Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Văn chương là cuộc phiêu lưu vào xứ sở tự do.

Thơ Thơ phỏng vấn Lưu Thuỷ Hương
Quan niệm viết của Lưu Thủy Hương? Viết cho điều gì? Người viết có trách nhiệm như thế nào với đời sống, xã hội, nhân sinh, nghệ thuật?
Thưa chị. Tôi viết để đặt ra vấn đề với xã hội, để tự nhận lấy trách nhiệm làm người. Tôi viết vì ý nghĩa cuộc nhân sinh. Nghệ thuật được xem là sản phẩm của kỹ năng sáng tạo, được sử dụng như một phương tiện phục vụ cho sự tự thể hiện và diễn giải.
Như vậy, trong những gì đã viết, tác phẩm nào của Lưu Thủy Hương đến từ “sự tự thể hiện và diễn giải” và những truyện nào là kết quả của sự đi tìm, không biết trước, không nắm chắc điều mình muốn diễn giải?
Về “sự tự thể hiện và diễn giải” trong nghệ thuật, tôi chia nó ra làm ba trạng thái. 1- Sự tự thể hiện và diễn giải của chính tác giả. 2- Sự tự thể hiện của tác giả và sự diễn giải của người thưởng thức. 3- Sự tự thể hiện và diễn giải của người thưởng thức. Ở trạng thái thứ 3 này, tác phẩm đối với tác giả đã trở thành một cái Khác, nó nằm ngoài mọi sự tiên đoán và sắp đặt của tác giả. Nó đánh mất đi cội nguồn cũng như bản ngã của kẻ sanh ra nó mà biến sinh thành một hình hài mới, một ý nghĩa mới từ cảm nhận chủ quan của kẻ thưởng thức.
Trong những gì đã viết, tôi thường xuyên bị đánh mất chính mình. Cái tôi tìm thì không tìm thấy, cái tôi không tìm – từ ở đâu nhảy xổ ra – hăm hở kéo mình đi. Tiểu thuyết “Miền Hư Ảo” là một ví dụ. Nó vượt ra ngoài dự tính và bố cục ban đầu, tự động biến thành một cuộc phiêu lưu chẳng biết đâu là giới hạn. Trong cuộc phiêu lưu đó, tôi là một Kẻ Khác, xa lạ với bản thân và thân thuộc với nhân vật.
Có bao giờ Lưu Thủy Hương phân vân giữa lựa chọn viết cho bản thân và viết cho một lý tưởng?
Tôi chưa bao giờ phải phân vân. Sự lựa chọn rất rõ ràng: viết cho lý tưởng.
Bằng cách nào để thể hiện lý tưởng hay chính kiến đồng thời vẫn bảo đảm tính nghệ thuật và phổ quát của tác phẩm, điều mà Lưu Thủy Hương đã thực hiện thành công?
Chị cho phép tôi thử đổi vấn đề ngược lại. Nếu tính nghệ thuật và phổ quát của tác phẩm nhằm phục vụ cho lý tưởng và chính kiến thì có phải là chuyện xa lạ trong văn chương hay không? Nghệ thuật đưa cái tôi tự do đến với cái sản phẩm xã hội. Nghệ thuật làm con người nhìn rõ hơn bản chất của con người, ý thức hơn cái thân phận bi đát của con người trong xã hội. Tự ý thức này sẽ mang lại cho tác phẩm tính phổ quát. Tôi nghĩ, trong một tác phẩm, các giá trị nghệ thuật và tư tưởng vẫn luôn tìm cách bổ xung cho nhau. Sự xung đột (nếu có) thường chỉ trong giai đoạn tư duy, ngay khi tôi đặt bút viết ra con chữ đầu tiên, nó đã trở thành một dòng chảy êm thuận.
Tác giả phải trải qua những cảm xúc như thế nào khi viết “Giáo Hội Khăn Rằn,” “Tuổi Biến Thế,” và “Tiếng Kinh Mõ Như Dao Nhọn” để xây dựng và chuyển tải đến người đọc không khí truyện đầy ấn tượng, rùng rợn, ám ảnh như thế?
Cũng như người đọc, tôi phải trải qua những cảm xúc rùng rợn. Tuy nhiên, về kỹ thuật, “Giáo Hội Khăn Rằn” không thành công ở mức độ rùng rợn, nó mang quá nhiều tính hành động nên giảm đi nỗi ám ảnh mơ hồ sâu kín, không đủ tạo nên cảm giác đe doạ. Thời gian viết truyện “Làng Thổ Phỉ” mới là khoảng thời gian đáng sợ nhất trong cuộc đời viết văn của tôi. Một tháng trời sau đó, tôi vẫn không sao ăn thịt được, không dám ở nhà một mình khi trời tối. Khi viết, tôi phải sống trong chính khung cảnh đó, nghe được những tiếng động ám ảnh, ngửi đươc mùi vị gớm ghiếc của sự mục nát, thối rữa. Các nhà văn trên thế giới khi viết thriller, họ nghe được tiếng bước chân của kẻ sát nhân, ngửi được mùi máu tanh, sờ tay vào cái chết lạnh lẽo. Đối với người Việt, nói thẳng ra điều này, dường như khó nghe. Phan Nhiên Hạo, chủ biên litviet, là người duy nhất ủng hộ tôi chọn thể loại thriller, khi mà những nơi khác đón nhận nó với sự dè dặt, đôi lúc còn như là ác cảm. Tôi nghĩ, người đọc Việt nên nhìn nhận thể loại thriller một cách cởi mở hơn. Trong văn chương Việt Nam, nó là vùng không gian hoàn toàn còn để trống. Trên thực tế, nó thích hợp với miền đất trải qua nhiều biến động chết chóc và một hiện tại đầy oan khuất. Về kỹ thuật, nó đòi hỏi sự đầu tư, học hỏi và sức chịu đựng can trường của tác giả.
“Tuổi Biến Thế” là một trường hợp khác. Tôi viết nó không nhằm mục đích gây ấn tượng rùng rợn. Tôi viết nó bằng nỗi đau của chính cuộc đời mình và tôi rất yêu những nhân vật trong câu truyện. Bây giờ, đọc lại, từng câu từng chữ vẫn làm tôi xao xuyến rưng rưng nước mắt. Bây giờ, ngồi viết những dòng này cho chị, từ một miền đất xa xôi khác, quá khứ lại hiện về và khuấy động. Trong vùng ký ức ảm đạm ẩm mốc đó, trong căn phòng chật hẹp tuyệt vọng niềm tin đó, bạn bè tôi hiện ra như những bóng ma vật vờ, vô thức. Chúng tôi đã đánh mất tuổi trẻ, đánh mất sự hiện diện của thế hệ mình trong một giai đoạn lịch sử. Chúng tôi tự tan biến ở tuổi hai mươi.
Để thay đổi cách nhìn của người đọc về thể loại thriller, như chỉ mang tính giải trí, hoặc viết theo công thức có sẵn, hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thời, theo Lưu Thủy Hương phần kỹ thuật cần phải đầu tư ra sao? Lưu Thủy Hương có dự định viết một tiểu thuyết theo thể loại này không?
Trước tiên phải nói rõ, Việt Nam hiện không có và cũng sẽ khó có được dòng văn học thriller thực thụ. Thể loại này chỉ phát triển ở những nước có tự do ngôn luận và tự do… tưởng tượng. Trong tình trạng văn học phục vụ cho chế độ, người đọc chỉ có được những cuốn tiểu thuyết thriller trá hình dưới dạng truyện vụ án, truyện trinh thám, truyện hình sự do Bộ Công An đỡ đầu. Thriller khác truyện trinh thám hình sự ở chỗ nó đi ngược lại với phương thức tải đạo cổ điển với hình ảnh một người hùng mang vẻ đẹp công lý và một kết cuộc hoàn hảo mang tính lý giải. Thriller là mặt trái của xã hội, của đạo đức, của những giá trị chuẩn mực, là nơi cái thiện – cái ác lẫn lộn, là nơi người săn đuổi tội phạm trở thành kẻ bị tội phạm săn đuổi. Thriller lôi những cái chết oan khuất ra khỏi bóng tối, vạch trần tội ác núp bóng đạo đức chính nghĩa, chỉ trích sự yếu kém sa đoạ của luật pháp… không nhằm vào mục đích truy tìm hay trừng phạt kẻ tội phạm, không nhằm phục vụ cho niềm tin vào công lý. Thriller chỉ tạo ra hiểm hoạ, sự căng thẳng, sự kinh hoàng… và nhất là sự đe doạ (không có một tác phẩm thriller nào thiếu vắng sự đe doạ), từ đó tạo cho người đọc một cảm giác sợ hãi bất an về một xã hội đáng sợ đầy bất an… Bởi vậy mà nó nguy hiểm đối với chế độ. Viết cho đúng nghĩa thriller không chỉ đụng nhằm những thành trì giáo điều nguỵ tạo, mà còn kích động tâm lý bất ổn của xã hội, và chắc chắn là – ở Việt Nam – sẽ không có cơ hội được phát hành.
Về phần đầu tư cho kỹ thuật, để có được sự căng thẳng, đe doạ không nằm ngoài tính logic, thriller không chỉ đòi hỏi óc tưởng tượng, vốn văn chương mà còn đòi hỏi kiến thức đầy đặn về y khoa, pháp lý, hành chánh, chính trị… và nhất là vốn thực tế. Tôi cho rằng, thriller là một thử thách nặng ký nhất hiện nay cho những tay viết có bản lãnh ở Việt Nam. Giá trị của nó sẽ dễ dàng vượt qua những loại tiểu thuyết diễm tình, tự truyện đầm đìa, hay những thử nghiệm siêu đẳng nhằm vào giấc mộng Kafka tái sinh.
Câu hỏi: “Lưu Thủy Hương có dự định viết một tiểu thuyết theo thể loại này không?” Cơn ác mộng này, tôi xin phép chị được giữ riêng cho mình.
Hình thể nghệ thuật (form) là điều phát xuất một cách hữu cơ từ nội dung/ chất liệu/ ý tưởng/ và tường thuật. “Đêm Nô Lệ” là một truyện ngắn khác thường do hình thức lắp ghép và liên văn bản, dùng chuyện cổ tích, lịch sử, và trò chơi giấc mơ để xử lý nội dung di dân, giai cấp, và các hình thức nô lệ quá khứ lẫn hiện đại. Tại sao tác giả lại chọn dùng hình thức này để diễn đạt chủ đề phức tạp này?
Cảm nhận văn chương tinh tế của chị đem đến cho tôi một niềm vui sâu lắng. Nếu câu chuyện của tôi có thể mở ra được những con đường lạ lùng như vậy, thưa chị, đó là may mắn của người viết và cái duyên của người đọc.
Truyện ngắn “Cõi Lang Lang” dường như là một “tuyên ngôn” về văn chương, về kỹ thuật viết, và quan niệm sáng tác của Lưu Thủy Hương. Tuy nhiên tuyên ngôn này không dễ nắm bắt. Có thể là chết cho điều mình viết? Hay biên giới mong manh giữa hiện thực và văn chương khi điều mình viết trở thành định mệnh của chính mình? Hay thái độ cần thiết khi đến với chữ nghĩa? Không khí ma quái, những oan khuất chập chùng, những mưu toan ẩn mặt được thể hiện qua hình ảnh, mùi vị, cảm quan, ngôn ngữ chính xác, và cấu trúc phân mảnh của truyện. Phần tường thuật có sự chuyển đổi vai từ nhân vật sang tác giả, từ người quan sát sang kẻ bị quan sát, khiến người đọc rơi vào vùng hoang mang giữa truyện và “truyện trong truyện.” Có phải dụng ý của tác giả là để người đọc bị “chết đuối” chăng, một khi “văn chương chẳng phải vì kết cuộc, văn chương chỉ đặt ra vấn đề”?
Kính hiển vi của chị soi rõ mọi ngóc ngách. Ở đây tôi chỉ dám thêm vài lời phân trần. Cõi lang lang là tâm trạng của nhân vật. Gã cầm bút. Gã mang đủ tham sân si hỉ nộ ái ố vào văn chương. Bằng ý thức tự do, gã chạy trốn văn đàn chính thống, nhưng quá khứ vẫn đuổi theo mang cả “cái tôi” đầy tội ác. Cái gọi là văn đàn chính thống Việt Nam đó, hiện nay, chỉ là chỗ để thể hiện những cái tôi như vậy. Cái tôi biện minh cho một quá khứ sai lầm và đầy tội ác. Cái tôi của những tên đồ tể khoác áo nạn nhân. Cái tôi nguỵ tạo cho một vị thế đứng bất hảo. Cái tôi tay sai, thoả hiệp, nhắm mắt làm sang. Cái tôi õng ẹo làm dáng… Ở đoạn cuối câu chuyện tôi lựa chọn cho nhân vật cái chết. Đó không là một kết cuộc của sự trả thù, mà là một ý thức tự huỷ diệt. Sau cái chết của “thằng người bé nhỏ mang vác một đống tham vọng điên cuồng” đó, cuộc sống văn chương thực sự sẽ hồi sinh. “Dâm dục, giết chóc, tục tằn, ma quỷ, lừa mị rồi tan như sương khói. Khoảng sân chơi trẻ em của thằng bé cũng phải trả lại cho nó.”
Trong “Cõi Lang Lang” có đoạn: “Các trang mạng sống bằng máu của nhà văn lạnh lùng ra thông báo: ‘Không đăng lại những bài đã đăng ở nơi khác.’( …) Một tác phẩm viết ròng rã ba trăm sáu mươi lăm ngày may mắn được một lần hiện lên trang nhất, ba ngày sau lặn mất tăm vào xó xỉnh. Nhà văn thế giới ảo sống bằng không khí ảo, đã đành, nhưng còn bị ép đến khô cả xương thịt.” Trong cõi lang lang này, mọi thứ trượt dần, không cưỡng lại nổi, và biến mất. Đó là gì? Có phải đó là đời sống của văn chương mạng?
Xin được nói ra đây một lời, để chia sẻ cho nhau cái tình của những kẻ vì văn chương, bất vụ lợi: Cảm ơn tinh thần tự do sáng tác và thẳng thắn đối thoại của Da Màu. Khi gửi bài này cho Da Màu, lòng tôi rất áy náy. Mỗi trang mạng có một chủ trương riêng, cần được người viết tôn trọng. Những người điều hành trang mạng cũng phải tự ép khô xương thịt cho công việc vác ngà voi, chứ chẳng phải là kẻ bóc lột. Tuy nhiên, ở cõi lang lang, tôi viết trong tâm thế người sáng tác, tôi chỉ chú tâm tới suy nghĩ tiêu cực của nhân vật. Gã là người cầm bút và gã mang nỗi sợ lớn nhất của người cầm bút: sợ bị quên lãng.
