Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

Cao Việt Dũng: Thất bại, là một mặt của thành công

Mới hôm qua, gặp Cao Ngọc Thắng (tác giả tập thơ Bên Sông Mẹ, được tặng sách). Anh nói là cha đẻ của Nhị Linh, mình khá bất ngờ vì anh chàng còn quá trẻ so với "nghề"đang làm. Hôm nay đọc Giao blog thấy bài này. Âu là cái duyên, dù chưa gặp chàng trai này. ( Chép vào đây khi khác sẽ viết vẩn vơ sau )..



Không dễ dàng để xếp Cao Việt Dũng vừa khít vào một cái nghề nào: dịch thuật, nghiên cứu, phê bình hay xuất bản. Và cũng không dễ dàng để "lôi" được Dũng từ "bóng tối" được lựa chọn như một cách sống để đưa lên mặt báo.

Cao Việt Dũng được biết đến nhiều nhất với tư cách một dịch giả - hiện nay anh đang hoàn thành bản dịch cuốn tiểu thuyết lớn Les bienveillantes của Jonathan Littell, tác phẩm dịch thứ mười của anh sau khoảng mười năm làm công việc này.

Sinh năm 1980, dáng người cao mảnh dẻ, trông Dũng trẻ hơn nhiều so với tuổi, có lẽ bởi khuôn mặt thư sinh, nụ cười hiền lẫn ngô ngố, đôi mắt thông minh lém lỉnh của anh. Rong ruổi trên chiếc Future đỏ chót, vận áo phông đỏ, dép tông đỏ (may mà quần ngố không màu đỏ luôn), lưng gù đi bởi chiếc balô to đùng với nào laptop, sách, vở, thậm chí cả quần áo; Dũng đi từ quán này đến quán nọ, chỗ làm việc này sang nơi làm việc khác. 14 giờ một ngày cho công việc, sáu giờ một ngày cho ngủ, bốn giờ còn lại là các công việc cá nhân, cuộc sống của anh là một chuỗi những chuyển dịch, biến động không ngừng.

Tấm bằng đại học đầu tiên: coi như bỏ

Năm 2002, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội, cầm tấm bằng được coi là vô cùng thuận lợi để tìm việc trong giai đoạn đó, Cao Việt Dũng vẫn chưa biết thật sự mình muốn làm gì. Chỉ biết chắc là tất cả những gì liên quan đến kinh doanh đều nằm ngoài khả năng và sở thích.

Coi như mất trắng năm năm học Đại học Ngoại thương, Dũng bước vào con đường trở thành một anh phóng viên tập sự tại báo Đại Đoàn Kết. Tưởng đâu đã dần dần chấp nhận cuộc sống "ngày viết bài điều tra, tối nằm đọc tiểu thuyết", thì Dũng hay tin Trường Sư phạm phố Ulm (École Normale Supérieure - ENS) thông báo lần đầu tiên tuyển học sinh nước ngoài vào trường. Quá mê ngôi trường độc nhất vô nhị này, anh làm hồ sơ rồi gửi đi đúng vào hạn cuối cùng.

Sau đó mọi việc tiến triển với tốc độ khó tưởng tượng: nhận giấy mời sang Paris tham gia kỳ khảo hạch trực tiếp cùng với các sinh viên từ khắp thế giới, trải qua bốn bài thi dài và khó để rồi đầu tháng 9-2002 đã chính thức nhập Trường ENS và đăng ký học tại Đại học Sorbonne.

Từ đây những khó khăn lớn nhất mới thật sự bắt đầu với Dũng.  "Học muốn phát điên, với cường độ làm kiệt sức. Nhưng thật kỳ diệu vì cuối cùng tôi cũng chật vật qua được tất cả, và hai bằng master đều có điểm số thuộc hạng cao của khoa. Người ta mất năm năm để học hành xong xuôi, tôi thì mất đến chín năm trường kỳ” - Dũng nói.

Những ngày học việc: đã trả nợ xong


Năm 2003, các tác phẩm dịch của Cao Việt Dũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, trước tiên là qua Trung tâm Đông Tây. Lần ấy "lấy hết can đảm của một cậu bé 20 tuổi" mang bản dịch tiểu thuyết Cuộc sống không ở đây của Milan Kundera đến gặp dịch giả Đoàn Tử Huyến là khởi đầu cho cái duyên dịch thuật đeo đẳng cho đến giờ. Sau đó là Khúc quanh của dòng sông của V. S. Naipaul và Điệu valse giã từ của Kundera (tác phẩm nhận giải thưởng dịch thuật năm 2005 của Hội Nhà văn Hà Nội).

Tuy nhiên, với Cao Việt Dũng thì "kể từ Tường lửa của Henning Mankell in cuối năm 2006 tôi mới bắt đầu hài lòng với chất lượng của các cuốn sách được in ra của mình, và bắt đầu được chăm lo cho chúng đến khâu cuối cùng. Tất cả, từ Hạt cơ bản trở về trước, tôi đều đang chỉnh sửa và tìm cách tái bản, coi như một cách trả nợ quá trình học việc của mình".

Dấu ấn người thầy: những bài học lớn

Trong suốt thời gian học ở Việt Nam, hai người để lại dấu ấn sâu đậm nhất ở Cao Việt Dũng là thầy giáo dạy văn ở Trường Hà Nội - Amsterdam Vũ Xuân Túc và giáo sư Phan Ngọc, người mà anh kính trọng ngay từ khi được gặp lần đầu tiên cách đây mười năm. Còn hai năm cuối ở Paris, "thành phố giống như một thư viện khổng lồ có sông Seine chảy ngang", anh gặp được người thầy mà anh thật sự ngưỡng mộ: Antoine Compagnon - giáo sư văn chương lớn của Đại học Sorbonne và Đại học Columbia ở New York, người hướng dẫn cả hai bằng master văn chương của anh.

