Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Iraq tuyên bố đã "giải phóng hoàn toàn" Ramadi khỏi IS THỨ HAI, 28/12/2015 20:32:00

Vntinnhanh.vn - Người phát ngôn quân đội Iraq thông báo Ramadi đã chính thức được giải phóng khỏi khủng bố IS.

Quân đội Iraq (Ảnh: AP)
Lực lượng chống khủng bố đã cắm cờ Iraq trên khu tòa nhà chính phủ cũ phía Tây thành phố, một ngày sau khi quân đội tuyên bố đẩy lùi được các phiến quân IS tại đây.
"Vâng, thành phố Ramadi đã được giải phóng. Lực lượng chống khủng bố Iraq đã đưa cờ Iraq lên tòa nhà của chính phủ tại Anbar" - Chuẩn tướng Yahya Rasool nói trong tuyên bố phát sóng trên truyền hình nhà nước.
Trước đó quân đội Iraq đã tuyên bố chiến thắng sau khi lấy lại toàn quyền kiểm soát trung tâm Ramadi. Thành phố này từng bị IS chiếm đóng vào tháng 5 và được coi là thất bại lớn nhất của chính quyền. Chiến dịch này đã mất hàng tháng trời, được thực hiện song song với không kích.

Mỹ xem xét triển khai trực thăng Apache giúp Iraq tái chiếm Ramadi từ tay IS
Vntinnhanh.vn - Quyết định trên được đưa ra trong lúc Mỹ và Iraq đang có quan điểm khác nhau về chiến sự tại Ramadi. Phía Mỹ nhấn mạnh, trực thăng Apache chỉ được triển khai trong trường hợp có yêu cầu từ phía Iraq.
Mẫn Di (Theo Independent)

















































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đến rằm Tây đen, điều mong muốn của đ/c Đức này đã có chưa nhẩy???

