Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

"Nổ" trong khoa học


Xin nói trước rằng "nổ" đây không có nghĩa là tối ngày đi đâu cũng khoe mình là thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư (1), mà là "nổ" trong cách viết bài báo khoa học (2). Nói cụ thể hơn là cách dùng những chữ cho thật kêu để gây chú ý của ban biên tập và độc giả. Nếu ban biên tập chú ý thì xác suất bản thảo được gửi ra ngoài bình duyệt cao. Nếu độc giả chú ý thì bài báo có thể có được trích dẫn. Từ hai động cơ đó, các tác giả khoa học thời nay có xu hướng dùng chữ ... thiếu khiêm tốn.



Nói chung, giới khoa học là những người bảo thủ và ... chán. Bảo thủ trong cách dùng chữ, vì họ rất cẩn thận, không dám dùng những chữ xa hoa. Lí do đơn giản là càng biết nhiều thì họ thấy kiến thức càng hạn chế. Càng đọc nhiều và làm nhiều, họ càng thấy tính bất định bàng bạt khắp nơi. Chính vì thế mà họ ít khi nào dám nói cái gì khẳng định. Nói câu gì cũng nhìn trước trông sau, chứ không dám ăn nói bạt mạng như giới chính trị, buôn bán xe hơi cũ, nghệ sĩ, v.v. Chính vì thế mà đối với giới báo chí, những người làm khoa học rất chán. Chán vì nói chuyện với họ lúc nào cũng chẳng có câu gì chắc chắn (mà báo chí thì thích cái chắc chắn), lúc nào giới khoa học cũng suy nghĩ lâu mới có câu trả lời (còn báo chí thì đòi câu trả lời ngày hôm qua). Một phần là bản chất của khoa học, nhưng một phần là do họ được huấn luyện phải cẩn thận và khiêm tốn. (Dĩ nhiên, tôi chỉ nói những người làm khoa học thật, chứ còn loại dỏm thì họ nói bạt mạng lắm).

Thế nhưng trong xu hướng cạnh tranh ác liệt để được công bố bài báo khoa học, giới khoa học càng ngày càng tỏ ra ... mãi võ sơn đông. Họ bắt đầu dùng những chữ mạnh trong bài báo. Họ bắt đầu nói năng trên báo chí bằng những câu chữ rất kêu. Giới khoa học nói chung cảm thấy có xu hướng "dương tính hoá" trong ngôn ngữ khoa học. Nhưng họ chưa có cách định lượng xu hướng đó. Cho đến tuần này có một nghiên cứu rất thú vị nhằm kiểm định giả thuyết tích cực hoá trong ngôn ngữ khoa học.

Tập san lừng danh BMJ (British Medical Journal) nhân dịp cuối năm có đi một loạt bài dưới chủ đề có tên là "The Publication Game". Một trong những bài làm tôi chú ý và mỉm cười một mình là bài nghiên cứu về tần số sử dụng những tính từ và danh từ mà tác giả gọi là "positive" (dương tính), hay có thể hiểu là những chữ tích cực (3). Đó là những chữ như amazing, assuring, astonishing, bright, creative, encouraging, enormous, excellent, favourable, groundbreaking, hopeful, innovative, inspiring, novel, phenomenal, prominent, promising, reassuring, remarkable, robust, spectacular, supportive, unique, unprecedented (xem biểu đồ).

Biểu đồ mô tả xu hướng dùng những chữ "dương tính" trong thời gian 1974 - 2014 trên các tập san y khoa hạng "danh giá". 

Cách tác giả (các chuyên gia tâm thần học) làm là đếm những chữ trên trong bản abstract (tóm tắt) của các bài báo khoa học được công bố trong thời gian 1974 - 2014, trên các tập san có ảnh hưởng lớn. Đó là những tập san như Science, Nature, Cell, Lancet, JAMA, NEJM, PLoS Medicine, PNAS, BMJ, BMC Medicine, Arch Int Med, Ann Int Med, v.v. Kết quả rất ư là thú vị:

• Trong thời gian 1974-1980, tính trên tổng số chữ trong abstracts, những chữ dương tính chiếm 2%;

• Nhưng đến năm 2014, tỉ lệ những chữ dương tính tăng lên 17.5%, tức tăng gấp 8.7 lần so với 1974-1980.

So với những năm 1974-1980, những chữ như robust, novel, innovative, và unprecendented trong năm 2014 tăng từ 25 lần đến 150 lần.