"Nhờ Antoine Compagnon, tôi học được kiến thức, nhưng nhất là học được sự nghiêm túc, tính nghiêm khắc và tinh thần cầu thị”. Anh đã tham gia cùng nhóm làm việc của giáo sư Compagnon để biên soạn lại các tác phẩm của nhà phê bình nổi tiếng Albert Thibaudet - NXB Gallimard vừa ấn hành.

Dũng tâm sự: "Tôi thất bại cũng nhiều, phạm cũng không ít sai lầm và cũng trả giá nhiều, cả trong công việc lẫn cuộc sống riêng tư. Chỉ có điều là tôi luôn nghĩ nếu có thất bại thì phải sửa bằng được, vì thất bại chính là một mặt của thành công. Và thật sự là không thể dừng lại khi chưa làm được thật tốt một việc gì đó. Tôi làm công việc của tôi, luôn ý thức rõ ràng là mình đang làm gì và hết sức coi trọng những người làm việc nghiêm túc, hiểu được sâu sắc công việc của mình, bất kể là việc gì”.

Nguyễn Quỳnh Trang, Tuổi trẻ

http://www.hieuhoc.com/guongsang/chitiet/cao-viet-dung-that-bai-la-mot-mat-cua-thanh-cong
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016

Bài học Chiến tranh Biên giới 1979-1989 với khủng hoảng Biển Đông


Việt Nam cần phải thể hiện cho Trung Quốc thấy, chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm.
LTS: Trong những ngày tháng Hai lịch sử này, dân tộc Việt Nam nghiêng mình tưởng nhớ đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979-1989 chống lại cuộc xâm lược tàn bạo và phi nghĩa của quân đội Trung Quốc, cũng là khoảng thời gian căng thẳng leo thang từng ngày trên Biển Đông bởi các hành động phá vỡ hiện trạng, quân sự hóa bất hợp pháp của Trung Quốc.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ gửi đến bạn đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông về một số bài học cá nhân ông rút ra khi suy ngẫm về Chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989.
Những bài học này rất ý nghĩa đối với việc bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình và ổn định, tự do an toàn hàng không hàng hải ở Biển Đông ngày nay. Để rộng đường dư luận, xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài bình luận của ông. Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả.
Mỗi năm đến ngày 17/2, ký ức về cuộc Chiến tranh Bảo vệ Biên giới phía Bắc chống quân Trung Quốc xâm lược giai đoạn 1979-1989 lại ùa về trong lòng mỗi người con đất Việt.
Nhưng năm nay, ký ức ấy có phần mãnh liệt hơn bởi những nguy cơ xung đột, chiến tranh lặp lại. Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình ổn định của khu vực, tự do hàng hải hàng không đang bị Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng với một loạt hành động leo thang, phiêu lưu quân sự trên Biển Đông.
Chưa bao giờ câu chuyện Biển Đông lại thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam, khu vực và thế giới như lúc này. Cá nhân người viết cho rằng, nhìn lại cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, chống Khmer Đỏ phá hoại biên giới Tây Nam hay bài học Hoàng Sa bị xâm lược năm 1974, Gạc Ma bị xâm lược năm 1988 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cấp bách.
Việt Nam chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ những sự kiện lịch sử này, bằng cách nhìn nhận nó một cách thực sự khách quan và cầu thị, trong đó lấy chuẩn mực pháp lý quốc tế theo từng thời kì, giai đoạn làm thước đo để đánh giá.
Chỉ khi nào đánh giá đúng và sòng phẳng về lịch sử, chúng ta mới tránh được "lặp lại vết xe đổ" trong tương lai. Cũng chỉ có như vậy, chúng ta mới không mắc bẫy đối phương, củng cố vững chắc đoàn kết dân tộc và tận dụng được tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ bè bạn quốc tế và dư luận nhân loại tiến bộ.
Bài học cảnh giác thứ nhất: Âm mưu và biến tướng
Thiết nghĩ câu chuyện Trọng Thủy - Mỵ Châu và ngàn năm Bắc Thuộc đã quá đủ cho mỗi chúng ta về bài học cảnh giác, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trước âm mưu bành trướng, thôn tính từ phương Bắc.
Chỉ có điều khi xã hội phát triển, nhân loại tiến bộ hơn và đặc biệt là sự thể chế hóa và hoàn thiện của hệ thống pháp lý quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, giải quyết tranh chấp lãnh thổ hàng hải ngày nay, tham vọng của Trung Quốc đã có những biến tướng nhưng giữ nguyên bản chất mà chúng ta cần đề cao cảnh giác.
Biến tướng thứ nhất chính là cái "trỗi dậy hòa bình", và gần đây là "giấc mộng Trung Quốc", "phục hưng Trung Hoa" mà ông Tập Cận Bình thường xuyên nhắc tới và thúc đẩy, vẫn là tư tưởng Đại Hán, bá quyền nước lớn nhằm tranh giành ảnh hưởng, tiến tới vượt mặt Hoa Kỳ trở thành lực lượng thống trị quốc tế.
Đặng Tiểu Bình đã khơi mào cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam ngày 17/2/1979. Xung đột kéo dài đến năm 1989. Ảnh: Internet.