Câu hỏi: “Đó là gì?” Tôi cũng không rõ, cõi lang lang thực sự là cái gì. Đã có một điều gì rất dữ dội thôi thúc tôi viết về nó. Bây giờ cố nhớ lại mà không sao nhớ ra được. “Mọi thứ cứ rối nùi lên và rồi lẫn lộn vào nhau. Sau đấy thì trôi tuột đi, không sao cưỡng lại được…”
Một truyện ngắn hay cần có những yêu cầu gì? Về mặt lý thuyết, về mặt sáng tạo của người viết, về mặt tư duy và cảm xúc, để một truyện tồn tại như một tác phẩm nghệ thuật vượt khỏi bối cảnh không gian và những vấn đề của thời đại?
Tại sao lại là truyện ngắn? Truyện ngắn là gì?
Truyện ngắn, theo định nghĩa căn bản, là một dạng văn xuôi hiện đại, mang cấu trúc ngắn gọn. Hiện nay, báo chí Việt Nam đang rất ưa chuộng thuật ngữ: truyện ngắn là “lát cắt của cuộc sống”, có lẽ, được dịch từ một thứ tiếng nước ngoài nào đó (slice of life? tranche de vie?). Vì nó mà người đọc đón nhận truyện ngắn theo nghĩa giới hạn nhất, là một chút gì đơn giản nhỏ gọn, một khoảnh khắc tình huống cô đọng. Trên thực tế, có những truyện ngắn chứa đựng cả một cuộc đời, một thế hệ, một giai đoạn lịch sử hay cả một viễn cảnh tương lai. Tiếng Đức cũng có thuật ngữ văn chương tương tự: “Einschnitt aus dem Leben”, dịch non: vết cắt từ cuộc sống. Cụm từ này, phải hiểu theo nghĩa là một biến cố quan trọng làm thay đổi cuộc đời của nhân vật, thực chất chỉ là một chủ đề viết trong nhiều chủ đề viết khác nhau của truyện ngắn, không thể xem là một định nghĩa khái quát. Thật khó tìm được một định nghĩa khái quát cho truyện ngắn, bởi, ở mỗi hoàn cảnh phát sinh, truyện ngắn đều mang một bộ mặt và một tính năng khác biệt. Nếu hiểu qua hoàn cảnh phát sinh ra truyện ngắn ở Đức, người ta lại thấy thuật ngữ “Trümmerliteratur” mới chỉ rõ bộ mặt “phản động” của truyện ngắn. Nó có nghĩa là văn học mảnh vỡ, hay văn học của sự đổ nát.
Truyện ngắn, trước 1945, là một thứ ít được chú trọng trên văn đàn nước Đức. Mặc dù thể loại short story này đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nước khác từ thế kỷ thứ 19, một loại văn xuôi chạy theo trào lưu phát triển của báo chí, với các tên tuổi lừng danh Charles Brockden Brown, Edgar Allan Poe, Guy de Maupassant, Arthur Conan Doyle… Mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, truyện ngắn mới được những người lính Đức trẻ tuổi (Heinrich Böll, Alfred Andersch, Wolfgang Borchert, Hans Bender, Martin Walser…) sống sót trở về từ cuộc chiến kinh hoàng nhào nặn thành một thứ sản phẩm hậu chiến mang đậm tính thời đại, gọi là văn học đổ nát (Trümmerliteratur) hay văn học tàn phá (Kahlschlagliteratur). Truyện ngắn tràn lên văn đàn Đức như một cơn dịch. Nó đạp lên những ngôn từ lãng mạn cổ điển, tìm cách rửa sạch thứ văn ngữ tuyên truyền của chủ nghĩa dân tộc, từ chối mọi sự bày tỏ cảm xúc và tư tưởng. Nó mang hình hài một sự đổ vỡ, dang dở, đứt đoạn và nhất là, phơi bày dấu vết của sự tàn phá, mất mát về vật chất lẫn tư duy, từ đó vẽ ra một thế giới điêu tàn và cằn cỗi. Mang tâm thế lưu vong nội tại, hoang mang mất mát, mặc cảm tội lỗi, những người Đức trẻ tuổi thời hậu chiến đã chối bỏ ý thức xây dựng lâu dài và cơ cấu bền vững của tiểu thuyết. Nói như Wolfgang Liebeneiner, truyện ngắn là một thứ lựu đạn, phát nổ trong quá trình đọc – “beim Lesen zerknallen wie Handgranaten.” Không chỉ vì khả năng phát nổ bất ngờ, truyện ngắn hậu chiến còn có khả năng sát thương, khả năng phá vỡ trật tự và ổn định. Bước vào thời kỳ phát triển kinh tế và bình ổn chính trị, hai mươi năm sau chiến tranh, truyện ngắn ở Đức tự động thoái trào.
Ở nước ta (*), truyện ngắn không trở thành trào lưu ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Do chế độ kiểm duyệt và định hướng văn học thô bạo, truyện ngắn chỉ phát triển mạnh sau khi văn nghệ sĩ được nới lỏng dây trói. Về vấn đề này, báo chí chính thống Việt Nam đã có sẵn câu trả lời trấn an, truyện ngắn ngày nay lên ngôi nhằm đáp ứng nhu cầu đọc nhanh của độc giả. Nghe mãi rồi cũng quen, nhưng chẳng mấy ai tin vào kiểu giải thích “hoàn toàn thắng lợi” này. Nhu cầu đọc với nhu cầu viết là hai cái hoàn toàn khác nhau, trong tình hình cầm bút chẳng vì lợi nhuận. Ngay cả ý kiến cho rằng, từ cách chọn lựa, in ấn của nhà xuất bản mà dẫn đến ưu thế phát triển truyện ngắn hay truyện dài (Trần Vũ – Mỗi con người trưởng thành mang trong mình một tính ngưỡng văn chương) tôi thấy cũng có vẻ mông lung. Tại sao những nhà văn tự do, nội lực sung mãn như anh Trần Vũ cũng chỉ chọn truyện ngắn làm môi trường sáng tác? Vì lý do gì mà văn đàn Việt Nam xuất hiện hàng loạt nhà văn chuyên viết truyện ngắn, họ dửng dưng từ chối thể loại tiểu thuyết, hay hoàn toàn thất bại ở thể loại tiểu thuyết, cái đích cuối cùng phải đạt đến của nhà văn? Họ thành công nhanh chóng bằng sự cuồng nộ, thách thức, cay nghiệt, hay bằng sự dang dở, mất mát, đổ vỡ niềm tin, thậm chí là trống rỗng, uể oải (Trần Vũ, Nguyễn Thị Ấm, Đỗ Phước Tiến, Lynh Barcadi, Đỗ Hoàng Diệu, Phạm Thị Hoài, Phạm Hải Anh, Nguyễn Đặng Mừng, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Vĩnh Nguyên…) nhưng, dường như họ không đi tìm sự thành công. Họ tìm kiếm một điều gì khác trên mảnh đất hạn hẹp của truyện ngắn. Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Ngọc Lương, Nguyễn Quang Lập… tránh xa cách dụng ngôn trau chuốt mỹ miều của tiểu thuyết truyền thống, truyện ngắn cho phép họ dễ dàng sử dụng ngôn ngữ bình dân, phương ngữ đời thường, ngay cả những tiếng lóng, ngôn từ điên loạn. Điều này tạo cho chính họ – người viết – một hiệu ứng giải thoát và đồng thời cũng đem đến cho người đọc một sự tiếp cận rất dễ sợ: trần trụi trong chớp nhoáng. Ngô Phan Lưu, Bùi Hoằng Vị, Nguyễn Viện chỉ nhằm đặt ra vấn đề trong một bầu không khí kiểm duyệt ngột ngạt, họ từ chối những sự giải thích hay một kết cuộc mang tính phân giải. Tính cách nghệ thuật này không chỉ nâng họ ra khỏi dòng văn học luận đề, tải đạo truyền thống, dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chính thống, không chỉ đem lại cho người đọc sự cảm nhận đa chiều, những khoảng trống tư duy, nó còn tạo cơ hội cho người viết thể hiện ý thức tự do trong môi trường bị kiềm kẹp một cách (tương đối) an toàn. Mặt khác, trên nguyên tắc, truyện ngắn là thứ không cần rào mời như tiểu thuyết, nó có thể đi ngay vào hành động ngay từ câu – chữ đầu tiên và tiếp tục tạo cảm giác mạnh bằng những sự đứt đoạn, đảo lộn thời gian, cường độ nén chữ nhằm mục tiêu phá rối, đập đổ và bùng nổ. Senèque (De ira) cho rằng: “Sự giận dữ là một cơn điên ngắn.” Vậy, sự cuồng nộ, sự nổi loạn là một khoảnh khắc bùng nổ tâm lý trong thể loại truyện ngắn. Lý giải như vậy là đặt ra sự khác biệt giữa phong trào truyện ngắn Đức thời hậu chiến và phong trào truyện ngắn Việt thời sau cởi trói. Các nhà văn Đức lựa chọn truyện ngắn bằng ý thức tuyệt đối, và mang tính tập thể (tạp chí Der Ruf, hội Gruppe 47), chúng ta thụ động (hay vô thức) để cho truyện ngắn riêng lẻ xâm nhập. Dù bằng cách nào đi nữa, nó, truyện ngắn đương đại Việt Nam cần được xem như một biểu hiện mang tính phản kháng, một sản phẩm in dấu ấn thời đại. Từ đó những người viết ngắn (**) có thể cùng nhau thảo luận về một tương lai văn học, bởi, một văn đàn bốn mươi năm gần như chỉ tập trung vào phát triển truyện ngắn là một tình trạng không lành mạnh.
Câu hỏi chi tiết của chị, xin thưa như sau. Truyện ngắn hay, với một dung lượng chữ giới hạn, phải gây được một cảm xúc đáng kể nào đó nơi người đọc, chán ghét, kinh sợ, đau đớn hay yêu thương… thậm chí là buồn nôn. Truyện thành công, khi ở đó, người đọc nhìn ra được vị thế đứng của họ, trong hay ngoài câu truyện. Xa hơn nữa, to tát hơn nữa, cái mà nhiều nhà văn lớn đã thành công, truyện làm cho một thế hệ hay nhiều thế hệ nhìn ra được thân phận của mình. “Con dê của ông Seguin”- Alphonse Daudet – là một ví dụ tuyệt đẹp. Ở đây, tôi không đặt ra vấn đề kỹ thuật. Muốn viết một tác phẩm đương nhiên là phải vận dụng kỹ thuật. Nhưng kỹ thuật là cái duyên, cái vốn của mỗi tác giả, nó nên lặn vào trong chứ không phô diễn ra bên ngoài. Đua đòi chạy theo mốt này mốt nọ, rườm rà, cố gắng tô vẽ quá có khi đâm… loá.
Lưu Thủy Hương nghĩ như thế nào về hai dạng độc giả: (1) đọc và đi thẳng đến một kết luận về chủ đề, sứ điệp, hay nội dung truyện và (2) thưởng thức truyện như một kinh nghiệm sống và nhìn toàn bộ truyện như một hiện hữu với lý do và ý nghĩa riêng?
Câu hỏi này hay tuyệt! Tôi tưởng, chị nhìn thấu tim đen của kẻ “bị” phỏng vấn :-) Thưa chị, ở vị thế người đọc, tôi là loại (1), hay còn đơn giản tào lao hơn loại (1). Tôi chỉ quan tâm đến độ hấp dẫn của cốt truyện và tốt nhất là truyện đừng bắt tôi phải có suy nghĩ rắc rối gì :-) Tôi đọc gần như tất cả các tác phẩm của Sidney Sheldon, John Grisham, một nửa gia tài của James Hadley Chase, đôi lúc đọc liền tù tì mấy cuốn tiểu thuyết sướt mướt của Quỳnh Dao xứ Mỹ Danielle Steel, vài cuộc tình nóng hổi với Janet Dailey, qua mấy cuộc giường chiếu ầm ĩ với Harold Robbins. Đi nghỉ hè thì mang theo Stephen King, Edgar Allan Poe để ban đêm, trong khung cảnh xa lạ, vừa đọc vừa run. Vào thư viện lại khoái tìm những thứ văn lẻ tẻ viết về Berlin, ngẩn ngơ nhìn lại những góc phố quen thuộc mà mình thường đi qua, thú vị phát hiện ra hình ảnh “khôi hài” của người Việt – Berlin trong cái nhìn của kẻ khác (Wolfdietrich Schnurre, Wladimir Kaminer, Ferdinand von Schirach). Những tác phẩm kinh điển như của Herta Müller, Hermann Hesse, Norman Mailer, Doris Lessing… tôi luôn phải cưỡng bức mình đọc, thấy mệt mỏi sợ hãi chứ không hứng thú gì. Đôi lúc gặp họ (trên giá sách), kẻ hậu sinh phải lấm lét quay mặt đi, vừa ngượng vừa cắn rứt lương tâm nghề nghiệp :-) Cái sự đọc loại (1) của tôi xô bồ và bình dân lắm.
Ngược lại, ở vị thế người viết, tôi chú tâm đến loại bạn đọc thứ hai.
Ngoài những điều vừa trình bày, Lưu Thủy Hương còn muốn chia xẻ thêm với người đọc điều gì nữa?
Bạn đọc thân mến, tôi cũng như bạn thôi, là một người đọc. Tôi đến với văn chương, hành trang chẳng có gì ngoài thói quen ưa đọc sách, hay đọc tất cả những thứ tạp nhạp lọt vô tầm tay, từ thành phần kem đánh răng tới địa chỉ sản xuất đậu hũ chiên. Bắt đầu bằng một cái Riêng và một cái Thật, lầm lũi một mình tự tháo gỡ gút mắc, tự tìm đường băng qua gai bụi, để một ngày, một cái Khác xuất hiện và kéo tôi đi. “Một thế giới khác đang từ từ mở ra, lúc nào không hay. Những con đường mênh mang dẫn mình đi xa lắc. Đi không cần định hướng. Đi không bị buộc phải quay về chỗ đã định.”
Bạn có muốn đi cùng tôi không? Văn chương là cuộc phiêu lưu vào xứ sở tự do.
Ghi chú:
(*) Tôi chỉ bàn đến những nhà văn viết bằng ý thức tự do.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGUYỄN QUANG LẬP VIẾT VỀ PHẠM NGỌC TIẾN


