm hơn là đầu tư hầm qua sông Hàn"


Hà Giang (Thực hiện)
(Tổ Quốc) -“Trường hợp của Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ – “anh” là Chủ tịch của một thành phố mà tài sản của “anh” lại nhiều như vậy thì dư luận có quyền đặt câu hỏi về nguồn gốc khối tài sản. Trường hợp này tôi cho là không bình thường và phải làm đến nơi đến chốn”, ông Vũ Mão chia sẻ quan điểm.

Nghị quyết TƯ 4 của nhiệm kỳ khoá 11, khoá 12 đều nói rất rõ rằng tham nhũng đang là vấn đề lớn và nhức nhối hiện nay. Đây cũng luôn là mối quan tâm, là bức xúc của người dân và dư luận. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, Báo Điện tử Tổ Quốc đã có buổi trao đổi với ông Vũ Mão - nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội.

“Chức quyền và tham nhũng như hình với bóng”

Theo ông, tại sao khi đề cập đến tham nhũng người ta lại nhắc đến đối tượng là quan chức?

Ông Vũ Mão: Các quan chức là người có chức quyền. Họ sử dụng quyền của mình để làm việc này việc khác, hành động này, hành động khác.

Con người ai cũng tham lam, quan trọng là có biết kiềm chế, giữ gìn hay không? Những quan chức của Đảng, Nhà nước... nếu không rèn luyện phấn đấu, giữ gìn thì đương nhiên là tham nhũng. Chức quyền và tham nhũng như hình với bóng, luôn gắn với nhau.

Còn người dân, chúng ta không thể nói họ tham nhũng bởi họ không có chức quyền. Mà không có chức quyền thì rất khó tham nhũng.

Thưa ông, kết quả phòng chống tham nhũng cấp tỉnh năm 2016 vừa công bố hôm 16/3 đã không phát hiện được trường hợp tiêu cực nào trong kê khai tài sản của cán bộ công chức. Trong khi đó, dư luận đã và đang xôn xao về một số quan chức sở hữu khối tài sản “khủng”. Ông nghĩ sao về điều này ?

Ông Vũ Mão: Tôi suy nghĩ nhiều và không hài lòng về kết luận này bởi nó không đúng sự thật. Tham nhũng đang là vấn nạn phổ biến hiện nay. Không phải người dân hay tôi tự nói mà Nghị quyết TƯ 4 của nhiệm kỳ khoá 11, Nghị quyết TƯ 4 của nhiệm kỳ khoá 12 đều nói rất rõ rằng tham nhũng đang là vấn đề lớn, tràn lan và “ăn tới tận phía trên rồi!”, nghĩa là “mức trần” rồi, ở cơ quan đầu não rồi...

Thực ra, cách đây vài ba chục năm chúng ta đã đề cập đến tham nhũng, cũng đã có những nhận định “tham nhũng là quốc nạn”. Điều này cho thấy vấn đề này đã có từ rất lâu rồi, và cũng để thấy độ nghiêm trọng, nguy hiểm của nó. Tuy nhiên, đến hiện tại thì vấn đề này ngày càng gay gắt hơn.

Vì thế, tôi cho rằng, báo cáo đó là không chân thực, không chính xác và không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, quan trọng là phải tìm nguyên nhân vì sao báo cáo không phát hiện ra tham nhũng? Điều cốt lõi của tham nhũng là vấn đề kê khai tài sản.

Trong Luật phòng chống tham nhũng có mục kê khai tài sản, nhưng từ trước tới nay chỉ mang tính hình thức. Trước mỗi kỳ đại hội Đảng các cấp, mỗi lần bầu cử Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp... thì trong lý lịch luôn có phần kê khai tài sản.

Tôi hiểu người kê khai tài sản cũng phải suy nghĩ rất nhiều. Nếu kê khai nhiều  quá (đúng với sự thật) thì dễ bị đặt câu hỏi, lấy đâu ra nhiều tài sản thế, nên người ta tìm cách kê khai tài sản theo cách mà người ta nghĩ là hợp lý nhất, tức là kê khai không hết.