CÔNG THỨC CỨNG CỦA MỌI SÁNG TẠO VĨ ĐẠI
Paul Nguyễn Hoàng Đức
Dân tộc Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa 100 triệu dân, hoàn toàn là lúc chúng ta phải nghĩ đến có những tác phẩm xứng tầm với dân tộc cũng như thời đại tiến bộ của lịch sử hiện đại. Đây không phải một khẩu hiệu có chất “làm hàng” hay ảo tưởng hão, mà xuất phát từ những tiêu chí thực tế nhất.
Có phương ngôn: Một vùng đất khả ái được mọi người mong tìm đến phải có 3 thứ:
1- Phong cảnh đẹp
2- Con người nhân từ
3- Phải có danh nhân
Điều kiện “phải có phong cảnh đẹp” là thứ vốn tự có, dễ hiểu, chúng ta chẳng cần bàn nhiều trừ việc hãy gìn giữ môi trường, đừng phá hoại, xé lẻ để kiếm chác cho các nhóm lợi ích. Nhưng con người, chẳng lẽ những người muốn đi du lịch lại thích tìm chốn hang hùm nọc rắn, trộm cắp như rươi để vào?! Và cuối cùng con người nhân từ mà làm gì nếu họ chỉ là một đám đông sàn sàn không nhú lên nổi một đại biểu là Danh nhân?! Ở Việt Nam, khi người ta quay phim chụp ảnh những thành phố cổ kính phong rêu, thường là mượn mấy cháu gái học trò đạp xe lượn phố hay đi bộ, tức là chúng ta hiếm danh nhân để khoe, đành phải mượn đến “hàng tươi” tức là các cháu mới lớn. Cái mới lớn ấy thời nào chẳng có, và liệu chúng ta có muốn cứ mãi mãi khoe “cổ vật” là các mái đầu xanh?! Mới đây, một học sinh Nhật Bản có viết trên Facebook: Việt Nam tự hào về bốn ngàn năm lịch sử, nhưng đấy chỉ là một chương sách chứ không phải là giá trị sống hàng ngày.
Đúng vậy, văn hóa lâu dài của anh phải được thể hiện qua đời sống hàng ngày, chứ đâu phải chỉ có con số cụt lủn trên giấy?
Tại sao lại cần tác phẩm lớn? Bởi theo tiêu chí trên, vùng đất đẹp mà làm gì nếu không thể có con người ngoại cỡ của danh nhân? Nếu vậy vùng đất đó khác gì cái siêu thị khổng lồ hiện đại chỉ để bán vài mớ rau tươi?!
Người Việt có một phương ngôn hiện đại được hình thành trong chiến tranh cuối thế kỷ 20: “Tư tưởng không thông vác bi đông không nổi”. Không có tác phẩm lớn, tức là xã hội không có đời sống sinh hoạt của tư tưởng lớn, như vậy làm sao có thể vận hành một quốc gia cỡ trăm triệu dân?!
Tác phẩm lớn là gì? Thiết nghĩ cũng cần phải rà soát lại kẻo mấy anh lèo tèo mấy vần thơ lại tưởng bở vài cảm xúc kiễng chân của mình đang kéo theo chiếc bóng của danh nhân thế giới. Về thơ là các trường ca, Kinh Gita của Ấn Độ, Iliad và Odyssey của Homer, Faust của Goethe… Văn xuôi có Don Quixote của Cervantes được mệnh danh là tiểu thuyết hay nhất của mọi thời đại, Những người khốn khổ của Victor Hugo, Miếng da lừa của Bazac, Chiến tranh và hòa bình của Leo Tolstoi, Anh em nhà Caramadop của Dostoievski, Vụ kiện của Kafka, Ullysses của James Joyce…
Thi nhân Szymborska với 200 bài thơ lẻ được giải Nobel mới đây chưa thể được tính là tác phẩm lớn. Bởi lẽ, mỗi năm thế giới có một giải Nobel về văn học không lẽ mỗi năm có một Homer? Có không ít nhà thơ sau khi tập hợp được trăm bài thơ lẻ đã mang ảo tưởng mình sắp nhận giải Nobel như Szymborska. Nghĩa là ở đời họ luôn luôn muốn tìm thấy cái gì bé mọn nhất để ảo tưởng. Nặn con tò he có đẹp mấy cũng không thành nghệ sĩ, nhưng tạc tượng trên vách đá dù có nham nhở mấy cũng khắc tên mình vào vĩ đại. Trang trí một chiếc bánh ga-tô đẹp mấy cũng chỉ là tài năng trong bếp. Còn như Ngu Công dời núi ba đời, cho dù có “ngu” vẫn là cái ngu vĩ đại dời non lấp biển.
Tác phẩm Lớn được sách Bách khoa định nghĩa thế này: “Tiêu chuẩn đầu tiên bất thành văn của mọi tác phẩm lớn trước hết nó phải hoành tráng”. Vạn Lý Trường Thành chỉ là gạch đất kéo dài “ai” không làm được, nhưng nó vẫn được tính như một công trình đáng nể trên đời chỉ vì nó được kéo dài một cách hoành tráng vĩ đại.
Về mọi thứ lớn lao trên đời, triết gia Platon nói đại ý: Chúng ta trước hết phải có Tư tưởng lớn, kèm theo việc không bao giờ được bỏ qua chi tiết dù nhỏ nhất.
(còn nữa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn đích thực chỉ nói thực:

Sống xa hoa trong sự nghèo khổ của cộng đồng là bất nhẫn!

Bùi Hoàng Tám 

Thêm chú thích
(Dân trí) - Nghèo khó không thể là “công trạng” và giàu có cũng không phải là tội lỗi. Thế nhưng sống xa hoa trong một xã hội còn nghèo khó, ăn chơi phè phỡn khi đồng bào mình còn nghèo khổ thì chắc chắn cũng không phải là lối sống đẹp mà có gì đó còn như bất nhẫn.

Việt Nam ta giàu hay nghèo? Có lẽ trước câu hỏi đó, câu trả lời không ngần ngại với nhiều người là nghèo hoặc chí ít, chúng ta mới vượt qua ngưỡng một quốc gia nghèo.

Theo bài báo “Toàn xe siêu sang: Ai nói Việt nam nghèo?” đăng trên Vietnam Net của tác giả Trần Văn Tuấn thì với hơn 90 triệu người dân, thu nhập của cả nước năm 2014 dù đã rất cố gắng cũng chỉ có thể đạt khoảng 171,4 tỷ USD .Trong đó, “khoảng hơn 9 triệu người nghèo trên cả nước chỉ thu nhập khoảng 5 tỷ USD trong năm nay – tương đương với 550 USD/người/năm so với con số 1.900 USD trung bình của cả nước.