Biển Đông nằm trong bức tranh chung, mục tiêu chung ấy. Và thật không may cho khu vực cũng như Việt Nam khi Trung Quốc chọn Biển Đông làm đột phá khẩu.
Mọi phương tiện, công cụ khác từ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, tuyên truyền được Trung Quốc sử dụng đều nhằm tiến tới mục tiêu đầy cuồng vọng này. Trong đó có Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21, Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu Á AIIB hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP...
Do đó, Biển Đông cần đặt trong bức tranh tổng thể này để chúng ta nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp.
Điều này cũng giống như cuộc Chiến tranh Bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989 hay Hoàng Sa bị xâm lược năm 1974, Gạc Ma bị xâm lược năm 1988 phải được đặt trong bối cảnh lịch sử phức tạp và quan hệ giữa các siêu cường thời kỳ đó.
Trong cả 3 cuộc chiến này, Trung - Mỹ về một phe, Liên Xô một phe, chưa kể đến các lực lượng chính trị khác trong khu vực như Khmer Đỏ. Nhưng bối cảnh hiện nay, Nga - Trung gần như đồng minh, còn Trung - Mỹ lại là đối thủ.
Riêng đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xin nhắc lại rằng nhà nước Trung Quốc qua các thời kỳ dù thể chế chính trị hay thế hệ lãnh đạo thay đổi khác nhau, nhưng âm mưu bành trướng không đổi. Họ đã chính thức đưa vào yêu sách và mục tiêu chiếm đoạt từ đường lưỡi bò năm 1947, bằng hành động quân sự các năm 1946, 1956, 1974, 1988, 1995 và hiện nay.
Tháng 3/1988 Trung Quốc đánh Gạc Ma khi súng vẫn nổ trên địa đầu biên giới phía Bắc. Nhưng ngay từ ngày 30/7/1977, Hoàng Hoa - Ngoại trưởng Trung Quốc lúc đó đã tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Trường Sa mà không cần phải thương lượng gì hết".
Chỉ trong năm ngoái ông Tập Cận Bình đã 3 lần công khai tuyên bố với dư luận, "các đảo ở Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc từ thời cổ đại", kể cả ngay khi vừa bước chân rời khỏi Việt Nam tháng 11/2015.
Thuộc cấp của ông, Thứ trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân thì không giấu diếm ý đồ chiếm đoạt nốt phần còn lại ở Trường Sa với cái cớ gọi là "thu hồi". Trung Quốc không nói chơi mà đang làm rất mạnh.
Bài học cảnh giác thứ hai: "Đại cục và Tiểu cục"
Biến tướng thứ 2 cần cảnh giác là "Đại cục - Tiểu cục". Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11 năm ngoái, ông Tập Cận Bình liên tục nhấn mạnh rằng, hai bên cần "lấy đại cục làm trọng". Cái gọi là đại cục được các nhà lãnh đạo Trung Quốc xác định là quan hệ chính trị giữa hai Đảng, hai Nước, còn "Tiểu cục" theo họ chỉ là những "bất đồng" trên Biển Đông.
Ông Tập Cận Bình khi thăm Việt Nam tháng 11 năm ngoái nhấn mạnh cái gọi là "Đại cục - Tiểu cục", nhưng chỉ hôm sau qua Singapore, ông tuyên bố "các đảo ở Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc". Ảnh: AP.
Tuy nhiên dưới góc độ pháp lý quốc tế, đây là một cái bẫy thực sự nguy hiểm mà chúng ta cần hết sức tỉnh táo, làm sao để không mắc bẫy đối phương mà còn có thể tương kế tựu kế giành quyền chủ động, hay nói như người Trung Quốc là "phản khách vi chủ".
Trung Quốc đang cố gắng lái các nước láng giềng gần gũi hoặc các nước có quan hệ gần gũi với họ lấy quan hệ chính trị - đảng phái chính trị thay thế cho quan hệ Nhà nước - Nhà nước trong các vấn đề bang giao, đặc biệt là xử lý mâu thuẫn hay bất đồng cần giải quyết. Việt Nam chúng ta là một đối tượng họ đặc biệt tập trung vào.
Có thể thấy rằng, có những giai đoạn lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, thân mật, gần gũi và cũng có những lúc thăng trầm, đối địch.
Nhưng ngay cả khi Trung Quốc giúp Việt Nam trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, chưa bao giờ sự giúp đỡ đó là vô tư, chí tình như những gì họ tuyên truyền. Đằng sau mỗi miếng pho mát luôn là một cạm bẫy.
Cạm bẫy nguy hiểm nhất chính là làm cho đối phương nhầm lẫn và đảo ngược vị trí vai trò, chức năng của quan hệ chính trị, đảng phái - chính trị với quan hệ Nhà nước - Nhà nước theo Công pháp quốc tế.
Rõ ràng phải thừa nhận rằng, quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc là yếu tố tạo môi trường, điều kiện rất thuận lợi cho đối thoại giải quyết mâu thuẫn tranh chấp, nhưng không phải là căn cứ, cơ sở để giải quyết mâu thuẫn tranh chấp.
Giữa Trung Quốc và Việt Nam, tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm 1909 với sự kiện Lý Chuẩn đổ bộ bất hợp pháp ra Phú Lâm, Hoàng Sa, và năm 1946 quân Tưởng Giới Thạch chiếm đảo Ba Bình, Trường Sa.
