Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Nghịch lý Donald Trump và Việt Nam


Tác giả: Nguyễn Quang Dy
.KD: Đã đến lúc người Việt hãy bỏ thói quen lo chuyện người khác (vì vô vọng), mà hãy lo chuyện nhà mình (vì thiết thực hơn); hãy bỏ thói quen chờ người khác đến cứu mình, mà hãy nghĩ cách tự cứu mình trước (vì không ai cứu được); hãy bỏ thói quen làm thuê đánh mướn, để tự hào về một sứ mệnh viển vông; hãy bỏ thói quen chìa tay đi xin viện trợ, mà hãy tìm cách làm ra tiền và tiêu tiền có hiệu quả. Không ai cho mãi, nếu mình tiếp tục “tiêu tiền chùa” hoang phí và biển thủ vô tội vạ (“ăn không từ cái gì”).
.Trong thế giới toàn cầu hóa và tùy thuộc lẫn nhau, tất nhiên phải có đồng minh và bạn bè, nhưng hãy ghi nhớ “chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Thật ngây thơ nếu hiểu “làm bạn với tất cả” (như khẩu hiệu), có nghĩa là không dám chơi thân với ai (như đồng minh). Tuy không nên dựa vào nước này để chống nước khác (như đánh thuê), nhưng cũng không nên đu dây quá lâu (như một mẹo vặt) để mất cơ hội. Cả hai cách đó đều bộc lộ thế yếu và phụ thuộc, chứ không phải thế mạnh và độc lập (NQD).
.Tác giả Nguyễn Quang Dy vừa gửi bài viết này cho Blog KD/KD. Một bài viết rất thẳng thắn và hay của tác giả phân tích và kiến giải những giải pháp của nước Việt trong bối cảnh nước Mỹ đang có những thay đổi lớn, bắt đầu từ chiếc ghế …Tổng thống Mỹ. Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ 😀
——————–
donald-trump-01szgy_yhjdBi kịch tranh cử tổng thống Mỹ đã hạ màn, với vai chính là Donald Trump giành được ngai vàng tại Nhà Trắng. Donald Trum là một nghịch lý mà nhiều người khó nuốt, nhưng đã quá muộn đành phải chấp nhận. Hoặc lại phải xuống đường biểu tình trong một đất nước bị phân liệt bởi nghịch lý đó. Không phải chỉ có người Mỹ, mà nhiều người Việt cũng bất ngờ, choáng váng, bức xúc và lo sợ. Đối với người Mỹ, tâm trạng đó là dễ hiểu (về tâm lý), nhưng đối với người Việt, tâm trạng đó là bất ổn (về tâm thức).  
Phải chăng đã đến lúc người Việt hãy bỏ thói quen lo chuyện người khác (vì vô vọng), mà hãy lo chuyện nhà mình (vì thiết thực hơn); hãy bỏ thói quen chờ người khác đến cứu mình, mà hãy nghĩ cách tự cứu mình trước (vì không ai cứu được); hãy bỏ thói quen làm thuê đánh mướn, để tự hào về một sứ mệnh viển vông; hãy bỏ thói quen chìa tay đi xin viện trợ, mà hãy tìm cách làm ra tiền và tiêu tiền có hiệu quả. Không ai cho mãi, nếu mình tiếp tục “tiêu tiền chùa” hoang phí và biển thủ vô tội vạ (“ăn không từ cái gì”).
Trong thế giới toàn cầu hóa và tùy thuộc lẫn nhau, tất nhiên phải có đồng minh và bạn bè, nhưng hãy ghi nhớ “chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Thật ngây thơ nếu hiểu “làm bạn với tất cả” (như khẩu hiệu), có nghĩa là không dám chơi thân với ai (như đồng minh). Tuy không nên dựa vào nước này để chống nước khác (như đánh thuê), nhưng cũng không nên đu dây quá lâu (như một mẹo vặt) để mất cơ hội. Cả hai cách đó đều bộc lộ thế yếu và phụ thuộc, chứ không phải thế mạnh và độc lập. Muốn mạnh và độc lập phải dựa vào dân và lấy lợi ích dân tộc làm trụ cột, trên cơ sở hòa giải và đoàn kết dân tộc, vì lợi ích chung.
Tổ tiên người Việt đã sống cạnh Trung Quốc nhiều thế kỷ, đã nhiều lần bị xâm lược và trở thành thuộc quốc, nhưng chưa bao giờ chịu khuất phục, chưa bao giờ ngừng đấu tranh để tự cường và giành lại độc lập. Chúng ta có quyền tự hào là tổ tiên người Việt đã có một lịch sử huy hoàng không thua kém ai, mặc dù thời đó nước Việt cô đơn. Ngày nay, nước Việt không còn cô đơn, nhưng lại quá phụ thuộc. Hãy nhìn tấm gương Israel. Dân tộc Do Thái đã mất hết không còn tổ quốc, nhưng khi có cơ hội, họ đã làm lại từ đầu như “quốc gia khởi nghiệp”, và trở thành một cường quốc. Đó là một dân tộc dũng cảm và khôn ngoan.
Thực ra trong lịch sử, tổ tiên người Việt đã từng làm được những việc tương tự như người Do Thái. Nhưng thỏa thuận Thành Đô là một sai lầm chiến lược phải trả giá quá đắt, một vết đen trong lịch sử mà nay người Việt phải có trách nhiệm sửa sai. Đó không phải là lần đầu tiên trong lịch sử, và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Nếu biết tự trọng và tự cường, người Việt có thể làm được những gì mà người Do Thái đã làm.
Những gì đang diễn ra tại Anh, tại Mỹ và nhiều nơi khác, chứng tỏ thế giới đang thay đổi đảo điên, và không thể giữ mãi nguyên trạng, như nhiều người mong muốn (hay ngộ nhận). Người ta đã ngộ nhận về một xu thế mới đang đòi thay đổi trật tự cũ, như một nghịch lý khó chấp nhận. Đã đến lúc toàn cầu hóa và tự do mậu dịch (FTA) bước vào thoái trào, trước cao trào dân tộc chủ nghĩa, với xu hướng cực đoan và biệt lập, đang bị những người dân túy lợi dụng để lên nắm quyền, bằng những thủ đoạn chính trị phi truyền thống.
Theo giáo sư Francis Fukuyama, với thắng lợi của Donald Trump, nước Mỹ đang dịch chuyển từ “chủ nghĩa quốc tế tự do” (liberal internationalism) trở thành “chủ nghĩa dân tộc dân túy” (populist nationalism). Không những thế, dưới chính quyền Donald Trump, “nước Mỹ không còn là biểu tượng của nền dân chủ đối với các dân tộc đang sống dưới chế độ độc tài, tham nhũng”. (“US Against the World: Trump’s America and the New Global Order” Francis Fukuyama, Financial Times, November 11, 2016).
