Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Vậy các pác thử nói xem có bị làm sao không?


Chỉ cần nói ra sự thật

(LĐĐS) - Số 04 TRẦN ĐỨC CHÍNH 
Ảnh minh họa.

Trong khi nhiều báo, đài lên tiếng với những từ như “tội phạm không gian ảo”, “chiến tranh thông tin truyền thông”… để chỉ một hiện tượng đang bùng phát trên Internet của một số người nói xấu Đảng, Nhà nước, bôi nhọ các lãnh đạo, đồng chí Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu tại cuộc họp của Văn phòng Chính phủ: Chúng ta không cấm dân đọc mạng facebook. Vấn đề là phải định hướng thông tin chính xác cho dân.


    Chúng tôi cho đó là ý kiến có tầm chiến lược. Không phải chuyện “cứ không quản được thì cấm”. Thế giới (nằm trong một mặt) phẳng, không có rào cản hay “tường lửa” nào ngăn chặn được Internet, nhất là khi các mạng dân sự đặt ở nước ngoài và thực tình mà nói “binh chủng mạng” của chúng ta sinh sau đẻ muộn, còn phải đầu tư nhiều mới đáp ứng được yêu cầu thông tin trong giai đoạn hội nhập sâu với thế giới.
    Có một câu ngạn ngữ cổ: “Chó cứ sủa, đàn lạc đà cứ đi”. Những đàn lạc đà thồ hàng như đoàn tàu vượt qua sa mạc mênh mông nối liền thế giới bằng giao tiếp và thông thương hàng hóa, thông thương kinh tế và kèm theo đó là văn hóa, xã hội. Lạc đà và người dẫn đường đi theo con đường được chỉ dẫn bằng mặt trời và các chòm sao, kiên trì đi theo định hướng, mặc tiếng sủa vì bão táp sa mạc đã làm nên sự phồn thịnh từ cả nghìn năm trước cho thế giới.
    Ngày nay, chúng ta hội nhập “ngon lành” hơn nhiều, nhất là Việt Nam đã và đang nhanh chóng trở thành quốc gia thành viên Liên hiệp quốc và tham gia vào các tổ chức, chương trình toàn cầu, APEC và ASEAN. Với bản lĩnh của một dân tộc đã đương đầu và chiến thằng nhiều cường quốc “chơi trò” thực dân, đế quốc, bành trướng và cướp biển, chúng ta sẽ dễ dàng thắng trên mặt trận thông tin truyền thông. Thắng ngon lành là đằng khác, một khi các cơ quan truyền thông đại chúng Việt Nam đồng loạt ra quân, ra quân phản công thực sự bằng lý lẽ xác thực, bằng chứng đầy đủ, vạch mặt bọn “xấu mồm”. Có thể có người vì nguyên nhân gì đó sẵn sàng tin vào luận điệu xuyên tạc. Nhưng người Việt Nam đã “Nam chinh, Bắc tiến” nhiều rồi, không dễ nghe theo kiểu thông tin “chém gió” đâu.
    Cũng không cần ví von “khi đại bác gầm lên, chim chóc im tiếng” chỉ cần chúng ta (không chém gió) thông tin đàng hoàng như các cụ ta có câu “nói phải củ cải cũng nghe”.
    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Thấy gì qua cái kết vụ đòi “trảm” luật sư Đôn?


    (LĐ) 

    Vụ đòi “trảm” luật sư Võ An Đôn có vẻ đã đi vào hồi kết khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam chính thức kết luận đòi hỏi đó là “không có cơ sở, không đúng thẩm quyền, chức năng”.

      Võ An Đôn là luật sư tự nguyện bảo vệ quyền lợi cho gia đình bị hại Lê Thanh Kiều trong vụ án dùng nhục hình dẫn đến chết người ở Phú Yên.

      Trong các phiên tòa, ông đã nhiều lần đề nghị khởi tố Phó Trưởng CA TP.Tuy Hòa, Viện trưởng Viện KSND TP.Tuy Hòa về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và đề nghị Giám đốc CA tỉnh Phú Yên phải từ chức.
      Ngay sau đó, liên ngành công an, kiểm sát, tòa án Phú yên đã cùng có văn bản kiến nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư đối với luật sư Đôn. Các cơ quan này cho rằng, luật sư Đôn đã lợi dụng việc hành nghề luật sư, có lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm đến người tham gia tố tụng và nhiều cán bộ lãnh đạo các ngành nội chính. Công văn cũng cho rằng ông Đôn đã “tạo thành điểm nóng không tốt trong dư luận xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự ATXH..
      Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên sau đó ra quyết định sẽ thanh tra đối với hoạt động của Văn phòng luật sư Võ An Đôn.
      Người dân, ngay lập tức, nhìn thấy trong đề nghị khiếm nhã này mang sự lạm quyền: Công an thì dùng nhục hình. Luật sư cãi cho nạn nhân. Tư pháp thì thanh tra luật sư. Và 3 nganh Công an - Tòa án - VKS đề nghị tước chứng chỉ hành nghề. Hay nói cách khác, một vụ án khởi nguồn từ nhục hình đang có cái kết của sự áp đặt bằng sức mạnh.
      Chính vì thế, không thể coi đề nghị rút lại kiến nghị liên ngành là cái kết cho sự kiện ồn ào này.
      Chỉ vừa tuần trước, một tòa án ở Singapore ra phán quyết yêu cầu một blogger phải trả khoản chi phí pháp lý 21.700USD cho Thủ tướng Lý Hiển Long, sau khi ông Lý thắng trong một vụ kiện về tội phỉ báng. Chân lý rất đơn giản, nếu có bôi nhọ, phỉ báng thì nạn nhân, dù là Thủ tướng, Giám đốc CA hay Viện trưởng kiểm sát đều nhất thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích của mình bằng một vụ kiện, chứ không thể trát sang một văn bản in con dấu cơ quan công quyền.
      Nếu ông Đôn xúc phạm, vu khống, các cá nhân nạn nhân hoàn toàn có thể khởi kiện ra tòa chứ không phải là việc cơ quan tố tụng triện văn bản đề nghị này, đề nghị nọ. Bởi như vậy là lạm dụng quyền lực, bởi, như Mahatma Gandhi sinh thời đã có một câu đúng tuyệt đối trong mọi xã hội, mọi nền pháp lý “Luật lệ không công bằng tự nó đã là một dạng bạo lực”.
      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Đại diện hãng chế tạo máy bay săn ngầm P-3 thăm Việt Nam


      (An Ninh Quốc Phòng) - Trong tháng 1.2015, nhiều đoàn quan chức chính phủ lẫn doanh nghiệp Mỹ đến Việt Nam, đáng chú ý là đoàn của phó chủ tịch tập đoàn Lockheed Martin (chế tạo máy bay săn ngầm P-3 Orion) thăm Hà Nội ngày 20.1, theo tạp chí Diplomat ngày 23.1.
      Lockheed Martin là hãng sản xuất máy bay tuần biển và săn ngầm P-3 Orion đang được Mỹ, Úc và nhiều nước sử dụng – Ảnh: Hải quân Mỹ
      Trong bài viết trên tạp chí này ngày 23.1, giáo sư chuyên về tình hình Đông Nam Á Carl Thayer (Úc) cho biết ngày 19.1, đại tướng Vincent Keith Brooks, tư lệnh lục quân Mỹ ở Thái Bình Dương đến Hà Nội thăm và làm việc với tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hai bên đã đánh giá những kết quả hợp tác giữa Lục quân hai nước trên cơ sở “Bản ghi nhớ thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương” ký năm 2011 và phương hướng hợp tác trong thời gian tới, như hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, quân y, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.