Trước đó, Hoàng Sa và Trường Sa đã được Nhà nước Việt Nam xác lập và thực thi chủ quyền một cách hòa bình, hợp pháp và liên tục. Sau này do Trung Quốc nhảy vào tranh chấp và tạo ra tranh chấp, thậm chí dùng vũ lực xâm lược và chiếm đóng trái phép mới dẫn đến những hệ lụy ngày nay.
Đó là một câu chuyện pháp lý, không phải một vấn đề chính trị. Nhưng người Trung Quốc đang tìm mọi cách chính trị hóa các vấn đề pháp lý bằng mệnh đề "Đại cục - Tiểu cục".
Bức tranh "Vòng tròn bất tử" tái hiện cuộc chiến đấu bi hùng giữ Gạc Ma trước họng súng quân Trung Quốc, ảnh: Bùi Lệ Trang.
Do đó chúng ta cần đặc biệt cảnh giác với âm mưu này. Việt Nam cần phải thể hiện cho Trung Quốc thấy, chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm, là điều thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam nên đó không thể xem là "Tiểu cục".
Mặt khác, duy trì hòa bình và ổn định, bảo vệ luật pháp quốc tế, thượng tôn công lý, giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình và phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 mà thông qua Cơ quan tài phán phân xử là ví dụ điển hình, đó mới là "Đại cục", là cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp, bất đồng song phương và củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước.
Chỉ có thượng tôn công lý, tôn trọng lẽ phải và sự thật mới có thể mang lại "Đại cục" hòa bình, ổn định, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong đó, quan hệ chính trị giữa hai nước đóng vai trò tạo môi trường và cầu nối rất quan trọng mà hai bên cần giữ gìn, nhưng đó không phải là cơ sở để đàm phán, thương lượng.
Nếu còn mơ hồ về "Đại cục - Tiểu cục", rất có thể chúng ta sẽ bị hớ, bị mắc bẫy Trung Quốc. Mà như dân gian đã nói, "bút sa gà chết".
Bài học cảnh giác thứ ba: Thủ đoạn không đánh mà thắng
Dân tộc Việt Nam không bao giờ khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào dù hung hãn tới đâu, nhưng Dân tộc Việt Nam cũng hết sức trân quý hòa bình, yêu chuộng hòa bình.
Và để bảo vệ hòa bình thì không cách nào khác là phải giáo dục cho các thế hệ nhận thức đúng đắn về lịch sử, trong đó có 3 cuộc chiến 1974, 1979-1989 và 1988. Chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không có nghĩa là quay lưng với lịch sử, không được phép lãng quên lịch sử. 
Ngược lại chúng ta cần học hỏi tìm kiếm từ lịch sử những bài học để làm sao tránh được chiến tranh trong hiện tại và tương lai. Còn một khi cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, chúng ta cũng sẽ đánh bại mọi thế lực cướp nước và bán nước.
Bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã khác thời điểm 1974 - 1979 - 1988. Trung Quốc đang ra sức phát triển sức mạnh quân sự sau mấy chục năm tăng trưởng kinh tế. Họ cảm thấy đã đến lúc tranh hùng với Hoa Kỳ và Biển Đông được chọn làm đột phá khẩu.
Nhưng dư luận nhân loại ngày một văn minh và tiến bộ, luật pháp quốc tế ngày một hoàn thiện khiến Trung Quốc khó có thể tiến hành các hoạt động phiêu lưu quân sự, chiến tranh xâm lược như trong những năm 1974, 1979 và 1988.
Tuy nhiên họ lại sử dụng chiêu "không đánh mà thắng" cực kỳ lợi hại. Họ không/chưa sử dụng vũ lực, nhưng đe dọa sử dụng vũ lực. Họ hô hào đàm phán trong khi "dí súng" vào đầu đối phương. Những gì diễn ra ở Phú Lâm, Hoàng Sa hay một số đảo nhân tạo xây bất hợp pháp ngoài Trường Sa những ngày gần đây là minh chứng rõ nét.
HQ-9, loại tên lửa đất đối không Trung Quốc vừa lắp đặt bất hợp pháp ở Phú Lâm, Hoàng Sa, Đà Nẵng, Việt Nam. Ảnh: Đa Chiều.
Nếu đối đầu quân sự hay chiến tranh ở Biển Đông, có lẽ Trung Quốc khó lòng thắng nổi Hoa Kỳ thời điểm hiện nay. Nhưng họ cứ nghênh ngang bành trướng từng chút một bằng đủ mọi loại phương tiện, công cụ từ ngư dân trá hình cho đến hải cảnh, hải quân hay thậm chí là giàn khoan, Mỹ khó có cớ gì can thiệp.
Mỹ phản đối cứ phản đối, Mỹ tuần tra cứ tuần tra, còn Trung Quốc thì vẫn cứ ngày đêm liên tục quân sự hóa các tiền đồn quân sự phi pháp. Các bên liên quan trong đó có Hoa Kỳ chưa thực sự tìm ra giải pháp gì ngăn chặn đà bành trướng ấy. Sự kiện Scarborough là bài học cay đắng không chỉ của Philippines, mà còn là cảnh báo rõ rệt đối với Việt Nam.
Có lẽ Trung Quốc sẽ không cần phải đánh như cuộc chiến xâm lược Gạc Ma năm 1988. Người viết lo rằng, không lâu nữa khi hệ thống tiền đồn quân sự bất hợp pháp ở Hoàng Sa và Trường Sa hoàn thiện, nhẹ thì Trung Quốc tìm cách ép Việt Nam "hợp tác khai thác chung" trong chính vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.
Nặng hơn một chút, họ hoàn toàn có thể uy hiếp hay chiếm các bãi cạn thềm lục địa phía Nam Việt Nam, nơi có nhiều mỏ dầu chúng ta đang khai thác, chỉ bằng thủ đoạn bao vây chặn đường tiếp viện. Còn bất chấp tất cả, có thể lại tái diễn một vụ giàn khoan 981 như năm 2014. Cái họa này đã rất gần và chúng ta cần tìm cách hóa giải.