Sự phản kháng của một bộ phận dân chúng chống lại toàn cầu hóa là một phong trào toàn cầu. Cách đây 6 năm, Noam Chomsky đã cảnh báo, “Nó đang bùng phát thành những hoang tưởng chính trị mang tính tự hủy diệt”.  Nhưng người ta không chịu lắng nghe, mà coi thường các dự báo. Hậu quả là Donald Trump đã thắng cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Họ không ngăn được ông Trump vì đánh giá sai ông ấy (đại diện cho một phong trào). Các chuyên gia (pundits, pollsters) cũng ngộ nhận. Sách lược “bài bản” mà bà Clinton đưa ra để lôi kéo cử tri nữ, dùng hình tượng Lady Gaga (celebrity feminism) cũng không ăn nhập với cử tri nghèo, nên không đáp ứng đúng nhu cầu “tiến bộ” của họ (“superficial progressivism”). Vì vậy bà Clinton đã mất phiếu ngay trong các bang và nhóm cử tri mà bà có lợi thế.  
Nếu bà Clinton lên làm tổng thống, sẽ không quá khó để đoán biết chính sách của bà ấy. Nhưng còn quá sớm để “đoán mò” về chính sách của Tổng thống Donald Trump, một nhân vật thực dụng “phi truyền thống”. Vì vậy, sẽ không ngạc nhiên nếu một số người vẫn ngộ nhận về ông Trump, như họ đã từng ngộ nhận về ông ấy. Về đối ngoại, có một số dấu hiệu ban đầu khá rõ trong bài báo của Alexander Gray và Peter Navarro, “Tầm nhìn về Hòa Bình trên Thế mạnh của Donald Trump tại Châu Á-TBD” (Donald Trump’s Peace Through Strength Vision for the Asia-Pacific, Foreign Policy, November 7, 2016).
Theo ông James Woolsey (cố vấn an ninh quốc phòng của ông Trump) phát biểu trên báo South China Morning Post (ngày 2/11/2016), “Mỹ sẽ chấp nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc nếu Trung Quốc không thách thức nguyên trạng” (như một thỏa thuận có điều kiện). Khác với chính quyền Obama, thái độ của chính quyền mới đối với chủ trương “Một Vành đai, Một Con đường” của Trung Quốc sẽ “nồng ấm hơn” (much warmer).
Ông Trump thắng không phải vì quá tài giỏi, mà vì ông ấy thực dụng hơn, đã nhạy cảm bắt mạch đúng tâm trạng và đáp ứng đúng xu hướng muốn thay đổi của đa số cử tri nghèo. Bà Clinton thua không phải vì quá kém cỏi, mà vì bà ấy (và lãnh đạo đảng Dân Chủ) ngộ nhận, đã vô cảm trước sự thay đổi. Nghịch lý Donald Trump một lần nữa khẳng định xu hướng “Brexit” đã bắt đầu tại Anh. Đó là một bài học đau đớn đối với đảng Dân Chủ và Cộng Hòa (tại Mỹ), cũng như Công Đảng và đảng Bảo Thủ (tại Anh), và các chính đảng khác trên thế giới đang bị khủng hoảng, dù họ theo chính thể dân chủ hay độc tài.      
Trung Quốc độc tài nhưng đã cải cách kinh tế thành công, đang trỗi dậy như một gã khổng lồ, đòi thay đổi trật tự thế giới. Thực ra, đó cũng là chuyện bình thường và chính đáng, nếu Trung Quốc trỗi dậy trong hòa bình, đừng cư xử cực đoan và hung hãn, đừng bắt nạt và thao túng thiên hạ để bá quyền. Nếu Trung Quốc bớt độc tài, cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, để trở thành một siêu cường văn minh, thì đó là một tấm gương cho thê giới. Nếu vậy, sẽ chẳng có ai phản đối, nếu Trung Quốc vượt Mỹ để đứng đầu thế giới. Nhưng ông Tập Cận Bình cũng là một nghịch lý về cải cách kinh tế mà vẫn duy trì nguyên trạng chính trị. 
Đối với mỗi quốc gia, trỗi dậy trong hòa bình để trở thành cường quốc là một sứ mệnh chính đáng. Là một láng giềng nhỏ hơn, người Việt Nam phải khiêm tốn và hữu hảo với người Trung Quốc, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau để cùng tồn tại. Người dân hai nước phải là đồng minh của nhau, vì mục tiêu chung là dân chủ và cường thịnh, chống lại xu hướng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, có thể xô đẩy các dân tộc vào lò lửa chiến tranh.    
Trong nước, thảm họa môi trường tại Miền Trung (do Formosa) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là hai vấn nạn khổng lồ đang ám ảnh cả nước. Đó không chỉ là hậu quả của thiên tai (do biến đổi khí hậu) mà còn là hệ lụy của “nhân họa” (do con người gây ra). Mọi giải pháp để tháo gỡ đều phải tính đến tâm trạng và nguyện vọng của người dân, theo hướng “từ dưới lên” (bottom up), chứ không chỉ dựa vào ý chí của chính quyền, theo hướng “từ trên xuống” (top down). Sai lầm lớn nhất của giới cầm quyền tại Anh và Mỹ vừa qua là một cảnh báo về sự ngộ nhận chết người, dẫn đến những hệ quả khôn lường.  
Sáng kiến “Mekong Connect” tại ĐBSCL đang mở ra một cơ hội và lối thoát để cứu ĐBSCL khỏi tai họa, nếu biết vận dụng và quản trị nguồn lực bản địa và quốc tế một cách hiệu quả hơn, nếu biết ứng phó với biến đổi khí hậu và đổi mới thể chế một cách khôn ngoan hơn. Trong khi đó, thảm họa môi trường miền Trung nan giải hơn, vì có yếu tố Formosa và Trung Quốc. Những cuộc biểu tình ôn hòa hàng vạn người của cộng đồng công giáo miền Trung là một cảnh báo về tâm trạng bức xúc của người dân (nhưng vẫn chưa có luật biểu tình). Những hoạt động cứu trợ bão lụt hiệu quả hơn của các tổ chức xã hội dân sự (như MC Phan Anh) cũng là một hiện tượng đáng suy nghĩ (trong khi vẫn chưa có luật về hội).      
Tóm lại, trước một thế giới đầy biến động bất thường, muốn tồn tại bên cạnh Trung Quốc như một gã khổng lồ ôm mộng bá quyền, Việt Nam phải đổi mới toàn diện (vòng 2), bằng cải cách thể chế kinh tế lẫn chính trị, để tháo gỡ những nút thắt như cái vòng kim cô đang trói chặt nền kinh tế và chính trị của một đất nước đang chuyển đổi. Đổi mới thể chế là nhiệm vụ cấp bách và cơ bản nhất để ổn định kinh tế vĩ mô, cân bằng ngân sách, tránh lệ thuộc, và phát triển bền vững.  “Hãy tự cởi trói” và “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”!  
NQD.  12/11/2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trần Huy Quang - chông chênh những phận người

Nguyễn Đức Huệ


Cứ mỗi lần gặp Trần Huy Quang, tôi lại nhớ đến một câu Kiều: "Thấy người lại ngẫm đến ta/ Một dày một mỏng biết là có nên."


 Nói thế không có nghĩa tôi vận vào mình mối liên hệ với anh, không phải thế. Đây là mối liên hệ giữa Trần Huy Quang với chính mình: "Ta" là tác giả , tức là anh, còn "Người" là những nhân vật trong tác phẩm của anh, tức cũng là anh đó.