Điều rất quan trọng là, sau khi kê khai rồi thì việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc tài sản về cơ bản đều không được thực hiện. Vậy nên, có tình trạng kê khai có mức độ nhưng thực tế khối tài sản của người ta thì rất nhiều. Nếu có thắc mắc, bắt phải giải trình thì người ta nói: Đây là tài sản của vợ tôi, của con tôi... Đó là sự nguỵ biện ghê gớm.

Tôi cũng không trách móc quá nhiều bộ phận làm nghiệp vụ lấy số liệu, thống kê để công bố số liệu không chính xác. Có thể họ chưa làm tròn trách nhiệm nhưng họ không phải là người cố tình giấu giếm, bởi quy định pháp luật còn lỏng lẻo. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến nhận thức của cấp lãnh đạo, rồi hệ thống pháp luật của chúng ta còn quá nhiều vấn đề.

Rõ ràng tham nhũng nảy sinh và tồn tại ngày càng nghiêm trọng là do hai vấn đề: Một là do kém về đạo đức, tư cách của mỗi cán bộ công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo. Hai là do cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện....Đây chính là nguyên nhân chính dẫn đến tham nhũng.

Dư luận có quyền đặt câu hỏi “tài sản của ông Huỳnh Đức Thơ ở đâu ra”?

Trong quá trình kê khai tài sản, yếu tố đầu tiên là phải kê khai đầy đủ. Tuy nhiên, kể cả khi kê khai đầy đủ như trường hợp của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ... thì dư luận vẫn không khỏi nghi ngờ về khối tài sản “khủng” của các vị lãnh đạo ấy. Theo ông, dư luận có quyền nghi ngờ về điều này không? Và quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Vũ Mão: Tôi cho là dư luận có quyền đặt ra các câu hỏi về việc này. Và báo chí vừa qua đăng tải những bài viết như vậy là cần thiết để cho dư luận quan tâm phán xét.

Có thể có nhiều nguyên nhân, nhiều vấn đề đặt ra nhưng dù sao cứ phải trao đổi để làm rõ và tạo sự đồng thuận. Còn cơ quan có trách nhiệm thì cứ làm theo chức trách của mình để đi đến kết luận rõ ràng.

Ví như Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa có khối tài sản lớn như vậy thì phải tìm nguyên nhân sâu xa xem khối tài sản đó có nguồn gốc từ đâu? Đâu là tài sản của bà Hồ Thị Kim Thoa? Đâu là tài sản của con, của anh chị em...? Rõ ràng càng đi vào sâu càng phức tạp.

Tôi muốn nói điều này: Khi bà Kim Thoa lên làm Thứ trưởng Bộ Công Thương thì Công ty Bóng đèn Điện Quang vẫn thuộc khối của bà này quản lý. Rõ ràng, ở đây có sự lợi dụng chức vụ.

Ở Mỹ, khi Donald Trump lên làm Tổng thống, ngay lập tức ông Trump tuyên bố không tham gia quản lý doanh nghiệp nào cả, bởi nếu “anh quản lý doanh nghiệp thì anh sẽ đặc quyền đặc lợi”. Ở đây là do quy định còn nhiều lỗ hổng, ngoài ra là do bản thân người ta thấy nếu làm như vậy “sẽ có lợi cho mình”.

Hay trường hợp của Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ – “anh” là Chủ tịch của một thành phố mà tài sản của “anh” lại nhiều như vậy thì dư luận có quyền đặt câu hỏi về nguồn gốc khối tài sản. Trường hợp này tôi cho là không bình thường và phải làm đến nơi đến chốn.

Nếu nói rộng ra, những đại gia của chúng ta đang làm giàu bằng bất động sản, mà chế độ chính sách về bất động sản rất bất hợp lý, người dân thì thiệt thòi, nhà nước thì mất tiền của, trong khi tiền của rơi vào tay cá nhân...