Nhưng để cho "cân đối", các tác giả còn đếm những chữ âm tính (negative words). Đó là những chữ như detrimental, disappointing, discouraging, disturbing, frustrating, futile, hopeless, impossible, inadequate, ineffective, insignificant, insufficient, irrelevant, mediocre, pessimistic, substandard, unacceptable, unsatisfactory, useless, weak, worrisome. Kết quả cũng khá bất ngờ:

• Trong thời gian 1974-1980, số chữ âm tính chiếm 1.3% trong abstracts;

• Đến năm 2014, tỉ lệ những chữ âm tính là 3.2%, tăng 2.5 lần so với thời gian 1974-1980.

Nhóm tác giả còn phân tích sâu hơn về địa chỉ của tác giả, và phát hiện của họ càng thú vị. Các tác giả chú ý rằng những chữ "nổ" này có xu hướng xuất hiện trong những bài báo của các tác giả từ các nước mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính (mẹ đẻ).

Những xu hướng về dùng chữ mà tôi tóm lược trên đây cung cấp cho chúng ta nhiều tín hiệu. Nó nói lên rằng giới khoa học cũng bắt đầu nói khoát, nói quá, hay dùng "ngôn ngữ thị trường" (marketing language). Nói cách khác, sự lựa chọn về chữ của giới khoa học chịu tác động bởi hình thức hơn là nội dung. Nếu chúng ta tin rằng những chữ như innovative, novel và groundbreaking là phản ảnh nội dung của nghiên cứu, thì chẳng lẽ cái mới của khoa học đã tăng 25 lần trong 20 năm qua?!

Xu hướng trên có lẽ cũng phản ảnh một thực trạng là giới khoa học càng ngày càng chị áp lực phải công bố. Vì áp lực công bố, nên họ có khi phải hi sinh sự thật để ... nói quá. Thổi phồng một kết quả tầm thường là một cách đơn giản nhất để gây chú ý của ban biên tập và thu hút độc giả. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là giới khoa học thiếu thành thật, và từ đó làm hỏng nền tảng của khoa học là tôn trọng sự thật. Hệ quả sau cùng là nó gây ảnh hưởng xấu đến hành trình đi tìm sự thật của khoa học.

Sự thành công của những người dùng chữ "nổ" cũng có nghĩa là hệ thống khoa học đang thưởng cho những người biết vặn vẹo hệ thống để tiến thân. Ngược lại, những người thành thật (và có thể làm giỏi) nhưng không nói/viết giỏi thì bị thiệt thòi trong khoa học. Đó là một sự bất công bằng, mà trong thực tế xảy ra rất thường xuyên.

George Orwell từng nói "If thought can corrupt language, then the language can corrupt thought" (Nếu ý tưởng có thể làm hư hỏng ngôn ngữ, thì ngôn ngữ có thể làm hư hỏng ý tưởng). Cách dùng những chữ tích cực một cách không cần thiết trong khoa học cũng sẽ gây tác động tiêu cực cho khoa học.

===

(1) Ở VN có những người đi đâu cũng yêu cầu người ta gọi mình là “TS”, “PGS TS”, “GS TS”, có khi còn chua thêm “GS TSKH”! Ngay cả một số người ở nước ngoài về VN cũng nhiễm thói này. Thật là hợm hĩnh, vì ít thấy ở đâu trên thế giới có cái thói kì cục như thế.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trí thức là kẻ...bảo thủ.