      Trước khi rời Việt Nam, đại tướng Brooks gặp Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Tướng Tỵ đã đề nghị lực lượng Lục quân của hai nước tiếp tục tăng cường trao đổi đoàn các cấp, đi sâu vào hợp tác trong các lĩnh vực trao đổi thông tin; chia sẻ kinh nghiệm cứu hộ, cứu nạn trên biển; đào tạo tiếng Anh cho các quân nhân Việt Nam; khắc phục hậu quả sau chiến tranh như chất độc da cam và dioxin…
      Một ngày sau khi đại tướng Brooks rời Hà Nội, ngày 20.1 ông Patrick Dewar, phó chủ tịch tập đoàn Lockheed Martin International thăm Hà Nội và gặp thiếu tướng Trương Quang Khánh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Khánh cảm ơn vai trò của Lockheed Martin trong việc hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin, ngoài ra không có thêm thông tin chi tiết nào về cuộc gặp này.
      Theo giáo sư Thayer, Việt Nam đang quan tâm đến việc mua sắm máy bay trinh sát biển và công nghệ liên quan đến cảnh giới hàng hải. Còn Lockheed Martin là hãng sản xuất máy bay tuần biển và săn ngầm P-3 Orion đang được Mỹ, Úc và nhiều nước sử dụng.
      Kiểm tra động cơ máy bay P-3C Orion của Mỹ tại căn cứ không quân hải quân Sigonella, Sicily, Ý – Ảnh: Hải quân Mỹ
      Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực đang hiện đại hoá quân đội, nhất là lực lượng hải quân. Việt Nam đã đặt Nga đóng 6 tàu ngầm tấn công lớp Kilo, và đã nhận về 2 chiếc. Chiếc thứ 3, HQ-184 Hải Phòng đang sắp về nước, dự kiến cuối tháng 1.2015. Chiếc thứ 4, HQ-185 Đà Nẵng đang thử nghiệm trên biển, chiếc thứ 5 là HQ-186 Khánh Hoà hạ thuỷ ngày 20.12.2014. Còn chiếc thứ 6 là HQ-187 Bà Rịa – Vũng Tàu đang được đóng kể từ tháng 5.2014.
      Giáo sư Thayer cũng trích thông tin đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 24.12.2014 rằng “Trong lĩnh vực an ninh hàng hải, chúng ta có thể có sự hợp tác đầy đủ… Thực tế chính phủ Việt Nam sẽ quyết định những vũ khí thích hợp nhất cho những thách thức chiến lược của mình”.
      Nhân viên mặt đất gắn các phao định vị thuỷ âm dò tìm tàu ngầm dưới bụng một chiếc P-3C Orion ở Okinawa, Nhật Bản, năm 2011 – Ảnh: Hải quân Mỹ
      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      TT Obama: Triều Tiên sẽ sụp đổ


      (NLĐO)- Tổng thống Mỹ Barack Obama cho rằng Triều Tiên cuối cùng sẽ sụp đổ, tuy nhiên giải pháp quân sự không phải là câu trả lời đối với đất nước bị cô lập nhất thế giới này.

      Nhận định trên của ông chủ Nhà Trắng được đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn trên Youtube hôm 22-1.
      “Sự cứng rắn (của Bình Nhưỡng) và hậu quả là đất nước này thậm chí còn không thể cung cấp đủ lương thực cho người dân. Qua thời gian, chúng ta sẽ thấy, một chế độ như vậy sẽ sụp đổ” – Tổng thống Mỹ nói. Tuy nhiên, ông vẫn tỏ ra thận trọng đối với một giải pháp quân sự liên quan tới các vấn đề của Triều Tiên khi nước này đang có công nghệ có thể sản xuất vũ khí hạt nhân và tên lửa. Thêm vào đó, Hàn Quốc sẽ “bị ảnh hưởng nghiêm trọng” nếu như chiến tranh nổ ra trên bán đảo Triều Tiên.
      EPA/KCNA
      Triều Tiên chưa lên tiếng về nhận định mới của ông Obama. Ảnh: KCNA

      “Sẽ không có một giải pháp quân sự. Chúng ta sẽ tiếp tục gia tăng áp lực” - ông Obama nhấn mạnh.
      Tổng thống Mỹ còn khẳng định rằng mạng internet cuối cùng cũng sẽ tìm được đường vào Triều Tiên và “giúp lan truyền các thông tin mà chính quyền nước này đã cắt xén”.

      Linh San (Theo Yonhap)

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Cô “công chúa” ngày ấy bây giờ ra sao