Con số này đồng nghĩa với một thực tế rằng sau gần 3 thập niên đổi mới và được  đánh giá cao về thành tích giảm nghèo, tại năm 2014 này Việt Nam chúng ta vẫn còn có tới hơn 9 triệu người dân đang sống với mức thu nhập thấp”.

Thế nhưng nhìn vào độ “chơi sang” của giới đại gia, showbiz thì Việt Nam ta không hề kém cạnh. Thậm chí, tỉ phú nhiều nước phải “ngả mũ” trước sự xa hoa của một nhóm nhỏ những người giàu có. Họ sẵn sàng bỏ ra hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu USD để làm những chuyện khác người.

Đó là chuyện một đại gia mua cho vợ cái giường 6 tỉ đồng (khoảng 300.000 USD) chỉ để “cho người nước ngoài biết” hay tạc 3 bức tượng 3 người vợ từng phụ bạc, ôm tài sản của ông ta ra đi.

Một đại gia khác ở Tuyên Quang còn bỏ ra 4 tỉ VND để sắm cho mình một cái kính.

Một đại gia đất Hà thành thì bỏ ra 140 cây vàng để dát vàng cho cái… toilet.

Trong lĩnh vực xe cộ, một đại gia có dàn siêu xe với gần 20 chiếc. Trong đó có 6 chiếc được đóng theo cặp bao gồm bộ đôi Lamborghini Gallardo, bộ đôi Lamborghini Murcielago LP640 màu đen và màu cam, bộ đôi Aston Martin Rapide, bộ đôi coupe Bentley Continental GT, bộ đôi limousine và hai chiếc Rolls-Royce Ghost. Số còn lại là những siêu xe và xe sang như Ferrari 458 Italia, Cadillac, BMW M6.

Trong giới showbiz  chân dài, người mẫu chuyện mua sắm cũng kinh hoàng. Một cô ca sỹ tàng tàng cũng dễ dàng tậu cho mình một chiếc váy tiền tỉ.

Một cô “người mẫu chân dài” vô danh cũng có thể dận lên đôi giày vài trăm triệu không còn là chuyện lạ.

Không chỉ giới chân dài, người mẫu, đại gia, ngay cả giới “bình dân” cũng ăn chơi không kém. Con số tiêu thụ hàng tỉ lít bia, rượu cả nước mỗi năm khiến nhiều quốc gia phải… kính phục!

Thực ra, việc tiêu xài là tiền của họ và quyền của họ, không ai có quyền ngăn cản hay đàm tiếu.

Nhưng nếu suy nghĩ kỹ một chút, hãy đặt câu hỏi tiền của họ ở đâu ra vậy? Tất nhiên, họ sẽ có hàng ngàn cách lý giải, song người dân thì chỉ có mấy câu hoài nghi thôi.

Dân chúng hoài nghi bởi với mức tiêu sài “tầm cỡ thế giới” nhưng trong giới đại gia, chúng ta không (hoặc chưa) có dù chỉ một thương hiệu nổi tiếng thế giới.

Trong giới nghệ sĩ cũng tương tự, có lẽ hiếm có ai chỉ nhờ tiền cát sê trên sàn diễn mà dám mua một cái váy vài ba tỷ đồng.

Đối với người bình thường, có lẽ không cần nhắc lại con số năng suất lao động của một người Singapo bằng… 15 người Việt.

Đó là chưa kể có những quan chức chỉ số tiền mất trộm ở cơ quan cũng lên tới… 3 tỉ đồng!

Tất nhiên là không có chuyện cào bằng và cũng không cổ súy cho tư tưởng “cướp của người giàu chia cho người nghèo”. Từ cổ xưa, xã hội đã có người giàu, kẻ nghèo. Nghèo khó không thể là “công trạng” và giàu có cũng không phải là tội lỗi.

Thế nhưng, sống xa hoa trong một xã hội còn nghèo khó, ăn chơi phè phỡn khi đồng bào mình còn nghèo khổ thì chắc chắn cũng không phải là lối sống đẹp mà có gì đó còn như bất nhẫn.