Ai phát ngôn cái ý đó vậy...hè?
Gã xin trích đăng nguyên xi lời nói vo của ngài phó thủ tướng Vũ Đức Đam tại một cuộc gặp gỡ các nhà khoa học nước nhà.
Nhời vầy:
“Đổi mới là quá trình thay đổi thói quen, đặc biệt là thói quen của những người trí thức cực kì khó thay đổi.”
Với mệnh đề được thiết lập vững chắc như vầy, gã đương nhiên có quyền dắt dây suy ra rằng: Trí thức là kẻ bảo thủ.
Hoan hô ngài phó thủ tướng, người lần đầu tiên trong hàng các quan chức nước nhà từ xưa tới nay của chính thể nước ta đã dám nói toẹt một sự thật mà bao lâu giấu nhẹm về thực tại của nền học vấn nước nhà : Các bố, các mẹ trí thức cứ toe toe cái miệng, cứ xoen xoét cái miệng cách mạng với cải cách đổi mới cái gì, các bố với các mẹ là chúa... bảo thủ.
Một lần nữa gã xin hoan hô ngài phó thủ tướng.
Ngài nói rất đúng. Thực tiễn đã chứng minh quá rõ ràng nhời ngài nói.
Đây nhá, để cho đất nước thua xa các nước bạn bè về khoa học công nghệ, lụn bại tụt hậu về lí luận phát triển, còi cọc tư duy sáng tạo, èo uột năng suất lao động ,bì bõm trong vũng bùn ô nhiễm vv... để dẫn đến tổng thể một nền kinh tế, xã hội gần đội sổ thì trách nhiệm chẳng do mấy bố, mấy mẹ trí thức là gì?
Có học, có bằng này, cấp nọ, rồi đủ các cử nhân, giáo sư, tiến sĩ vai vế lãnh đạo có trách nhiệm đàng hoàng vậy mà đổi mới của đất nước cứ ba chìm bảy nổi, cứ thòi ra, thụt vào thì chả do cái thói bảo thủ là gì?
Các bố, các mẹ không chịu thay đổi thói quen xưa nay trên bảo gì cứ thế mà gật đầu lia lịa.
Các bố , các mẹ không chịu thay đổi thói quen, xưa nay cứ rung đùi trong phòng máy lạnh bày vẽ các dự án nghiên cứu khoa học để chia chác chấm mút sao cho hết tiền nhà nước theo kế hoạch, chỉ tiêu, chả cần biết cái mớ nghiên cứu ấy có tác dụng gì cho đời sống.
Các bố, các mẹ không chịu thay đổi thói quen cứ nghĩ mình có bằng cấp cao vời vợi đứng đầu ngành, là lãnh đạo, thì đương nhiên mình có quyền sai khiến những kẻ bằng cấp thấp hơn bất chấp những kẻ đó có tài năng hơn.
Ngài phó thủ tướng nói không trật đâu được. Tuy nhiên ngài nói chỉ đúng đối với tầng lớp trí thức quốc doanh luôn kèm theo cái đuôi là “trí thức XHCN” nhà ta mà thôi.
Để kín nhẽ khỏi bị những kẻ trí thức thứ thiệt trên thế giới họ ùn ùn phản đối, vì thước đo của một người trí thức thứ thiệt xưa nay ở bất cứ đâu đều là sự dấn thân cách mạng, dấn thân đổi mới ,tức là luôn sẵn sàng chống lại những thói quen của xã hội, đặc biệt luôn thường trực ý thức chống lại thói quen mòn cũ của chính mình, hạnh phúc của họ, sứ mệnh thiêng liêng của họ là sáng tạo bất chấp sự cô đơn, bất chấp sự chống đối, thậm chí cả tù đày, cái chết, vì vậy, gã xin ngài phó thủ tướng mà gã thực lòng rất kính trọng nên nói lại cho rõ như sau:
“Đổi mới là quá trình thay đổi thói quen, đặc biệt là thói quen của những người trí thức XHCN chúng ta cực kì khó thay đổi”.
Ô hô, gã- một kẻ có đôi chút tri thức để gọi là thành phần “trí thức tiểu tư sản” một lần nữa xin được vỗ tay tán dương ngài phó thủ tướng.
26.12.2015.


156 người thích nội dung này.
29 bình luận
Bình Luận
Huykiem Ha Lãnh đạo gọi chung là CEO phải có trí thức, ông PTT Đam nói đúng xã hội VN hiện nay là cực kỳ bảo thủ.Kinh tế xhcn đã chết rồi nhưng không chôn mà còn thờ nó bằng dịnh hướng xhcn. ÔNG ĐAM đang chửi khéo đấy
Trung Pham Hic hic....! Hoc Tu Tai 12 nam che do cu (VNCH), hoc 4 nam DHBK TPHCM, 9 nam du loai certificates tu Au sang A thi goi la tri thuc gi anh Van oi...! Tam tu qua....!
Phù Sa Trí thức Xã Nghĩa của ta,
Vai mang nghị quyết chân tà tà đi.
Nhức đầu nhức óc làm chi, ...Xem thêm
Ứng Viên Đoàn "Trí thức bảo thủ"là trí thức nhầm ,hoặc chỉ trí thức ở mảnh bằng chỉ biết gọi dạ bảo vâng,người một nơi bằng một nơi.
Bác Lưu Trọng Văn đã bổ sung chính xác cho nhận định của quan phó tể tướng.
Dinh Phong Vu Chính xác ! Nhà nước ta chỉ dùng được những trí thức bảo thủ, mà tôi quen gọi chung là "tầng lớp thầy giáo làng", phong cho họ đủ các danh hiệu (tiến sĩ, phó giáo sư... và "nhân dân, ưu tú... Ủy viên này nọ...Trưởng no...Xem thêm
Dang Luu XIN HỎI BÁC VĂN VÀ TẤT CẢ CÁC VỊ--- TÍNH BẢO THỦ CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC VN DO ĐÂU MÀ CÓ ???
Hoaanh Nguyễn Bai viet cua anh Van that nhieu tam trang.Co an theo,noi leo,gat dau lien tuc thi tri thuc moi song duoc trong the che xhcn.Thay doi the che va ai dung cam de thay doi?Mot bai viet rat tran tro voi so phan cua dat nuoc.Em rat thich bai viet nay cua anh Van va cam on anh that nhieu.
Nghiệp Cao Bá "Văn" rất hay...Đến anh chơi nhé, nếu có thể!? Cám ơn & hẹn gặp!
ThíchTrả lời