      Thưa quý bạn, vào khoảng cuối năm 1972, không chỉ ở miền Nam Việt Nam chúng ta mà hầu như cả thế giới đều biết câu chuyện vị tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi tên Bokassa tìm được giọt máu rơi – kết quả của cuộc tình giữa ông và người phụ nữ nghèo làm nghề gánh nước mướn ở Cù lao Phố Biên Hòa tên Nguyễn Thị Huệ khi ông còn là một anh chàng trung sĩ nhất 32 tuổi trong đội lính lê dương của Pháp sang tham chiến tại Việt Nam. Người con gái Việt Nam lai da đen nghèo nàn khốn khổ con rơi của ông lúc ấy 19 tuổi, tên Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, làm nghề khuân vác xi-măng từ năm 18 tuổi tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên gần Thủ Đức. Đùng một cái, cô trở thành ái nữ của Tổng thống Bokassa, rồi khi vị tổng thống này tham quyền cố vị, xóa bỏ nền Cộng hòa, tự xưng mình là hoàng đế, ở ngôi được 3 năm thì trong 3 năm đó, cô trở thành một vị công chúa. Nay, thời gian 43 năm đã trôi qua, thế sự đổi dời, những người liên quan hầu như đã hóa thành người thiên cổ, kể cả “Hoàng đế” Bokassa. Riêng cô gái nghèo tức cô “công chúa” Martine Bokassa hiện nay ra sao, cô còn sống hay đã chết? Mới đây, tờ báo Le Figaro của Pháp đã tìm hiểu và đăng rõ chi tiết ngọn ngành, xin mời quý bạn xem qua cho biết…
      I. Tiểu sử của Bokassa 
      Họ tên đầy đủ của Bokassa là Jean Bedel Bokassa, thuộc bộ tộc M’Baka ở Phi châu và sinh ngày 22-2-1921 tại làng Bobangui, cách thủ đô M’Baiki của nước Phi Châu Xích Đạo (Equatorial Africa) khoảng 80 cây số về phía bắc. Ông là con của một công nhân làm việc cho Công ty Lâm nghiệp Pháp. Năm 1927, cha của Bokassa bị bắt và bị kết án tử hình về tội phá rối trị an. Ít lâu sau, mẹ của cậu Bokassa cũng tự tử chết vì nghèo và tuyệt vọng. Thời điểm đó cậu bé đang học Tiểu học tại trường Sainte Jeane d’Arc ở M’Baiki, rồi tiếp theo là trường Trung học Saint Louis ở Bangui, do các tu viện Pháp tài trợ.
      Khi Thế Chiến thứ II bùng nổ, nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Bokassa gia nhập Lực lượng Nước Pháp Tự do, do De Gaulle lãnh đạo. Từ cấp bậc hạ sĩ, Bokassa được thăng hạ sĩ nhất khi tham gia chiến dịch giải phóng tỉnh Provence của Pháp, rồi được thăng trung sĩ và trung sĩ nhất khi sang Việt Nam tham chiến.
      Năm 1950, trung sĩ nhất Bokassa của binh chủng lính Lê dương (Légion étrangère, quân tình nguyện người nước ngoài của lục quân Pháp, do sĩ quan Pháp chỉ huy), đã từng được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh, lên tàu sang Việt Nam.
      Thời gian ở Việt Nam, Bokassa chung sống với cô Nguyễn Thị Huệ, sinh được một con gái, đặt tên theo họ mẹ là Nguyễn Thị Martine.
      Mười năm sau, năm 1960, nước Phi Châu Xích đạo (Equatorial Africa) giành được độc lập từ tay người Pháp. Vị tổng thống đầu tiên của quốc gia này là David Dacko – ngưới có họ hàng xa với Bokassa – quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Trung Phi (Central African Republic) rồi mời Bokassa đang ở bên Pháp về nắm quyền chỉ huy quân đội.
      Tháng 1 năm 1966, với lực lượng quân sĩ trong tay, Bokassa đảo chính, lật đổ David Dacko, tự phong mình là “Thống chế tổng tư lệnh quân đội” và lên làm tổng thống, vẫn giữ tên nước là Cộng hòa Trung Phi như cũ.
      Mười năm sau ngày đảo chánh (1976), Bokassa vốn rất độc tài, thừa thắng xông lên, muốn làm vua để được suốt đời cai trị cái xứ Trung Phi rộng gần gấp đôi Việt Nam (Trung Phi: 622.436 km2; Việt Nam: 326.000 km2) nhưng dân số chỉ có hơn 4 triệu người, rất nhiều mỏ kim cương, song các mỏ này do người Pháp khai thác và đóng thuế cho vị… tổng thống. Tháng 10 năm ấy (1976), “ngài” đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi (Central African Empire) và tự xưng Hoàng đế. Cuộc lễ lên ngôi của “ngài” rất lớn, cực kỳ tốn kém, trong khi dân chúng rất đói khổ, chúng ta sẽ nói sau.
      Trong 3 năm ngài làm vua, dân chúng bất mãn, những cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra, ngài đàn áp đẫm máu, giết hại hàng trăm sinh viên mặc dầu dân số trong nước lúc ấy chỉ có 4,3 triệu người. Ngài tàn ác tới độ tự mình đích thân giám sát cuộc hành quyết 100 sinh viên học sinh chỉ vì họ từ chối mua đồng phục do nhà máy của ngài sản xuất. Việc quá ư tàn nhẫn đó khiến chính phủ Pháp phải ủng hộ tổng thống cũ David Dacko đảo chánh, lật đổ ngai vàng của ngài. Cuộc đảo chánh thành công, ngày 20-9-1979, David Dacko lên làm tổng thống và lấy lại tên nước là Cộng hòa Trung Phi. “Hoàng đế” Bokassa phải bỏ chạy sang nước Cộng hòa Bờ Biển Ngà (Republic of lvory Coast), rồi sau đó sang Pháp, nơi ông có nhiều lâu đài nguy nga tráng lệ. Ông bị chính quyền mới của Tổng thống David Dacko kết án tử hình khiếm diện.
      Năm 1986, Bokassa trở lại Cộng hòa Trung Phi với hy vọng được hợp tác với chế độ trong nước, nhưng ông bị đưa ra tòa xét xử về tội phản quốc, giết người, và bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, chỉ 6 năm sau, với sự can thiệp của chính phủ Pháp, ông được thả.
      Những năm cuối đời, Bokassa sống ở Bangui – thủ đô của Cộng hòa Trung Phi. Ông chết ngày 3-11-1996 tại Bangui trong hoàn cảnh nghèo túng, không một đồng xu dính túi.
      Thói ham vàng và kim cương của Bokassa 
      Trong thời gian 3 năm làm “hoàng đế”, Bokassa có máu mê sưu tập vàng bạc, kim cương, đá quý. Trong số những đồ châu báu mà ông thu thập được, có 2 viên kim cương thô rất lớn nhưng chưa bao giờ ông đồng ý cho mài giũa.
      Để mua chuộc các chính khách trong đó có cả Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing (làm tổng thống từ 1974 tới 1981), ông đã dùng kim cương làm phương tiện hối lộ. Sau này, Bokassa tố cáo Tổng thông d’Estaing đã đứng đằng sau cuộc đảo chánh lật đổ ông và cuỗm mất “Hoàng hậu” Cathérine người da trắng rất đẹp của ông (?!).
      Để thể hiện quyền lực của mình, Bokassa đặt tên cho nhiều công trình ở thủ đô Bengui bằng tên mình. Ví dụ, Cung thể thao Jean Bedel Bokassa, Đại lộ Jean Bedel Bokassa, Đại học Tổng hợp Jean Bedel Bokassa v.v… Bên cạnh đó, Bokassa còn cho xây dựng nhiều dinh thự dùng cho tổng thống như Villa Kolongo, Villa Berengo, đồng thời làm chủ nhiều nhà hàng ăn uống, xưởng dệt, trại nuôi gia súc. Hai hãng hàng không dân sự và một hãng độc quyền buôn bán ngà voi cũng là của ông.
      Theo báo Le Figaro, Bokassa tự phong cho mình là “Đệ nhất nông dân” và “Đệ nhất thương gia” của Vương quốc Trung Phi.