Mới biết các tỉ phú lừng danh trên thế giới đã sâu sắc, uyên thâm như thế nào khi họ dành hầu hết tài sản của mình để làm từ thiện.

Và phải chăng đó cũng là khoảng cách giữa “đại gia” của ta và tỉ phú của thế giới?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

( Cái này là láo rồi nha, ĐL! Thời chiến nhà văn, nhà thơ tham gia kháng chiến cứu nước, chống ngoại xâm, thời bình họ chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu cửa quyền làm hại đến lợi ích người dân vẫn từ cái tâm trong sáng, phụng sự tổ quốc. Hai cái đó là thống nhất, một cội nguồn sâu xa, một con đường chính đáng quang minh, không có gì để gọi là "ngược lại". Ông là "nhà văn" mà ăn nói không ra sao cả. Vừa kẻ cả vừa lú lẫn, lại dẫn thêm cái đoạn đạo nhà Phật vào, vừa điên vừa vô duyên )!

Nhà văn Đông La: Tự hào nếu được xem là chiến sỹ chống luận điệu xuyên tạc!


Nhà văn Đông La có thể được coi là một trong những cây bút thẳng thắn, vạch trần mọi giả dối và các sai lầm trong nhận thức của các nhân sĩ trí thức đề xướng đổi mới hiện nay. Không chỉ có vậy, ông đồng thời cũng là một nhà văn đề ra khá nhiều các xu hướng xã hội cần được thay đổi hiện nay. Là bạn tương tri trên diễn đàn blog từ lâu, hôm nay Võ Khánh Linh rất hân hạnh có cuộc trò chuyện thân tình với nhà văn Đông La về vấn đề chỉnh sửa và thay đổi nhận thức xã hội hiện nay.

Kết quả hình ảnh cho đông la

1. Thưa nhà văn Đông La, nếu cộng đồng mạng gọi ông là "chiến sĩ chống luận điệu xuyên tạc", ông sẽ nghĩ sao về việc này? 

NV Đông La: Tôi rất mừng và tự hào vì “chiến sĩ” là từ cao quý dùng để chỉ những người chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Tôi đã từng là chiến sĩ như thế, nay trong hòa bình, nếu cộng đồng mạng coi chống luận điệu xuyên tạc là một mặt trận mà tôi cũng lại được coi là một “chiến sĩ” nữa thì đúng là mừng thật! 

2. Khi đọc trên blog của nhà văn, tôi nghĩ ông đã dành rất nhiều công sức để chỉ ra những gì mà các phe phái nhân danh dân chủ đang mưu đồ. Tôi vẫn thắc mắc không biết điều gì đã khiến ông lựa chọn con đường này? 

NV Đông La:  Có lẽ xuất phát từ tính di truyền. Ông nội tôi, cha tôi cũng đều hay bất bình trước mọi chuyện sai trái và họ chống lại. Còn tôi, bắt đầu từ một số việc cụ thể, rồi đến khi nền kinh tế thị trường mở ra kéo theo sự thay đổi mọi mặt của xã hội, kể cả chính trị tư tưởng, tôi thấy có nhiều người thực chất vì quyền lợi, danh lợi, do tham, do cay cú vì chưa thỏa nên đã “đấu tranh”, nhưng lại nhân danh “đấu tranh vì dân chủ”. Họ cứ đông dần lên nên tôi thành ra cũng viết nhiều hơn. Mà viết thì tất nhiên phải mất nhiều công sức rồi. Nhưng hoàn toàn tự nhiên thôi, có lẽ tôi có khiếu tranh luận nên viết dễ dàng, mất công thôi chứ không khó khăn đâu. 

3. Tôi rất ấn tượng với những bài bàn luận triết học của ông. Ông đã giúp độc giá hiểu hơn về những nhận thức triết học sai lầm. Ông có cho rằng, nhận thức triết học sai lầm dẫn đến sự dẫn lối sai về tư tưởng của những người theo xu hướng dân chủ hiện nay không? Và họ thường nhận thức sai hoặc nhầm lẫn điều gì?