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ý kiến muốn bỏ phiên tòa lưu động

Xét xử lưu động: Để bị cáo phải đối mặt với cả đám đông có vi phạm quyền con người?

Phiên tòa xét xử lưu động tại Bình Dương vào ngày 17/12 vừa qua, với sự có mặt của hàng ngàn người dân và hàng trăm cảnh sát.
Phiên tòa xét xử lưu động tại Bình Dương vào ngày 17/12 vừa qua, với sự có mặt của hàng ngàn người dân và hàng trăm cảnh sát.
Ngày 17/12 diễn ra phiên tòa xét xử lưu động xử án 2 bị can giết người ở Bình Phước. Tại phiên tòa này bị cáo, thẩm phán cũng như các luật sư cứ miêu tả đi tả lại những cảnh rùng rợn về chém giết khiến nhiều người rùng mình.
Nhiều người kể lại, khi đi xem xét xử, tối về ngủ còn gặp ác mộng. Các thanh niên sau phiên tòa còn kể lại các tình tiết ấy, người này bổ sung cho người kia, ra vẻ hiểu biết tâm đắc, điều này cho thấy ý nghĩa giáo dục của phiên tòa lưu động này không hề có, thậm chí còn có thể gây ra hiệu ứng ngược trong giáo dục
Không chỉ vụ án tại Bình Phước, nhiều vụ án xử lưu động khác cũng diễn ra tương tự, điều này khiến các nhà lập pháp đặt ra vấn đề về việc có nên tiếp tục tiến hành các phiên xử lưu động như vậy hay không.
Chiều ngày 22/12, báo Pháp Luật TPHCM đã tổ chức buổi hội thảo với chủ đề: Có nên xử án lưu động trong nền tư pháp văn minh, hiện đại.
Buổi hội thảo này có sự tham gia đại diện của Viện kiểm sát, Thẩm phán, Tòa án, trường ĐH Luật, các luật sư.
hoi-thao
Quang cảnh buổi hội thảo. (Ảnh: phapluattp.vn)
Buổi hội thảo diễn ra với các ý kiến khác nhau, có những ý kiến muốn duy trì phiên tòa lưu động, nhiều ý kiến khác lại không muốn tiếp tục kiểu tòa lưu động như thế này.
Các ý kiến muốn duy trì phiên tòa lưu động đều lấy lý do rằng việc này giúp truyền tải pháp luật đến người dân. Các phiên tòa như thế này có tính răn đe và trừng phạt lớn.