Bài học "lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo"
Cá nhân người viết cho rằng, chúng ta cần phải tìm hiểu rõ về Trung Quốc để có cách ứng xử phù hợp trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, trên cơ sở bảo vệ và giữ gìn luật pháp - công lý quốc tế. Do đó thái độ của chúng ta cần tỉnh táo.
Cái "hung tàn, cường bạo" ở Biển Đông hiện nay chúng ta đã quá rõ. Nhưng còn đâu là "nhân nghĩa", "chí nhân", đâu là lẽ phải? Đó chính là luật pháp và công lý quốc tế, đó là thế mạnh và cũng là bàn đạp của chúng ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như hòa bình, ổn định của khu vực và luật pháp quốc tế, tự do hàng không hàng hải trên Biển Đông.
Muốn có công lý, phải biết bảo vệ công lý và lẽ phải. Ảnh: Internet.
Chỉ có điều cá nhân người viết nhận thấy, mặt trận này chúng ta chưa thực sự phát huy hết sức mạnh của mình, chưa thực sự thuyết phục hiệu quả đối với bạn bè quốc tế để họ ủng hộ lập trường chính nghĩa và quyền lợi hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vấn đề nằm ở cách chúng ta làm chứ không phải ý chí.
Ngay dư luận nội bộ, trong xã hội chúng ta cũng còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, hàng hải cho đến các quan hệ chính trị - ngoại giao phức tạp giữa Việt Nam với các cường quốc mà chủ yếu là Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Nhưng một khi biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, biết ứng xử thượng tôn pháp luật và công lý, hành xử theo pháp luật và thông lệ quốc tế thì không những chúng ta củng cố được đoàn kết nội bộ, thống nhất lòng người mà còn tạo ra được sự đồng thuận, chia sẻ của bạn bè quốc tế.
Đơn cử như việc Mỹ tuần tra bảo vệ tự do hàng không hàng hải ở Biển Đông là một việc làm rất hợp pháp, văn minh theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
Chỉ riêng việc là một thành viên Công ước, chúng ta đã nên ủng hộ mạnh mẽ động thái này, huống hồ trong lúc chính chủ quyền, quyền và lợi ích của chúng ta ở 2 quần đảo này cũng như vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa, còn hành động của Mỹ có tác động tích cực chống lại các mối đe dọa ấy.
Ví dụ nữa là với vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 ở Biển Đông cũng tạo cho chúng ta một lợi thế rất lớn về pháp lý.
Không những Việt Nam cần ủng hộ mạnh mẽ các phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực PCA với tư cách thành viên Công ước, mà còn với tư cách một bên liên quan biết thượng tôn pháp luật.
Ủng hộ phán quyết của PCA, chúng ta cần chuẩn bị cụ thể, chi tiết phương án, kịch bản của riêng mình trên mặt trận pháp lý. Cá nhân người viết rất mừng và dấy lên niềm hy vọng khi nghe ngài Tổng thống Obama cũng như các nhà lãnh đạo khác của Hoa Kỳ phát biểu về Biển Đông gần đây.
Tiếp theo những tuyên bố chính thức đòi Trung Quốc làm rõ yêu sách đường lưỡi bò, các nhà lãnh đạo Mỹ mới đây cũng đã công khai khẳng định, Mỹ sẽ buộc Trung Quốc phải trả giá nếu chống lại phán quyết của PCA.
Tuy nhiên người viết có cảm giác dường như Hoa Kỳ còn đơn độc trong cuộc chiến bảo vệ hòa bình, ổn định, tự do hàng không hàng hải và luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Có người nói rằng, Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích của họ. Không sai, nhưng chưa đủ. 
Riêng ở Biển Đông, lợi ích của Hoa Kỳ đang trùng lặp với lợi ích của khu vực, các bên liên quan, trong đó có Việt Nam.
Việc ủng hộ những tiếng nói, việc làm chính nghĩa của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ, duy trì luật pháp quốc tế ở Biển Đông hoàn toàn không có nghĩa là theo nước này, chống nước kia như ai đó suy diễn. Lấy Công pháp quốc tế làm chuẩn, cái gì đúng chúng ta ủng hộ, cái gì sai chúng ta phản đối.
Thời thế thay đổi, quan hệ bạn - thù cũng đổi thay, nhưng lợi ích quốc gia dân tộc, đặc biệt là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì không bao giờ thay đổi.
Chúng ta muốn tận dụng ngoại lực, đầu tiên cần thể hiện rõ thiện chí và lòng tin chiến lược ở đối tác. Trong quá trình đó, cứ bám sát luật pháp quốc tế và biết bảo vệ, thượng tôn luật pháp quốc tế, chúng ta sẽ tránh được những nguy cơ, rủi ro.
Ngược lại nếu chính trị hóa các vấn đề pháp lý, chúng ta sẽ cực kỳ bất lợi, và khi hữu sự khó có thể nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ từ bè bạn.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại Washington, Ngoại trưởng Trung Quốc đòi Mỹ giải thích về tên lửa THAAD