      Những người từng có thời gian thân cận với Bokassa kể lại rằng, ông ta tự cho mình có quyền làm hoàng đế suốt đời, kiêm nhiệm Bộ trưởng Tư pháp, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Nội vụ và nhiều bộ khác. Nhà văn S.Th. thời gian đó là giám đốc cơ quan đối ngoại thuộc Bộ Nội vụ VNCH, có dịp sang Trung Phi và nhiều nước khác, kể rằng Bộ Quốc Phòng của Tổng thống Bokassa là mấy căn nhà tôn bé tí, còn nhỏ hơn một trại gia binh loại nhỏ của VNCH.
      doandu 1234
      Tại Pháp, Bokassa có nhiều bất động sản, như lâu đài Villemorant ở Saint Louls Chavanon, lâu đài Handicourt de La Cottenclère ở ngoại ô Paris, lâu đài Mezy sur Seine, lâu đài Nice và Nhà hàng khách sạn Le Montagne ở Romorantin. Và dĩ nhiên, là một người cường tráng, ông cũng có nhiều “động sản” khác gồm các bà vợ bé (tiếng của Bokassa dùng để gọi họ). Ví dụ vũ nữ Martine N’Douta, kẻ vẫn thường ganh tị với các bà vợ bé người Gabon, người Tunisie, người Pháp, người Đức, Bỉ, Lybie, Cameroon, Thụy Điển, Zaire, Trung Quốc v.v… Nhiều người trong số họ được các nhà lãnh đạo sở tại “tặng” cho Bokassa khi ông ta công du các quốc gia này, chẳng hạn bà vợ bé người Tàu là “quà tặng” của Tưởng Giới Thạch, lúc ấy là tổng thống Đài Loan. Tại Gabon, trong phái đoàn ra sân bay đón tiếp “Hoàng đế Bokassa”, ông đặc biệt chú ý đến một cô gái tên là Joelle. Bỏ qua mọi nghi thức ngoại giao, Bokassa dặn Joelle “đừng đi đâu hết” rồi tiến đến trước mặt Tổng thống Omar Bongo và nói: “Hồi nãy tôi đến với tư cách quốc khách, còn bây giờ tôi gặp anh với tư cách riêng để xin cưới một công dân của anh làm vợ”. Dù muốn dù không, Tổng thống Omar Bongo cũng phải đồng ý.
      Khi công du một quốc gia khác, Bokassa gặp cô vũ nữ tóc vàng Gabriela Brimba trong một vũ trường. Ngỏ lời cầu hôn nhưng bị cô từ chối, Bokassa bèn “nói nhỏ” với tổng thống nước này. Vậy là chỉ hơn một tháng sau, Gabriela Brimba được đưa tới Bangui rồi được Bokassa đổi tên thành Martine N’Douta hay ghen tị như chúng ta đã nói bên trên. Sau khi chế độ của Bokassa ở Vương quốc Trung Phi sụp đổ, Brimba trở về cố quốc, bỏ lại đứa con gái tên là Anne de Berengo cho Bokassa nuôi.
      Trường hợp cô Nguyễn Thị Huệ ở Việt Nam cũng không ngoại lệ. Năm 1953, nhà nghèo, đi gánh nước mướn khổ quá, Nguyễn Thị Huệ gặp anh chàng trung sĩ nhất “tây đen” Lê dương Bokassa. Bokassa mê cô, luôn luôn tặng quà rồi ngỏ lời cầu hôn. Cô Huệ đồng ý. Gia đình cô tuy nghèo nhưng sợ mang tiếng nên cấm đoán, Bokassa xúi cô (tất nhiên bằng tay vì cô không biết tiếng Pháp) bỏ trốn sang Tân Thuận Đông, gần doanh trại của mình, thuê cho cô một căn nhà nhỏ nền đất, lợp lá. Khi cô Huệ có thai thì cũng là lúc Bokassa và cánh quân Lê dương được lệnh lên tàu về Pháp. Cô Huệ khóc hết nước mắt. Bokassa cũng khóc. Anh ta móc bóp, có bao nhiêu tiền đưa cả cho vợ rồi dặn sau này nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, nếu con trai thì đặt tên là Martin, hễ có điều kiện anh ta sẽ trở lại Việt Nam tìm vợ con. Như vậy Bokassa cũng là người có tình nghĩa.
      Bokassa về Pháp xong, ít lâu sau cô Huệ sinh đứa con gái. Do sống với Bokassa không có hôn thú, không thể làm giấy khai sinh cho con theo họ “chồng” nên theo lời dặn của Bokassa, cô đặt tên con là Nguyễn Thị Martine theo họ của mình. Đứa bé sinh ra, không đen giống cha, không trắng giống mẹ (cô Huệ có nước da trắng, có thể gọi là xinh xắn nên Bokassa mới mê như thế) mà có nước da nhờ nhờ trung gian giữa đen và trắng. Cô Huệ hết tiền, lại có con nhỏ, không thuê nổi nhà nên bèn bế con về ở với mẹ. Bà mẹ rất mừng vì dù sao bà cũng rất thương con.
      Mười chín năm sau, tức năm 1972, sau khi Bokassa đã lên làm tổng thống, ông chợt nhớ tới người vợ cũ bụng mang dạ chửa ngày trước ở Việt Nam, nên bèn nhờ Bộ Ngoại giao Pháp liên lạc với Bộ Ngoại giao VNCH tìm kiếm giùm. Lúc này, cô gái lai da đen Martine vì nghèo và ít học nên phải làm công nhân khuân vác xi-măng tại Nhà máy Xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức. Các nhân viên Ngoại giao Việt Nam không biết tìm kiếm cô ở đâu, bèn bàn nhau đánh lừa, đem một cô gái lai da đen khác cũng 19 tuổi tên là Baxi, nhà ở Xóm Gà Gia định (chỗ gần rạp hát Đông Nhì gần tới chợ Gò Vấp) thay thế, đưa sang Trung Phi giả làm con gái của Bokassa. Tổng thống Bokassa mừng rỡ, tổ chức một cuộc lễ rất lớn để giới thiệu con gái mình với bàn dân thiên hạ. Câu chuyện lừa dối… tầm cỡ quốc tế này rất phức tạp, nhờ có nhà báo Việt Định Phương chủ nhiệm nhật báo Trắng Đen khám phá ra, tìm thấy cô Martine Nguyễn “thật” đang làm công nhân, suốt ngày oằn lưng khuân vác các bao xi-măng giống như đàn ông, nên liên lạc với Tổng thống Bokassa rồi cùng với vợ đích thân đưa cả bà Huệ lẫn cô Martine Nguyễn sang Trung Phi. Tổng thống Bokassa tiếp đón vợ chồng nhà báo Việt Định Phương như bậc thượng khách. Chúng ta sẽ theo dõi câu chuyện này trong phần II nói về cô Martine Nguyễn và xem đời sống của cô hiện nay ra sao. Bây giờ tiếp tục về chuyện vị tổng thống “trung sĩ nhất Lê dương” Bokassa.
      Sau một thập niên làm tổng thống cai trị nước Cộng hòa Trung Phi nghèo khổ rồi tự mình lên làm hoàng đế, Bokassa tổ chức lễ lên ngôi rất lớn, lấy danh hiệu là “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất”. Tuy nhiên, đa số các quốc gia đồng minh lân cận đều nghèo nên chẳng ai gửi quà mừng. Chỉ có nước Pháp (do đang khai thác các mỏ kim cương tại Trung Phi) tặng 22 triệu frăng để giúp Bokassa mua sắc phục cho hàng ngàn quan khách, một chiếc ngai vàng cao 1,5 mét, rộng 1 mét, làm theo kiểu Napoléon, nạm vàng; 8 con ngựa trắng, một mũ triều thiên nạm kim cương do nhà kim hoàn nổi tiếng bên Pháp là Arthus Bertrana thực hiện với những viên kim cương mà có viên lên tới 8 carats. Ngoài ra, còn có 2 bức chân dung “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất” vẽ bởi họa sĩ danh tiếng Đức Hans Linus. Hơn 24.000 chai rượu vang cao cấp Moet et Chandon và 4.000 chai rượu vang siêu hạng Château Mouton Rothschild được mua về phục vụ thực khách, cùng 60 chiếc Mercedes mang từ Tây Đức sang.
      doandu 1232
      Trước sư lạnh nhạt của các nước đồng minh lân cận, Bokassa rất buồn bực trong lòng về số lượng nguyên thủ quốc gia đến tham dự. Khác với lễ đăng quang của Vua Haile Selassie xứ láng giềng Ethiopia hồi năm 1930 với hầu như toàn bộ các vua chúa, tổng thống, bộ trưởng các nước thân hữu đều hiện diện. Còn lễ đăng quang của “Bokassa Đệ nhất” chỉ có tướng Franco, Tây Ban Nha; Hoàng đế Hirohito, Nhật Bản; Vua Shah Reza Pahlavi, lran; Vua ldi Amin xứ Uganda; và Tổng thống Mobutu Sese Seko xứ Zaire tham dự.
      Ngay cả “ông bạn thân” Omar Bongo, người đã từng tặng cô gái đẹp Joelle cho Bokassa, cũng vắng mặt. Bokassa cho rằng những người bạn này không đến vì họ ghen tị với ông.