Nhưng hãy khoan nói đến điều này, bởi anh đang ngồi trước mặt tôi đây, và tôi đang ngắm anh đây. Một gian gác nhỏ của gia đình anh tại 56 Bà Triệu, hai chúng tôi ngồi đối diện nhau bên cửa sổ, anh hí hoáy viết lời đề tặng tôi mấy cuốn sách mới của mình còn tôi thì lặng lẽ nhìn anh. Vẫn cái dáng người cao to vạm vỡ của chàng pháo thủ "Khe cò" năm xưa, vẫn cái gương mặt sần sùi, góc cạnh, hàm răng cái dài cái ngắn luôn tỏa sáng khi cười. Nhất là hai vết nhăn giữa mặt, rất phong trần, như những nhát chém vào giữa cuộc đời. Nhìn Trần Huy Quang, không ai dám nghĩ anh đã sống một cuộc đời nhẹ nhàng. Mấy năm không gặp, xem ra anh đã thay đổi theo chiều già rất nhiều.
Các nhà nghiên cứu văn học, khi muốn tìm hiểu về một tác giả nào đó, thường phải bỏ nhiều công sức dò theo từng cái mốc văn chương để rồi tổng hợp, khu biệt và phân tích, bởi thế không tránh khỏi những suy diễn chủ quan về họ. Kẻ sáng tác thì không thế, bởi họ rất hiểu nhau bằng những kỉ niệm đời văn, điều mà nếu họ không kể ra sẽ chẳng ai biết được. Không gặp nhau thì thôi, gặp nhau tự nhiên nhấn ngay chuột vào bộ nhớ, lập tức mọi cái trong quá khứ hiện ra trước mặt, sinh động và tươi tắn y hệt thời hiện tại. Phải chăng vì thế mà từ rất lâu rồi, người ta đã sáng tạo ra cái gọi là "nghệ thuật đồng hiện" trong văn chương?
Bây giờ là năm 2009, tôi đang ngồi với Trần Huy Quang tại nhà anh ở phố Bà Triệu, thế mà đột nhiên trong mắt tôi, nó lại biến thành một cái quán nước bên cạnh Nhà xuất bản Lao Động ở phố Hai Bà Trưng, và năm 2009 vụt lùi xa thành năm 1980. Tôi vừa từ Quảng Ninh lên Hà Nội, tìm gặp Trần Dũng, lúc đó đã là biên tập viên văn học của nhà xuất bản, để trao đổi về bản thảo tập truyện ngắn đầu tay của mình. Đang trò chuyện thì thấy một chàng trai cao nhỏng, gầy nhom, quần áo lính bạc màu, đầu đội mũ cối, tay dắt chiếc xe đạp "cởi truồng" đi tới. Trần Dũng ơi ới gọi, rồi giới thiệu với tôi: 
- Đây là Trần Huy Quang, người vừa được giải nhì truyện ngắn của Tạp chí "Văn đội quân nghệ."
Dũng nhấn mạnh bốn chữ "Văn đội quân nghệ" làm tôi không khỏi bật cười. Lúc bấy giờ ở tạp chí Văn nghệ Quân đội có đến hai phần ba nhà văn là người xứ Nghệ nên anh em mới gọi chệch đi như thế. Các nhà văn chúa là hay tếu mà kiểu gì cũng biến thanh trò vui được, thế mới tài! Tôi nghĩ vậy và hỏi Trần Huy Quang:
- Thế ông có là người xứ Nghệ không?
Quang đáp:
- Cọ! Nghệ chỉnh danh.
- Cọ thì đụng rôi! - Tôi cười nhại tiếng quê anh - Đụng ra ông phải ăn giải nhất mới phải chớ!
- Thằng này bắt chước không ra - Trần Dũng chen vào - Ở xứ Nghệ người ta không nói chữ "chớ" đâu mà nói "hè", giải nhất mới phải hè, biết chửa?
Trần Huy Quang lắc đầu quầy quậy:
- Tụi bay nỏ biết chi!
Cả  bọn phá lên cười, đây mới thực là tiếng dân xứ Nghệ, chỉnh danh!
Nghe Trần Dũng nói, Trần Huy Quang vừa tốt nghiệp khoa Sử trường Tổng hợp mấy năm trước, điều mà lẽ ra anh đã có từ lâu, khổ nỗi vì vướng tí thành phần nên khi học hết cấp ba trường tỉnh (ngày đó cả tỉnh chỉ có một trường cấp3), thi vào Tổng hợp Lý, có giấy báo về nhưng địa phương không đưa, ý là không muốn cho anh ra Hà Nội nhập trường. Năm sau, Quang xung phong đi bộ đội, 5 năm lính pháo binh,3 năm di B phụ trách Thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến, ốm liểng xiểng ra an dưỡng rồi mới được trở lại trường đại học với bộ quần áo lính. Trong những năm ở trong quân đội, khi còn là anh anh hạ sỹ, Quang đã viết văn. Truyện ngắn đầu tay của anh là truyện Anh Hộ, in trên Văn nghệ Quân đội 1968, có lẽ vì thế mà khi về trường, anh quyết định bỏ luôn môn Lý, chuyển sang học Sử.
- Sao ông không học khoa Văn? - Tôi hỏi.
- Khoa Văn người ta không nhận, vả lại đã xin sang Sử rồi. Mà Sử mới hay chứ - Quang cười đáp - Kinh không có chữ mới là chân kinh, đúng rứa không?
Lần  đầu tiên tiếp xúc, tôi thấy mến Trần Huy Quang. Rất Nghệ. Cởi mở, mộc, chân, và rất lành.
Nhưng té ra anh không lành một chút nào. Ngược lại, khi thực sự bước vào trường văn trận bút, càng ngày anh càng dấn thân một cách quyết liệt, đầy bản lĩnh.
Vốn sống và những va chạm khi anh là phóng viên kinh tế của báo Độc Lập đã cho anh viết nên phóng sự Vua Lốp gây bất ngờ cho xã hội, năm 1986. Vua Lốp là tiếng kêu cứu của một ngành sản xuất, tiếng nói của sự phi lý, có người nói nó là tiếng chuông cáo chung về một giai đoạn bao cấp. Nhờ phóng sự này mà anh được Tổng biên tập Nguyên Ngọc chiêu tập về báo Văn nghệ. Đọc Vua Lốp người ta có cảm giác thể loại phóng sự thời Vũ Trọng Phụng đang được sống lại. Quả nhiên, sau đó một loạt phóng sự ra đời được xã hội đón chào háo hức: Lời khai bị can, Người biết làm giàu (Trần Huy Quang), Thủ tục làm người còn sống (Minh Chuyên), Đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), rồi Tiếng đất, Đêm trắng (Hoàng Hữu Các), Người đàn bà quì (Trần Khắc), Con đường có máu chaỷ (Trần Quang Quí) vân vân.. .
Tôi nhớ trong bài "Phiếm luận về văn học nghệ thuật" của nhà cách mạng lão thành Trần Bạch Đằng, in trên báo Văn nghệ có câu "...không biết bao nhiêu khái niệm tưởng chừng nằm chết trong các công thức bất di bất dịch, nay bị cuộc sống xốc dậy.. . vấn đề dân chủ, tự do, tự do ngôn luận, vấn đề đánh giá lịch sử, đánh giá con người... trong từng quốc gia xã hội chủ nghĩa đòi giải đáp chân thực, có những giải pháp trần trụi khiến chúng ta lạnh toát người như "Sám hối" ở Liên Xô và "Lời khai bị của bị can" ở Việt Nam ta .."   