Dân trí Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị ngày 25/2 đã bày tỏ lo ngại về tầm xa của một radar loại mạnh mà Mỹ có thể triển khai tại Hàn Quốc cùng hệ thống phòng thủ tên lửa tiên tiến THAAD, và nói rằng Washington nên giải thích về kế hoạch của mình.
 >> Hàn Quốc thẳng thừng bác cảnh báo của Trung Quốc về tên lửa Mỹ


Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tại Washington ngày 23/2 (Ảnh: AFP)
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tại Washington ngày 23/2 (Ảnh: AFP)
Phát biểu tại một sự kiện do Trung tâm chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Washington trong khuôn khổ chuyến thăm Mỹ, ông Vương nói Trung Quốc vẫn lo ngại rằng radar băng X sẽ được triển khai cùng Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) do tập đoàn Lockheed Martin chế tạo có tầm xa vượt qua bán đảo Triều Tiên và vào bên trong Trung Quốc. Vì vậy, ông vương nói rằng nó có thể gây nguy hiểm cho “các lợi ích quốc gia hợp pháp của Trung Quốc”.
Ông Vương nói quyết định cuối cùng tùy thuộc vào Hàn Quốc, và Trung Quốc hiểu nguyện vọng của Mỹ và Hàn Quốc nhằm bảo vệ quốc gia của họ.
Nhưng Ngoại trưởng Trung Quốc cho hay Bắc Kinh đã kêu ra những lo ngại của họ về các khả năng của hệ thống mà Mỹ cần giải thích.
“Chúng tôi tin rằng các lo ngại an ninh hợp pháp của Trung Quốc phải được xem xét. Trung Quốc cần được cung cấp lời giải thích”, ông Vương lớn tiếng.
Mỹ và Hàn Quốc hồi tháng này đã nhất trí khởi động đàm phán về việc triển khai hệ thống THAAD tới Hàn Quốc nhằm đối phó với mối đe dọa ngày càng gia tăng do các khả năng vũ khí của Triều Tiên sau vụ phóng tên lửa tầm xa hôm 7/2.
Một quan chức quốc phòng cho biết các cuộc đàm phán sẽ được tiến hành vào tuần tới.
Đô đốc Mỹ: Sự can thiệp của Trung Quốc rất vô lý
Trong khi đó tại Lầu Năm Góc, Đô đốc Harry Harris, tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, cho hay nếu Trung Quốc muốn ngăn cản việc xem xét triển khai hệ thống THAAD thì Bắc Kinh nên gia tăng sức ép lên Triều Tiên.
“Sự can thiệp của Trung Quốc trong một quyết định của hai đối tác đồng minh, Mỹ và Hàn Quốc, là hết sức vô lý, đặc biệt là khi THAAD không phải là mối đe dọa đối với Trung Quốc”, ông Harris phát biểu trước báo giới tại Lầu Năm Góc.
“Nếu Trung Quốc muốn gây nhiều sức ép lên ai đó để ngăn cản THAAD được triển khai tới Hàn Quốc thì họ nên gia tăng ảnh hưởng đó lên Triều Tiên”, ông Harris nhấn mạnh.
An Bình
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Putin cáo buộc Lenin đặt “bom hẹn giờ” lên Nga


Biên dịch: Phạm Phan Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Tổng thống Nga phê phán chủ nghĩa liên bang của nhà cách mạng đã làm Liên Xô tan rã và tạo ra căng thẳng về mặt sắc tộc trong khu vực.
Vladimir Putin đã tố cáo Lenin và chính quyền Bolshevik tiến hành những cuộc đàn áp tàn bạo và buộc tội Lenin đã đặt một “quả bom hẹn giờ” lên quốc gia này.
Việc phê phán Lenin, một nhân vật vẫn nhận được sự tôn kính từ các nhà cộng sản và nhiều người dân Nga, là một hành động khá bất thường của vị tổng thống Nga, người trong quá khứ vẫn luôn cân nhắc cẩn trọng các nhận xét về lịch sử quốc gia nhằm tránh làm mất lòng một số cử tri. Cùng lúc đó, ông cũng ra hiệu rằng chính phủ không có ý định đưa di hài Lenin ra khỏi lăng của ông trên Quảng trường Đỏ, và cảnh báo chống lại “bất cứ hành động nào gây chia rẽ xã hội”.
Đánh giá của Putin về vai trò của Lenin trong lịch sử Nga trong cuộc gặp mặt hôm thứ Hai với các nhà hoạt động ủng hộ điện Kremlin tại thành phố phía nam Stavropol tiêu cực hơn hẳn so với quan điểm của ông trước đây. Ông lên án Lenin và chính quyền của ông ta đã hành quyết dã man vị Sa hoàng cuối cùng cùng với toàn bộ gia đình và người phục vụ, giết hại hàng ngàn linh mục và đặt một quả bom hẹn giờ lên nước Nga bằng cách vẽ ra các giới hạn hành chính dựa trên sắc tộc.
Lấy ví dụ về di sản mang tính phá hoại của Lenin, Putin chỉ ra Donbass, khu vực công nghiệp phía đông Ukraine, nơi một lực lượng nổi loạn li khai ủng hộ Nga đã trỗi dậy một vài tuần sau khi Nga sáp nhập Crimea hồi tháng 3 năm 2014. Hơn 9.000 người đã bị giết hại trong cuộc xung đột từ tháng 4 năm 2014, và các đụng độ vẫn tiếp tục bất chấp thỏa thuận hòa bình tháng 2 năm 2015.
Putin nói rằng chính phủ của Lenin đã ngây thơ vẽ ra ranh giới giữa các phần của Liên Xô, đặt Donbass dưới quyền tài phán của Ukraine nhằm tăng tỉ lệ giai cấp vô sản trong một bước đi mà Putin gọi là “điên rồ”.
Phê phán của Putin đối với Lenin có thể là một phần trong nỗ lực nhằm biện minh cho chính sách của Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine, nhưng nó cũng phản ánh mối quan ngại của Kremlin về các mong muốn ly khai có khả năng xuất hiện tại các tỉnh của Nga.
Putin đặc biệt phê phán khái niệm quốc gia liên bang của Lenin mà trong đó các thực thể có quyền được ly khai, nói rằng khái niệm này góp phần lớn vào sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991. Ông thêm vào rằng Lenin đã sai lầm trong cuộc tranh luận với Joseph Stalin, người ủng hộ mô hình nhà nước đơn nhất. Putin trong quá khứ đã từng tố cáo Stalin về các cuộc thanh trừng vốn đã giết chết hàng triệu người, nhưng ông cũng công nhận vai trò của Stalin trong việc đánh bại Phát xít trong Thế chiến II.
Trong bình luận hôm thứ hai, Putin cũng chỉ trích những người Bolshevik vì đã khiến Nga thua trận dưới tay Đức trong Thế chiến I và nhượng lại các phần lãnh thổ lớn vài tháng trước khi Đức thua trận. “Chúng ta mất đất vào tay bên thua cuộc, quả là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử”, Putin nói.
Putin nói rằng ông tin tưởng chân thành vào lý tưởng cộng sản khi còn phục vụ trong hàng ngũ KGB, nói thêm rằng dù các hứa hẹn của chủ nghĩa cộng sản về một xã hội công bằng và đúng đắn “rất giống như trong Kinh Thánh”, nhưng thực tế lại khác. “Đất nước chúng ta không giống như Thành phố Mặt trời” như những nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng mường tượng nên, ông nói.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/27/putin-cao-buoc-lenin-dat-bom-hen-gio-len-nga/#sthash.aLe4R2vg.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Trung Quốc tăng áp lực lên các quốc gia láng giềng”