      Đau nhất là ông bị Tòa thánh Vatican từ chối không cho làm lễ đăng quang ở nhà thờ chính tòa Bangui.
      Sau cuộc đảo chính của “tổng thống cũ” David Dacko lật đổ Bokassa diễn ra vào ngày 20-9-1979, phần lớn các tài sản của Bokassa đều bị tích thâu. Nhiều nước từ chối cho ông tị nạn. Chỉ có tổng thống nước Bờ Biển Ngà là Felix Boigny chịu chứa chấp ông vì áp lực của Pháp. Ít lâu sau, Bokassa sang Pháp.
      Năm 1985, Bokassa làm lễ kỷ niệm 20 năm cầm quyền tại lâu đài Handricourt ở phía tây thủ đô Paris, nhưng chỉ có ông và những đứa con.
      Không có tiền mua thức ăn nuôi 15 đứa con – mỗi đứa một mẹ – khiến Bokassa than trời như bọng. Có lúc bí quá, ông làm đơn xin chính phủ Pháp tiền trợ cấp thời gian 6 tháng nằm điều trị vết thương tại một quân y viện ở Sài Gòn hồi thập niên 1950. May thay, mấy tháng sau khi nộp đơn, Bokassa được tòa án cao cấp Pháp trả lại chiếc xe hơi Corvette và một máy bay trị giá 6 triệu frăng. Lập tức, Bokassa rao bán để lấy tiền trở về Trung Phi.
      Trước khi về, Bokassa viết thư cho Tổng thống Pháp là Francois Mitterand, tự nhận mình là “công dân tự do”, trở về Cộng hòa Trung Phi để phục vụ đất nước nếu được mời hợp tác.
      Lúc xuống sân bay Bangui, Bokassa định đọc một bài diễn văn xác định mình vẫn còn là “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất” thì bị bắt giữ. Tám tháng sau, tòa án Cộng hòa Trung Phi tuyên án ông bị tử hình. Nhưng do sự can thiệp của chính phủ Pháp, án được giảm xuống còn tù chung thân, rồi 6 năm sau, Pháp can thiệp tiếp, ông được thả.
      Bokassa chết ngày 3-11-1996 trong sự nghèo khó và thọ 75 tuổi. Tổng cộng ông có 13 người vợ, 34 người con.
      II. Chuyện cô “công chúa” Trung Phi Martine “thật”
      Tổng thống Bokassa tìm con
      Vào năm 1972, Jean Bedel Bokassa, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giùm đứa con rơi, kết quả của mối tình giữa ông thời đi lính Lê dương tham chiến tại Việt Nam với một cô gái ở Sài Gòn, mà bây giờ 19 năm đã trôi qua, vốn không biết tiếng Việt, ông không còn nhớ nhà cha mẹ cô ở đâu.
      Những nhân viên có trách nhiệm thuộc Bộ Ngoại giao VNCH lúc ấy tìm kiếm không thấy mà cũng không có căn cứ gì để tìm kiếm. Cuối cùng, bí quá, họ bảo nhau đánh lừa, kiếm được một cô gái cũng lai da đen và cũng cùng 19 tuổi tên Baxi, con của bà Nguyễn Thị Thân, thường gọi la bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia Định, giao cho Bộ Ngoại giao Pháp đưa sang Trung Phi. Nhưng vì sợ lộ, họ không dám cho bà Ba Thân đi theo. Tổng thống Bokassa tổ chức một tiệc mừng rất lớn để đón tiếp giọt máu rơi.
      Tin tức về việc Tổng thống Bokassa tìm được đứa con rơi được báo chí Sài Gòn đưa tin trang trọng. Ngay lập tức, có một người khách tới tòa soạn báo Trắng Đen xin gặp ông chủ nhiệm Việt Định Phương. Người khách tự giới thiệu mình là cậu ruột của cô gái lai da đen tên Nguyễn Thị Martine – đứa con đích thực của vị tổng thống Trung Phi. Bằng sự nhạy bén trong nghề làm báo, ông chủ nhiệm Việt Định Phương phân công một dàn phóng viên hùng hậu vào cuộc. Câu chuyện tình yêu của anh lính lê dương Bokassa và cô thôn nữ Nguyễn Thị Huệ được các phóng viên thể hiện thành bài điều tra nhiều kỳ liên tiếp trên báo. Số lượng phát hành của tờ Trắng Đen tăng lên vùn vụt tới 80.000 số/ngày, trở thành tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất Sài Gòn.
      Chuyện tình anh lính lê dương
      Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, lúc nước Trung Phi còn là thuộc địa của Pháp. Bokassa trong đội quân lê dương có mặt tại nhiều quốc gia trước khi đến Việt Nam vào năm 1953, lúc ấy ông 32 tuổi, mang lon trung sĩ nhất và đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Có thời gian Bokassa được tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành). Hồi đó, những làng mạc xa xôi hẻo lánh, người dân rất sợ các toán quân “Tây đen”, phụ nữ không may gặp họ trên đường họ hành quân là coi như hết thời.
      Nhưng ngay giữa thành phố hay những nơi thị tứ đông đúc thì dân chúng không sợ đám lính đánh thuê này. Những ông lính “Tây đen” có nhiệm vụ canh gác cầu Gành tại Cù lao Phố không dám giở thói côn đồ mà ngược lại, lại có vẻ hiền từ. Bokassa là người hiền nhất trong đám lính gác cầu. Hồi đó, ở gần cầu Gành có một cái máy nước công cộng để dân chúng trong vùng đến hứng, gánh về dùng. Trong xóm gần cầu có cô gái nghèo tên là Nguyễn Thị Huệ, chuyên gánh nước mướn cho các gia đình, hết sức cực nhọc mặc dầu cô rất xinh xắn.
      Sau giờ gác cầu, Bokassa thường la cà đến bên chiếc phông-tên nước công cộng đó để tán gái theo bản năng đàn ông. Các phụ nữ khác thấy Bokassa tới thì trốn biệt không dám đến gần. Lúc đầu, cô Huệ cũng trốn, nhưng sau đó vì chén cơm manh áo, cô đành liều, cứ đến gánh nước. Anh lính lê dương không làm gì cả, đã vậy lại còn giúp cô hứng nước và tập tành nói tiếng Việt nghe rất tức cười.
      Dần dà, những cử chỉ ngô nghê, vụng về của anh lính da đen làm cho cô Huệ thấy có cảm tình. Rồi cô dạy cho Bokassa nói tiếng Việt. Cô không còn cảm thấy ngại ngùng mỗi khi đối diện với anh lính Phi châu này nữa, mà những lúc nghỉ ngơi cô còn có ý muốn gặp anh. Lương của lính Pháp tương đối rất khá, Bokassa cũng biết cách lấy lòng phụ nữ, lúc thì anh mua tặng cô xấp vải, chiếc khăn, lúc thì chai dầu thơm, có khi anh còn cho cô cả tiền nữa, những số tiền này cô phải gánh nước oằn lưng cả tuần mới có thể có được. Hai bên dần dần yêu nhau, những ngày cuối tuần Bokassa rủ cô Huệ về Sài Gòn chơi…
      Kết quả của mối tình Phi-Việt đó là cô Huệ mang thai. Ngày ấy con gái chửa hoang là một điều hết sức nhục nhã, nhất là lại có chửa với một gã lính da đen. Cha cô không chịu nổi lời đàm tiếu, đánh cô một trận rồi bỏ nhà ra đi. Mẹ cô nước mắt lưng tròng, phần thì thương con, phần cũng giận con. Bà nói: “Đấy, mày muốn tính sao thì tính, đi đâu thì đi, đừng làm cho tao thêm nhục…”.
      Bokassa đưa người tình về Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, nơi đơn vị anh đóng quân gần cầu Tân Thuận. Anh thuê nhà cho người yêu ở. Hai người sống với nhau như vợ chồng.
      Tình nghĩa đang mặn nồng thì đơn vị của Bokassa được lệnh về Pháp. Anh trao tất cả số tiền dành dụm được cho vợ và dặn ít nữa nếu sinh con trai thì đặt tên là Martin, nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, sau này nếu có dịp anh sẽ sang Việt Nam tìm hai mẹ con. Cô Huệ khóc hết nước mắt…
      Cô “công chúa” bốc vác