Đấy là kết quả của một tinh thần công dân và lòng say mê nhập cuộc trong các nhà văn, của các nhà văn thời ấy, mà Trần Huy Quang lại là một nhà văn quá nhạy cảm với những nghịch lý trong đời sống xã hội. Và dĩ nhiên là anh phải trả giá cho sự nhạy cảm và trung thực đến mức thật thà của mình.
*
- Huệ xem bìa nó làm đẹp không? - Trần Huy Quang nói và chìa cho tôi cuốn "Nước mắt đỏ" của anh được tái bản năm 2005 - Còn duy nhất một cuốn đóng bìa cứng, xin tặng bạn.
Tôi  đón lấy cuốn sách, gật đầu khen bìa làm đẹp nhưng tôi vẫn thích cái bìa bản in lần thư 3 do Văn Sáng làm hơn, nhìn nó ra chất lắm.
- Ừ - Quang gật đầu - Nhưng Ngô Xuân Khôi làm cũng đẹp. Hiện rất nhiều tác giả đang nhờ Khôi vẽ bìa!
Cầm cuốn "Nước mắt đỏ" trên tay, tôi lại nhớ một lần Trần Huy Quang về Quảng Ninh công tác. Biết tiếng anh từ lâu, lãnh đạo tỉnh đích thân đón tiếp, bố trí cho anh ở Khách sạn sang nhất trong thành phố. Buổi tối Quang điện cho tôi, rủ đến chơi nhưng lúc đó tôi đang bận sửa nhà, không sang được. Anh có vẻ giận, đặt ống nghe xuống giá đánh cộp một cái. Tôi hơi áy náy nhưng đành chịu, nhà cửa còn đang ngổn ngang bề bộn thế này, lại bỏ đi tán chuyện văn chương thì hâm quá.
Té  ra dịp ấy Trần Huy Quang vừa cho tái bản cuốn "Nước mắt đỏ"(in lần thứ nhất năm 1988). Khi về Quảng Ninh, anh có đem theo một cuốn tặng tôi, thấy tôi không sang, anh liền tặng cho người khác. Khi biết chuyện này, tôi lập tức ra hiệu sách mua một cuốn đem về đọc. Đọc một đêm xong, cất vào nơi để sách, sáng hôm sau tiếp tục sửa nhà. Ban ngày cùng thợ làm hùng hục, tối về lại thức chong chong, bị ám ảnh bởi một cái gì đó đang lơ lửng đâu đây trong cuốn sách mình vừa đọc.
Lạ  thật! Làm báo thì xông xáo trận tiền, tả xung hữu đột thế mà khi viết văn lại tỏ ra trầm tĩnh đến lạnh lùng. Đọc Trần Huy Quang, tôi có cảm giác hình như anh thường viết về đêm, vào lúc nửa đêm về sáng, khi cái ồn ào hỗn độn trên các ngả đường Hà Nội đã lắng dần đi và cả thành phố đang chìm vào giấc ngủ.
Người ta đã viết nhiều về thân phận người phụ nữ qua hai cuộc chiến tranh. Những cô gái thanh niên xung phong. Mối tình đầu trong chiến trận. Bi kịch thời hậu chiến. Nỗi cô đơn... điều đó không có gì mới lạ. Nhưng khi đọc "Nước mắt đỏ", dù cũng kể về một nhân vật nữ trong hoàn cảnh tương tự, chẳng có nhiều tình huống éo le gì lắm, sex cũng không, vậy mà trang nào cũng cuốn hút, trang nào cũng thấm thía một nỗi buồn thương đến nao lòng. Có những trang tác giả viết hay đến mức tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Và tôi chợt phát hiện ra cái "bí quyết" của anh, không biết cố ý hay vô tình nảy sinh trong khi viết: đó là sự chông chênh. Sự chông chênh của phận người, sự chông chênh của tình huống mà nhân vật của anh gặp phải dẫn đến sự chông chênh tâm lý. Thời son trẻ thì mơ ước tương lai nhưng khi tương lai trở thành hiện thực lại mơ về quá khứ. Quá khứ đầy gian khổ, chiến tranh khốc liệt, ai còn mong trở lại làm gì? Nhưng quá khứ lại có những điều thiêng liêng cao cả mà hôm nay không có, thành ra vẫn có người đang sống giữa bao người mà vẫn rất cô đơn. Cuộc sống vẫn trôi đi, cuồn cuộn trôi đi, còn người đó thì dừng lại, dõi mắt về quá khứ với hai dòng lệ đỏ.
Cái hay của "Nước mắt đỏ" không phải là ý tưởng mới lạ hay cốt truyện ly kỳ, nó hay về văn, về cái hồn văn, mà cái hồn văn ấy nó nằm trong sự chông chênh của thân phận con người. Đọc tác phẩm này, đôi khi có cảm giác mình bị tác giả kéo lên sườn dốc mà đi, một bên là núi cao, một bên là vực thẳm, không cẩn thận có thể sa chân bất cứ lúc nào.
Phải chăng để viết ra được những trang văn da diết và phấp phỏng lo âu ấy, bản thân tác giả cũng đã từng nếm trải sự lao lung của cuộc đời với những giờ khắc chông chênh như vậy?
Tôi gợi hỏi Quang về chuyện đó. Anh cúi đầu, dáng điệu hệt như người đang bị đem ra đấu tố:
- Hồi cải cách gia đình mình bị qui thành phần địa chủ, trừ mình được học hết cấp ba, cả mấy anh chị em đều phải nghỉ học từ rất sớm. Tuổi niên thiếu của mình hầu như không có nữa cơ Huệ ạ!
- Chuyện đó xưa rồi. - Tôi nói - Điều tôi muốn hỏi anh là hồi bị tai nạn nghề nghiệp kia?
Quang gật đầu:
- Cũng hơi vướng tí. Nhưng không nặng như hồi Nhân văn Giai phẩm, và mình cũng không đến nỗi cô đơn cô độc, ngoài những người thân trong gia đình, xung quanh còn có nhiều bạn tốt. Ngay như ông Tổng biên tập báo lúc bấy giờ cũng vậy, mặc dù bề ngoài HT có vẻ lạnh, nhưng lại ngầm giúp mình bằng cách này cách khác. Có lần ở giữa đám đông, đi qua trước mặt mình, anh ấy cũng tảng lờ như không biết có mình, nhưng đi ngang qua lại nắm cổ tay mình rất chặt, bấm nhẹ một cái, không ai thấy cả. Mình cảm động đến run lòng. H.T là như vậy, thương bạn, bảo vệ nhà văn cũng theo cách của mình, rất H.T. Mấy ai biết được điều đó. Những cử chỉ thoáng qua như vậy, không lọt vào mắt ai, tưởng thường thôi nhưng với mình lúc ấy quan trọng lắm, nó giúp mình trụ vững, không bị mất lòng tin vào mình. Nhà văn có thể mất nhiều thứ vẫn chẳng sao, vẫn còn có chỗ dựa là trang viết. Nhưng một khi chính mình cũng mất lòng tự tin thì chông chênh lắm.