Ý kiến muốn bỏ phiên tòa lưu động

Các phiên tòa lưu động là để người dân khi xem rút ra bài học cho mình, nhưng thực tế người dân xem cũng không rút được bài học gì, nghe xong rồi thôi. Mặt khác người dân khi nghe các ý kiến trái chiều sẽ cảm thấy hoang mang. Việc lan truyền pháp luật sẽ không đạt được hiệu quả từ những phiên tòa xét xử lưu động.
Việc phổ biến pháp luật là dành cho cơ quan chức năng chứ không nên ở những phiên tòa lưu động.
Các phiên xử lưu động có cả trẻ em cũng đi xem, những vụ án như giết người ở Bình Phước ảnh hưởng rất không tốt đến trẻ em.
Việt Nam là một nước hiếm hoi có hình thức tòa lưu động, trong khi hầu hết các nước trên thế giới không có hình thức xét xử này. Làm như thế sẽ gây áp lực lớn đối với bị cáo và không tôn trọng quyền con người.
Báo Pháp Luật TP dẫn lời của Luật sư Bùi Quốc Tuấn: “Tôi vẫn bảo lưu không nên xử án lưu động. Trong tất cả các bộ luật thì chỉ có án hình sự mới xử lưu động nhưng quy định pháp luật thì không thấy. 
TAND Tối cao có hướng dẫn các vụ án trọng điểm, nếu chọn án trọng điểm để xử, bản án chưa có hiệu lực nhưng sau đó oan thì làm sao đây? Cụ thể, báo Pháp Luật TP.HCM cũng đã có bài phản ánh một trường hợp ở Đồng Nai bị đưa ra xử lưu động nhưng sau đó VKSND huyện Tân Phú phải xin lỗi. 
Theo tôi, một người bị đưa ra xử lưu động, họ chịu cả hai án hình sự và dư luận xã hội”
Việc nói rằng các phiên tòa lưu động mag lại lợi ích đó chỉ là lý thuyết, chứ thực tế thì tác dụng rất ít. Nhiều vụ án dân đến xem chỉ là muốn biết mức án cuối cùng thế nào, còn những điều khác đọng lại rất ít.
Nhiều phiên tòa người dân đến xem chỉ để cho biết rồi thất vọng. Báo Pháp Luật TPHCM dẫn lời luật sư Nguyễn Minh Luận thuộc Đoàn luật sư Sài Gòn cho rằng: “Giới Luật sư chúng tôi không đồng tình xét xử lưu động. Bản thân người thực thi pháp luật cũng không muốn. Tòa tối cao cần cân nhắc xem lại dư luận, có đề án tiếp tục hoặc dừng lại thì như thế nào? Tôi nghĩ Tòa cần lắng nghe tâm huyết của luật sư vì chúng tôi sát với dân hơn”.

Áp lực của bị cáo khi phải xử lưu động

Có bị cáo khi bị đưa ra xử lưu động, trước đám đông người đã sợ hãi quá hỏi luật sư rằng: “‘có phải tôi sắp chết rồi không’tâm lý lúc nào cũng nghĩ mình tội rất nặng mới bị xử lưu động. Khi phiên tòa xét xử người này không làm chủ mình và trả lời những câu hỏi của tòa rất lan man” – Luật sư Nguyễn Đức Chánh nói với báo Pháp Luật TP.HCM
Ngày 17/11 diễn ra phiên tòa lưu động tại huyện Hướng Hóa, Quảng Trị. Hội trường chỉ có 150 chỗ, nhưng người đến xem rất đông, áp lực từ bên ngoài lẫn bên trong hội trường là rất lớn.
Vừa bước xuống xe, chứng kiến cảnh tượng này, bị cáo Hồ Chí Bảo đã ngất xỉu ngay tại chỗ hơn 1 giờ đồng hồ, lực lượng y tế phải vào hồi sức. Khi tỉnh lại, bị cáo chỉ trả lời lí nhí vì sợ người khác nghe thấy.
Ở Bình Thuận từng có vụ án xử lưu động, người dân địa phương đến xem rất đông, sau một hồi đối đáp lộ ra chuyện cô B ngoại tình, nhưng tình tiết này không có chứng cứ nào cả.
Sau đó cô B bị chồng bỏ, bị áp lực đàm tếu của mọi người khiến cô đã uống thuốc tự tử.
Các bị cáo phải chịu áp lực rất lớn khi bị xét xử trong các phiên tòa lưu động có hàng ngàn người tới xem. (Ảnh: Internet)
Nhiều vụ án khi xét xử lưu động, những thủ đoạn tàn bạo của bị cáo in vào trong đầu người xem, nhiều người còn cảm thấy phấn khích khi xem, các phiên tòa này vô tình lại gieo mầm tội ác, những phương thức thủ đoạn của bị cáo có thể trở thành ‘hình mẫu’ để noi theo.
Anh Nguyễn Thanh K (thôn Đại An, xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) dùng điện thoại nhắn tin cho một học sinh đe dọa lấy 3 triệu đồng, sự việc bị phát hiện và K bị bắt.
Tháng 12/2013, TAND huyện Phú Ninh quyết định đưa vụ án này ra xử lưu động, để làm gương “răn đe” những người khác. Trước ngày xét xử, UBND xã Tam Đại dùng loa phóng thanh thông báo mọi người đến xem phiên tòa lưu động.
Cảm thấy quá áp lực và lo lắng khi phải đối mặt với đông người, anh Nguyễn Thanh K đã uống thuốc độc tự tử.
Ông Đinh Văn Quế – nguyên chánh tòa hình sự TAND Tối cao có bài viết trên báo Vnexpress kể rằng: “Có vụ người nhà nạn nhân vì bức xúc cầm dao lao vào đâm bị cáo trước vành móng ngựa, có vụ gây náo loạn khiến nhà chức trách phải huy động cả một trung đoàn cơ động đến giải vây cho HĐXX… Bên cạnh đó, tính uy nghiêm của một phiên tòa bị giảm đi ít nhiều tại các phiên xử lưu động khi âm thanh, phông màn đều tạm bợ…”