NV Đông La: Tôi có thiên hướng về khoa học tự nhiên, đi học, đi làm, sinh sống bằng chính tri thức khoa học tự nhiên. Nhưng với tôi đời đúng là có số thật, vì tôi đã tham gia vào các lĩnh vực khác hẳn nhau, bất ngờ ngay với chính tôi. Còn về triết học tôi cũng mất rất nhiều công sức, không phải vì khó mà vì cách trình bầy không rõ ràng của các nhà triết học, kéo theo các học giả trình bầy còn không rõ ràng hơn. Có lẽ do tôi được đào tạo bài bản ở một lĩnh vực khó là khoa học tự nhiên, đầu óc tôi trở thành một công cụ nhận thức tốt, nên chú ý tới triết học hay các lĩnh vực khác, tôi nhanh chóng hiểu được. Khi tìm hiểu, nghiên cứu, tôi không sa lầy vào các chi tiết mà phải nắm được tổng thể, từ đó mới lần ra những điều cốt lõi, bản chất chứ không phải hiện tượng. Vì thế như các bạn thấy nhiều trường hợp tôi có khả năng chỉ ra người ta sai ngay trong chính chuyên môn của họ.
Còn các “nhà dân chủ” tri thức thường họ còn sai nói chi đến triết học! Các hành động của họ đều xuất phát từ tham vọng, ảo tưởng, từ bản tính cơ hội, lợi dụng mà thôi. Họ nhân danh đủ thứ, những người từng có vị trí và bằng cấp thì nhân danh tri thức, trong đó có triết học. Vì họ không hiểu được bản chất tri thức, nên dù có cả danh vị giáo sư, cũng chỉ nói ra các khái niệm như con vẹt thôi. Thực tế đúng là như thế, nhưng sự yếu kém về khoa học công nghệ ở ta thì dễ thấy, nhưng chuyện các “giáo sư dân chủ” dốt thì không phải ai cũng thấy. Rất ít người chỉ được ra cái đó tường tận như “nhà văn Đông La”, nói thật chứ không phải tự kiêu đâu! 

4. Trong xã hội hiện nay, nhiều người rất bức xúc với chính quyền, vì thế nên họ lên tiếng. Làm sao để phân biệt được đâu là tiếng nói bức xúc, đâu là mưu đồ đằng sau? Ông thường hành xử thế nào với từng trường hợp này? 

NV Đông La: Với chính quyền mà cao nhất là nhà nước đúng là còn có nhiều chuyện khiến mọi người, trong đó có tôi, bức xúc. Nhưng phải nghĩ lại, ngay trong nhà mình thôi cũng có lắm chuyện thì với cả một xã hội đang vận động, phát triển, nhiều điều còn đang tìm đường, thì làm sao mà không có nhiều chuyện chưa tốt được. Tôi đã viết nhiều lần chính tôi cũng là một nạn nhân của sự yếu kém đó. Nhưng khi viết về cái chung mình phải khách quan, nhìn tổng thể, nhiều mặt, nếu không cay cú và cố chấp vào những thua thiệt cá nhân thì ta sẽ thấy, dù còn nhiều chuyện chưa tốt, nhưng vẫn có nhiều cái tốt đẹp hơn, vì thế xã hội mới ổn định và phát triển chứ. Nếu không loạn rồi. Vì là người vừa có tri thức vừa lăn lộn trong đời sống nên tôi dễ dàng nhận ra những sự giả danh, những “mưu đồ”. Có rất nhiều sự bức xúc thật, vì còn nhiều sai trái tất phải như thế. Nhưng bức xúc với tinh thần phản biện như một bác sĩ chữa bệnh là rất khó, ít lắm, vì phải có trí cao, tâm sáng và cả bản lĩnh nữa. 

5. Từ những nhận thức sai lầm trong tư tưởng, hay nói một cách khác, những người cầm bút, những nhân sĩ trí thức, không thật sự nắm vững những tư tưởng mà họ giới thiệu với độc giả, có phải là nguyên nhân dẫn đến sự hỗn loạn hiện nay? 