Nhà văn Nguyễn Quang Lập và nhà văn Phạm Ngọc Tiến
Ngoài viết tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản điện ảnh, truyền hình, kịch bản sân khấu… nhà văn Nguyễn Quang Lập còn viết chân dung bằng giọng văn hóm hỉnh, lạ  về những người bạn văn thân thiết với tiếng cười không lẫn vào đâu được. Hỏi một nhà văn tôi quen biết, được nhà văn Nguyễn Quang Lập “vẽ” chân dung, có đúng thế không? Người đó cười ngất, không phải thế đâu, nhưng đúng chất của tôi, đọc lên thấy mình ” đẹp” hơn ngoài đời.
Tôi nghĩ, nhà văn đó không nói dối, bởi đọc văn của Nguyễn Quang Lập, dù đó là “vẽ” chân dung của một người bạn thân ta cũng thấy đầy ắp tình người, thương nhau, hết lòng vì nhau, sống không giả dối, trong và sáng đến tận cùng trong từng con chữ…
Mời các bạn đọc lại một chân dung nhà văn mà nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tả…
Hôm nay nhận được cái message yêu cầu accept của thằng Phạm Ngọc Tiến, nó bảo mày xếp cho tao ngồi trên đầu thằng Nguyên nhé! Mình cười phì, nó cứ tưởng mình có thể sắp xếp được friends list, nhắn lại: ngu ơi, yahoo 360 không sắp được thứ tự friends list đâu. Nó nhắn: ok chấp nhận ngu lâu. Bỗng nhiên muốn viết về nó.
Thằng này có cái mạng không nổi tiếng, văn chương phim ảnh giải nọ giải kia thế mà ít ai nhắc đến nó. Văn có Họ đã trở thành đàn ông, Tàn đen đốm đỏ, Đợi mặt trời… Phim cóChuyện làng Nhô, Đường đời…thế mà lớp trẻ ít ai chịu nhớ tên nó.
Mình giới thiệu nó với tụi học trò, toàn cử nhân, thạc sĩ văn khoa cả,thế mà nghe tên Phạm Ngọc Tiến cứ ngơ ngơ như bò đội nón. Một đứa đập tay kêu a cái chú đầu trọc phải không? Chán mớ đời.
Chẳng bù cho mình, cái mạng nổi tiếng, động cái gì là thiên hạ bàn tán ầm ầm. Ra Hà Nội mua cái Charly cho vợ cũng nổi tiếng, bị một thằng mất dạy đập cho sưng mặt cũng nổi tiếng. Nhiều khi đến nhục.
Thằng Tiến nói tao còn nhục hơn mày. Mình bảo sao, nó bảo viết văn làm phim không ai biết, đến khi bị tiểu đường phát là cả nước ai ai cũng nhắc, đàn bà con gái biến sạch, nhục thế không biết.
Triển lãm tranh thằng Lê Thiết Cương, nó ôm vai Phú Quang giới thiệu với mấy em chân dài, nói ông này là chủ tịch Hội đái đường Việt Nam, tôi là phó chủ tịch. Phú Quang ngượng, nói ông này nói gì thế. Nó nói tôi nhờ đái ra đường mà nổi tiếng, ông phải cho tôi PR chứ.
Hồi còn trẻ nó say sưa tối ngày, sà vào mâm ruợu nào không say không bỏ cuộc. Nhiều khi nghĩ mãi không ra, không biết thằng này viết láchkhi nào mà sách vở, phim trú ra ầm ầm.
Có hôm 8 giờ tối mình gọi về nhà nó, gặp vợ nó, nói cho anh gặp Tiến cái. Vợ nó nói dỗi: Nhà em sao về sớm thế anh. Mình kể cho nó nghe, nó cười hẻ hề , nói dỗi hờn là trách nhiệm và nghĩa vụ của đàn bà, mày lo cái gì.
Nói thế chứ yêu vợ con đến chết. Mình nhớ hôm đầu tiên nó đưa đến nhà nó, đến cổng nó bảo mày đứng đợi tao ở đây, tao ra chợ kiếm đồ mồi, cấm không được vào nhà nghe chưa. Mình hỏi sao, nói nói mày vào chẳng may vợ tao yêu mày phát, có phải chết tao không. Mình cười, nói nàỳ, tao kể cho vợ mày nghe chưa. Nó chắp tay vái, nói Lão Phật gia tao đó, mày nói tối nay nó vặt hết lông tao.
Buổi tối ra phố mua sữa cho con Ngọc, mua xong thì gặp bạn, uống đến say tít, vùng đứng dậy nói chết chết tao phải về cho con Ngọc uống sữa. Loạng choạng phi xe ra, ngã, tài liệu, tiền bạc rơi tứ tung không nhặt, nó cứ loạng quạng mò mẫm, nói hộp sữa con tao đâu, hộp sữa con tao đâu.
Được giải A giải thưởng Hội nhà văn cuốn Họ đã trở thành đàn ông, hồi đó được 3 triệu, mừng lắm, ôm tiền khư khư, cười khè khè, nói bố mày phải đem về cho vợ đổi cái xe, chúng mày đừng có gạ bố mày uống nghe chưa.
Nói thế nhưng vẫn kéo nhau vào quán, uống say, cái tính hễ say đem tiền ra phát chẩn, chạy hết nhà này sang nhà khác, gặp con nít cứ dúi tiền ào ào, nói bác được giải thưởng bác cho, giải Hội nhà văn to lắm, lo gì, lấy đi lấy đi. Sáng mai tỉnh dậy sờ túi chẳng còn đồng nào, mặt đực như ngỗng ỉa, nói thôi bỏ mẹ rồi, vợ mình hết đường đổi xe.
Nó đóng cửa cày một tháng, quyết làm cho được cái phim Chuyện làng Nhô, lấy tiền đổi xe cho vợ. Ai gọi nhậu thì mắng bố mày đang ân hận đây, đừng có rủ rê, yên cho bố mày tạ tội Lão phật gia.
Từ ngày bị tiểu đường nó hết uống, nhà nó thằng em chết vì tiểu đường, nó sợ là phải. Nó ngồi với bạn cứ ngơ ngơ, nói cười nhạt nhạt, tội tội làm sao a.
Trước đây ngày nào cũng gặp nó, bây giờ cả quí không thấy mặt, phần thì tiểu đường kiêng khem không nhậu nhẹt gì, phần thì mua cái xe ô tô, bận rộn đưa đón vợ con suốt ngày. Ngồi chưa nóng chỗ đã đứng dậy, nói chết chết tao đi đón vợ đây, chết chết tao đi đón con bé đây.
Thằng Việt Hà nói ngu, đã làm văn nô bây giờ còn làm gia nô, có khổ không? Nó cười, nói đúng đúng từ ngày cưới vợ, viết văn đời tao từ ngu trở lên. Ngu nhất là lỡ yêu chúng mày.
Anh Đỉnh nói thằng Tiến nói thế thôi, không có bạn nó chết bất đắc kì tử. Nó nghe nói thế lại quăng cặp ngồi thừ.
Đôi khi điên lên, cầm li bia hùng hổ nói uống phát chết thì thôi, gặp bạn bè không uống còn ra cái đéo gì. Bảo Ninh lườm, nói thôi đi ông ơi, ông chết không ai nuôi vợ con ông đâu. Nó lại đặt cái li xuống, nói ừ nhỉ. Rồi mặt đực ra, cười cái xoẹt, mắt ươn ướt nước.
Mọi người uống bia, nó uống nước suối, nói cười như không, nhưng nhìn kĩ thì biết cái vẻ đắng cay của người lâm nạn. Mọi người an ủi, nó xua tay cườì hề hề, nói nhờ tiểu đường mà tao được vợ con phong cho người cha ưu tú, người chồng nhân dân. Nghe cái giọng nó như sắp khóc.
Mọi người nhìn nó bùi ngùi, nó trợn mắt quát nhìn cái gì, tao đang ngồi nhớ thời huy hoàng say của tao.
Thời huy hoàng say của nó thì nhiều chuyện lắm. Nhớ nhất hôm buổi sáng nhận giải A Hội nhà văn Hà Nội cuốn Tàn đen đốm đỏ, buổi chiều nhận giải A Nhà xuất bản Kim Đồng cuốn Đợi mặt trời, uống say nhừ tử, loạng quạng đi về, dúi tiền cho vợ rồi vào nhà tắm. Tắm xong, quên mặc áo quần, cứ thế trần truồng đi ra.
Gặp lúc hai cô bạn vợ đến chơi đang ngồi phòng khách, vợ nó đang làm gì dưới bếp. Hai cô nhìn thấy nó thế thì mặt đỏ tía tai nhưng không dám nói. Nó cứ như không rót nước pha trà mời, hai cô nói thôi thôi anh vào nhà đi, mặc tụi em. Nó nói không được, vợ vắng thì chồng phải tiếp chứ, cứ thế nói nói cười cười đi đi lại lại.
Vợ nó ra, hét lên trời ơi quần áo anh đâu. Nó nhìn xuống sững người, nói sao thế này nhỉ? Xưa nay ngoài em ra, có đứa nào dám cởi quần anh…  
Nguồn: Blog Trần Kỳ Trung  