      Sau cuộc chia tay, Huệ sống lủi thủi một mình trong căn nhà thuê. Rồi cô sinh đứa con gái và đặt tên là Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, vì không có giấy hôn thú nên không thể khai sinh theo họ cha. Số tiền Bokassa để lại cũng không còn được bao nhiêu. Hết tiền, lại có con nhỏ, đời sống hết sức túng quẫn, cô quyết định bế con về sống với mẹ ở Cù lao Phố như cũ. Bà mẹ rất mừng vì bà vẫn thương con. Lúc này người cha cũng đã trở về từ lâu. Ông đã già, không còn khó tánh như trước nhưng nhà quá nghèo nên không lấy gì giúp đỡ cho con được…
      Thời gian này hoàn cảnh hai mẹ con cô Huệ hết sức bi đát. Cô phải thức khuya dậy sớm, làm đủ mọi việc để có tiền nuôi con. Nơi ăn ở cho bé Martine hoàn toàn không ổn định. Cô đi làm ở đâu thì đem con đi theo, khi về Gia Định, lúc xuống Thủ Đức. Có lần cô phải bồng Martine xuống Sa Đéc ở nhờ nhà người bà con để làm ruộng. Cuối cùng cô về chợ Nhỏ, Thủ Đức, sinh sống bằng nghề buôn bán rau cỏ lặt vặt.
      Martine lớn lên. Mặc cảm về vấn đề “con lai”, nước da nhờ nhờ, cặp môi dầy, mái tóc xoăn tít… khác với mọi đứa trẻ khác khiến cô bé trở thành ít nói, không dám cởi mở với ai. Cô làm đủ thứ việc để phụ giúp mẹ – từ bán báo, bán đậu phọng rang đến bán bánh mì, trà đá v.v…, dù vất vả thế nào cô cũng cố gắng chịu đựng. Nói chung, Martine là một đứa trẻ ngoan ngoãn.
      Năm 1971, Martine 18 tuổi, cô xin vào làm công nhân khuân vác xi-măng trong Nhà máy xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức. Ngay đến đàn ông suốt ngày còng lưng vác bao xi-măng nặng 50 ký còn thấy nặng nhọc huống chi một cô gái mới 18 tuổi. Cuối năm 1972, một hôm, trong khi đang vác bao xi-măng, Martine thấy người cậu ruột đến tìm và ông nói: “Cháu xin phép về ngay có công chuyện. Có mấy ông nhà báo muốn gặp để hỏi gì đó. Mấy ổng định can thiệp cho cháu được gặp cha cháu…”.
      III. Tổng thống Bokassa nhận con
      Việc chuyển hồ sơ Martine qua cho tổng thống Trung Phi được đặc phái viên Trắng Đen ở Paris thực hiện.
      Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa công nhận rằng chính ông và bà Huệ là người trong hình. Thế là hai công điện được gửi cho chính phủ VNCH (dưới quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) và báo Trắng Đen. Đại diện của tổng thống Trung Phi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang đất nước của cha. Chính quyền và Bộ Ngoai giao VNCH bị “hóc xương” vì chuyện đã lừa dối, đưa cô “con lai” khác sang. Nhật báo Trắng Đen thành công vang dội.
      Phái đoàn đưa Martine qua Trung Phi
      Một đại diện cao cấp khác của Cộng hòa Trung Phi sang Việt Nam hướng dẫn phái đoàn đưa Martine qua gặp cha. Phái đoàn gồm 5 người: Vợ chồng ông bà Việt Định Phương chủ nhiệm báo Trắng Đen, bà Nguyễn Thị Huệ, cô Martine, và một tùy viên sứ quán Pháp vừa đại diện cho Bộ Ngoại giao Pháp vừa làm thông dịch viên.
      Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn báo Trắng Đen như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ. Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì bà đã có chồng khác. Riêng cô Baxi thì được ông nhận làm con nuôi.
      Sau khi về nước, bà Huệ được Tổng thống Bokassa trợ cấp mỗi tháng 200,000$, lãnh tại Pháp Á ngân hàng Sài Gòn. Số tiền nầy tương đương với khoảng 5 lượng vàng vào thời đó.
      Mở hội kén rể và tổ chức đám cưới tập thể
      Năm sau, 1973, Tổng thống Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái ruột là Martine và con gái nuôi là Baxi. Buổi lễ được tổ chức long trọng tại dinh thự quốc gia, với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan chính phủ. Hàng trăm thanh niên Trung Phi ghi tên tham dự.
      Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxi. Sau đó, một đám cưới được tổ chức linh đình cũng tại dinh thự quốc gia.
      Martine Bokassa sanh được 3 con: con trai tên Jean-Barthélémy Bokassa Dévéavode (thường được gọi tắt là JBB), hai con gái tên Marie Catherine Bokassa Dévéavode và Marie-Jeanne Bokassa Dévéavode.
      doandu 1231
      Baxi cũng sanh được một con trai nhưng bị chính bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chích thuốc độc chết sau khi ra đời mới hai tuần lễ.
      IV. Số phận của hai “công chúa” Trung Phi
      Số phận của Baxi
      Người biết rõ Baxi không phải là con của Bokassa chính là bà Ba Thân ở Xóm Gà Gia Định, vì bà không có liên quan gì với Bokassa. Baxi chỉ là con mồi được các nhân viên Bộ Ngoại giao lúc đó đưa ra để gỡ thế bí. Tuy nhiên, từ một đứa con lai thuộc một gia đình nghèo khó, cô được Tổng thống Bokassa nhận làm con nuôi rồi cũng trở thành một công chúa, sống trong cảnh giàu sang được một thời gian sau đó số phận hết sức bi đát.
      Năm 1976, chồng của Baxi là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung nhưng lại âm mưu lật đổ Bokassa và bị Bokassa xử tử.
      Ngày chồng chết cũng là ngày Baxi sanh một đứa con trai, nhưng hai tuần sau, đứa bé bị bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chồng của Martine Bokassa giết chết theo lệnh của Bokassa, bằng cách chích một mũi thuốc độc.
      Đúng một năm sau ngày chồng bị xử tử, Baxi được Bokassa cho phép trở về Việt Nam, nhưng vì có tiền mang theo nên cô bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết để cướp của và giấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Cô hưởng vinh hoa phú quý được khoảng 7 năm.
      Số phận của Martine Bokassa
      Ngày 21-9-1979, Pháp giật dây cho David Dakco tổ chức lật đổ “Hoàng Đế Bokassa Đệ nhất” và buộc ông phải sống lưu vong tại Côte d’Ivoire (Ivory Coast theo tiếng Anh). Chồng của Martine tức bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode bị David Dakco ra lệnh xử tử về tội đã “theo đuôi” Bokassa, giết chết con của “người anh hùng” chống Bokassa là đại úy Fidel Obrou, chồng của Baxi, và thuộc gia đình có nhiều tội ác. Martine và 3 đứa con trốn thoát qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ mẹ của Martine ở bên Việt Nam sau này được Martine bảo lãnh sang Pháp sống với con và các cháu.
      Martine thấy cái họ Dévéavode của chồng “xui xẻo” quá nên xin đổi tên mới là Martine Kota. Hiện nay cô làm chủ hai nhà hàng rất lớn, một ở Paris và một ở đảo Corse (do người con gái lớn đã lấy chồng ở đấy trông coi).
      Con trai của Martine tên là Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30-8-1974 tại Bangui, hiện đang sống tại Pháp. Anh ta biết nói tiếng Việt và viết cuốn sách tiếng Anh có tựa đề là The Diamonds of Treasons (Những viên kim cương của sự phản bội) kể về những tính nết tốt của ông ngoại nhưng bị nước Pháp phản bội.
      Đoàn Dự ghi chép
      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Nhân Sinh Tiền Tiến Tứ Bộ .