Hiện có hai luồng ý kiến khác nhau về kê khai tài sản: Một là cán bộ, công chức phải kê khai đầy đủ. Hai là kê khai ở mức độ nào đó để đảm bảo tính bí mật cho người kê khai trong trường hợp họ có quá nhiều tài sản (tài sản có trước khi họ đảm nhiệm chức vụ). Vậy theo quan điểm của ông, chúng ta nên công khai ở mức độ nào?

Ông Vũ Mão: Thông lệ quốc tế là phải kê khai tài sản đầy đủ. Ngay cả Tổng thống Mỹ cũng vậy! Việc không kê khai đầy đủ chỉ là sự nguỵ biện.

Ở thời điểm trước khi ứng cử, trước khi đảm nhiệm chức vụ mới thì phải kê khai đầy đủ tài sản “anh” có là bao nhiêu? Và phải làm rõ nguồn gốc của khối tài sản đó. Nếu “anh” không làm rõ được nguồn gốc thì khi bị truy ra, nếu tham nhũng thì “anh” sẽ không được vào danh sách ứng cử cơ quan này, cơ quan khác. Lâu nay, chúng ta chưa làm tốt việc này.

Và ở thời điểm sau khi “anh” đảm nhiệm chức vụ mới thì hằng năm “anh” phải tiếp tục kê khai cho rõ ràng, minh bạch.

Theo tôi, ở bất cứ giai đoạn nào vấn đề tài sản phải là minh bạch, công khai đầy đủ.

Ông từng là người lãnh đạo, ông cảm thấy như thế nào về ranh giới giữa việc sử dụng chức quyền trong phạm vi của mình để làm đúng – sai? Vượt qua cám dỗ có khó khăn không, thưa ông?

Ông Vũ Mão: Tôi muốn nói rằng, tư tưởng, đạo đức của con người là quan trọng nhất. Tiếp đến là môi trường. Do hoàn cảnh công tác nên môi trường tiếp xúc cùa tôi tương đối “lành”. Trước đây là ngành thuỷ lợi, chỉ mong muốn làm nhiều công trình để đưa nước về cho dân. Rồi đến là Bí thư huyện uỷ một huyện biên giới, miền núi có nhiều đồng bào dân tộc nghèo khó sinh sống, lòng tôi luôn đau đáu với những nỗi khổ cực của người dân. Đến nữa là công tác ở Đoàn thanh niên; làm thủ lĩnh Đoàn thì không được phép nói một đằng làm một nẻo. Rồi đến giai đoạn cuối là 20 năm công tác ở Quốc hội, đây cũng là môi trường không phải là hấp dẫn cho lắm. Tuy thế nếu không quyết tâm rèn luyện thì  cũng không phải là không có những chuyện này kia. Trong môi trường nào cũng có những người tìm đến mình nếu mình là người có chức quyền. Ví như chuyện xin việc vào cơ quan, chuyện lên chức... là bao nhiêu? Dù không có con số công khai chính thức nhưng ngầm đằng sau thì ai biết được thế nào.

Vậy thì mình phải có thái độ dứt khoát, không chấp nhận chuyện đó. Có thể vì công việc, tôi chấp nhận “anh, chị” cho công việc đó nhưng phải minh bạch, có thi cử đàng hoàng chứ không phải vì “khoản” nào đó...

Tóm lại, dù ở môi trường nào thì điều quan trọng nhất vẫn là sự rèn luyện của mỗi con người. Tôi là một con người được rèn luyện từ nhỏ và luôn phấn đấu giữ gìn phẩm chất của mình trong quá trình công tác. Luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết từ chối những cám dỗ tầm thường.

Sự rèn luyện của mỗi người là quan trọng nhất, nhưng phải có cơ chế chính sách pháp luật tốt, kỷ luật nghiêm minh.

Nhân dân đang đòi hỏi Đảng ta cũng như mỗi cán bộ, công chức phải gương mẫu, không tham nhũng. Đó là kỷ luật của lương tâm.

+ Xin cảm ơn ông!

Phần nhận xét hiển thị trên trang