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện ít biết về dân tộc mới xuất hiện ở Việt Nam?


Người Xuồng định cư ở Mèo Vạc (Hà Giang) từ hàng trăm năm trước với ít nhất 5-6 thế hệ. Trong tất cả văn bản giấy tờ hộ tịch cũng như CMTND do cơ quan Nhà nước cấp, những cư dân này đều được công nhận là người dân tộc Xuồng

Tôi đã lên mạng tìm kiếm thông tin về tộc người này với hàng trăm từ khoá khác nhau, tuy nhiên, kết quả nhận được chỉ vỏn vẹn vài dòng chữ: dân tộc Xuồng là một ngành của dân tộc Nùng (còn gọi là Nùng Xuồng), phân bố ở một số tỉnh phía Bắc nước ta như: Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang,… Khi trò chuyện với những người Xuồng ở xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc (Hà Giang), điều khiến tôi băn khoăn đó là, họ kiên quyết phủ nhận dân tộc Nùng là gốc của mình, bởi bản sắc văn hoá giữa người Nùng và người Xuồng có nhiều điểm khác biệt.

Lạc hậu đeo đẳng

Cái khác lạ đầu tiên mà tôi nhìn thấy khi đặt chân đến những ngôi nhà của người Xuồng đó là, chuồng trại chăn nuôi bao giờ cũng án ngữ ngay trước cửa nhà. Lối đi là mái hiên rộng chưa đầy 1 m. Mỗi khi có cơn gió "ghé thăm", mùi phân thừa cơ phát tán nồng nặc khắp gian phòng.

Trưởng bản Nùng Ý Chưởng (cũng là trưởng họ Nùng) bảo: “Phải ngửi mùi khó chịu một tí cũng không sao, chứ để kẻ trộm bắt mất con trâu, con lợn nhà mình thì chết. Ở cái nơi núi đá hoang thẳm này thì ngoài trồng 3 cây ngô, 5 rảnh lúa nương chỉ còn biết chăn nuôi lấy tiền thôi. Thế nên mới phải làm chuồng ngay trước cửa”.

Bản Thăm Noom có 33 hộ dân thì 14 hộ trong số đó thuộc diện hộ nghèo. Ngoài các khoản trợ cấp khác, mỗi tháng họ còn nhận được thêm 91.000 đồng hỗ trợ mua đèn dầu thắp sáng vì hiện tại xóm chưa có điện. Hộ có kinh tế khá giả hơn thì mua máy điện nước về, lắp ở dưới suối. Mùa mưa thì có thể phát cả tivi tiết kiệm điện (trông giống cái laptop do Trung Quốc sản xuất), còn mùa khô chỉ đủ thắp 2 bóng đèn.
Chuyện ít biết về dân tộc mới xuất hiện ở Việt Nam?
Đàn ông dân tộc Xuồng nghiện rượu 
Ở miền cao nguyên đá này, đói ăn là lẽ thường tình. Nhưng, người Xuồng ở bản Thăm Noom còn đói con chữ. Chủ tịch UBND xã Tát Ngà Lò Văn Sì cho biết: Cả bản Thăm Noom có 172 người nhưng hiện chỉ có 2 người học hết lớp 12. Đó là chị Nùng Thị Mình và anh Nùng Ý Dùng (đều là em của ông Chưởng).

Ông Chưởng kể, từ năm 1999 trở về trước, trẻ em người Xuồng chỉ được học tại các lớp học dân nuôi (nghĩa là tự cung tự cấp về mọi mặt). Ở cấp tiểu học, lớp mở gần nhà thì không nói nhưng bắt đầu lên lớp 6, đa số học sinh phải nghỉ học vì trường quá xa nhà và phải tự túc từ chuyện ăn đến ở. Ở ngoài huyện Mèo Vạc có trường nội trú, mỗi năm tuyển cử vài chục suất cho học sinh trong xã. Thế nhưng, chưa người Xuồng nào có cơ hội chen chân mặc dù học lực của các cháu không tồi.
Chuyện ít biết về dân tộc mới xuất hiện ở Việt Nam?
Chị Nùng Thị Mình là cán bộ xã duy nhất ở xóm Thăm Noon 

Chị Nùng Thị Mình là người đầu tiên có can đảm vượt khó để đeo đuổi con chữ. Sáng, chị dậy từ 4 giờ 30 phút, leo đèo dốc quãng đường 11 km từ nhà đến lớp học tại trung tâm xã, sau đó 5 giờ chiều lại từ trường về nhà. Thế nhưng, trong suốt những năm tháng học cấp 2, chị không dám nghỉ học buổi nào. Tốt nghiệp THPT, chị Mình trúng cử vào Đại biểu HĐND tỉnh Hà Giang khoá 2006 - 2011, đồng thời làm Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã.

Mỗi lần đi tỉnh họp hành, trên danh nghĩa, chị đại diện cho người dân tộc Nùng. Nhưng, bao giờ chị cũng mặc quần ống rộng, áo bà ba khuy chéo và vấn khăn đen của người Xuồng. Có người còn cười chê bảo chị không biết mặc trang phục truyền thống. Nhưng bỏ ngoài tai tất cả dị nghị, chị vẫn kiên quyết giữ bản sắc của dân tộc mình.

Văn hoá Nùng - Xuồng

Ông Chưởng cho biết: Mấy năm trước cũng có ông Mông Tiến Bộ (cán bộ văn hoá của huyện, nay là Bí thư Đảng uỷ xã Nậm Ban) về ăn ở cùng người dân cả tháng trời, để tìm hiểu bản sắc văn hoá của người Xuồng. Ông ấy bảo khả năng Nhà nước sẽ xác lập cho chúng tôi một dân tộc mới. Người trong bản phấn khởi lắm. Thế nhưng, từ bấy đến nay vẫn không nhận được câu trả lời nào.

Nói về sự khác biệt giữa văn hoá người Nùng và người Xuồng, bất cứ người dân nào trong bản Thăm Noon cũng có thể kể vanh vách. Ví như trong nghi lễ cúng bái, người Nùng có thể đặt các món ăn làm từ thịt lên bàn thờ, nhưng người Xuồng tuyệt đối không được đặt lên vì sợ dây mỡ. Nếu người Nùng có thể vô tư ăn thịt chó, trâu, bò trong nhà, thì người Xuồng phải kiêng kị đủ thứ như: không được nói chuyện khi ăn, nơi ăn uống phải ở bên trái ngôi nhà và tuyệt đối không được bén mảng đến gần bàn thờ; ăn xong phải rửa tay bằng lá bưởi, lau khô…


Chuyện ít biết về dân tộc mới xuất hiện ở Việt Nam?
Chứng minh thư nhân dân của ông Nùng Ý Chưởng được công an thành phố Hà Giang chứng nhận là dân tộc Xuồng 

Điệu hát truyền thống của người Nùng là Sli. Chẳng hạn, với nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu; Nùng Phản Slình có Sli Phản Slình... Nhưng, người dân tộc Xuồng không ai biết điệu Sli, mà điệu hát truyền thống của dân tộc Xuồng là hát Phươn và múa trống. Vì không hiểu văn hoá của người Xuồng, vì thế năm ngoái, UBND xã cho xóm 400 ngàn đồng để mở lễ hội lồng tồng, nhưng dân kiên quyết không tổ chức, vì đó không phải là lễ hội truyền thống của họ.

Ông Nguyễn Chí Thường, Phó Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, cho biết: Ở Mèo Vạc hiện tại có 16 dân tộc. Trong đó dân tộc Mông chiếm 78%, còn lại là các dân tộc khác. Có những dân tộc ít người nhất là dân tộc Hoa, Thái. Còn dân tộc Xuồng thì đã sống lâu đời ở đây rồi, chủ yếu phân bố ở các xã Khâu Vai, Sơn Vĩ, Sín Cái, Tát Ngà… Huyện Mèo Vạc coi dân tộc Xuồng là một dân tộc khu biệt. Còn để phân biệt rõ nét sự khác biệt giữa dân tộc Xuồng với dân tộc Nùng, Tày, Giáy nằm ở đâu, thì chúng tôi đề nghị cơ quan cấp trên phải vào cuộc mạnh mẽ hơn.

Trai bản Thăm Noom có truyền thống nghiện rượu. Họ quen sử dụng chén vại trong mỗi cuộc nhậu. Trung bình mỗi ngày một người uống hết 1 lít rượu. Anh Nùng Ý Dùng, một người trong bản bảo: “Đói cơm thì còn chịu được chứ đói rượu thì người ngợm cồn cào lắm. Bởi thế, gia đình nào cũng phải có một lò nấu rượu để tự phục vụ. Mua ngoài chợ không dám uống đâu, toàn men tàu thôi, đau đầu lắm. Mùa thu hoạch gạo thì có thể mang đi bán chứ ngô thì một hạt cũng không được đem ra khỏi nhà. Tất cả nấu rượu uống hết”. 