Các nước văn minh không có xét xử lưu động

Các nước trên thế giới có sự phân chia rất rõ ràng, Tòa án là nơi xét xử chứ không phải là nơi hướng dẫn luật pháp cho người dân, việc phổ biến luật là có các các cơ quan chức năng khác làm, vì thế Tòa án không tổ chức các phiên xử lưu động nhằm phổ biến luật cho người dân.
Ở các nước tiến tiến châu Âu và châu Mỹ, việc xét xử tại tòa án là hết sức trang nghiêm thể hiện sự công bằng, vì thế không thể tổ chức lưu động được, mà chỉ có thể tổ chức tại tòa án.
Mặt khác ở các nước tiên tiến, tính nhân quyền và bình đẳng rất cao, việc tổ chức phiên tòa lưu động, phạm nhân phải đối mặt với cả đám đông là vi phạm quyền con người, đây là điều mà không một đất nước văn minh nào muốn làm.
Ngoài ra việc xử lưu động, phạm nhân phải trả lời chất vấn trong trạng thái hoảng loạn mất bình tĩnh do phải đối mặt với đám đông, vì thế không đảm bảo tính chuẩn xác của lời khai, không công bằng với phạm nhân, và bản chất phiên tòa không nghiêm túc.
Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng vào văn minh tiến bộ thế giới, thiết nghĩ nên bỏ hình thức xét xử lưu động này, còn việc phổ biến pháp luật nên để cho các cơ quan chuyên trách lo.
Mặt khác, việc xét xử phạm nhân có mục đích căn bản là “giáo dục” chứ không phải là “trừng phạt”. Việc xét xử lưu động trông giống như hình thức đấu tố thời cải cách ruộng đất trước đây, hoàn toàn không có tính văn minh giáo dục.
Ngọn Hải Đăng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc có thể can thiệp vào Trung Đông


Tình hình bất ổn kéo dài tại Trung Đông đang đe dọa lợi ích và an ninh của Trung Quốc, điều đó có thể khiến nước này sớm can thiệp vào khu vực. Kể từ cuộc nổi dậy chống lại Tổng thống Syria Bashar al-Assad nổ ra vào năm 2011, các cuộc đụng độ đã biến thành bạo lực và hủy diệt chưa từng có. Nó khiến các quốc gia trong khu vực Trung Đông như Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia và Iran vướng vào cuộc đối đầu cùng với 2 cường quốc mạnh nhất thế giới là Nga và Mỹ.
Công nhân Trung Quốc đi qua cửa kiểm tra an ninh trước khi 
lên tàu hải quân của nước này ở vịnh Aden. Ảnh: Reuters
Trong khi đó, Trung Quốc, quyền lực lớn thứ 3 thế giới, vẫn tỏ ra thận trọng và lánh xa cuộc xung đột. Bắc Kinh tập trung vào các tuyên bố mang tính biểu tượng gắn liền với nguyên tắc “không can thiệp” và thực hiện những nỗ lực để đi đến một giải pháp chính trị cho cuộc khủng hoảng.

Sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc tập trung vào các lợi ích cốt lõi trong khu vực Trung Đông, tiếp cận đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trường nước ngoài thông qua các dự án đầu tư theo nguyên tắc “không xúc phạm ai, không đứng về bên nào”.
3 lý do để can thiệp vào Trung Đông

Theo National Interest, từ đầu năm 2015, Bắc Kinh đã có những dấu hiệu về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại, trái ngược với xu hướng tránh đứng về phía khu vực này một cách thường xuyên Mỹ theo đuổi. Michael Clarke, phó giáo sư tại Đại học An ninh Quốc gia Australia, nhận định áp lực từ 3 hướng có thể sớm đẩy Bắc Kinh đến việc can thiệp vào khu vực.

Đầu tiên, sự bất ổn khắp Trung Đông sau “Mùa xuân Arab” đã tạo nên mối đe dọa không chỉ đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc, quốc gia nhập khẩu gần một nửa lượng dầu từ khu vực này, mà còn là mối nguy đối với các khoản đầu tư và công dân Trung Quốc ở Trung Đông.

Ông Clarke nhận định, điều này có tác động rất lớn đối với Trung Quốc trong việc tìm cách tác động đến Trung Đông. Việc di tản 12.000 công dân Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng Libya năm 2011 là hành động mang tính quân sự đầu tiên của Bắc Kinh ở Địa Trung Hải. Lúc đó, tàu hộ vệ tên lửa Từ Châu đã phối hợp sơ tán khoảng 1.700 công dân bằng đường biển.