>> Người Thái bất ngờ kêu gọi ASEAN ngăn chặn Trung Quốc

>> Chấm dứt ngay việc đi lễ hội, chùa chiền trong giờ làm việc
>> Bệnh viện trăm tỷ chưa khánh thành đã lún, nứt
>> Nhạc sĩ Phú Quang "bật mí" về người tình kém 20 tuổi
>> "Trung Quốc nhiều lần yêu cầu Việt Nam không được khởi kiện họ"


Phan Ba dịch

Ảnh vệ tinh mới nhất để cho phỏng đoán rằng Trung Quốc đang xây dựng một hệ thống radar tần số cao trên quần đảo Trường Sa bị tranh chấp. Cuộc quân sự hóa vẫn tiếp tục diễn ra, theo Gregory Poing trong bài phỏng vấn.

Từ độ hơn một tuần nay, nhiều hình ảnh và thông tin mới về các hoạt động của Trung Quốc trên biển Đông luôn được các truyền thông và think tank Mỹ công bố. Hôm thứ Hai, công ty Digital Globe đã đưa ra những hình ảnh vệ tinh mà theo think tank Mỹ CSIS thì chúng đã có thể đã cho thấy rằng Trung Quốc đang xây dựng một hệ thống radar tần số cao trên quần đảo Trường Sa tại biển Đông.

Mới vài ngày trước đó, ảnh chụp tên lửa đất đối không của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa cũng được công bố. Vào hôm thứ Tư – trong chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tại Washington – kênh tin tức Hoa Kỳ CNN  dẫn lời một quan chức ẩn danh nói rằng Trung Quốc đã đưa thêm máy bay chiến đấu J-7 và J-11 ra Hoàng Sa.

Deutsche Welle [Làn Sóng Đức] trao đổi với chuyên gia người Mỹ Gregory Poling để giải thích và đánh giá các hình ảnh của hôm thứ Hai.

Làn Sóng Đức: Tại sao ông tin rằng Trung Quốc đang xây dựng một hệ thống radar tần số cao trên quần đảo Hoàng Sa?

Gregory Poling: Một loạt trụ cao 20 mét được dựng lên trên một khu vực lớn của hòn đảo nhân tạo thuộc đá Châu Viên (Cuarteron). Việc này có thể được phỏng đoán là để chuẩn bị lắp đặt một hệ thống radar tần số cao, đặc biệt vì Châu Viên là rạn san hô cực nam do Trung Quốc kiểm soát ở biển Đông, khiến cho việc xây dựng ở đó là hợp lý.

Nếu như có thể khẳng định được rằng đó thật sự là một hệ thống radar như vậy. Điều đó có nghĩa là gì?

Một hệ thống radar trên Châu Viên sẽ làm tăng đáng kể khả năng của Trung Quốc, giám sát không phận và vùng biển ở phần phía Nam của Biển Đông. Cho tới nay thì Trung Quốc không có những khả năng đó.

Đó là một mảnh ghép quan trọng trong chiếc lược lâu dài của Trung Quốc, nhằm thiết lập quyền kiểm soát vùng nằm bên trong đường chín đoạn. Việc xây dựng này có tác động trực tiếp đến tất cả các quốc gia trong khu vực đó, mà các hoạt động của họ có thể bị Trung Quốc giám sát và tác động đến. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, radar này cũng có hậu quả cho quân đội Hoa Kỳ, vì nếu như có khủng hoảng ở Đông Bắc Á [ví dụ như vì Triều Tiên, chú thích của ban biên tập], thì quân đội Hoa Kỳ cần phải chuyển quân qua biển Đông.

Chính xác thì đó là một hệ thống radar nào?

Chỉ dựa trên các hình ảnh vệ tinh đã được công bố thì không thể khẳng định được. Có nhiều loại radar tần số cao.