Theo Phùng Minh Phúc (NNVN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về nguồn gốc tiếng Việt


Austroasitic recortado
Huệ Thiên
Hai kiến giải chính về quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt là hai người Pháp: H.Maspéro và A.G.Haudricourt. H.Maspéro, trong Etudessur la phonétique historique de la langue annamite (1), một công trình nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc, đã dè dặt cho rằng tiếng Việt có thể là một ngôn ngữ Thái còn Haudricourt, trong một bài viết ngắn nhan đề Laplace du vietnamien dans les langues austroasiatiques (2), thì cả quyết rằng nó là một ngôn ngữ Nam Á. Theo nhận xét của S.E.Jakhontov thì kiến giải của Maspéro hình như phổ biến hơn nhưng kiến giải cua Haudricourt lại được xem là thuyết phục hơn (3).Còn Hoàng Tuệ thì cho biết rằng “ luận điểm của Haudricourt(…)là một đóng góp hết sức quan trọng”, rằng “ hiện nay trong các sách sử học, dân tộc học và ngôn ngữ học xuất bản trên thế giớivà ở Việt Nam, các tác giả điều nhất trí trong quan niệm dựa trên luận điểm của Haudricourt, quan niệm cho tiếng Việt thuộc họ Nam Á, nhánh Mon-Khmer, chi Việt- Mường”(4).
Luận điểm căn bản trong kiến giải của Haudricourt là: chỉ có thể dựa vào từ vựng cơ bản để phân loại tiếng Việt về mặt phổ hệ mà thôi: “Cái đó tính chất quyết định, đó là từ vựng cơ bản”(5).Trong một bài khác, vì buộc lòng phải thừa nhận rằng nguồn gốc của thanh diệu trong tiếng Việt hoàn toàn “không chứng minh được điều gì chống lại quan hệ tộc thuộc( của nó) với tiếng Thái” (6),Haudricourt lại võ đoán kết luận “Vậy quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt phải được truy tầm bằng từ vựng cơ bản”(7).Ở một chỗ khác nữa, khi đề cập đến các ngôn ngữ đơn lập có thanh điệu, ông cũng khẳng định: “Quan hệ tộc thuộc trong loại hình ngôn ngữ này chỉ có thể căn cứ trên từ vựng”(8). Luận điểm trên đây là một luận điểm sai lầm.
Từ vựng cơ bản là bộ phận từ vựng bao gồm những từ diễn đạt các khái niệm thông thường nhất hoặc cổ xưa nhất mà loài người đã có thể biết được, đồng thời cũng thường có tần số xuất hiện cao trong sư giao tiếp của cộng đồng. Do những đặc điểm này mà những từ đó vẫn được nhiều người- trong đó tất nhiên có Haudricourt- quan niệm là những đơn vị sẵn có trong các ngôn ngữ đồng tộc khi chúng tách ra khỏi nguồn gốc chung chứ không phải là kết quả của những sự vay mượn ở các ngôn ngữ khác tộc, cũng không phải là kết quả của những sự vay mượn lẫn nhau giữa các ngôn ngữ đồng tộc sau khi chúng đã tách ra khỏi ngôn ngữ riêng biệt và độc lập. Đây là một quan niệm không đúng.
S.E .Jackhontov đã lưu ý rằng “về nguyên tắc, bất cứ từ nào cũng có thể được vay mượn” (9). Nhưng sau đó, tác giả lại phát triển thêm rằng “ những từ liên quan đến văn hoá thường dễ được vay mượn hơn cả; những lĩnh vực khác của từ vựng ( ví dụ những tên gọi bộ phận cơ thể, hay trạng thái thời tiết) thì hầu như không có yếu tố vay mượn” (10). Đến đây thì chính Jakhontov đã nói sai, ít nhất cũng là sai đối với tiếng Việt. Ngôn ngữ này có rất nhiều từ chỉ bộ phận cơ thể bất nguồn ở tiếng Hán, từ đầu, ức, sọ-lô, hàm, họng, hạng, thân, eo yêu,vế-bễ, (cùi) chỏ, trửu, cho đến tim- tâm, gan- can, tỳ, phổi- phế, thận…, rồi gân-  cân, não, thịt-thoát, xương xoang v.v. Tiếng Khmer cũng vay mượn không ít từ chỉ bộ phận cơ thể của tiếng Sanskrit và tiếng Pali mà sau đây là chỉ là mấy trường hợp tiêu biểu: Khm.Kbal(đầu)<SKapàla; Khm. Kuj (dương vật)<Sk. Guhhya, P. Guyha; Khm. Kda (dương vật)<P. kàta; Khm. Kaj(thân thể)<Sk., P. Kayà; Khm. Kut (mông đít)< Sk., P guda (hậu môn); Khm. Can (chân)<Sk .,P. janghà,…Rõ ràng là đối với các từ chỉ bộ phận cơ thể, không phải là “hầu như không có các yếu tố vay mượn”, mà ngược lại, rất nhiều.
Những thí dụ trên đây trong tiếng Việt và tiếng Khmer đã góp phần khẳng định ý kiến của L. Hjelmslev: “Người ta không chỉ mượn một từ vì sự vật mà nó biểu hiện không có tên gọi trong ngôn ngữ đi mượn. Người ta vay mượn vì óc bắt chước, và những từ vay mượn thì phục tùng tất cả những sự thay đổi thất thường của thị hiếu. Người ta vay mượn vì cái từ của tiếng nước ngoài tao nhã hơn, hoặc ngộ nghĩnh hơn, hoặc vui tếu hơn, hoặc thú vị hơn và chỉ có tính võ đoán mới quyết định – không một sự tính toán nào dự kiến đươc nó- cái gì được xem là tao nhã, ngộ nghĩnh, vui tếu và thú vị”(11). Rõ ràng là sai lầm ý kiến cho rằng những từ thuộc từ vựng cơ bản không thể là những yếu tố vay mượn. Vậy không thể dựa vào từ vựng cơ bản để kết luận về phổ hệ của một ngôn ngữ. Đó là một điều dứt khoát. Liên quan đến vấn đề này, sau đây là ý kiến xác đáng và rành mạch của A.Meillet mà chính R.Jacobson cũng hoàn toàn tán thành nên đã dẫn lại trong bài viết của mình: “Người ta không bao giờ có thể thiết lập quan hệ tộc thuộc của các ngôn ngữ bằng sự khác biệt hoặc sự trùng hợp về từ vựng”(12).
Lấy từ vựng cơ bản làm nền tảng để xây dựng kiến giải của mình về phổ hệ của tiếng Việt, rõ ràng là Haudricourt đã làm một công việc phiêu lưu. Như lời cảnh báo của J.Vendryes, đây là “một phương thức nguy hiểm”(13). Huống chi phưng pháp so sánh của ông lại càng có nhiều  điểm hoàn toàn không ổn. Để phản bác Maspéro, Haudricourt đã đưa ra 12 từ chỉ bộ phận cơ thể của tiếng Việt: (trốc=đầu, tóc, mắt, tai, mũi, miệng, răng, lưỡi, cổ,môi, cằm, tay) để so sánh với những từ tương ứng trong 10 ngôn ngữ được xem là Nam Á sau đây: Bahnar, Khasi, Khmer, Khmu, Kuy, Mnong, Môn,Mường,Phong và Samrê. Công việc so sánh của ông đã bộc lộ những khuyết điểm sau đây về mặt phương pháp:
1.Tiếng Kuy là một ngôn ngữ hãy còn được biết đến quá ít. Theo lời P.Lévy, tác giả của bảng từ vựng mà chính Haudricourt đã sử dụng, thì đây là một ngôn ngữ riêng biệt của một sắc dân đã từng bị người Khmer thống trị(14). Vậy hoàn toàn có khả năng là các yếu tố nguyên thuỷ của nó đã dần dần bị thay thế bằng những yếu tố vay mượn của tiếng Khmer. Trong trường hợp này, những từ “tương ứng” của tiếng Kuy không thể có giá trị để so sánh va phổ hệ. Huống chi trong bảng từ vựng ít òi của Lévy người ta còn thấy lẫn lộn cả những từ Kuy gốc Sanskrit (hẳn là mượn qua tiếng Khmer) như tévde (trời, thần)<Sk. Devatà;dak (nước)<Sk.phàla,…, thậm chí gốc Việt như dao (cây dao-d đọc như đ của tiếng Việt)<V.đao. Cả tiếng Samrê cũng chưa được biết đến mức có thể tin tưởng.
2.Tiếng Mường và tiếng Phong đã được khẳng định là những ngôn ngữ trong nhóm Việt- Mường. Bản thân chúng cũng cần được chứng minh là những ngôn ngữ Nam Á. Vậy đưa những từ của tiếng Mường và tiếng Phong vào bản so sánh để khẳng định nguồn gốc Nam Á của các từ Việt tương ứng là đã làm một việc làm hoàn toàn nghịch lý. Haudricourt đã làm chuyện nghịch lý ở nhiều chỗ. Trong một bài khác liên quan chặt chẽ đến bài đang xét vì cũng liên quan đến vấn đề phổ hệ của tiếng Việt, do không tìm được một cứ liệu nào của các ngôn ngữ Nam Á để chứng minh rằng thanh sắc trong từ bốn (quatre) của tiếng Việt là một hậu quả gây ra bởi sự tiêu vong của hiện tượng tắc thanh quản (occlusion glottale), Haudricourt đã giải quyết tuỳ tiện như sau: “Nhưng sự phối hợp không phải là không thể xảy ra vì người ta đã nhận thấy nó trong một ngôn ngữ Tạng- Miến là tiếng Lushai”(15).Ông quên rằng một sự chuyển biến ngữ âm rất có thể xảy ra ở một ngôn ngữ mà lại không hề hoặc không thể xảy ra ở những ngôn ngữ khác đồng tộc với nó. Nguyên âm [u]của tiếng Latin đã trở thành [ii] trong tiếng Pháp nhưng vẫn tiếp tục được phát âm là [u] cho đến nay trong tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng România (Ru-ma-ni), cũng là những ngôn ngữ Roman (languesromanes) như tiếng Pháp.Trong nội bộ các ngôn ngữ đồng tộc mà còn như thế, huống chi haudricourt lại lấy cứ liệu trong tiếng Lushai là một ngôn ngữ Tạng- Miến để chứng minh cho hiện tượng đoán già đoán non là đã xãy ra trong một ngôn ngữ Nam Á. Cách làm tuỳ tiện đó rất xa lạ với phương pháp so sánh nghiêm túc.
3/ Nhiều từ trong bảng so sánh của Haudricourt đã không lọt qua được một sụ thẩm định từ nguyên học chặt chẽ. Trốc, chẳng hạn, đã được ông xe là Nam Á, đối đầu với gốc Hán, bắt nguồn từ ghi bằng chữ mà âm Hán –Việt hiện đại là độc. Về ngữ nghĩa, chữ này đã được Mathews’Chinese- English Dictionary giảng là “the bones on the top of the head; a skull” và Hán –Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng là “xương đầu xương sọ”. Còn về ngữ âm thi tr đ là một cặp tương ứng mà người ta có nhan nhản những thí dụ. Hơn nữa, trốc độc thì cũng gần giống như trường hợp (Thiên) Trúc=(Thân) Độc, đều là những hình thức phiên âm từ tiếng Sanskrit Sindhu để chỉ nước Ấn Độ. Vậy trốc cũng là một từ Việt gốc Hán.
Cần nói rõ rằng Haudricourt đã mặcnhiên thừa nhận 92 từ Việt được xem là có gốc Môn- Khmer (Nam Á) do Maspéro đưa ra trong công trình năm 1912. Nhưng thực tế thì ít nhất 2\3 của số đó là những từ Việt gốc Hán trong khi không ít từ tương ứng của tiếng Khmer (mà Maspéro đưa ra) lại có gốc Sanskrit hoặc Pali. Một số khác là những từ Việt đã được tiếng Khmer vay mượn nhưng lại bị gáng cho một nguồn gốc Môn- Khmer. Số từ tiếng Việt được tạm xem là có nguồn gốc Nam Á rốt cuộc chỉ còn lại rất ít.
Những từ Nam Á ít ỏi đó có vị trí như thế nào trong từ vựng của tiếng Việt hiện đại? Đó là một cơ tằng (substrat). Mà cơ tằng thì chẳng can dự gì đến việc sắp xếp phổ hệ của một ngôn ngữ. Tiếng Pháp hiện đại có một cơ tằng gồm khoảng 60 từ Gaulois. Đây là tàn tích của tiếng Gaulois, một ngôn ngữ Celtic mà tổ tiên người Pháp đã nói cách đây từ 2000 năm trở về trước. Nhưng không có bất cứ nhà ngữ học so sánh nào lại nói rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Celtic chỉ vì nó còn giữ lại được 60 từ Gaulois. Tất cả đều khẳng định rằng nó là một ngôn ngữ Roman, thoát thai từ tiếng Latin thông tục và đồng tộc với tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Rômania (Ru-ma-ni) cũng là những ngôn ngữ Roman như nó. Vậy cũng sẽ là hoàn toàn vô lí nếu cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ Nam Á chỉ vì nó còn giữ lại được vài chục từ Nam Á ít ỏi.. Chỉ khi nào chính Haudricourt chấp nhận rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Celtic thì tiếng Việt mới là một ngôn ngữ Nam Á mà thôi. Ra đời từ năm 1953, kiến giải của Haudricourt đã dăng quang trong Việt ngữ học Việt Nam và đã thống trị ngữ tộc học về tiếng Việt trong suốt bốn thập kỷ qua.
Vì kiến giải của Haudricourt bất ổn như thế cho nên cũng đã có người thử điều chỉnh nó. Phạm Đức Dương, chẳng hạn, đã dung hoà nó với thuyết của Maspéro mà cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ “hoà hợp” có cơ tầng Nam Á và có cơ chế Đồng Thái (16). Chúng tôi sẵn sàng đồng ý với tác giả rằng tiếng Việt có thể có một cơ tằng Nam Á nếu nói về lịch sử của nó. Nhưng khi nói về phổ hệ thì cái cơ tằng đó lại chẳng có vai trò gì. Lịch sử của một ngôn ngữ và phổ hệ của nó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Xin lại lấy tiếng Pháp làm thí dụ cho dễ thấy vấn đề. Khi viết về lịch sử của ngôn ngữ này, người ta luôn luôn nhắc đến cái cơ tằng của nó là tiếng Gaulois vì đây chính là tiếng nói của tổ tiên người Pháp về sau đã bị tiếng Latin thông tục thay thế. Nhưng khi viết về phổ hệ của nó, người ta chỉ nói rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Roman thoát thai từ tiếng Latin thông tục. Chẳng có ai gán ghép nó vào Gaulois. Ngôn ngữ không phải là một thực thể sinh vật học cho nên không thể xét phổ hệ của nó theo kiểu sinh vật. Do đó, tiếng pháp cũng không phải là một ngôn ngữ “hoà hợp”, nghĩa là một thứ tiếng lai, có cơ tằng Gaulois và có cơ chế Roman. Chính Haudricourt cũng bác bỏ phát ngôn ngữ hoà hợp. Cách diễn đạt của Phạm Đức Dương, suy đến cùng, chẳng qua cũng chỉ là một cách thừa thận rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái.
Quả thật như thế, theo chúng tôi, cứ vào các dữ kiện được biết cho đến nay thì tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái vì cấu trúc và cơ chế của nó là Thái như chính Phạm Đức Dương đã khẳng định. Cái bản sắc cùng với tính phổ hệ của một ngôn ngữ được bộc lộ không phải thông qua từ vựng mà thông qua cấu trúc và cơ chế của nó. Đây là một luận điểm thông thường và hoàn toàn xác đáng. Chính là xuất phát từ luận điểm này mà J.Vendryes đã viết: “Từ vựng có thể biến đổi, thậm chi từ đầu đến cuối mà ngôn ngữ không hề bị làm cho biến chất một cách có thể cảm nhận được trong cấu trúc ngữ âm hoặc ngữ pháp của nó” (17). Còn Jacques Chaurand thì viết: “Một ngữ được đặc trưng bằng sự tập hợp của những nét căn bản về ngữ âm và về hình thái mà sự gắn bó trong nội bộ của một hệ thống là một sự bảo đảm để nó chống lại các cuộc đảo lộn có thể là sâu sắc và thô bạo” (18). Cuối cùng, E.Sapir thì viết: “Chúng ta không có quyền giả định rằng một ngôn ngữ có thể nhào nặn lại một ngôn ngữ khác một cách quá dễ dàng bằng ảnh hưởng hình thái học của nó” (19). Vì vậy không thể chấp nhận ý kiến của Phạm Đức Dương cho rằng cơ chế của một tiếng Việt là một cơ chế “mô phỏng” theo một ngôn ngữ Đồng Thái do kết quả của sự giao thoa trong quá trình tiếp xúc (20). Đó chỉ có thể là một cơ chế Thái tự thân nó mà thôi. Vậy, theo chúng tôi:
Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ Môn – Khmer đã bị một ngôn ngữ Thái thay thế. Điều này phù hợp với giả thuyết của Vương Hoàng Tuyên cho rằng “trên đồng bằng Bắc – bộ, xưa kia là nơi cư trú của một giống người nói tiếng Môn – Khơ me thì có một sự di cư to lớn của một lớp người nói tiếng Thái ở Tây nam Trung – quốc tràn qua” (21). Chính ngôn ngữ Thái này đã thay thế cho ngôn ngữ Môn – Khmer kia để trở thành tiếng Việt ngày nay./.
Chú thích
(1)   BEFEO, 1912, t.XII, nó, pp.1- 124.
(2)    BSLP, 1953, t,49, fasc.1, no 138, pp.122-8.
(3)X. Về sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam châu Á, ngôn ngữ, s.1, 1991, tr.74
(4) André-Georges Haudricourt, Kiến thức ngày nay, s.68, tr.4.
(5) Bđd, tr.125.
(6), (7) De I’origine des tons en Vietnamien, JA, 1954, t. CCXLII, fasc. 1, p.82.
(8) Comment reconstruire le chinois archaique, linguistics Today, New York, 1954, p.231.
(9), (10), Bđd, tr. 73.
(11) Le langage, trad. Par Michel Olsen, les Editions de Minuit, 1969, p.90.
(12) Sur la théorie des affinités phonologiques entre les langues, in N.S. Troubetzkoy, Principes de phonologie, trad, parJ. Cantineau, Paris, 1967, p.353.
(13) X. Lelangage, Paris, 1921, p.364.
(14) X. Recherches Préhistoriques dans la région de Mlu Prei (Cambodge), Hanoi, 1943, p.3.
(15) Như (6), (7), tr.81.
(16) X. Vấn đề proto – Việt Mường trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á thời cổ đại, Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, Hà Nội, 1986, tr.289.
(17) Sđd, tr. 360.
(18) Histoire de la langage, trad. Par S.M. Guillemin, Paris, 1953, p.192.
(20) Bđd, tr.289.
(21) Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt – nam, Hà Nội, 1963, tr.193.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người giỏi và bọn... dở hơi khác nhau thế nào?