“Điều này thể hiện sự phô diễn năng lực ngày càng gia tăng của Bắc Kinh trong khi tiến hành các hoạt động ở bên ngoài lãnh thổ và họ có khả năng đó, điều mà chỉ một thập kỷ trước đây họ chưa thể làm”, ông Clarke nói.

Tuy vậy, sự sẵn sàng của Trung Quốc vẫn còn hạn chế, thể hiện qua sự bất lực của Bắc Kinh khi tìm cách ngăn IS hành quyết con tin Fan Jinghui vào ngày 18/11 tại tỉnh Anbar, Iraq.



Công dân Trung Quốc xếp hàng tại cảng Benghazi, Libya để chờ tàu của chính phủ đưa họ về nhà. Ảnh: AP

Vấn đề thứ hai là sự can thiệp của Mỹ cùng đồng minh ở Libya và sau đó là Syria đã tạo ra những thách thức ngoại giao toàn cầu cho Bắc Kinh. Việc Trung Quốc bỏ phiếu trắng trong Nghị quyết số 1973 của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã mở đường cho sự can thiệp quân sự của NATO vào Libya. Điều đó làm gia tăng mối nghi ngờ về nguyên tắc “không can thiệp” vốn giúp Bắc Kinh xây dựng thành công chiến lược ngoại giao hậu Chiến tranh Lạnh.

Trung Quốc tiếp tục duy trì chính sách này ở Syria như một phần trong kết quả trực tiếp từ những đánh giá về sự cân bằng địa chính trị ở Trung Đông sau biến cố ở Libya. Quan trọng nhất, Trung Quốc đã đạt đến sự hiểu biết chiến lược với Nga để ràng buộc và hạn chế Mỹ trong các giải pháp mang tính áp đặt về vấn đề Trung Đông.

Bắc Kinh và Moscow đã sử dụng quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hồi tháng 10/2011 và tháng 2/2012 trong dự thảo nghị quyết có nội dung lên án chế độ Assad. Bắc Kinh cũng phản đối kế hoạch không kích do Mỹ dẫn đầu chống lại Damascus sau khi quân đội Syria bị cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học trong tháng 8/2013.

Bắc Kinh im lặng trước hoạt động can thiệp quân sự của Nga vào Syria nhằm hỗ trợ cho Damascus. Nhưng ông Clarke cho rằng, nguyên tắc “không can thiệp” của Trung Quốc đang trở nên không còn phù hợp.

Khi quân đội Nga bắt đầu không kích Syria, China Daily đăng bài xã luận cho rằng, sự can thiệp của Moscow là một “hành động chiến lược hợp lý” có thể “tăng cường hình ảnh của Nga như là một bên liên quan có trách nhiệm trong việc chống lại tổ chức khủng bố IS”. Moscow tiến hành các đợt không kích phối hợp với quân đội chính phủ Syria sẽ làm cho những nỗ lực của Nga trở nên hiệu quả và chính xác hơn so với các cuộc tấn công của liên minh do Mỹ dẫn đầu.


Một người được cho là công dân Trung Quốc trong nhóm Hồi giáo Turkestan có liên hệ với IS. Ảnh:Longwarjourney

Cuối cùng, sự bành trướng của Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng trên toàn thế giới đặt ra những thách thức cho Trung Quốc trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố. Trong năm 2013, ông Wu Sike, đặc phái viên của Trung Quốc về Trung Đông từng cảnh báo, hàng trăm người Duy Ngô Nhĩ đã du lịch đến Syria thông qua Thổ Nhĩ Kỳ để chiến đấu trong nhiều nhóm chống đối Assad.

Mối liên hệ giữa người Duy Ngô Nhĩ cực đoan và sự hỗn loạn tại Syria lại nổi lên trong vụ đánh bom ở Erawan Shrine, Bangkok ngày 18/8, một số nghi can bị cảnh sát Thái Lan bắt giữ có hộ chiếu du lịch vào Trung Quốc từ Thổ Nhĩ Kỳ.

Gần đây nhất, nhóm Hồi giáo Turkestan (chi nhánh của al-Nusra) bao gồm một nhóm người Trung Quốc bị cáo buộc liên quan đến vụ tấn công ở Tân Cương đã xuất hiện ở chiến trường Syria.