Một hệ thống radar như vậy có là một mối đe dọa hay không?

Vì Trung Quốc tăng con số tàu và máy bay của họ ở Trường Sa – cụ thể là tăng càng nhanh khi công việc xây dựng càng tiến triển thêm – nên họ sẽ có khả năng tạo áp lực ngày càng lớn lên các quốc gia láng giềng.

Tiền đề cho điều đó là phải giám sát được vùng biển và vùng trời. Hệ thống radar mới phục vụ đúng cho việc này. Trung Quốc có thể đang theo đuổi mục đích lâu dài, là không một đất nước Đông Nam Á nào còn có thể hoạt động quanh Trường Sa nếu như không có sự khoan dung của Trung Quốc.

Nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying) nói rằng Trung Quốc có toàn quyền tiến hành những biện pháp phòng vệ hạn chế trong lãnh thổ của họ. Điều này nói lên những điều gì về các kế hoạch chính trị của Bắc Kinh hướng tới khu vực biển Đông?

Thứ nhất, nó cho thấy rằng Trung Quốc thậm chí nói chung còn không sẵn sàng để nhận biết tuyên bố chủ quyền của các quốc gia khác, nói chi đến việc đàm phán về chúng hay cố gắng tiến tới một giải pháp ngoại giao thay vì chính trị. Trung Quốc không thể khăng khăng nói rằng có mọi quyền xây dựng trên các lãnh thổ bị tranh chấp và đồng thời cực lực phê phán mỗi một hoạt động dù nhỏ cho tới đâu của các bên tuyên bố chủ quyền khác.

Thứ nhì, những lời nói đó cho thấy Trung Quốc tin rằng họ có thể mở rộng hiện hình quyền lực của họ từ bước một, nếu không hợp pháp thì cũng trên thực tế, cho tới khi họ chiếm được quyền kiểm soát tất cả các khu vực đang tranh chấp ở biển Đông. Ít nhất là cho tới chừng nào mà các căng thẳng đó còn ở dưới ngưỡng của một sự can thiệp từ Hoa Kỳ.

Bắc Kinh bác bỏ các cáo buộc của Hoa Kỳ và các chính phủ khác, và khẳng định rằng tất cả các lắp đặt đó đều theo đuổi những mục đích phòng thủ và trước hết là dân sự. Điều đó có thuyết phục được ông không?

Hầu như tất cả những gì mà Trung Quốc xây dựng trên quần đảo Trường Sa đều có thể được sử dụng theo hai cách. Nói cách khác, tất cả đều có thể phục vụ cho các mục đích dân sự lẫn quân sự. Radar, đường băng và hải cảng đều như vậy. Nhưng thật sự thì Trung Quốc muốn thiết lập một hạ tầng cơ cở cần thiết để có thể di chuyển quân đội nhanh chóng.

Tất nhiên là Trung Quốc có thể quả quyết rằng hệ thống radar cao tần số đó phục vụ cho một mục đích dân sự, nhưng trong trường hợp đó thì hệ thống radar này là quá lớn. Đã có sẵn những hệ thống radar nhỏ hơn nhưng hoàn toàn đủ khả năng để bảo đảm an toàn giao thông cho hàng hải dân sự. Chúng tôi đã nhìn thấy việc này ở các sân bay. Chúng có nhiệm vụ phục vụ cho hàng không dân sự, nhưng thế thì không có lý do gì để xây dựng một đường băng dài 3000 mét. Điều đó chỉ có lý khi sử dụng cho mục đích quân sự. Giống như có ai đó xây một ngôi biệt thự thật to, nhưng quả quyết rằng chỉ sống ở tầng trệt.

Các quốc gia láng giềng và Hoa Kỳ sẽ phản ứng ra sao?

Điều này sẽ tiếp tục làm tăng căng thẳng trong vùng và với các thế lực xa hơn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Australia. Ở Đông Nam Á và xa hơn nữa, nó sẽ củng cố cho cảm nhận, rằng Trung Quốc không nhìn thấy lý do nào để thay đổi đường lối của họ và cố gắng tiến tới một giải pháp công bằng với các láng giềng của họ.

Ngoài ra, điều đó sẽ dẫn đến việc là các quốc gia láng giềng sẽ tiếp tục tăng cường vũ trang và tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và các nước khác. Nó cũng sẽ dẫn tới việc là các yêu cầu chủ quyền của Trung Quốc sẽ bị thách thức bởi các hoạt động của Hoa Kỳ vì tự do hàng hải hay bởi những cái được gọi là “gateway patrols” [“tuần tra cửa ngõ”] của Australia [chú thích của ban biên tập: đó là việc cố tình vi phạm các yêu cầu chủ quyền của Trung Quốc – vốn bị Hoa Kỳ tranh cãi – thông qua những chuyến bay hay những lần đi xuyên qua bằng phương tiện quân sự].

Cùng với việc Trung Quốc hoàn thành xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong vòng những tháng tới đây, và với phán xét của trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc được dự đoán vào cuối tháng Năm, điều chắc chắn là căng thẳng sẽ tăng lên rất nhiều trong năm 2016.

Gregory B. Poling là giám đốc của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (Asia Maritime Transparency Inititative – AMTI) thuộc think tank Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington (Center for Strategic and International Studies – CSIS).

Cuộc phỏng vấn do Gabriel Dominguez thực hiện.

Phan Ba dịch từ: http://www.dw.com/de/china-erh%C3%B6ht-druck-auf-nachbarstaaten/a-19070034

Phần nhận xét hiển thị trên trang