Nguyễn Ngọc Thuần
(PLO) Với sự thông minh và dí dỏm của mình, nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần đã liệt kê những cách phân biệt và nhận biết đâu là người giỏi và đâu là bọn... dở hơi! Không vui, không độc đáo thì không phải là... Nguyễn Ngọc Thuần!

Người giỏi biến công việc nhàm chán thành tác phẩm, sau đó thưởng thức chúng. Bọn dở hơi biến tác phẩm thành công việc sau đó cặm cụi làm.

Người giỏi đi trễ nhưng sẵn sàng giải quyết và hoàn thành công việc bất kể giờ giấc nào, bất kể giá nào. Bọn dở hơi đi rất đúng giờ nhưng lãng công.

Người giỏi quản lí trên thành quả. Bọn dở hơi điểm danh.

Người giỏi giao việc và tin tưởng, bọn dở hơi liên tục để ý rình mò nhưng không có phát kiến.

Người giỏi đánh giá thành công và thất bại. Bọn dở hơi bói móc và truyền cảm hứng lo sợ.

Người giỏi biết tưởng thưởng người khác và lơ đi lỗi lầm của kẻ khác. Bọn dở hơi bới móc ra lỗi và liên tục cướp công.

Người giỏi nhân hậu trong mọi công việc. Bọn dở hơi tàn nhẫn trong mọi mối quan hệ.

Người giỏi im lặng. Bọn dở hơi nguyền rủa.

Người giỏi trung thực, trung dung. Bọn dở hơi nịnh nọt, xu thời.

Người giỏi nói ra ý của mình. Bọn dở hơi nói ý của lãnh đạo, hoặc mượn lãnh đạo để nói ý của mình.

Khi một lãnh đạo ra đi. Người giỏi tưởng nhớ. Bọn dở hơi chửi rủa.

Người giỏi nhìn về khó khăn của tương lai và khắc phục nó. Bọn dở hơi nhìn vào thành công quá khứ, và liên tục nhai lại.

Người giỏi tĩnh lặng. Bọn dở hơi chạy lăng xăng.

Người giỏi có vẻ biết rất ít nhưng biết chắc. Bọn dở hơi cái gì cũng có vẻ biết.

Người giỏi sử dụng người giỏi hơn mình và biết cách dùng. Bọn dở hơi luôn muốn sử dụng người dở hơn hắn và trù dập.

Người giỏi tin vào mình. Bọn dở hơi muốn người khác tôn vinh.

Khi cho một tí quyền hành. Người giỏi tìm giải pháp. Bọn dở hơi tìm vây cánh và triệt tiêu sự phát triển.

Người giỏi đề cao sáng tạo. Bọn dở hơi đề cao sự làm lụng.

Người giỏi biến một công nhân thành nghệ sĩ. Bọn dở hơi cố biến một nghệ sĩ thành công nhân.

Người giỏi yêu cuộc sống. Bọn dở hơi hoang mang và cố chiếm đoạt cuộc sống của người khác.

Người giỏi nhìn vào chính mình. Bọn dở hơi rình mò người khác và bới móc.

Người giỏi biến việc lớn thành việc nhỏ. Bọn dở hơi thổi phồng việc nhỏ thành việc lớn.

Danh sách còn dài, nhưng lười quá, dừng ở đây nhé. Tóm lại, người giỏi nên quên đi bọn bọn dở hơi. Bọn dở hơi thì chỉ nên sống với bọn dở hơi. Đây là kinh nghiệm làm việc với người giỏi và bọn dở hơi của riêng tớ. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thêm một nguồn suối cạn !