      4 bai hoc

      - Đọc xong bốn bài viết dưới đây, chúng ta sẽ phải suy nghĩ, có phải là mình đã có quá nhiều lỗi lầm trong quá khứ? có phải là mình đã quá chủ quan? Với bốn bài viết này, chúng ta sẽ thấy rõ ngay trong lòng mình, cái đời người của mình sẽ được tiến về phía trước qua bốn bước.
      1- NGỘ NHẬN  (hiểu lầm)
      Năm đó tại Alaska Hiệp Chúng Quốc, có đôi trai gái kết hôn với nhau. Kết quả của cuộc hôn nhân đó là vấn đề sinh dưỡng, người đàn bà vì bị khó sanh mà phải từ biệt cõi đời, để lại một đứa bé thơ cho người chồng.  Anh chồng vừa rất bận rộn  sinh kế, lại vừa rất bận rộn việc gia đình.  Vì không có người giúp trông coi đứa con thơ, anh huấn luyện được một con chó, con chó này rất thông minh, lại rất ngoan ngoản nghe lời, nó biết trông coi em bé, nó tha bình sữa để cho bé bú, nuôi dưỡng bé.  Có một ngày kia, người chủ có việc phải rời nhà, anh dặn dò con chó trông coi nuôi nấng cho bé con.  Anh đi tới một thôn làng khác, vì gặp phải tuyết lớn rơi, không thể về nhà được trong cùng ngày đó.  Qua đến ngày thứ hai mới về được nhà, con chó nghe tiếng lập tức chạy ra nghênh đón chủ mình.
      Người chủ mở cửa phòng ra xem thì thấy đâu đâu cũng đều là máu, ngẩng đầu  nhìn lên trên giường cũng là máu, chẳng thấy đứa con đâu cả, mà thấy trên thân mình con chó và miệng của nó cũng dính đầy máu me, người chủ phát hiện cái tình cảnh này, ngỡ là con chó đã trở lại cái tính dã man của loài thú, và nó đã ăn thịt con mình. Trong cơn giận dữ, anh xách con dao to lớn và chặt đầu con chó đi, anh đã giết chết con chó thật sự rồi.
      Sau đó, bỗng nhiên anh nghe có tiếng con nhỏ của mình, lại thấy nó từ dưới gầm giường bò ra, thế là anh bồng đứa bé lên, tuy là trên mình em cũng có dính máu, nhưng em không có bị thương tích gì.  Anh rất lấy làm lạ, chẳng biết việc gì đã xảy ra, anh nhìn kỹ lại con chó, thấy đùi của nó đã bị mất một mảng thịt, còn kế bên là một con chó sói, miệng nó đang gậm miếng thịt của con chó.
      À, thì ra con chó nhà đã cứu tiểu chủ nhân, lại bị chủ nó giết nó một cách tàn nhẫn dã man, oan uổng, đây đã là một sự ngộ nhận (hiểu lầm) hết sức là đau lòng của con người.
      Ghi chú : Việc hiểu lầm, con người ta thường vì không hiểu nhau, không có lý trí, không chịu nhẫn nại, khiếm khuyết về suy nghĩ, không chịu tìm hiểu đối phương từ nhiều phương diện, để phản tỉnh chính mình,lại vì não trạng bị quá xung động trong tình huống vô ý thức mà phát sinh.  Sự ngộ nhận ở điểm khởi đầu là cứ nghĩ đến cái sai cái quấy ngàn lần vạn lần của đối phương.  Vì vậy, đã làm cho sự ngộ nhận càng lúc càng thêm sâu đậm đưa đến việc không thể hóa giải được.  Con người phát sinh sự ngộ nhận đối với loài vật mà đã có cái hậu quả ghê gớm, nghiêm trọng như vậy; nếu đây là sự ngộ nhận giữa con người và con người, chắc chắn là khó mà tưởng tượng nổi hậu quả, có khi trở ngược hại chính mình.
      2.  ĐINH TỬ (Cây đinh)
      Có một cậu bé trai có tật xấu là ưa nổi nóng quạu quọ, vì vậy, cha cậu đã đưa một túi đinh, bảo cậu mỗi khi nổi nóng quạu quọ thì hãy đóng một cây đinh lên trên bờ rào phía sau vườn nhà.  Ngày thứ nhứt, cậu đóng được 37 cây đinh. Từ từ, mỗi ngày số đinh được đóng lên bờ rào mỗi ít đi.  Cậu cũng nhận thấy mình đã khống chế phần nào tật xấu, cũng như cái việc đóng những cây đinh có hơi dễ dàng.
      Cuối cùng, có một ngày kia cậu bé này cũng thấy là mình vẫn đủ nhẫn nại để không nổi lên cái tật xấu nóng nảy quạu quọ nữa, bèn báo cho cha nó biết việc này.
      Cha cậu lại bảo, bắt đầu từ nay, mỗi khi khống chế được tật xấu thì hãy nhổ bỏ một cây đinh.  Ngày ngày trôi qua, sau cùng cậu báo cho cha hay là đã nhổ hết những cây đinh rồi.  Người cha nắm tay con trai, cùng đi ra sau vườn nhà và nói rằng: Con của cha, con ngoan lắm, con làm rất hay.  Nhưng  hãy nhìn những lỗ đinh trên bờ rào: bờ rào này không thể hồi phục được nguyên trạng nữa.  Một khi con nổi nóng thì những lời nói của con cũng giống như những cái lỗ đinh này, chúng đã để lại những vết hằn.  Giả dụ như con dùng dao đâm người ta một dao, thì bất luận là con đã nói bao nhiên lần những lời tạ lỗi,  vết thương đó vẫn sẽ vĩnh viễn còn đó.
      Những lời nói (xóc óc) nhức nhối cũng ví như sự nhức nhối thực tại, không làm sao chấp nhận được (dù đó chỉ là lời nói).
      Ghi chú: Giữa người và người với nhau, thường do cố chấp bởi những lỗi lầm giữa đôi bên, đã tạo nên  những thương tổn vĩnh viễn cho nhau.
      Nếu mọi người trong chúng ta đều có thể tự mình làm, bắt đầu có thái độ khoan dung đối với  mọi người, bạn nhất định sẽ nhận được những kết quả tốt mà bạn không hề nghĩ tới… Giúp mở cánh cửa sổ cho người ta, cũng là để cho chính mình nhìn thấy được một không gian hoàn chỉnh hơn.
      3.  THẢ MẠN HẠ THỦ  (Xin hãy chậm xuống tay)
      Đại đa số các cộng sự viên đều rất phấn khởi vì khu làm việc này vừa đổi lại một viên quản đốc mới, nghe nói ông này rất có khả năng, đặc biệt được đưa đến đây để chỉnh đốn nghiệp vụ và nhân sự.  Ấy thế mà, cứ một ngày rồi một ngày trôi qua,ông quản đốc mới này chẳng làm gì hết, mỗi ngày đều có những quà cáp được đưa vào văn phòng, ông vẫn “trốn” luôn trong đó, ít khi nào chịu ra ngoài, cái thành phần bất hảo ở khu này càng lộng hành tác oai tác quái dữ hơn.
      “Ông ta đâu có phải là người có khả năng! Ông chỉ là một lão già tốt và nhu nhược, so với quản đốc trước còn dễ bị người ta ăn hiếp nhiều hơn” !
      Bốn tháng trời trôi qua, các cộng sự viên đang trong tình trạng thất vọng đối với ông quản đốc hiền hòa mềm yếu này.
      Một ngày kia, bỗng dưng ông ta “diễn oai” đối với cái thành phần bất hảo kia, dần dần đều bị ông bứng từng tên một, cho về vườn “đuổi gà”, còn những người có khả năng đều được ông cất nhắc cho thăng tiến.  Xuống tay vừa nhanh, vừa chính xác, đối với bốn tháng “bảo thủ” đã biểu hiện vừa qua, nay ông rõ ràng là một nhân vật cứng rắn và cương quyết, hoàn toàn khác xưa.
      Trong tiệc liên hoan cuối năm, sau khi đã qua ba tuần rượu, ông quản đốc mới bèn thố lộ tâm tình :
      “Tôi nghĩ là cái nhìn của các bạn đối với tôi trong những ngày vừa mới nhậm chức và sau khi tôi khai đao múa búa trừ hại, nhất định là có những thắc mắc phải không?  Xin hãy nghe tôi kể lại một câu chuyện, các bạn sẽ hiểu ngay:
      “Tôi có một người bạn, ông ta mua một căn nhà có cả một vườn cây hoa thảo, khi mới dọn vào, ông ta liền chỉnh đốn, tất cả những hoa thảo cây cối, đều được làm sạch hết, để trồng lại những bông hoa mới.  Có một ngày kia, người chủ nhà cũ đến thăm, mới vừa bước vào cổng, ông giựt mình hỏi rằng:
      “Những cây hoa quý Mẫu Đơn giờ đâu mất hết rồi”?
      Bạn tôi bấy giờ mới hiểu ra là chính mình đã triệt hạ hết những cây Mẫu Đơn quý mà mình tưởng chúng là những hoa rừng cỏ dại.  Sau này, ông ta lại mua thêm một căn nhà nữa, tuy là vườn cây hoa cỏ tạp nhạp, ông vẫn “án binh bất động”.  Quả nhiên trong mùa Đông cứ ngỡ là những cây rừng cỏ dại thì mùa Xuân lại nở hoa dầy đặc xinh tươi, trong những ngày Xuân ngỡ là cỏ dại thì mùa Hạ lại hiện ra những tấm thảm gấm hoa tươi mát và trong nửa năm chẳng động tịnh gì đến những loài cây nho nhỏ thì những ngày Thu đã đỏ hồng những chiếc lá dễ thương.  Mãi cho đến cuối Thu, ông mới thực sự thấy được những loài cây cỏ vô dụng và bắt đầu dọn dẹp sạch sẽ, đồng thời giữ lại những loài hoa thảo mộc thật sự trân quý. Nói đến đây, ông quản đốc bèn nâng ly :
      “Xin cho tôi kính tửu các vị ở đây vì các vị cũng như là những hoa mộc ở trong “vườn hoa” công ty này, các bạn đã là những cây trân quý trong đó, những cây trân quý này không thể nào trong năm mà có thể đơm bông kết trái hết được, cần phải trải qua một thời gian dài mới có thể nhận ra được. “
      4.  KHOAN DUNG (Đại lượng bao dung)
      Đây là một câu chuyện về một anh chiến binh, người vừa trở về từ chiến trường Việt Nam . Từ San Francisco, anh điện thoại về cho cha mẹ anh và báo tin rằng:
      “Con đã về rồi, con xin có một thỉnh cầu.  Con muốn dắt theo một người bạn đồng hành cùng về nhà mình”.
      “Dĩ nhiên là được”!
      Ba má anh đáp,
      “Ba má rất vui mừng được gặp bạn con”.
      Người con lại tiếp tục
      “Nhưng có một việc con cần phải thưa trước cho ba má rõ, bạn con đã bị thương từ chiến trường Việt Nam, bị mất đi một cánh tay và một cái chân, hiện tại bạn con chẳng có nơi để nương tựa, con muốn đem bạn về cùng sinh hoạt chung với gia đình mình”. ”Con ơi, thật là điều đáng tiếc, có thể chúng ta giúp tìm một nơi cho nó được an thân sinh sống”.
      Cha anh lại nói tiếp
      “Con ạ, chắc con chẳng biết là con đang nói gì phải không? Như bạn của con là một người tàn phế, hẳn là chúng ta phải mang một gánh nặng trách nhiệm lớn đó con.  Chúng ta lại phải đối diện với những khó khăn trong cuộc sống của chính mình trong tương lai, không thể vì nó mà làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của gia đình mình.  Ba đề nghị với con là hãy về nhà trước và hãy quên người bạn đó đi, tự nó nhứt định cũng sẽ tìm được một nơi dung thân mà con”.
      Nói xong ông liền cúp điện thoại, từ đó hai ông bà không nhận được tin tức gì từ người con nữa. Vài ngày sau, hai ông bà nhận được điện thoại của cảnh sát San Francisco báo cho hay là, con trai ông đã té lầu chêt rồi.  Cảnh sát tin rằng đây chỉ là chuyện đơn thuần tự sát mà thôi. Thế là hai ông bà gấp rút bay qua San Francisco, nhờ cảnh sát đưa đi nhận diện di thể của con mình.  Đúng rồi, chính là con mình đây, không sai, điều hết sức ngạc nhiên ở đây là con trai của mình, tại sao lại chỉ có một cánh tay, và cũng chỉ có một cái chân mà thôi.
      Cha mẹ trong câu chuyện này cũng như trong đại đa số chúng ta hầu hết đều giống nhau.  Cùng với những người, với sự ưa thích về diện mạo xinh đẹp, hoặc giả là nói năng duyên dáng và dí dỏm, thì lại có thể chấp nhận quá dễ dàng, thế nhưng để ưa thích những sự việc mà có thể gây bất tiện, hoặc là làm cho chúng ta không vui thì lại rõ ràng là một điều khó lòng mà chấp nhận được.
      Chúng ta thường là chấp nhận sự kiên trì, xa lánh những người không có được sự khỏe mạnh, tốt tướng hoặc thông minh như chúng ta. Tuy nhiên cũng có một số người thì lại nhân từ hơn chúng ta rất nhiều. Họ không bao giờ oán than hay hối tiếc khi họ thương yêu chúng ta, cho dù là chúng ta bị tàn phế ở mức độ nào đi chăng nữa, họ vẫn mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta.
      Đêm nay trước khi vào giấc ngủ, ta hãy thử tiếp nạp tha nhân, bất luận họ là những con người như thế nào, hãy dùng cái tâm để hiểu dùm cho giữa những khác biệt của họ và của ta.  Mỗi một con người đều có tàng ẩn trong tâm một món đồ quý giá thần kỳ, đó là “Tình Bạn”. Bạn không thể nào biết được Tình Bạn đó sẽ phát sinh bằng cách nào, và vào lúc nào, nhưng bạn chắc chắn phải biết rằng Tình Bạn sẽ mang đến cho chúng ta một món quà rất đặc biệt trân quý.
      Bạn hiền có thể ví như là một bảo vật quý hiếm.  Bảo vật này mang lại cho chúng ta những nụ cười, khích lệ chúng ta thành công.  Họ (bạn hiền) lắng nghe tiếng nói từ nội tâm của chúng ta, cùng chúng ta chia sẻ từng câu khen tặng tốt đẹp hay lời chê bai chỉ trích xác đáng ..  Trái tim của họ lúc nào cũng vì chúng ta mà rộng mở. Bây giờ xin hãy nói với bạn bè của bạn là, bạn đã có rất nhiều ưu tư, và rất cần đến họ, bạn không thể thiếu họ được.
      Vậy thì,  trước khi có một sự phán đoán hoặc quyết định đối với bất cứ người nào,
      Đầu tiên, hãy nghĩ xem, đây có thể là một sự
      “Ngộ Nhận”  (hiểu lầm hoặc sai lầm)?
      Kế đó là, ta có cần phải đóng một cây đinh
      “Đinh Tử”?
      Và nếu có thể thì, xin hãy chậm xuống tay
      “Thả Mạn Hạ Thủ”,
      Bởi vì, lúc mà bạn có sự
      “ Khoan Dung ”  (Đại lượng bao dung) đối với ngưòi khác, cũng tức là lúc mình đã “Khoan Dung” với chính mình.