NV Đông La: Giới trí thức, nhất là văn nghệ sĩ, thường có “cái tôi” cao, thích sự thay đổi, khác biệt. Họ nhạy cảm hơn, trước những điều không hay họ “dị ứng” hơn nên “lắm mồm” hơn. Có sự khác nhau giữa năng khiếu, tài năng với tri thức. Không phải ai làm thơ nhanh, vẽ khéo, đàn giỏi cũng là nhà thông thái. Cũng có nhưng ít, những tác giả này là của hiếm, tác phẩm của họ không chỉ mua vui mà còn có tính tư tưởng. Tiếc là thực tế giới trí thức và văn nghệ sĩ ở ta không hiểu điều đó, có tí vị trí, thành đạt, có tí tên tuổi là vênh vang, nói lăng nhăng. Họ không có tư tưởng gì mà cứ đi giới thiệu tất dẫn đến sự hỗn loạn. Thực trạng hôm nay là thế. 

6. Nhà văn, nhà thơ là những người đáng lẽ ra phải dẫn lối tư tưởng con người đến các giá trị nhân văn, theo ông hiện nay họ có làm đúng chức năng của mình hay không? 

NV Đông La: Thời chiến đúng là như thế, tiếc là thời nay ngược lại. Tỷ lệ nhà văn, nhà thơ quấy rối là cao nhất, không ít người đã bị tù rồi. Trong Đạo Phật nói như thế là “mạt pháp” đấy!  

7. Ông kỳ vọng gì ở những cây bút trẻ, trí thức trẻ trên quá trình thúc đẩy Việt Nam tiến tới một xã hội văn minh và nhân văn? Liệu họ có dễ dàng mắc phải sai lầm của các trí thức phản biện hiện nay không?

NV Đông La: Với những “cây bút trẻ”, tức trong giới văn chương, mà tôi biết thì tôi chẳng kỳ vọng gì cả. Còn “cây bút” trên mạng vì dùng nicknames nên tôi không biết là trẻ hay già, nhiều người tôi thấy viết được. Còn bạn là người viết cũng được đấy nên tôi mới phải mất công làm quen chứ. Còn cô bé mà bạn giới thiệu là Nhật Lệ cũng được nhưng còn phải trau giồi, mài giũa. Một lần cô bé viết thư hỏi “Bao giờ thì cháu giỏi như bác?”. Tôi trả lời “phải từ từ, phải kiên trì”. Thú vị ở chỗ trên mạng tự nhiên hình thành hai lực lượng, khi bóng tối xuất hiện thì ánh sáng cũng hình thành. Cuộc sống có lẽ cũng mãi là như thế.
  
Võ Khánh Linh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để gì cho thế hệ mai sau???

Nhiều loại khoáng sản của Việt Nam sẽ cạn kiệt trong tương lai gần

Văn Hào (TTXVN)

(Thethaovanhoa.vn) - Đây là cảnh báo được các chuyên gia đưa ra tại Hội thảo “Quản trị ngành công nghiệp khai thác ở Việt Nam: Thách thức và nhu cầu cải cách”, được Liên minh Khoáng sản, Trung tâm con Người và Thiên nhiên và Trung tâm Phát triển và hội nhập tổ chức ngày 3/12, tại Hà Nội.

Thất thu ngân sách cao

Ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm con Người và Thiên nhiên cho biết: Hơn 2 thập kỷ qua, ngành khoáng sản của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng về mặt quy mô. Theo đánh giá quốc tế, Việt Nam đứng thứ 7 về khai thác dầu thô ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đóng góp 2,3% tổng sản lượng thiếc và 1.8% tổng sản lượng xi măng thế giới vào năm 2012.

Còn theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đã khai thác 42,6 triệu tấn than, 3 triệu tấn quặng sắt, 3 triệu tấn Appatite, 193 ngàn tấn Mangan và nhiều loại khoáng sản khác với sản lượng lớn vào năm 2013. Với quy mô khai thác như trên, nhiều loại khoáng sản của Việt Nam sẽ cạn kiệt trong tương lai gần. Theo tính toán của Tổng Hội Địa chất, số năm khai thác còn lại của dầu khí là 56 năm, barit là 21 năm, thiếc là 19 năm, chì – kẽm là 17 năm và vàng là 21 năm. 