Và Trần Huy Quang lại viết và viết một cách lặng lẽ, theo bút pháp của mình và theo tiêu chí của mình. Cũng rất mong mọi người hiểu mình, anh bảo vậy. Ngòi bút Trần Huy Quang tỏ ra xông xáo, truyện ngắn, ký, tiểu thuyết, tác phẩm nào cũng để lại nhiều ấn tượng, văn của anh không hề dễ dãi, từng câu đều có dấu ấn của sự lựa chọn, nên luôn giữ được niềm tin vốn có nơi bạn đọc và đồng nghiệp. Cuốn mới nhất của anh là tiểu thuyết "Chân trời xa thẳm" do NXB Phụ nữ ấn hành 2009, anh vừa tặng tôi xong, chưa kịp đọc nhưng chỉ liếc qua mấy dòng giới thiệu sơ sơ về nó, đã thấy hay rồi "Một chuyện tình trái khoáy, nửa tình yêu, nửa tôn giáo, nửa mua bán, nửa lường gạt. Nhưng cái hệ quả của nó là làm biến dạng tinh thần thì cũng vừa thật lại vừa không thật. Và chính trong mỗi phút giây khắc khoải phập phồng, kỳ lạ thay, hào khí oanh liệt của một thời ra trận lại được tái hiện."
Không biết ai viết những dòng này mà kỳ lạ đến thế, chỉ ngắn gọn vậy thôi mà tóm được cả hồn cốt của cả tác phẩm và tác giả. Đúng chất Trần Huy Quang, đúng lắm, không chệch đi một tí tẹo nào. Người ta bảo Văn chương có "mệnh", không biết có phải vậy không?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGUYỄN KHOA ĐĂNG , MỘT CON NGƯỜI ĐA TÀI, MỘT CUỘC ĐỜI ĐI QUA CƠN BÃO


Tôi biết nhà văn Nguyễn Khoa Đăng trong một lần ngồi cùng bạn bè Câu lạc bộ “Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng”. Trong lúc thưởng ngoạn ly trà thơm ngon với danh trà “Lão Trà” tôi được ông kể về chuyện đời, chuyện mình. Thú thực lúc đầu, khi tiếp xúc với ông, tôi cũng ít thiện cảm. Bởi ấn tượng mấy ông nhà văn thường có một cuộc sống nội tâm kín đáo và có một chút phong thái hơn người.
Nhưng khi nghe ông kể về cuộc đời, tôi lại thấy muốn gần ông. Vì tôi rất thích những con người có nghị lực. Cuộc đời đầy bão tố đã đến với ông và gia đình tưởng có thể vùi dập một con người. Nhưng ông đã vượt qua giông bão đứng vững và để lại cho đời những câu chuyện kể nghe như huyền thoại. Từ oan ức, khổ đau dễ biến con người trở nên thù hận. Nhưng ông Nguyễn Khoa Đăng đã tự đứng lên để chứng minh khổ đau không làm con người gục ngã. Có lẽ chỉ con người có tài năng và bản lĩnh mới có thể đi qua vùng bão táp cuộc đời.
Cuộc đời ông đã có bước ngoặt khi ông và gia đình chuyển vào sinh sống tại mảnh đất Nam Bộ phóng khoáng, chân chất và giàu lòng nhân ái. Ông đã đến tỉnh Kiên Giang lập nghiệp và nơi đây như quê hương thứ hai của ông.
Có cái lạ ở con người ông, trong tác phẩm ông viết ông không hề oán giận. Không hằn học ai kể cả cuộc đời có lúc đã bạc đãi ông. Ngay trong tác phẩm “Nước mắt một thời” ông viết về một thời đẫm nước mắt và máu nhưng người đọc cũng không thấy một lời văn nào gợi lên sự oán trách, hận thù.
Tác phẩm ra đời, ông vất vả chạy ngược chạy xuôi. Gõ cửa nhiều nơi để được xuất bản. Vì nội dung “nhạy cảm” về cải cách ruộng đất nên mãi nên mãi đến năm 2009 “Nước mắt một thời” mới được nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho phát hành.
“Nước mắt một thời” gắn liền với tên tuổi nhà văn Nguyễn Khoa Đăng. Tác phẩm viết về một giai đoạn cải cách ruộng đất. Một quá khứ đau buồn, oan ức của một con người, một gia đình. Với nét bút tả thực, tác giả đã dẫn dắt câu chuyện kể về một mối tình ngây thơ, trong trắng. “Nước mắt một thời” đã khái quát một thời trong cải cách ruộng đất xảy ra tại tỉnh Thái Bình. Nhưng tác giả lại có cái nhìn bao dung, độ lượng. Không hận thù và ân oán. Chút vị mặn của nước mắt đã làm dịu lành những vết thương lòng.
Ngoài hai mươi tác phẩm ông đã sáng tác và được phát hành. Trong lĩnh vực thơ, ông cũng để lại dấu ấn như bài thơ “Mùa lúa chín” đã được phổ thành bài hát “Em đi giữa biển vàng”. Cái vị ngọt của hương lúa chín vàng nơi quê hương 5 tấn hòa quyện cùng nốt nhạc đã làm say đắm lòng người.
“Giữa biển vàng
Nghe mênh mang
Trên đồng lúa hát”
Đây là một trong những bài hát được chọn lựa là bài hát hay nhất dành cho thiếu nhi trong thế kỷ 20.
Thật ngạc nhiên khi được biết ông Ngyễn Khoa Đăng còn một thời làm “thầy cãi” trong hàng chục phiên tòa ở tỉnh Kiên Giang. Không học vấn cao, không qua trường lớp đào tạo, nhưng ông trở nên nổi tiếng trong các phiên tòa. Sự am hiểu về pháp luật, tài ứng xử, một tấm lòng nhân ái với gương mặt phúc hậu ông đã được quan tòa và đương sự nể phục. Đến nỗi có người đã mượn danh tiếng của ông để sống bằng nghề “cò” ăn theo.
Tôi đã đọc một số bài bào chữa của ông. Chỉ người có cái tâm và đồng cảm với số phận con người mới có tiếng nói giữa công đường mà cả tòa án và người bị hại đều đồng tình lắng nghe. Hình ảnh bị can đã viết bằng máu để cảm ơn ông trước khi ra pháp trường xử bắn làm cho mọi người xúc động và cảm phục. Họ dù có tội chết, nhưng cũng còn thấy trên đời này có người hiểu được trong tội ác có chút nhân tính. Người ta không thể tha thứ được tội ác, nhưng có thể thấy được hoàn cảnh lỗi lầm của một con người tội lỗi.
Điều đặc biệt của “thầy cãi” Nguyễn Khoa Đăng còn vận dụng cả thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương để bào chữa cho một vụ án hiếp dâm. Một lời bào chữa bằng thơ văn nhưng lại có lý, có tình, có biện minh hoàn cảnh phạm tội nên quan tòa đã xét giảm nhẹ bản án cho bị cáo.