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Đã bẩu là "chuyện dân GIAN" mờ!

      Trường Phạm Văn Đồng, và chuyện dân gian về người con trai của cố thủ tướng


      Thời mình học cấp 2 hay cấp 3, không nhớ rõ, nhưng đám bạn hay đồn nhau câu chuyện rằng thủ tướng Phạm Văn Đồng có mỗi người con trai, nhưng cụ rất bôn-sê-vích nên đã cho con nhập ngũ, rồi anh ấy đã thành liệt sĩ. Không biết câu chuyện ấy từ đâu ra. Cứ truyền nhau như vậy thôi. Mà đám học trò chúng tôi thì cứ nghe rồi nghĩ ngợi, và ai ấy đều cảm thấy rất nể phục thủ tướng, cũng như có chút bùi ngùi. Có người còn kể rằng, do người con trai độc nhất ấy hi sinh, mà lão bà thương tiếc quá đâm ra bị ốm nặng. Thời ấy, chúng tôi hay đọc Tuần Tin tức và Thể thao & Văn hóa. Rồi có chút Đại đoàn kết, hay Văn nghệ Quân đội, rồi Văn Nghệ. Thi thoảng có Tiền phong cộng luôn vớiThiếu niên Tiền phong. Chứ không sẵn thông tin như bây giờ. Ngày xưa chỉ xì xào và "dã sử" bằng lời thế thôi. Cũng không có ai nghĩ rằng nên ghi chép những mảnh vụn ấy ra giấy làm gì. Nhớ nhất là quán sách của thầy Vĩnh hiệu phó, bọn tôi hay đọc chùa ở trong đó (dạng đứng đọc ngấu nghiến).

      Mãi sau này, lúc đã vào đại học, được tin rồi gặp người con trai của cụ, mình bất giác nhớ lại câu chuyện thời ngày xưa.

      Một người bạn mới đây lập trường cơ sở tại Hà Nội mang tên Phạm Văn Đồng. Ngôi trường nằm trên chính trục đường Phạm Văn Đồng (đường nối đường Phạm Hùng với đường chạy ra sân bay Nội Bài).

      Mình không rõ, nhưng hình như người con trai của cố thủ tướng có tham gia gì đó trong hoạt động hay tổ chức của nhà trường.

      Ảnh ở dưới là mượn từ Fb của bạn HTH (ảnh hiện tại). Lời ghi chú của bạn ấy là: "Đang nghe Thiếu tướng Phạm Sơn Dương, con cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng bàn câu chuyện nông nghiệp công nghệ cao, sạch, dinh dưỡng, gắn với làng quê, văn hóa Việt.".

      GiaoBlog

      Phần nhận xét hiển thị trên trang