Tuy được khai thác với quy mô lớn, đóng góp ngân sách từ ngành khoáng sản lại rất hạn chế. Theo tính toán từ số liệu thống kê của Bộ Tài chính, số thu thuế tài nguyên ngoài dầu khí chỉ đạt 0,9% - 1,1% tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2013. Ở một số địa phương như Phú Yên, số thu thuế tài nguyên từ khai thác khoáng sản chỉ đạt khoảng 4 – 5 tỷ đồng dù số lượng giấy phép còn hiệu lực lên đến 200 giấy phép. Số thu này không đủ bù đắp các chi phí quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản. Trong khi đó, các doanh nghiệp khoáng sản lại đánh giá mức thuế suất hiện nay đối với khai thác khoáng sản là khá cao so với thế giới. 

Khai khoáng là một trong những ngành có rủi ro thất thu ngân sách cao, chủ yếu do khai thác trái phép, xuất khẩu trái phép và quản lý thuế không hiệu quả. Ở Việt Nam, năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiểm 957 giấy phép khoáng sản do địa phương cấp. Kết quả cho thấy 50% giấy phép được cấp không đúng với quy định pháp luật. Bên cạnh đó, tình trạng khai thác trái phép và xuất khẩu trái phép vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương. Ngoài ra, hiện nay chưa có cơ chế để giám sát hiệu quả sản lượng khai thác thực tế của doanh nghiệp, dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước và thất thoát tài nguyên khoáng sản quốc gia. 

Thúc đẩy quản trị và tăng cường minh bạch

Tham luận về “Khai thác khoáng sản ở Việt Nam: Thực trạng và nhu cầu cải cách”, Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Chuyên gia độc lập dẫn chứng: Thế giới hiện nay có nhiều sáng kiến nhằm hạn chế thất thu ngân sách và quản lý hiệu quả hơn tài nguyên khoáng sản. Trong đó, sáng kiến minh bạch công nghiệp khai thác (EITI) được coi là một trong những sáng kiến hiệu quả nhất. Theo đánh giá, Nigieria đã tránh thất thu được 1 tỷ Đô la Mỹ mỗi năm trong lĩnh vực khai khoáng nhờ thực hiện sáng kiến này. Tính đến thời điểm hiện tại, có 49 quốc gia đã thực thi EITI, trong đó có nhiều quốc gia phát triển như Anh, Mỹ và Na Uy. 

Do đó, Việt Nam trước hết phải nhận thức đúng về tài nguyên khoáng sản, qua đó có biện pháp thúc đẩy chế biến sâu nhằm giảm tổn thất và bảo vệ môi trường. Đồng thời phải khai thác và sử dụng tiết kiệm để đảm bảo cho nhu cầu lâu dài phát triển đất nước. Quản lý khoáng sản theo cơ chế thị trường bằng việc thay thế “giấy phép” bằng “hợp đồng”; thay “xin cho” bằng “đấu thầu”. Bên cạnh đó, phát triển khoa học và công nghệ trong tất cả các khâu khai thác, chế biến, sử dụng. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật chuyên sâu, đi đôi với hoàn thiện các công cụ pháp lý… 

Các đại biểu tham dự Hội thảo cũng đã nêu rõ, Việt Nam đã tiếp cận EITI từ năm 2006 và Bộ Công Thương được giao là cơ quan chủ trì xem xét thực thi sáng kiến này. Tuy vậy sau gần 10 năm xem xét, Việt Nam vẫn chưa cam kết thực thi EITI dù nhu cầu cần cải cách lĩnh vực khoáng sản hiện nay là rất lớn. Việc chậm cam kết EITI được cơ quan chủ trì lý giải là do những hạn chế về năng lực thực thi và mức độ đáp ứng về mặt chính sách. 