Nguyen Pham Xuan đã thêm 2 ảnh mới.
ĐÁM TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN
Phạm Xuân Nguyên
Tối 17/12/2014, lúc 21h, khi đang ngồi cùng anh em Nhã Nam sau cuộc tọa đàm về bộ sách Việt Nam danh tác tại Viện Pháp, tôi được cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. Anh Tường cho tôi hay tin anh Tấn đã lạnh một chân rồi, sắp đi rồi. Lễ tang anh Tấn sẽ do gia đình, khối phố và bạn bè đứng ra lo liệu. – Anh sẽ ở trong ban tang lễ, và gia đình anh Tấn cũng muốn có em nữa, em thấy được không thì để anh báo cho Hiến (con trai cả anh Tấn). Tôi nói vâng mà trong lòng như còn thầm trách anh Tường “làm sao lại hỏi em câu đó hả anh, anh Tấn mất thì em phải được chung tay cùng gia đình và các anh lo liệu chứ”. Anh Tường cho biết gia đình ủy quyền cho anh viết và đọc điếu văn. – Viết xong anh sẽ gửi em đọc trước. Dứt cuộc điện thoại, tôi nói lại tình hình của nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho các anh em cùng nghe. Công ty văn hóa truyền thông Nhã Nam là một nơi gần gũi anh Tấn, đã từng in mấy tập sách của anh, trong đó có tiểu thuyết Biển và chim bói cá. Vũ Hoàng Giang, phó giám đốc Nhã Nam, nói nếu có tin gì thì anh báo ngay cho em biết với.
Sáng 18/12/2014, 7h, tôi được đánh thức bởi cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. – Anh Tấn đi rồi, Nguyên ạ. Mới đi. Đi lúc 6h15. Giờ giấc tang lễ báo sau. Chỉ vậy thôi rồi anh buông máy. Tôi thẫn thờ, buồn. Vẫn biết bệnh ung thư phổi của anh Tấn ngày một xấu đi. Vẫn biết sự sống của anh chỉ còn tính từng ngày. Vẫn biết anh sắp rời cõi thế. Mà được tin vẫn bất ngờ, đau xót. Bao giờ trước sự ra đi của một con người ai cũng đều có cảm giác đó. Nhưng với một CON NGƯỜI như nhà văn Bùi Ngọc Tấn, cảm giác đó sâu nặng hơn, thấm thía hơn. Sau khi nhận tin tôi vội thông báo ngay lên facebook để mọi người biết. Và suốt ngày hôm đó nhiều cuộc điện thoại, nhiều tin nhắn gọi gửi đến tôi để hỏi tin đích xác có phải anh Tấn đã mất thật rồi không, khi nào thì viếng và đưa tang, có cơ quan hội đoàn nào lo việc tang của anh không, nhờ đặt vòng hoa, bỏ tiền phúng viếng. Các báo đài cũng điện hỏi cảm xúc, ý kiến tôi về nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Khi đó tôi chưa biết là ngay khi anh Tấn vừa nằm xuống, Ban tuyên giáo Trung ương đã có chỉ thị cho các cơ quan truyền thông đại chúng là đưa tin có mức độ (nhưng Đài truyền hình trung ương là không đưa tin), không nhắc tên tác phẩm vì ông này có tác phẩm được giải thưởng nhưng cũng có tác phẩm bị cấm. Vì vậy đọc những tin bài về anh Tấn mấy ngày qua chỉ thấy sơ sài. Anh Tường thì nửa buổi sáng đã gọi lại bảo tôi cùng đi với anh xuống Hải Phòng ngay, anh không thể để bạn nằm xuống mà không có mình bên cạnh. Tôi bận việc nên chưa thể đi ngay, nên anh Tường đã gọi taxi chiều ấy xuống.
Sáng 19/12/2014, 7h30, tôi lái xe chở bố con nhà văn Nguyên Ngọc và họa sĩ Đỗ Phấn xuống Hải Phòng. Anh Ngọc muốn được có mặt lúc 10h khâm liệm anh Tấn để nhìn mặt bạn văn lần cuối. Xe đến Hải Phòng kịp giờ liệm anh Tấn (mặc dù ở đoạn đường 5 cuối tỉnh Hải Dương bắt sang địa phận Hải Phòng tôi bị phạt tốc độ, nhưng nghe tôi nói chở đoàn nhà văn xuống viếng một nhà văn nổi tiếng và lại thấy tôi tóc trắng cầm lái, nên anh công an trẻ gật đầu cho đi, còn dặn bác lái cẩn thận). Tuy nhiên, thầy cúng xem giờ xem tuổi đã nói khi khâm liệm anh Tấn (tuổi Giáp Tuất 1934) thì những người ở năm sáu con tuổi khác phải tránh, không được có mặt nhìn mặt. Anh Tường tuổi Nhâm Thân (1932) bị kiêng, mà anh Ngọc cũng tuổi ấy, nên đành chờ liệm xong phát tang. Biết được điều này khi đang trên đường đi nên tới Hải Phòng tôi cho xe chạy đến hàng hoa ở ngay Nhà hát lớn thành phố. Vừa nói đặt hoa, lại thấy biển số xe Hà Nội, chị hàng hoa đã nhanh nhảu - có phải các bác viếng ông to gì ở đường Thiên Lôi không, - phải rồi, nhưng sao lại biết là ông to, - vì nghe nói có nhiều công an dẹp đường, canh giữ mà, - à ra thế. (Điều này nhạc sĩ Dương Thụ cũng cho biết: anh bay từ Sài Gòn ra, xuống sân bay Cát Bi lấy taxi về đường Thiên Lôi, anh lái bảo cháu biết rồi, chú ra dự đám ma ông gì đó phải không, ông ấy chắc làm to vì lâu nay đường đó vốn hay tắc có thấy ai dẹp trật tự gì đâu, hôm nay bỗng dưng có rất nhiều công an trực, phân luồng xe, thế chắc cái ông vừa mất phải là ông to rồi). Tôi đặt bốn vòng hoa: cho tôi và Nguyễn Quang Lập, cho Hội nhà văn Hà Nội, cho Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm TPHCM, cho hai gia đình Nguyệt Cầm và Đỗ Hoàng Diệu ở Mỹ. Sau khi dặn mang hoa đến nhanh, tôi chạy xe về ngõ 800 đường Thiên Lôi. Trong căn nhà số 30 ở ngõ này của con trai cả Bùi Ngọc Hiến, anh Tấn đã sống mấy tháng cuối cuộc đời mình và đã trút hơi thở cuối cùng. Linh cữu anh quàn tại đó và tang lễ sẽ làm tại đó. Đường Thiên Lôi nhỏ, chỉ vừa đủ hai ô tô tránh nhau. Ngõ 800 may cũng vừa đủ chỗ đi lại, ngay cả khi đã dành một phần nửa dọc lối đi làm chỗ để xe máy cho người đến viếng.
Khi chúng tôi đến, dọc đoạn đường Thiên Lôi quanh ngõ 800 và dọc trong ngõ đã có nhiều bóng áo công an và những người lạ mặt mà nhìn ánh mắt vẻ mặt dáng điệu thấy đầy cảnh giác, soi xét. Đoàn các anh Phạm Toàn, Chu Hảo và nhóm Cánh Buồm cũng vừa tới. Các vòng hoa của Ban vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam, Cánh Buồm, Diễn đàn Paris đã được nhờ đặt trước và đưa đến. Anh em gặp nhau, anh Tường cho biết: tối qua (18/12) an ninh công an Hải Phòng đã đến gặp chị Bích đề nghị tang lễ chỉ nên làm trong phạm vi gia đình, tránh những chuyện quá khích. Đang trò chuyện thì có tin báo là hai vòng hoa của Văn Đoàn và Diễn Đàn Paris bị bắt gỡ băng. Mọi người kéo ra chỗ để vòng hoa xếp trong ngõ và được yêu cầu gỡ băng ra. Thì gỡ, nhưng vòng hoa vẫn được giữ lại đem vào viếng.
Lễ viếng bắt đầu lúc 11h. Gia đình anh Tấn đã thuê công ty dịch vụ tang lễ Thiên Thảo nên việc tổ chức lễ viếng, lễ tang, lễ an táng khá bài bản, chu tất, tuy có một thiếu sót vô cùng đáng tiếc và ân hận tôi sẽ nói sau. Quan tài anh Tấn để khuất sau bàn thờ, người viếng không đi vòng quanh xem mặt anh lần cuối, chắc đây là phong tục ở từng nơi. Các đoàn đến viếng đầu tiên rất đông. Loa xướng tên từng người, từng đoàn. Đến lượt Cánh Buồm xong thì bỗng nghe “Xin mời đoàn Diễn Đàn Paris vào viếng”. Thế là vòng hoa của Diễn Đàn, của Văn Đoàn cùng được đưa vào đặt trước bàn thờ anh Tấn tuy không có dải băng ở trên. Nhưng khi viếng xong nghe trong loa lời cảm ơn thì có nhắc tới Văn Đoàn. Đến lượt tôi đăng ký Hội Nhà văn Hà Nội và cùng Đỗ Phấn mang cả bốn vòng hoa vào. Sáng hôm sau tôi còn đặt thêm một vòng hoa nữa và khi mang viếng loa đã vang to “nhà báo Huy Đức và nhà thơ Đỗ Trung Quân vào viếng”. Hội Nhà văn Việt Nam xuống viếng vào chiều muộn, đoàn do nhà văn Nguyễn Trí Huân phó chủ tịch Hội dẫn đầu, viếng xong là về. Thoáng chốc lối ngõ 800 Thiên Lôi đã chật đầy các vòng hoa viếng mà hoa vẫn cứ được mang tới, mà các đoàn người vẫn đang đến. Nhìn các vòng hoa dọc lối đi tôi thấy có của gia đình tướng Trần Độ. Vừa lúc Khánh Trâm (con dâu vị tướng) điện đến, tôi nói có thấy vòng hoa gia đình cụ Độ rồi, Trâm bảo còn một vòng hoa nữa đề là “Câu lạc bộ Lê Hiểu Đằng kính viếng” đã bị bắt bỏ băng rồi anh ạ. Vậy là có ba vòng hoa viếng bị bắt gỡ băng xuống, cho đến lúc ấy. Có vòng hoa của gia đình nhà văn Nguyên Hồng, gia đình nhà thơ Hoàng Hưng, của bogger Hiệu Minh, của Quán Văn TPHCM, của phòng Văn hóa Văn nghệ Ban tuyên giáo thành ủy Hải Phòng. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng gửi vòng hoa viếng do có người con rể của anh Tấn là giám đốc một công ty thuộc Bộ. Nhiều lắm những vòng hoa tươi cho linh hồn anh Tấn khi kết thúc tang lễ đã có 368 đoàn đến viếng, trong đó có nhiều đoàn đi hai ba vòng hoa đại diện cho nhiều người nơi xa không tới được bên anh giờ phúc cuối.
Ban tang lễ nhà văn Bùi Ngọc Tấn gồm 7 người do ông phó chủ tịch mặt trận phường làm trưởng ban, và gồm tổ trưởng tổ dân phố 59, đại diện khu dân cư ngõ 800, trưởng tộc họ Bùi, anh Dương Tường, tôi, và Hiến đại diện gia đình. Lúc đầu anh em nghĩ đơn giản là khi làm lễ truy điệu thì tôi dẫn, anh Dương Tường đọc điếu văn. Nhưng tối 19/12 gia đình cho biết là ông Giám đốc công an thành phố Hải Phòng, tướng Đỗ Hữu Ca, đã đến nhà yêu cầu để điếu văn cho tổ trưởng tổ dân phố đọc. Chúng tôi bất ngờ. Bài điếu văn anh Tường viết ngắn nhưng ẩn chứa nhiều cảm xúc, suy nghĩ, câu chữ nặng lòng nặng tâm tưởng. Dương Tường, người bạn thân thiết hơn nửa thế kỷ chia sẻ buồn vui hoạn nạn của Bùi Ngọc Tấn, viết điếu văn bạn mình không kể tiểu sự, cuộc đời anh Tấn, mà nói lên vị trí của anh Tấn đối với Hải Phòng, đối với Việt Nam trong văn chương, một vị trí có thể làm vinh dự cho nước nhà trên thế giới. Bài điếu văn đó chỉ có thể được đọc do chính người viết ra nó, không ai khác. Chúng tôi bàn tính mấy khả năng: không đưa bài điếu văn của anh Tường cho bà tổ trưởng dân phố đọc, bà ấy có đọc bài khác thì đọc, sau đó anh Tường sẽ đọc tiếp bài của mình thay mặt gia đình bạn hữu văn chương, còn nếu không được đọc bài đó ở lễ truy điệu thì khi hạ huyệt ở nghĩa trang sẽ đọc. Mọi người lo nghĩ đến tình huống xấu nhất sẽ xảy ra sự can thiệp thô bạo của công an tại lễ truy điệu ngay trước linh cữu anh Tấn quanh việc đọc điếu văn. Nhưng đến sáng 20/12, trước vài giờ lễ truy điệu, chúng tôi được tin anh Tường vẫn sẽ đọc bài điếu văn của mình.