Khi được về sống với môi trường rừng núi, ông đã sáng tác “Chim mặt người”. Một tác phẩm viết cho thiếu nhi. Nhưng khi người lớn đọc lại thấy những con chim bé nhỏ có bóng dáng con người trong cuộc sống đời thường. Trong các đề tài cho thiếu nhi có những bài viết của ông được lựa chọn đưa vào sách giáo khoa giảng dạy như Truyện “Đi tết thầy” văn học lớp 9, “Thẻ mực đêm trăng” sách giáo khoa lớp 5.
   Nói Nguyễn Khoa Đăng đa tài thực cũng không quá lời. Ngoài 20 tác phẩm  văn học đá xuất bản. Ông còn tham gia viết kịch bản cho phim như “Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc” và “Giai điệu xanh”. Đây là bộ phim được khán giả yêu thích vào năm 1987. Ngoài viết kịch bản ông còn  tham gia đạo diễn phim.

Thật thú vị nhà văn Nguyễn Khoa Đăng còn thể hiện diễn xuất trong phim “Lấy chồng Hàn” ông đóng trong vai nhân vật Ba Changsun trong phim 30 tập.
Ông có thời gian tham gia viết báo với bút danh Thương Việt, Thạch Thảo, Vương Thân…… Hàng trăm bài viết trong các chuyên mục của báo Kiến thức gia đình và Giáo dục & Thời đại.
Trong sự nghiệp văn chương của một đời người, ta thường ao ước có một tác phẩm để đời. Với nhà văn Nguyễn Khoa Đăng trong nhiều lĩnh vực ông sáng tác đều có những tác phẩm xuất sác. Đó là điều làm ta yêu mến, ngưỡng mộ ông.
Cảm ơn cuộc đời đã cho tôi được gặp và ngồi nói chuyện đời, chuyện nghề bên ông. Ông đã cho ta có khoảng thời gian lắng đọng để kịp nghe con tim mình gõ nhịp. Đó là nhịp đời, nhịp sống, nhịp thời gian và nghe dòng máu mình lan tỏa đầy cảm xúc nồng ấm, yêu thương.
VŨ ĐỨC VINH

Phần nhận xét hiển thị trên trang

RỖNG

HG
Người đi đóng đinh xuống biển
Câu thơ treo chín từng trời
Tôi về quê nghèo xóm cũ
Chau mày
gửi chiều gió bay!
Loanh quanh vài ba câu chuyện
Nói như chẳng nói câu gì!
“Sống mòn”? Sống quên? Khờ khạo?
Hay ai thuốc lú bùa mê?
Hết ham ba câu chuyện nhảm
Người ta thương mến chưa về?
Ngồi im hay là đứng dậy?
Buông lòng cho ngày qua đi?
Người ta bây giờ cũng lạ?
Thực tâm xem như trò đùa
Bông phèng được mùa đua nở..
Cho buồn
ngơ ngác đi qua!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỮ HÀNH

HG
Con mắt giấu sau cặp kính đổi màu
miệng và mũi sau khẩu trang
Chỉ riêng đôi tai sơ hở
nhìn bằng nghe?
Nhìn bằng quả tim trong ngực
không hiểu vì sao đập liên hồi
Qua quãng đường xe chật
qua cánh rừng, cánh đồng im hơi
Nhìn bằng bàn tay thô ráp
vục xuống lòng sông u hoài
Vục xuống giếng sâu hun hút
bây giờ còn bao nhiêu xăng ti mét đây?
Nhìn bằng bàn chân tháng năm lấm láp
giày thủng ngón chân thò ra ngoài
Ngỡ ngàng đất ta quen
chốc đâu thành đất lạ?
dấu ngựa ngàn xưa còn hay mất rồi?
Giấu cái lưỡi ngậm sâu trong miệng
nói lời vô duyên không bằng lặng im
Chỉ con chữ không sao giấu nổi
thường về khi khuya..
hành ta đêm đêm!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỌN


HG
Rất nhiều những con đường
có thể làm ta rối mắt
Nhưng không nhất thiết là con đường phải đi
Rất nhiều con sông,
bến đò mở ra trước mặt
Nhưng không phải con đò nào nơi quê cũng đón ta về..
Ta đã gặp rất nhiều ánh mắt
Những bàn tay
thân ái bạn bè
Nhưng tình yêu chỉ suốt đời có một
Dẫu tìm giữa cô đơn,
hờ hững cũng nhiều khi..
Trời vắng lặng
nỗi niềm càng sôi bức
Người như bóng cây trơ trọi một mình
Đừng trách phận
bạn tôi ơi
cứ hát
Để nhớ về mùa xuân tươi xanh!
Không hát được nếu hanh hao cảm xúc!
Giả dối mà yêu
Không thành tình yêu
Nhẫn nhịn
đâu phải là cách hay trả nghiệp?
Dẫu có lên cũng chập choạng cánh diều!
Làm gì có bóng cây tùng để ta nương tựa?
Có tảng đá thề để ta mãi tin?
Cuộc phù vân đục mờ hư ảo..
Nếu biết yêu
ta giữ được cho mình!
Rồi tất cả sẽ trôi theo dòng nước
Chỉ còn lại bến sông
nghi hoặc đôi bờ
Còn lại mối tình không thể khác:
Về con đường, con người, con sông ta đã chọn
cho ta!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những người đã chết

Truyện ngắn của nhà văn Vũ Hùng
Mỗi lần đi chuẩn bị chiến dịch, trên đường vượt Trường Sơn đội quân báo của Trung đoàn thường qua lại Bản Pục. Ai cũng thích những phút ngừng chân ở bản này. Đó là một làng người Lào đầu tiên ở vùng biên giới. Làng nằm bên những nương lúa như trôi nổi giữa trời mây. Từ xa đã nhìn thấy mái chùa làng cao vút và nghe vẳng tiếng bầy trâu của làng khua mõ lốc cốc đi tìm ăn. Chỉ ngày mưa đàn trâu mới nằm trú mưa dưới bóng những cây muỗm cổ thụ nên tiếng mõ thong thả đều đều luôn báo hiệu một ngày bình yên và rực nắng.
"Mác pục" là quả bưởi và Bản Pục là Làng Bưởi. Vào làng thấy la liệt những cây bưởi. Mùa xuân, hoa bưởi nở trắng phau. Lác đác giữa màu trắng của cánh hoa là màu vàng của nhuỵ. Đường làng thơm ngát, như có rất nhiều cô gái vừa gội đầu bằng nước đun hoa bưởi và đang quay tóc cho mau khô làm bay ra những làn hương.
Mỗi năm chúng tôi thường qua làng lần đầu vào dịp này để chuẩn bị chiến dịch Xuân Hè. Đi giữa đường xuân, mũ trên đầu và súng trên vai chạm vào những cánh hoa, lòng chợt bồi hồi, khắc khoải: sang hè, khi tàn chiến dịch, liệu có còn được trở về đi dưới những cành bưởi đã bắt đầu trĩu quả?