Nhưng theo rà soát đánh giá của nhóm chuyên gia độc lập, Việt Nam hiện nay hoàn toàn đáp ứng được việc thực thi EITI về cả năng lực và chính sách. Nên trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhiều áp lực cải cách trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần nhìn nhận lại EITI như một giải pháp tổng thể thúc đẩy cải cách lĩnh vực khoáng sản và nâng cao hiệu quả thu, nhằm góp phần giải quyết khó khăn về thu ngân sách và quản lý hiệu quả hơn nguồn tài nguyên không tái tạo của quốc gia.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"EM BÉ HÀ GIANG" VÀ NÓI DỐI TRÊN INTERNET


Em bé Hà GiangImage copyrightNa Son Nguyen
Image captionBức hình "Em bé Hà Giang" do nhiếp ảnh gia Na Sơn của Việt Nam chụp từ hồi năm 2007 bị giới thiệu 'nhầm' trên mạng xã hội là các nạn nhân động đất ở Nepal.
Một bức hình do một nhiếp ảnh gia Việt Nam chụp ở miền Bắc nước này vốn bị 'đặt sai bối cảnh' đứng đầu danh sách những hình ảnh và video đưa thông tin hay diễn giải sai lệch trên Internet trong năm, theo một bài báo trên BBC hôm 27/12 của tác giả Diana Rusk.

Bức ảnh ' Em bé Hà Giang' của tác giả Na Sơn đã được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội toàn cầu trong năm 2015.
Tuy nhiên, khi được giới thiệu trên mạng, nó được giới thiệu là hình ảnh của các nạn nhân trận động đất xảy ra hôm 25/4/2015 làm hàng ngàn người thiệt mạng ở Nepal.

Đặt sai bối cảnh

Khi xuất hiện và được chia sẻ trên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter v.v..., bức ảnh đã tạo ra sự xúc động mạnh trong dư luận vì tưởng đây là các em bé Nepal sau trận động đất làm hàng chục ngàn gia đình ở quốc gia Nam Á bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, trên thực tế theo tác giả, nhà nhiếp anh Na Sơn, cho hay bức hình được chụp từ năm 2007 ở tỉnh Hà Giang của Việt Nam.
"Đây có lẽ là bức ảnh được chia sẻ nhiều nhất của tôi."
"Chỉ tiếc rằng nó đã bị đặt vào sai bối cảnh," Na Sơn được bài báo của Diana Rusk với tựa đề "Internet đã nói dối các bạn như thế nào trong năm 2015?" dẫn lời, nói.
Ngay sau sự kiện hồi tháng Tư, tác giả bức hình, nhiếp ảnh gia Na Sơn, đã kể với BBC:
Động đất NepalImage copyrightGetty
Image captionMột bé gái, nạn nhân thực sự của trận động đất hồi 4/2015 ở Nepal, đang nói chuyện với mẹ của em qua điện thoại di động, sau khi được cứu nạn.
"Tấm ảnh này tôi chụp hồi tháng 10/2007 tại xã Cán Tỷ, Quản Bạ, Hà Giang khi thấy bọn trẻ con người H'mong đang chơi đùa trước nhà khi bố mẹ đi làm nương vắng".
"Cô bé con chừng hai tuổi khóc vì sợ hãi người lạ và cậu anh chỉ khoảng hơn ba tuổi ôm vào lòng và dỗ dành em mình. Đó là một cảnh rất đẹp và xúc động nên tôi bấm máy ngay."
Nhiếp ảnh gia Na Sơn cũng cho hay:
"Khoảng 2-3 năm trước tấm ảnh này đã bắt đầu bị chia sẻ trên nhiều FB Page ở Việt Nam với những nội dung thêu dệt thương tâm đằng sau như là hai đứa bé bị mồ côi mẹ, bố đi lấy vợ nữa và hai anh em bơ vơ".
"Thậm chí còn có người kêu gọi ủng hộ chúng nữa."
"Tôi cũng không hiểu họ ủng hộ kiểu gì vì họ không biết tấm ảnh ấy chụp như thế nào, ở đâu, bọn trẻ ấy là ai..."
Nguồn BBC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

bản đồ mật độ của đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam phân bố trên cả nước.

Hãng tin Mỹ Bloomberg công bố bản đồ mật độ của đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam phân bố trên cả nước.
Theo đó, độ đỏ càng đậm thì tỷ lệ đảng viên càng cao, độ xanh càng đậm tỷ lệ đảng viên càng thấp. TP. Hồ Chí Minh được cho là có tỷ lệ đảng viên chỉ 2-3% trên dân số khu vực, trong khi Hà Nội có từ 5-6%.
(BBC)

Phần nhận xét hiển thị trên trang