Và nhà thơ Dương Tường đã đọc bài điếu nhà văn Bùi Ngọc Tấn bằng một giọng trầm hùng, khỏe khoắn, nhấn vào từng câu từng chữ. Bài điếu chỉ có gần năm trăm con chữ, nhưng anh Tường đã chất vào đó cả một thân phận đời người đời văn trên trần thế 80 năm của anh Tấn, chất vào đó cả số phận của một thế hệ các anh “cùng một kiếp bên trời lận đận” say lý tưởng và vỡ mộng tưởng, chất vào đó cả số kiếp văn nhân văn chương nhiều lao đao lận đận với nhân dân, đất nước. Thường ngày anh Tường nói khó nhọc, đứt quãng, nhưng trước linh cữu bạn mình, trước đông đảo thân bằng cố hữu của anh Tấn và trước những người dân ngõ xóm láng giềng nhà con anh có thể chưa biết anh Tấn là ai, giọng anh Tường đã vang to, rành mạch, rõ ràng, được loa truyền đi càng vang vọng:
“Thưa...
Tôi được gia đình tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng tách đọc lời điếu trong lễ tang này.
Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chi là một mât mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tư hào của Hải Phòng, hội viên danh dự hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín.Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lơn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Vâng, Hai Phòng có người con như thế đó.
Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.
Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người tư xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert...”
Đọc xong, anh Tường đặt bản văn điếu lên quan tài anh Tấn, chỗ nắp che mặt anh nằm trong. “Thôi, Tấn đi!”, anh Tường nói rồi khóc nấc lên. Cả khối người trong nhà ngoài sân cùng lặng phắc xúc động. Phút giây ấy tôi nghĩ anh Tấn được thỏa nguyện và linh hồn anh còn vương vấn nơi đây sẽ mỉm cười đôn hậu như anh vốn đôn hậu một đời.
Phút chót vẫn còn những bạn văn từ Hà Nội xuống kịp tiễn đưa anh.
Đúng 10h ngày 20/12/2014 lễ di quan bắt đầu. Quan tài anh Tấn được đưa đi giữa dòng người dòng hoa. Công an dẹp lối, dẫn đường. Dòng người hoa kéo dài đưa anh về lại ngôi nhà của anh ở 10 Điện Biên Phủ, quận Ngô Quyền. Công an đã túc trực ở đó, hướng dẫn giao thông, và canh gác. Thắp hương cho anh tiễn biệt nơi cư ngụ trần thế của mình xong, đoàn tang đi về nghĩa trang Ninh Hải. Một nghĩa trang rộng rãi, phong cảnh thoáng đãng, “không có mùi âm khí” như nhận xét của anh Dương Thụ. Nắng đông hanh vàng bừng sáng chứng kiến giờ phút thân thể nhà văn Bùi Ngọc Tấn về đất. Anh sẽ nằm đây ba năm, sau đó cất bốc đưa về quê ở thôn Câu Tử ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng). Tôi là người đầu tiên ném nắm đất xuống huyệt mộ anh. Quay ra, anh Nguyễn Quang A vẫy lại, lấy ra cái băng đề “Diễn đàn xã hội dân sự kính viếng” cài lên một vòng hoa. (Đây là băng anh Quang A thủ sẵn thêm vì cái băng đính trên vòng hoa vào viếng cũng đã bị gỡ, vậy là có bốn vòng hoa không có băng tang). Vòng hoa ấy đã cùng bao vòng hoa khác được đắp lên mộ anh Tấn trong khói hương tỏa ngát. Tôi là người gần sau hết thắp hương cho anh trước mộ. Anh Tấn ơi, em vĩnh biệt anh, người anh người bạn vong niên như người ruột thịt mà em may mắn được quen thân trong mười lăm năm qua, cùng bên em vĩnh biệt anh đây có bao nhiêu người khác nữa nhờ em chuyển tới anh lời yêu thương quý trọng và mong anh thanh thản ở cõi trời khác. Tôi nghẹn ngào và nhà nhiếp ảnh Xuân Bình đứng bên tôi từ lúc nào cũng nghẹn ngào. Chúng tôi khóc cho Hải Phòng và cho chúng tôi từ nay đã mất Bùi Ngọc Tấn.
Trước đó, khi mọi người đang cắm hương trên mộ anh Tấn, tôi nhận được cuộc gọi của Mặc Lâm đài RFA đang thường trú ở Thái Lan. Anh Mặc Lâm hỏi tôi câu thứ nhất về tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của anh Tấn. Tôi nói: “Trước hết, đây là một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết tiểu thuyết chứ không phải tự truyện hay hồi ký, mặc dầu nhân vật lấy từ chính cuộc đời của anh, năm năm lao tù của anh, nhưng là tiểu thuyết và do vậy kinh nghiệm cá nhân của Bùi Ngọc Tấn cộng với kinh nghiệm bạn tù và những kinh nghiệm quan sát của một nhà văn trong đời sống xã hội nó hun đúc lên thành hình tượng, thành nhân vật và do đó sức khái quát nó lớn hơn. Sức thuyết phục, tác động nó mạnh hơn. Trong đám ma của ông hôm nay rất nhiều bạn bè văn chương cũng khẳng định như thế, đây là một tác phẩm có thể nói là một bước ngoặt của văn học Việt Nam. Một tác phẩm sẽ sống lâu và còn giúp cho mọi người đọc nó nhận biết thực tại đời sống xã hội Việt Nam trong 50 năm của nửa cuối thế kỷ 20. Sau nữa, điều quan trọng là tâm thế của Bùi Ngọc Tấn trong tác phẩm này cũng như các tác phẩm khác của anh từ khi anh trở lại văn đàn là một sự nhân hậu ấm áp. Khi đã trải qua những năm tháng trong nhà tù khắc nghiệt như vậy mà có giọng hằn học, cay độc thì cũng là lẽ tất nhiên nhưng không, ông đã chọn nói về những sự thật đó, nói về những nỗi đau của con người, về những vấn đề xã hội nhân sinh bằng một giọng văn nhân hậu, ấm áp, mà đọc vào khiến người ta xúc động và càng thấy sự chân thực toát lên và nhờ đó sự thật của đời sống của văn chương nó đạt được hiệu quả”. Câu thứ hai Mặc Lâm hỏi về con người trong đời sống của Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói: “Kể từ khi tôi quen biết và trở nên thân thiết như một người em một người bạn vong niên thì tôi thấy anh Tấn một nhà văn hết sức nhân hậu, nồng hậu, ấm áp, biết hài hước mặc dù luôn luôn đau đáu về cuộc sống, văn chương. Bất kỳ ngồi với với ai đều không thấy anh dùng giọng cha chú, bề trên hay gì cả. Rất nhiều người trẻ cả độc giả lẫn người viết trẻ đều cảm nhận ở anh Bùi Ngọc Tấn một sự hòa đồng, bình đẳng và tin cậy ngay khi được gặp anh. Tin cậy trên trang viết và tin cậy trong cuộc sống.”
Trong bữa cơm trưa cùng gia đình sau đám tang, tôi bất chợt nhớ ra một cái thiếu mà công ty dịch vụ tang ma không làm, mà tất cả chúng tôi đều không nhớ ra để làm. Đó là không có SỔ TANG. Trời ơi, sao xảy ra cơ sự này! Sổ tang là một vật không thể thiếu trong mọi đám ma, ngay cả những người bình thường nhất mất đi khi tang lễ cũng đều có sổ tang cho người đến viếng lưu lại những lời chia buồn. Vậy mà đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn không có sổ tang. Bao nhiêu lời thương tiếc, kính trọng, đánh giá của bao người yêu quý anh lẽ ra đã được ghi lại ngay trong lúc đau thương này để gia đình trân trọng biết ơn tự hào về anh, để lịch sử văn học có cứ liệu về anh từ người đương thời. Vậy mà không có sổ tang trong đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói ra điều này mọi người đều sững sờ, ân hận. Tôi tự trách mình lắm, sao lo việng tang ma cho anh mà lú lẫn để không chú ý một việc quan trọng như vậy, mãi khi anh mồ yên mả đẹp rồi mới nhớ ra. Hay đấy vẫn là số phận của anh, anh Tấn, để những người sống sẽ còn phải nói nhiều về anh mai ngày nữa. Như trong những ngày tang, mỗi khi ngồi lại với nhau, anh em bạn bè còn bàn thảo nào là phải tập hợp di cảo của anh để xuất bản, nào là phải có kế hoạch biến ngôi nhà anh tại 10 Điện Biên Phủ thành một bảo tàng tư nhân Bùi Ngọc Tấn, nào là có thể sau này có một đường phố Hải Phòng mang tên Bùi Ngọc Tấn, nào là… Anh mà nghe thấy được có thể từ bức ảnh kia anh nói vọng ra: gượm đã các cậu, chờ cho tớ qua 49 ngày rồi có gì ta tính, giờ thì tớ chỉ muốn thảnh thơi đi gặp ông anh Nguyên Hồng hàn huyên thôi. Anh hiểu bạn bè và bạn bè hiểu anh mà!
Trên xe về lại Hà Nội, nhạc sĩ Dương Thụ hỏi nhà văn Nguyên Ngọc: khi đưa tang một người anh nghĩ đến điều gì nhất? Anh Ngọc trả lời: mọi người hay nói về ngày tận thế, mình thì thấy một người mất đi chính là tận thế, vì khi ấy vũ trụ đã mất với người đó. Tôi muốn thêm: và vũ trụ cũng mất người đó rồi. Từ 6h15 ngày 8/12/2014 (27/10 Giáp Ngọ) Hải Phòng đã mất Bùi Ngọc Tấn, văn học Việt Nam đã mất Bùi Ngọc Tấn.
Chủ Nhật 21/12/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG LẬP BỊ TẠM GIAM 3 THÁNG




LẬP VẪN CHƯA VỀ (3)
Phạm Xuân Nguyên


Tôi vừa được tin Lập bị phê chuẩn tạm giam 3 tháng để điều tra theo điều 88 bộ Luật Hình sự. Nếu đúng là vậy thì thật nghiêm trọng. 


Không, Nguyễn Quang Lập không chống đối ai cả! Nguyễn Quang Lập chỉ cất lên tiếng nói của con người và nhà văn trước hiện tình đất nước để mong xã hội tốt đẹp hơn, đất nước phát triển hơn. Tôi tin bạn tôi như tôi tin tôi! Giờ này vợ con Lập vẫn đang ngồi chờ ở nơi giam giữ Lập như ngày hôm qua.

"Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

Bức ảnh trên chụp Lập trong ngày cùng các bạn bè đón Nguyễn Việt Chiến ra tù (17/1/2009).
Phần nhận xét hiển thị trên trang