Lần thứ hai trong năm, chúng tôi qua làng vào mùa thu để chuẩn bị chiến dịch Thu Đông. Lúc ấy nắng tháng tám đã làm rám những trái bưởi rung ring vàng rộm. Lại một lần bồi hổi khắc khoải: hết chiến dịch, những ai sẽ không còn may mắn được trở lại đời thường, được ngừng chân ở nơi này để ăn những trái bưởi vàng mọng nước?
Dù nhiều mất mát, đội quân báo chúng tôi đã được hưởng những giây phút bình yên ở Bản Pục. Các cô gái thường hái cho chúng tôi từng thúng, từng thúng bưởi. Có loại rôn rốt chua mà các cô khen là "ngon lắm!". Lại có loại ngọt lịm như bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh hay bưởi làng Vân, bưởi Đoan Hùng ngoài Bắc...
Ăn không hết, họ xâu vào lạt cho chúng tôi đeo lên balô, mang đi. Vì họ không biết tiêu tiền, để trả công, chúng tôi thường biếu họ một ít viên thuốc sốt rét hoặc một vài bao diêm thêm một vài bát muối. Nhìn họ nhận những vật nhỏ mọn đó mà cảm động: cặp môi đỏ tươi của họ hé mở, miệng họ xuýt xoa vài lời cám ơn, đôi mắt xa vời chợt bừng sáng như được thắp lên bởi một niềm vui quá bất ngờ.
... Lần này đến gần bản, vẫn nhìn thấy mái chùa nhưng chúng tôi không nghe tiếng mõ trâu. Vắng tiếng mõ quen thuộc, không khí trở nên im vắng nặng nề Nhiều kinh nghiệm chiến đấu, rất nhạy bén trước những tình thế bất thường, đội trưởng cho toàn đội ngừng ngay lại. Một tổ trinh sát được phái vào làng thăm dò.
Năm ấy, súng trường tự động và tiểu liên AK lần đầu được đưa sang chiến trường Lào. Quân báo được ưu tiên. Mỗi tiểu đội quân báo, với ba bốn khẩu AK, còn lại toàn súng trường tự động, là một hoả lực không thể coi thường.
Lát sau, có tiếng AK nổ ròn. Vách đá dội lại những âm vang rền rĩ, át hẳn tiếng nổ "lép bép" của những khẩu tiểu liên Mas của địch.
Chiến trường Trung Lào bát ngát những rừng phẳng, đường lối chằng chịt, đi đâu cũng có thể chạm nhau. "Tao ngộ chiến", những trận chiến bất chợt là chuyện thường ngày.
Đội trưởng cho toàn đội xông tới. Nhóm trinh sát địch chiếm giữ làng từ trước nhanh chóng bị đánh bật vào rừng. Họ tháo chạy, để lại một xác chết. Đội quân báo chúng tôi cũng hi sinh một người.
Sau trận đụng độ, trời đất như bỗng đột ngột tụt rơi vào cõi im lặng. Nghe rõ tiếng thở hổn hển của những người dân trốn sau các vách nứa. Người Lào bản tính hiền hoà, sợ bạo lực, sợ đổ máu, sợ nhìn thấy xác người. "Mau đưa các xác chết ra khỏi làng đi!" Nhiều tiếng thúc giục vọng lên từ đâu đó.
Các xác chết liền được đưa ngay vào rừng. Nơi chôn cất được những người già trong làng chỉ định.
Đội trưởng hỏi :
- Một người của chúng tôi, một người của địch, không thể chôn cùng. Cho chúng tôi chôn hai người ở hai nơi khác biệt, xa nhau, có được không?
- Không được đâu! Một cụ già trả lời.
- Nhiều nơi chôn người làm "cái ma" của làng nó sợ, nó bỏ đi mất thì cả làng đau ốm! Một ông cụ khác nói tiếp.
- Sẽ chết hết trâu bò, gà lợn mất thôi ! Nhiều người khác nói theo.
Thế là đành chôn hai người thù địch bên nhau, cùng một ven rừng. Đang lấp đất thì một chiến sĩ bỗng gọi to :
- Đội trưởng ơi! Mộ này của địch, đắp nấm làm gì cho mất công. Kệ xác chúng nó, cứ san bằng đi cho mất dấu. Cho đáng đời, đáng kiếp!
Tôi thấy đội trưởng cau mày :
- Cậu nói gì thế? Không trả thù người đã chết...
Đội trưởng ngừng lại giữa chừng. Có lẽ anh chợt nhận ra là anh đã lỡ lời. Đó là vào những năm 1952-1953. Từ Trung Quốc, tư tưởng Mao đã tràn vào Việt Nam. Cuộc cách mạng Việt Nam biến chất rất nhanh: từ một nền dân chủ cởi mở lúc ban đầu, nó đã biến thành một nền chuyên chính sắt máu. Người Việt không còn là gì đối với người Việt, chỉ nguồn gốc giai cấp mới là đáng kể. Tin tức về cuộc cải cách ruộng đất và những phiên toà đầy tính chất khủng bố đã bắt đầu lan sang phía Tây Trường Sơn.
Qua cửa Việt Nam đã rộng mở, tư tưởng Mao bắt đầu tràn cả vào đất Lào. Người ta đang chuẩn bị công cuộc cải tạo theo hướng tư tưởng vô sản của Mao cho bộ đội Tình nguyện Việt Nam ở đây. Như bắt mạch được trước điều đó, mọi sinh hoạt đều đã mau chóng thay đổi. Không còn tìm đâu thấy hình ảnh người chiến sĩ hào hùng của những ngày đầu cách mạng, chiến đấu dũng cảm nhưng với tấm lòng rộng mở. Lòng căm thù kẻ địch̀, kẻ thù ngoại xâm và trước hết là kẻ thù giai cấp, đang được đề cao hết mức. Ai cũng thận trọng từ lời ăn tiếng nói hàng ngày vì ai ai cũng có thể dễ dàng bị tố giác là kẻ thù giai cấp! Mọi việc, dù phi lí hay tàn bạo, đều có thể được chấp nhận nếu việc đó chứng tỏ lòng căm thù.
Đội trưởng nói tiếp, giọng đã dịu bớt:
- Thôi, người chết rồi, không phân biệt đối xử!
Nếu việc này được báo cáo lại, đội trưởng sẽ bị quy kết là mất lập trường. Anh sẽ bị coi là kẻ chống đối và sẽ mất hết. Mọi thành tích, mọi công trạng của anh sẽ bị xoá bỏ. Quân đội và guồng máy sẽ trừng phạt anh không thương tiếc. Nhưng tôi biết tâm trạng anh: lập trường của anh là chiến đấu hào hùng, vì toàn thể nhân dân chứ không chỉ vì một giai cấp, vì lí tưởng cao cả chứ không chỉ vì hận thù.
- Đắp cho hắn nấm mộ như mộ của một người thường! Đội trưởng tiếp tục ra lệnh. Trồng một cây thập tự làm dấu. Ngày bình yên, bên nào sễ đến thu nhặt hài cốt của bên ấy.
Cuối cùng hai nấm mồ đã được đắp xong. Các chiến sĩ cuốc hai vầng cỏ xanh đặt lên trên. Một chiến sĩ vào bản xin một ít dầu dừa và một ít mồ hóng, pha thành một thứ mực đen, đặc quánh như keo. Trên tấm bia gỗ chôn trước mộ người đồng đội, đội trưởng viết :
Nguyễn Văn A...
Chiến sĩ Trung đoàn 280*
Hi sinh ngày ...
Còn ở nhánh ngang của cây thập tự trồng trên nấm mộ người lính Pháp, anh viết hai hàng chữ :
Lính Pháp, không rõ tên tuổi
Chết ngày ...
Đội trưởng lấy tấm bản đồ tham mưu của anh ra đánh dấu. Con đường qua khu mộ được anh tô đậm và chỉ chiều bằng một mũi tên. Đi theo chiều mũi tên, ngôi mộ đầu tiên mà ta gặp là mộ người chiến sĩ quân báo, anh đánh dấu bằng một chữ thập đỏ. Ngôi mộ thứ hai, của người lính Pháp, anh đánh dấu bằng một chữ thập đen.
*
Ba năm sau ngày hoà bình, cuối năm 1957, tôi lại có dịp cùng người đội trưởng quân báo năm xưa trở lại đất Lào. Anh và tôi cùng được chọn vì không một làng bản, không một đường ngang ngõ tắt nào trên đất Lào mà chúng tôi không biết. Nhiệm vụ của chúng tôi là đi gom hài cốt của các tử sĩ để đưa về Việt Nam. Đi theo chúng tôi còn có một đoàn sáu chiến sĩ và ba con voi tải.
Chúng tôi đi về phía Tây, thẳng tới vùng đồng bằng sông Mêkông. Từ đó, mỗi ngày qua một vài làng bản quen thuộc, chúng tôi đi ngược dần về phía Đông, nơi vào những buổi chiều êm, khi lớp không khí hầm hập đã lắng dịu, vẫn thấy dải Trường Sơn hiện thành một vệt dài tim biếc.
Tới làng nào, chúng tôi cũng hỏi han tìm kiếm. Nhưng tìm được những dấu tích thường rất khó khăn vì người Lào có thói quen hoả thiêu chứ không chôn cất người chết. Các mộ vì thế không được chăm nom, chìm lấp vào những lớp cây cỏ. Tuy vậy các bành voi cũng được chất đầy dần…
Ngày còn nhỏ, tôi rất sợ ma. Bóng đêm, mộ địa, xương cốt, nhất là những chiếc đầu lâu trong các đám bốc mộ là nỗi hãi hùng của tôi suốt thời thơ ấu. Vậy mà ngày nay mang theo bao nhiêu là hài cốt, tôi không hề thấy ghê sợ. Ngày đêm lúc nào cũng tưởng như nhiều đồng đội đang theo mình trong những cuộc hành quân khi xưa và họ đang yên ngủ trên bành voi.
Cuộc đi dài gần như trót lọt, chỉ khi về đên Bản Pục mới gặp khó khăn. Sau nhiều năm thay đổi công tác, tấm bản đồ đội trưởng mang theo không còn là tấm bản đồ cũ. Không còn một tài liệu hoặc một dấu vết gì để làm căn cứ. Rừng hoang có sức sống mãnh liệt, luôn luôn phát triển, tìm hết cách tràn lan để xoá bỏ mọi gắng công của con người: nơi chôn người xưa kia, nay đã biến thành một ngàn lau dày đặc. Tìm mãi, chúng tôi mới phát hiện được hai nấm đất đã sụt lở. Tấm bia gỗ và cây thập tự ngày xưa đã bị mối rừng gặm hết, không còn có thể phân biệt mộ nào là của ai.
Đội trưởng bảo :
- Cứ đào cả lên, may ra có những dấu vết dưới mồ còn phân biệt được.
Đội trưởng hi vọng hai nấm mồ mang dưới đáy sâu những dấu tích khác biệt. Thông thường thi hài của người bên ta bao giờ cũng được bọc trong tấm chăn của chính người đó. Còn thi hài lính Pháp thì không có chăn bọc, họ không mang theo chăn màn quần áo ra trận, nên được chôn y nguyên như khi chết. Nhưng, sau những năm dài nắng lửa mưa ngàn, tất cả đều đã tiêu tan, từ tấm chăn liệm đến quần áo, cả đến những xương cốt lớn cũng đã bị mối rừng tiêu huỷ gần hết. Chỉ có một điều hơi khác : trong hai đám xương cốt còn lại, có một bộ hơi lớn hơn. Nhưng trong hai chúng tôi, không ai dám khẳng định bộ lớn hơn là của người lính Pháp, dù thông thường vẫn là như thế. Vì chúng tôi nhớ lại: người chiến sĩ đã hi sinh là một người dân miền biển tỉnh Quảng Bình, anh cũng từng có một thân hình rất vạm vỡ.
Không còn sự lựa chọn nào hơn, người đội trưởng đành quyết định :
- Thôi, mang về cả hai !
*
Ven đường 12 dưới chân Trường Sơn có một khoảng đất rộng giữa những nương rẫy đã được dọn sạch cây cỏ và lau sậy để làm nghĩa trang liệt sĩ. Một đài tưởng niệm vừa được dựng xong, cao và nhọn, mang hàng chữ lớn đắp nổi : « Tổ quốc ghi công ». Từng đoàn xe đạp, từ một ga xép trên đường sắt xuyên Việt vừa hoàn thành, thồ đến hàng loạt những chiếc tiểu sành. Xe thồ đỗ một dãy dài ven đường, mỗi xe buộc bốn chiếc tiểu ở hai bên hông và hai chiếc ở phía sau.
Đến đây, đàn voi ngừng lại. Chúng tôi rỡ xuống những bao tải hài cốt. Bao chất lùm lùm ở ven rừng. Có những bao ghi tên tuổi, quê quán của người đã chết và phiên hiệu Trung đoàn 280. Nhiều bao chỉ mang hai chữ "Vô danh".
Từ trên bành voi, một chiến sĩ bỗng ngừng tay, hỏi vọng xuống:
- Đội trưởng ơi, làm thế nào bây giờ? Trong này chắc không phải chỉ có một bộ hài cốt không đúng là của anh em mình. Có lẽ còn những bộ khác nữa ?
- Trường hợp nào chưa rõ ràng, để riêng ra, để báo cáo... Cậu không thấy chúng ta đã hết sức sàng lọc rồi sao ? Lũ "người trần mắt thịt" chúng ta chỉ cố gắng được đến thế. Chiến tranh và rừng hoang làm lẫn lộn tất cả! Cùng ở trong thế giới tâm linh, chỉ họ mới thực sự biết với nhau và phân biệt nổi ai là ai.
Đội trưởng nói tiếp :
- Bao nhiêu năm, họ đã nằm yên ổn bên nhau! Chắc người chết không phân biệt thù bạn dai dẳng như chúng ta, những người đang sống. Họ chẳng bắn nhau lần thứ hai nữa đâu. Chiến tranh chấm dứt lâu rồi, họ sẽ biết cách làm lành và hoà hợp với nhau. Thế giới của họ là thế giới không bè đảng, không súng đạn, không trận tuyến...
Người chiến sĩ không hỏi gì thêm. Anh lại lặng lẽ cúi xuống, tiếp tục rỡ nốt những bao hài cốt.

* Phiên hiệu của Trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào



Phần nhận xét hiển thị trên trang