Các tay súng trở về từ Syria có thể thực hiện các vụ khủng bố ở Trung Quốc gây mất ổn định tình hình an ninh. Nhà phân tích James Leibold nhận định, Trung Quốc có thể sử dụng công cụ chống khủng bố để theo đuổi các chính sách bên ngoài tương tự như điều mà Tổng thống Nga Vladimir Putin đang thực hiện ở Syria.

Do đó, chính phủ Trung Quốc nên hành động nhiều hơn để góp phần vào nỗ lực quốc tế chống chủ nghĩa khủng bố. Dựa trên lợi ích và hành động gần đây ở Trung Đông cho thấy rằng, phương pháp tiếp cận “không xúc phạm ai, không đứng về bên nào” của Trung Quốc sẽ sớm trở nên lỗi thời.

Trung Quốc là giải pháp cho vấn đề Trung Đông?

Trong hội nghị G7 hồi giữa năm ở Đức, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho rằng chính quyền của ông không có “chiến lược toàn diện” để đối phó với các phần cử Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông. Tuyên bố ngắn gọn của ông chủ Nhà Trắng cho thấy Mỹ gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với “bệnh dịch” của thế giới. Mọi hành động của Mỹ chỉ như việc băng bó một vết thương hở thay vì giải quyết triệt để nguyên nhân gây bệnh.

Diplomat cho rằng, khi Mỹ gặp bế tắc, Trung Quốc nên trở thành phần quan trọng trong chiến lược chống IS. Khi vai trò và vị thế của Bắc Kinh đang ngày càng lớn mạnh trên vũ đài chính trị thế giới, Trung Quốc cũng mong muốn đóng vai trò lớn hơn trong các vấn đề quốc tế nói chung và Trung Đông nói riêng. Quan hệ kinh tế ngày càng mạnh giữa Trung Quốc với cả Israel và cả các nước Arab nhưng không gây bất đồng về mặt tôn giáo giúp Bắc Kinh có thể phá vỡ các rào cản ở Trung Đông và bắt đầu quá trình đổi mới mang tính xây dựng.

Mỹ là đồng minh của nhiều quốc gia Arab nhưng nhiều cộng đồng Hồi giáo lại coi Washington là kẻ thù. Trên thực tế, không có thuốc chữa đặc trị cho những cuộc xung đột kéo dài nhiều thế kỷ ở Trung Đông, dù nhiều trong số đó bắt nguồn từ các mối quan hệ tiền bạc. Tuy nhiên, cải thiện kinh tế có thể làm giảm cường độ xung đột.

Việc tìm kiếm ảnh hưởng ở Trung Đông chắc chắn sẽ là tham vọng của Trung Quốc trong tương lai. Nó dường như quan trọng hơn tất cả những gì mà Bắc Kinh đã làm trong quá khứ. Thông qua chính sách khuyến khích đầu tư trong khu vực, Trung Quốc xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với Israel, các nước láng giềng Arab và Hồi giáo. Những mối quan hệ này trở thành đòn bẩy cần thiết cho mối quan hệ hòa bình hơn trong khu vực.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Israel trong khi Tel Aviv là nhà cung cấp các mặt hàng công nghệ quân sự lớn thứ 2 cho Bắc Kinh. Trung Quốc cũng đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng, xuất khẩu vũ khí và khai thác tài nguyên ở các nước Arab. Tại Trung Đông, Trung Quốc đặt nhiều tham vọng vào dầu mỏ và tài nguyên. Khi Mỹ đang để tâm tới các nguồn dầu mỏ khác ngoài Trung Đông, Trung Quốc sẽ trở thành khách hàng khổng lồ của các nước Arab.

Ngoài dầu, Trung Quốc cũng duy trì mối quan hệ thương mại chặt chẽ với các nước Trung Đông. Trong quá khứ, con đường tơ lụa huyền thoại của Trung Quốc đi qua khu vực này để tới châu Âu. Ngày nay, giá trị của nó vẫn tiếp tục lớn mạnh. Trung Quốc đã tuyên bố chi gần 50 tỷ USD để xây dựng đường sắt, đường bộ và đường ống dẫn dầu và cơ sở hạ tầng khác trong khu vực.

Đại sứ Gong Xiaosheng, đặc phái viên của Trung Quốc tại Trung Đông, tin rằng, sáng kiến con đường tơ lụa là câu trả lời chính cho vấn đề hòa bình trong khu vực. Trong chuyến công du tới Palestine hồi tháng 4, ông Gong mong muốn con đường tơ lụa sẽ trở thành chất xúc tác để thúc đẩy phát triển kinh tế và nuôi dưỡng hòa bình, hướng tới giải quyết cội nguồn bất ổn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang