Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

THƠ MAN NHIÊN:

một mớ tôi
             
 
tối, và hơn nữa
quá buồn để cởi giày
tôi ngồi một bên mép giường
ngáp như con gấu
 
tôi có thể là tôi ngày hôm qua
một gã đeo kính gầy nhom với mụn trứng cá
tôi là một con khỉ, một kẻ nổi loạn
một cái tên sai chính tả
tôi luôn tin cái chết là một trò lừa bịp
 
mặt trời mọc lên trên đỉnh đầu của tôi
trong tiếng kèn vinh quang buổi sáng
tôi quay lại tôi mười chín tuổi
nước mắt trong cục đá xanh
trông giống như tôi đã khóc
 
tôi thừa hưởng từ cha tôi, các vết lở loét trong miệng
mỗi thứ hai giống như ban phước lành
mùi thịt tươi ủ treo trong không khí
không ai nói cuộc sống dễ dàng, họ chỉ hứa một bầu trời màu xanh để nhìn lên
trên những mái nhà màu xám
 
tôi đã chuẩn bị tái sinh, từ một bờ sông bẩn thỉu
thủy triều yên tĩnh trên da chúng ta
một bó rau xà lách cởi quần
một đống hắt hơi của giấm chua và mù tạt hoang dã
một mớ lảng vảng nghệ thuật cần đi bộ để tiêu hoá nó
 
tôi đặt đầu xuống, nụ cười rơi vãi trên sàn nhà
giấc ngủ ám ảnh bởi những ký ức bỏ lại
đi qua sự đau đớn uy nghi
với tấm chăn và mặt nạ dưỡng khí trên mặt
cái lưỡi của tôi đang hồi phục từ trầm cảm
 
 
 
như chúng ta, giữa những đám mây mạnh mẽ
 
tôi muốn ngủ một giấc mơ
giữa đám mây bông màu hun khói
những ngọn đồi thấp phía tây
những chuyến tàu dường như vô tận
như dòng chảy nhàn nhã trong miệng chúa trời
 
nhắm mắt và tưởng tượng, đã không nhìn thấy mưa trong nhiều tháng
một con gà trống trên mái nhà, một con chó chạy dọc theo con đường bận rộn
một bức tường bị đổi màu, các đường ống nứt
mùi đô thị mùa đông
để dành đêm đi lạc
 
trong rỗng giường
chúng ta dệt tay nhau
mỗi xoắn ốc chuyển động ẩm ướt
tiếng kêu nảy ra khỏi toà nhà
để lại những bóng đèn bị vỡ
 
tôi ngồi xổm lên năm ánh sáng
cơn phấn hứng của các dây thần kinh hoá thạch
thơ trào ra với mật ong
con chuồn chuồn màu xanh
rơi vào cống bão
 
tôi nhìn vào cánh cửa
nơi ẩn náu giữa ngủ và chết
trong ơn gọi lựa chọn
con tàu của sự lãng quên
neo đậu không ân sủng
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình yêu thời khốn nạn - Ngố muốn đặt lại tên cho bài thơ này, tác giả chắc không phẩn đối chứ?

Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng!

Đó là nhan đề một bài thơ tôi tình cờ đọc được trên mạng, tác giả là một nữ sĩ, cô ký là Nồng Nàn Phố. Bài thơ như thế này:
Yêu em đừng yêu quá
Lỡ đâu mình chia tay
Lỡ đâu tình không trọn
Lòng ta tan như mây!
 
Yêu em đừng yêu ít
Thương nhớ sẽ nhạt nhoà
Nụ hôn bỗng chát đắng
Nỗi buồn cũng nhanh qua
 
Yêu em đừng quá ít
Cũng xin đừng quá nhiều
Chỉ đủ để tha thứ
Hiểu, thương và tin yêu
 
Chỉ đủ để da diết
Hôn thật sâu thật êm
Đủ rùng mình vì nhớ
Cắn tay ngỡ môi mềm
 
Em vẫn đang yêu anh
Bằng trái tim con gái
Bằng những điều mất đi
Và cả điều còn lại
 
Tất cả bài thơ ngũ ngôn, 20 câu, 100 chữ, nồng nàn như cái tên của thi sĩ, dường như đều để biện minh cho lời khẳng định dứt khoát trong cái nhan đề “... em phải dậy lấy chồng”
Dù có nhiều hình dung từ nồng thắm, tươi đẹp, dù “Em vẫn đang yêu anh / Bằng trái tim con gái”, dù thế nào đi nữa, dù sao đi nữa, thì em cũng cương quyết, cũng dứt khoát, cũng dứt áo phải dậy lấy chồng.
Bài thơ dịu dàng nữ tính; nhưng sự độc đáo của nó nằm ở cái nhan đề, nó làm tôi phải tưởng tượng và suy ngẫm về tình huống mà nó đặt ra. Hãy hình dung theo tôi nhé, hãy tưởng tượng như một đoạn phim:
Nửa đêm cuối thu, lành lạnh. Đôi tình nhân nằm bên nhau. Chàng trai choàng tay qua ôm người tình. Cô gái run rẩy hạnh phúc, cô hôn lên mặt chàng. Họ lại quấn vào nhau, lần nữa, mệt nhoài, thoả mãn, rồi ngủ tiếp.
Mặt trời chưa lên hẳn, những tia nắng đầu ngày soi qua rèm, lọt vào căn phòng ngủ nhỏ. Cô gái thức. Cô trăn trở. Cô nghĩ đến ngày mai, cái ngày mai cơm áo gạo tiền, đầy bất trắc và không có chút không gian nào cho những ảo tưởng lãng mạn. Cô cân nhắc. Cô quyết định dứt khoát. Cô thì thầm với người tình, nhưng thật ra là cô tự nhủ với mình. Tất nhiên là cô thì thầm đủ nhỏ để không đánh thức chàng trai dậy,“Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng!”
Cô nhẹ nhàng ngồi dậy, bước thật khẽ vào phòng tắm, thay áo xống, khẽ khàng thu dọn tư trang, bước ra, cúi xuống hôn nhẹ lên trán chàng trai, nụ hôn vĩnh biệt, đẩy cửa. Đi.
Chàng trai trở mình, rồi vô tư quờ tay qua bên cạnh, vơ được cái gối ôm, chàng ôm cái gối vào lòng, ngủ tiếp. Chàng không kịp trối trăn cho mối tình vừa biến mất khi cánh cửa phòng khép lại. Chàng không kịp, không có cơ hội, nói lời từ biệt sầu muộn nhưng thơ mộng: “Ừ, thôi em về / chiều mưa giông tới / bây giờ anh vui / hai bài tay đói...” [1]
Những tia nắng vẫn vô tư len vào phòng, và chàng trai thì vẫn chưa biết số phận đã quất vào mông mình một cú tàn nhẫn. Chàng vô tư há hốc miệng. Chàng ngáy!
Hết phim.

*

Đoạn trên kia là do tôi phóng tác, tôi bịa ra từ tình huống của bài thơ, còn đây là chuyện thật, của tôi, tin hay không tuỳ bạn.
“Anh sẽ đối xử với em như thế nào nếu một ngày nào đó em đề nghị chúng mình chia tay?” Cô bạn gái của tôi hỏi.
Tôi cố nín cười, nghiêm sắc mặt, trả lời dứt khoát: “Anh sẽ tự tử, không phải bằng thuốc sâu, thuốc ngủ, không lao đầu vào xe tăng, xe tải. Anh sẽ treo cổ!”
Nàng nín thở, trợn mắt. Tôi vờ cúi xuống bẻ ngón chân kêu răng rắc để giấu nụ cười, tiếp tục hù nàng: “Từ đó về sau, mỗi đêm khi bóng trăng tà ngả về Tây, có con quạ đen bay trên nóc nhà, lượn mấy vòng rồi xuống đậu trên thành cửa sổ phòng em kêu lên từng tràng thảm thiết. Em giật mình tỉnh dậy, thấy ở góc phòng mờ mờ ánh trăng một xác người treo lủng lẳng, lưỡi lè ra, hai bàn chân trắng bệch đong đưa... Em hét lên, thì nó biến mất... Không chỉ một đêm. Đêm sau cũng vậy. Anh về. Cứ thế...!”
Nàng run lẩy bẩy, thở hào hển, hỏi dồn, “Rồi sao nữa?”
Tôi tự véo vào đùi mình cho thật là đau để khỏi phì cười: “Còn sao nữa! Rồi sẽ có một đêm cô quạnh nào đó, em tự kiếm cho mình một sợi thừng...”
Nàng hét lên, ôm chầm lấy tôi. Tôi cũng ôm chặt lấy nàng. Nàng thỏ thẻ, vào tai tôi, “Em sẽ không bao giờ xa anh, chúng mình sẽ không bao giờ rời xa nhau...”
Tôi cũng luồn tay vào trong áo nàng, xoa xoa tấm lưng trần mềm mại. Tôi muốn hát khe khẽ, một đoạn nhạc tình ướt rượt, nồng thắm cho nàng nghe, một ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, “Đừng xa nhau... đừng quên nhau... Đừng rẽ khúc tình nghèo...” [2]
Sau hôm đó một tuần, nàng thức dậy khi tôi còn ngủ. Nàng để lại cho tôi lá thư từ biệt trên bàn ăn, nàng chép lại nguyên xi bài thơ của cô Nồng Nàn Phố.
Nàng phải lấy chồng. Nàng đã đi lấy chồng. Nàng làm tôi đau lòng quá, nhưng tôi vẫn yêu nàng, yêu xiết bao!

*

Hết chuyện tôi bịa. Hết chuyện thật của tôi. Còn đây là chuyện của họ. Bạn thắc mắc họ là ai ư? Hãy xem ti-vi và đọc báo, nhưng tốt nhất là lên Facebook trong những ngày này, họ có hộ khẩu thường trú ở trên đó.
Mọi người đều hiểu mối quan hệ của họ với nhau theo kiểu đôi bên cùng có lợi, nếu cái lợi của đối tác to đùng mà cái lợi của mình bé tí thì đành chia tay, tìm một đối tác khác khá hơn. Chuyện thường tình là vậy, nhưng thực tế thì không phải vậy.
Chúng tôi từng thấy họ hôn nhau, ôm nhau, thề nguyền sẽ hôn nhau, ôm nhau như vậy, hết thế kỷ này rồi qua thiên kỷ khác, mãi mãi không rời.
Chúng tôi chứng kiến họ thề thốt rằng mai sau cho dù sóng gió biển Đông, dù biển Đông có lắm tôm nhiều cá, có mỏ dầu mỏ mỡ, thì cũng son sắt một lòng bên nhau.
Rồi, chúng tôi chứng kiến, gã tình nhân to xác và thô bạo kia dang tay thẳng cánh tát vào mặt cô nhân tình bé bỏng đến nổ đom đóm mắt; gã gào lên rằng cô là đồ gái bao hư hỏng, gã sẽ ngưng bao cô, cho cô chết đói; gã phải dạy cho cô một bài học để bỏ cái thói lang chạ, phản trắc. Cô cũng không vừa. Cô bù lu bù loa gọi gã là đồ bạo dâm, đồ tham lam, đồ... bành trướng, rồi co chân tống vào dái gã một cú đau như thiến. Hai đứa lao vào nhau một trận sống mái, sứt tai gãy gọng, buông nhau ra, cùng hét vào mặt nhau rằng không đời nào ngó tới cái mặt chó của nhau nữa.
Nhưng rồi cô đói, cô vạ vật, nhan sắc phôi pha úa nhàu, chẳng ai đoái hoài đến cô. Thằng khốn kia cứ rình rình thấy cô lơ đãng là ra tay nện cô một cú. Cực chẳng đã, cô lại phải cầu cạnh gã, xin làm hoà, lại dọn về cạnh gã. Cả hai lại hẹn thề với nhau. Bản tình ca của họ lại được cất lên ra rả, tha thiết, nồng thắm. Họ mua tranh thêu chữ vàng, treo ở phòng khách của nhà nhau, để ghi nhớ tâm nguyện trọn đời yêu nhau...
?y thế mà thằng vô lại cứ xử tệ với cô hết lần này tới lần khác. Tuần qua gã vừa nện cô một trận. Gã làm nhục cô, hung hãn giật phắt, xé rách váy cô, nhổ nước bọt vào mặt cô.
?y thế mà lần này cô lại cam chịu. Ấy thế mà cô không phản ứng lại. Ấy thế mà không có ai lao đầu vào xe tăng xe tải, hay làm một hơi hết chai thuốc sâu rầy, hay là chui đầu vào sợi dây thòng lọng, cho bớt nhục. Cô tự an ủi rằng cái số mình nó tệ như vậy thì đành phải chịu, biết đâu có ngày thằng khốn nạn hồi tâm; khi hồi tâm thì gã lại yêu cô vì gã cũng là một đứa cô độc trên cõi đời này như cô. Còn bây giờ thì ráng trân mình nhịn nhục cho gã đạp, cho gã nện, cho gã làm nhục. Người ta gọi đó là cái thú mê muội, đau thương. Cô gọi là đấu tranh theo phương pháp hoà bình.
Dù đau lòng lắm, dù muốn lắm, tôi cũng không thể đưa câu chuyện tình hết vỡ lại lành, hết lành rồi lại vỡ của họ vào thơ như thi sĩ Nồng Nàn Phố.
Vả lại, chuyện cho đến nước này thì cô có muốn bỏ gã đi lấy chồng cũng không được, cũng muộn màng rồi. Vì sao ư?
Vì cô sợ rằng mình đã lỡ thì!
Cô nằm mãi bên gã. Cô không dậy. Cô kiên quyết đấu tranh bằng phương pháp hoà bình với gã. Cô không lấy chồng!
Tệ hơn nữa, cô nghiện cái mùi hôi nách rất mất vệ sinh của gã, nghiện đậm, dứt không ra.


_________________________
[1]Thơ của nhà thơ Trịnh Cung, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phổ nhạc.
[2]Ca khúc “Đừng xa nhau” của nhạc sĩ Phạm Duy.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không thể để họ được đằng chân lân đằng đầu


Thanh Thảo 
Giàn khoan HD 981 - một “quả núi di động” đã được Trung Quốc ngang ngược đặt vào vùng biển đặc quyền của Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn của Việt Nam đúng 119 hải lý, và nằm sâu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo luật quốc tế qui định (200 hải lý) là 81 hải lý. Đây rõ ràng là một hành động xâm lấn, nằm trong ý đồ độc chiếm biển Đông qua hình tượng ảo “đường lưỡi bò chín đoạn” mà Trung Quốc rêu rao từ mấy năm nay. Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc, cũng như quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam mà Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái phép từ năm 1974 tới nay vẫn không phải là quần đảo của Trung Quốc. Dù là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, với dân số đông nhất nhì thế giới, nhưng không phải vì thế mà Trung Quốc muốn làm gì thì làm, muốn ngang nhiên áp đặt ý đồ thôn tính hay lấn chiếm của mình thế nào cũng được lên phần lãnh hải của các nước khác trên biển Đông đã được luật quốc tế minh định. Cách Trung Quốc huy động hơn 80 tàu chiến giả trang tàu kiểm ngư hay tàu đánh cá, lao thẳng đâm vào các tàu cảnh sát biển và kiểm ngư của Việt Nam đang nói “phải không” với họ ở khu vực họ đặt trái phép giàn khoan HD 981, làm hư hại tàu Việt Nam, lại dùng vòi rồng cực mạnh phun nước gây thương tích cho cán bộ và nhân viên Việt Nam, là một hành động côn đồ đã được tính toán trước. Họ muốn uy hiếp tinh thần, muốn gây tâm lý căng thẳng cho phía Việt Nam, tạo áp lực về số đông để Việt Nam phải sợ hãi. Điều đó cũng nằm trong chiến lược tâm lý của Trung Quốc khi muốn uy hiếp các nước trong khu vực có lãnh hải ở biển Đông. Nhưng biển Đông không chỉ là nơi có những vùng biển đặc quyền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, nó còn là huyết mạch trong giao thông đường biển quốc tế. Trung Quốc không thể dùng cách của bọn cướp biển để độc chiếm biển Đông, ngăn cản mọi hoạt động bình thường trên vùng biển vốn thanh bình này. Bởi đó là hành động không chỉ gây căng thẳng khu vực, mà còn phá hoại hòa bình và lưu thông hàng hải của cả thế giới. Không phải vô cớ mà liền trong 2 ngày 6 và 7-5-2014, Bộ Ngoại giao Mỹ đã có những phát ngôn chính thức lên án mạnh mẽ hành động của Trung Quốc. Phát ngôn viên Jen Psaki trong cuộc họp báo thường kỳ tại trụ sở Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington đã tuyên bố: “Chúng tôi cực kỳ quan ngại về cách hành xử và hăm dọa nguy hiểm của tàu bè tại các vùng biển có tranh chấp. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên kiềm chế, hành xử một cách an toàn và thích hợp, giải quyết các yêu sách chủ quyền một cách hòa bình, thông qua ngoại giao và phù hợp với luật pháp quốc tế”. Bà Psaki cũng nhấn mạnh quyết định của Trung Quốc khi hoạt động giàn khoan là hành động “khiêu khích và vô ích” đối với nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực.
Việt Nam luôn luôn là nạn nhân của Trung Quốc trong các hành động lấn chiếm hay gây sức ép, cậy lớn “ăn hiếp” nhau trên biển Đông. Việt Nam luôn luôn kiên trì với đường lối hòa bình, hợp tác hữu nghị, nhưng không phải với bất cứ giá nào, nhất là khi những cái giá ấy xâm phạm đến chủ quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam. Vụ việc Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan trên vùng biển Việt Nam chỉ cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đúng 119 hải lý không chỉ là hành động “khiêu khích và vô ích” mà chính là hành động ngang nhiên lấn chiếm, gây áp lực để lấn chiếm, và dùng biện pháp hăm dọa để lấn chiếm. Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ với lối hành xử kiểu “côn đồ trên biển” này của Trung Quốc, và cũng nói thẳng với Trung Quốc là chúng ta không sợ. Trong quá khứ, Việt Nam vô cùng yêu hòa bình đã chưa bao giờ sợ Trung Quốc, thì bây giờ và trong tương lai cũng vậy. Khát vọng sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam-Trung Quốc không đồng nghĩa với sợ hãi từ phía Việt Nam. Thế giới ngày nay đã khác. Không thể dùng vũ lực, hăm dọa, cường quyền và số đông để áp chế trong các quan hệ từ kinh tế tới chính trị. Không thể “cả vú lấp miệng em” cũng như không thể cứ “được đằng chân lân đằng đầu” như cách Trung Quốc hành xử trong vụ đặt giàn khoan khổng lồ trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Chúng ta nhất quyết không để cho Trung Quốc làm việc này, không chỉ vì chủ quyền lãnh hải của mình, mà còn vì an ninh, hòa bình, sự công bằng trong quan hệ quốc tế trên biển Đông.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kêu gọi xây dựng lòng tin tại châu Á, nhưng Trung Quốc đã không chỉ xuyên tạc, vu khống cho Việt Nam về nhiều vấn đề liên quan đến biển đảo, trong đó có Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mà còn “nói một đằng, làm một nẻo” trên Biển Đông.

(Chinhphu.vn) 
Trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế ngày 21/5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh, trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền và thềm lục địa Việt Nam, bất chấp thiện chí hòa bình, đối thoại của Việt Nam, Trung Quốc đã không chỉ ngày càng gia tăng sức mạnh, các hành động uy hiếp và xâm phạm, mà còn “liên tục vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói”.
Nhìn lại tình hình trong những ngày qua, cộng đồng quốc tế đều thấy rõ Trung Quốc đã “vu khống và đổ lỗi” cho Việt Nam như thế nào, ít nhất là ở những điểm sau đây.
Thứ nhất, Trung Quốc nói phía họ chỉ có tàu chính phủ và tàu dân sự tại khu vực giàn khoan, còn Việt Nam có tàu quân sự, và các tàu Trung Quốc là “nạn nhân” của các tàu Việt Nam. Nhưng tại các cuộc họp báo do họ tổ chức, khi được báo chí yêu cầu bằng chứng, họ đã không đáp ứng được.
Trong khi đó, báo chí Việt Nam đã đưa ra rất nhiều hình ảnh, kể cả video clip chứng minh điều ngược lại, rằng Trung Quốc đã điều cả tàu quân sự tới khu vực giàn khoan, các tàu của Trung Quốc đã hung hăng, chủ động đâm va, phun vòi rồng, gây thiệt hại cho các tàu của Việt Nam như thế nào.
Thứ hai, Trung Quốc cố tình lập lờ về vùng biển mà giàn khoan Hải Dương 981 đang xâm phạm. Lập luận ngụy biện của họ là giàn khoan này đang nằm tại “tại vùng biển cách đảo Trung Quốc 17 hải lý, trong khi vùng biển này cách bờ biển Việt Nam 150 hải lý”.
Đưa ra lập luận ngụy biện này, Trung Quốc đã cố tình lờ đi một sự thật: Quần đảo Hoàng Sa, cũng như quần đảo Trường Sa, là của Việt Nam và năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý.
Hơn nữa, cái mà Trung Quốc đưa ra và coi như “bằng chứng” trong trường hợp này vô cùng yếu về mặt pháp lý, nếu không muốn nói là hoàn toàn vô giá trị theo luật pháp quốc tế; và cứ giả sử rằng có ai đó thừa nhận lập luận như vậy, thì cũng phải nhắc lại: Đó là vùng biển quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Thứ ba, Trung Quốc dường như có ý muốn nói họ đã “nhường nhịn” với cách nói rằng Hải Dương 981 là giàn khoan duy nhất của Trung Quốc tại khu vực, trong khi Việt Nam đang có hơn 30 giàn khoan tại đây. Cứ cho rằng thông tin này là chính xác, thì đó lại là một  minh chứng hùng hồn rằng, khu vực này thuộc về vùng biển Việt Nam một cách hiển nhiên, không thể tranh cãi và đã được cả thế giới thừa nhận.
Bởi chẳng có lý do gì để cộng đồng quốc tế phản đối một quốc gia đang tiến hành những hoạt động như thế trong khu vực thuộc thẩm quyền của quốc gia ấy. Nhưng một và chỉ một hành động đơn phương sai trái trong vùng biển của nước khác lập tức sẽ bị cả thế giới đồng thanh lên án, mà việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam rõ ràng là một ví dụ đắt giá. “Bằng chứng” mà Trung Quốc đưa ra chẳng thuyết phục được ai về sự “nhường nhịn” của họ, mà chỉ chứng minh rằng lẽ phải thuộc về Việt Nam.
Thứ tư, Trung Quốc còn cố tình vu khống Việt Nam sau một số vụ việc bất ổn về an ninh trật tự vừa qua, cố tình muốn tạo dựng hình ảnh một Việt Nam bất ổn, “hung hăng” và thiếu trách nhiệm với các nhà đầu tư. Thủ đoạn của họ là cố tình lập lờ, đánh đồng sự manh động của một số rất ít người bị kích động mà vi phạm pháp luật với các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển, kiên nhẫn, kiềm chế, tuân thủ đúng luật pháp quốc tế của các lực lượng chức năng Việt Nam, cũng như các hành động biểu thị lòng yêu nước đúng đắn, hòa bình của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam đã không chỉ một lần thẳng thắn nói rõ về nguyên nhân của các vụ việc đáng tiếc đã xảy ra; cơ quan chức năng đã bắt giữ và sẽ xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm pháp luật. Chính phủ và các cơ quan chức năng Việt Nam đã và đang làm hết sức mình để bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho các nhà đầu tư nước ngoài; giúp đỡ, hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục tối đa thiệt hại, kể cả các nhà đầu tư Trung Quốc. Rất nhiều người dân tỉnh Hà Tĩnh đã tình nguyện tham gia chữa trị cho những người Trung Quốc bị thương trong các vụ gây rối. Tình hình đã nhanh chóng ổn định trở lại, an ninh, trật tự an toàn xã hội đã được bảo đảm, hầu hết các doanh nghiệp đã trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường. Các nhà đầu tư sẽ đánh giá chính xác về môi trường đầu tư của Việt Nam, về thiện chí của Việt Nam, bức tranh xuyên tạc, phóng đại về Việt Nam do những người thiếu thiện chí cố vẽ ra không thể lừa bịp được ai.
Thứ năm, Trung Quốc cố tình ngụy biện, xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Không phải chỉ bây giờ, báo chí Việt Nam đã từng rất nhiều lần đưa ý kiến của rất nhiều chuyên gia pháp lý trong nước và quốc tế, bẻ gãy luận điệu của Trung Quốc về Công hàm này, phủ nhận mọi suy diễn về Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như khẳng định đó là sự xuyên tạc và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Nhưng việc Trung Quốc xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Công hàm năm 1958 không chỉ sai về pháp lý, mà còn trái với đạo lý. Không ít ý kiến đã chỉ ra rằng Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa–Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”, là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp, thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến của tình hình phức tạp trên eo biển Đài Loan lúc đó, khi Trung Quốc đang đứng trước hiểm họa cuộc tấn công quân sự của đồng minh của chính quyền Đài Loan. Dù nội dung công hàm vẫn đảm bảo rất thận trọng và chặt chẽ, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã cố tình lợi dụng thiện chí của Việt Nam để nhằm phục vụ cho tham vọng lãnh thổ sai trái của mình. Thật là không chính nhân quân tử!
Đây là những lập luận kiểu “cả vú lấp miệng em” của Trung Quốc. Nhưng, những ngụy biện dù tinh vi đến đâu cũng không thể thuyết phục được cộng đồng quốc tế, những lập luận của Trung Quốc đã bị bẻ gãy một cách không mấy khó khăn. Lập luận đã không thuyết phục được ai, Trung Quốc còn “nói một đằng, làm một nẻo”. Không có gì thuyết phục hơn là việc làm trong thực tế và căn cứ vào đó, cộng đồng quốc tế đương nhiên có đủ tỉnh táo và sáng suốt để biết rõ chân lý, lẽ phải thuộc về quốc gia nào.
Bản thân Trung Quốc cũng không thể thuyết phục được chính họ, bởi nếu tự tin vào lý lẽ của mình, họ đã không lẩn tránh việc đưa các vấn đề biển đảo tại Biển Đông ra trước dư luận và công pháp quốc tế, như lâu nay.
Kết lại bài viết, xin nhắc lại điều mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh trước báo chí quốc tế tại Manila: Việt Nam đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế. Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.
Kim Tuấn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủy Tinh Lang Nha - Trọng Thủy của thời nay viết như vây từ 7 năm trước đây, mọi người nghĩ sao

Chuyện Trung Quốc ăn Cua của 7 năm về trước
"Trung Quốc nên to gan ăn cua một lần, không phải 
Đài Loan mà là Việt Nam là Nam Hải"
Bài tổng hợp quân sự "Trung Quốc nên to gan ăn cua một lần, không phải Đài Loan mà là Việt Nam là Nam Hải" của tác giả Thuỷ Tinh Lang Nha đã được đăng trên mạng "Hải Quân Luận Đàm" của Trung Quốc bảy năm về trước. Bài viết được ký giả Trần Đông Đức dịch từ nguyên văn Hoa Ngữ đăng trên mạng BBC vào năm 2007.
Gần đây Trung Quốc có những hành động chính xác như bọn Thuỷ Tinh Lang Nha (Răng Sói Thuỷ Tinh) bày ra. Tuy bài đã cũ nhưng xin đăng lại để mọi người thấy rõ chuyện Trung Quốc đã ủ mưu cho kịch bản khoan dầu ở Biển Đông và bố trí quân ở biên giới là hoàn toàn có thật. Điều này có mười phần ý nghĩa quan trọng:

Thứ Nhất: Vị trí chiến lược của Nam Hải hiện tại vẫn chưa có sự xung động nguyên do là xung quanh chưa xuất hiện một cường quốc nào. Một khi xuất hiện rồi, vị trí chiến lược của Nam Hải sẽ tức tốc nổi lên. Trung Quốc mất đi Nam Hải, cũng giống như là mất hẳn sự tự do ra vào Ấn Độ Dương uy hiếp đường biển thông qua eo biển Malacca.

Thứ Hai: Vị trí địa lý của Nam Hải, điều kiện thuỷ văn thích hợp cho hải quân Trung Quốc đặc biệt là chuyện sống còn của hạm đội tàu ngầm. Nếu như Nam Hải vào tay ai khác, họ sẽ thành lập căn cứ quân sự, gài đặt hệ thống thành sonar thăm dò dưới đáy biển. Đầu này Nam Hải, đầu kia Nhật Bản, ở giữa Đài Loan là coi như là hải quân Trung Quốc chết cứng.

Thứ Ba: Một khi Việt Nam khống chế một bộ phận lớn của Nam Trung Quốc Hải, hay là âm thầm được thừa nhận, Trung Quốc sau này sẽ rất khó lòng mà lấy lại, trừ khi phát động xâm lược. Có lẽ điều này sẽ khiến một số quốc gia lo lắng (ai chưa từng chiếm lãnh qua lãnh thổ của Trung Quốc). Nếu Trung Quốc lớn mạnh thì những chuyện này đều cần được nhắc tới1. Nước Nga lo lắng cho vùng Tây Bá Lợi Á của họ, Mông Cổ tự lo lắng cho nền độc lập, Ấn Độ tự lo lắng cho vùng chiếm đóng ở Tạng Nam (phía Nam của Tây Tạng). Sợ rằng rồi Trung Quốc không thấy là dại thế nào, cũng như không thể làm gì, để chuyện xảy ra rồi thật khó mà thay đổi.

Thứ Tư: Vị trí của Việt Nam đang có một bộ phận lớn các đảo ở Nam Hải, Việt Nam tại khối ASEAN, và việc Việt Nam nằm trong chiến lược đối đầu với Trung Quốc của Mỹ đang nhanh chóng gia tăng. Sau này cục diện thiết tưởng sẽ không còn đối đầu với một quốc gia Việt Nam. Vấn đề Nam Hải sẽ càng trở nên phức tạp. Tôi dám quả quyết rằng, một khi Việt Nam chiếm hữu thành công Nam Trung Quốc Hải, hải quân Việt Nam lớn mạnh rồi họ sẽ thành một lực lượng quan trọng ở khối ASEAN. Mỹ sẽ đồn trú ở Vịnh Cam Ranh, như vậy Trung Quốc phải làm sao đây?  

Thứ Năm: Hiện tại hoặc càng sớm càng tốt phải giải quyết vấn đề ở Nam Hải, đối với Việt Nam phải cứng rắn, phải sớm đánh tan những dòm ngó của quốc gia này đối với Trung Quốc để chặn đứng việc ác hóa vấn đề Nam Hải. Vả lại từ việc cứng rắn đối với Nam Hải để xem xét thái độ của Mỹ. Nếu như Mỹ mạnh dạn can thiệp thì cũng đừng kỳ vọng là là Mỹ đứng yên để Trung Quốc dùng vũ lực giải phóng Đài Loan, mà hòa bình giải phóng đến khi nào mới được, ma quỷ mới biết? Cho nên cứng rắn đối với Việt Nam có thể giúp giải quyết vấn đề Đài Loan. Thăm dò nước khác phản ứng thế nào đối với việc Trung Quốc bảo vệ lãnh thổ có tác dụng quan trọng như việc ném đá hỏi đường.


Thứ Sáu: Hiện tại điều kiện sẵn có để cứng rắn với Việt Nam như sau:

Đầu tiên: Việt Nam đơn phương phá hoại hiệp định. Chúng ta xuất binh đều dựa vào căn cứ và lý do là buộc Việt Nam tôn trọng hiệp định mà không phải là lý do thu phục Nam Hải (làm khối ASEAN và các nước phải im miệng) mà trên thực tế là mục đích lấy lại tuyệt đại đa số đảo ở Nam Sa (Trường Sa). Phần còn lại thông qua đàm phán để giải quyết.

Điều thứ hai: Thực lực hải quân Việt nam vẫn còn rất yếu, chúng ta có thể dùng lực lượng nhỏ để đủ thắng hải quân Việt Nam. Ưu thế lớn nhất của chúng ta là tàu ngầm và chúng ta cần phải lợi dụng điều này. Anh Quốc đối với cuộc chiến Mã Lai hy sinh phải nói là không ít. Chúng ta không quản hy sinh mà được Nam Hải thì giá trị của nó cũng như giá trị của Mã Đảo (Eo biển Malacca!!!) đối với Anh quốc.  

Điều thứ ba: Việt Nam và Trung Quốc là quốc gia tiếp giáp biên giới, Trung Quốc tăng cường bố trí quân lực sát biên giới để uy hiếp Việt Nam. Do Hà Nội cách biên giới Việt Trung chưa đầy hai trăm dặm, điều này làm cho Việt Nam mất đi ý chí đề kháng, tự biết sức của mình. 

Điều thứ Tư: Hoa Kỳ đang bận rộn với nhiều chiến trận; ngoại giao và quân sự đều đang mệt mỏi. Quan trọng nhất là làn sóng phản chiến trong nội bộ Hoa Kỳ đang lên cao. Hoa Kỳ chỉ còn cách biểu lộ “quan tâm”, “lo lắng” nhưng Hoa Kỳ sẽ không chủ động can thiệp.

Điều thứ Năm: Nhật Bản không vì chuyện Việt Nam và Trung Quốc mà can dự, cùng lắm thì đòi lấn tới các khu dầu khí thuộc Đông Trung Quốc Hải. Chúng ta có thể vòng vo uyển chuyển. Nhưng đối với Việt Nam thì phải giải quyết nhanh chóng. Khi Nhật Bản vẫn chưa định thần, chúng ta đã giải quyết xong vấn đề Nam Hải và tuần tra vùng biển này. mso-bidi-font-family:"MS Mincho""> 

Điều thứ Sáu: Khối ASEAN gồm mười nước là Lào, Cambodia, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Mã Lai, Singapore, Brunei, Phillipines, và Indonesia. Bốn nước chiếm các đảo của Trung Quốc gồm có Việt Nam (29 đảo), Mã Lai (3 đảo), Indonesia (2 đảo), Phillipines (7 đảo) trong lúc đó nước chủ quyền Trung Quốc chỉ có 6 đảo. Trong các nước đó chỉ có Philippines là cường liệt phản đối còn các quốc gia khác đều lấy vị trí trung lập thông qua ngoại giao như Mã Lai, Indonesia.

Chúng ta có thể tranh thủ sự ủng hộ của các nước như Cambodia, Lào, Miến Điện và Thái Lan. Một bên im lặng, một bên lên tiếng thì ASEAN không có gì phải lo sợ. Chúng ta không có sự lo sợ nào cả. Chỉ cần đứng thế trung lập với chúng ta thì mọi chuyện đều có thể vượt qua như tình huống của Cambodia, Miến Điện, Lào… Chúng ta đâu cần Việt Nam và ASEAN đối xử tốt? Tại sao lại phải lo lắng cho mình?

Tổng kết cuối cùng như sau: Việt Nam chiếm lĩnh Nam Hải trên mặt pháp lý không trụ được (phá hoại hiệp định 1958 trên bản đồ ghi rằng Nam Hải là của Trung Quốc) + hải quân Việt Nam yếu nhỏ + Việt Nam tiếp giáp biên giới với Trung Quốc sợ rằng khi có chiến tranh bùng nổ, kinh tế suy sụp ngay lập tức + không có Mỹ Nhật thực sự can thiệp giúp đỡ + khối ASEAN phản ứng yếu, lại có bộ phận ủng hộ chúng ta = Việt Nam không dám cùng Trung Quốc khai chiến cũng như không có thực lực để khai chiến (họ phải lo lắng về phần lục địa). Cho nên, chiến tranh đánh là không đứng lên được. Phía chúng ta cũng cần tự hỏi, tại sao Nam Hải lại quan trọng như vậy (tất chiến) và chúng ta có khả năng thu phục Nam Hải (khả chiến) mà chúng ta lại không đi đánh, vậy thì sao lại vất đi cơ hội đó, để vấn đề Nam Hải tiến tới ác hóa, quốc tế hóa?"

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/11/071114_trungquocnamhai.shtml

Thủy Tinh Lang Nha

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bàn về sự hung hăng của Trung Quốc ( Và cả sự rẻ rúng xương máu người dân TQ nữa - NG )



Một đặc điểm nổi bật trong vụ HD-981 là sự hung hăng của TQ. Người ta kinh ngạc tự hỏi: Vì sao TQ lại tỏ ra hung hăng đến thế ? Kỳ lạ hơn nữa, TQ lại nhắm vào VN – một đồng minh chiến lược, cùng chung ý thức hệ ? Điều gì đã làm cho TQ chọn chiến thuật hung hăng đó ? Và sự hung hăng của TQ sẽ dẫn tới cái gì – phải chăng là một cuộc xung đột quân sự ? Chẳng lẽ, VN và thế giới khoanh tay chịu thua trước sự hung hăng của TQ ?
Sự hung hăng của TQ phản ánh tâm lý “nổi loạn” trong chính sách đối ngoại của TQ. Điều rất rõ ràng, hung hăng chẳng qua là vì lợi ích của TQ. TQ muốn chứng tỏ với thế giới, giờ đây, TQ là một người khổng lồ, cả về kinh tế lẫn chính trị, quân sự. TQ hung hăng vì nghĩ mình là vô địch – “thiên triều”. Hung hăng sẽ dễ dàng đè bẹp sự nhún nhường, mềm mỏng – càng dễ dàng hơn với sự nhu nhược. Còn nữa, TQ sợ thế giới chê cười họ, tỷ như trong lịch sử, TQ đã từng bị người nước ngoài nhiều lần bắt nạt đó sao ? Chỉ cần 100 lính Nhật là đủ để áp giải 50 ngàn tù binh TQ đi xử bắn ? Năm chục ngàn người, chưa nói đến chống lại, ngay chuyện bỏ chạy mà cũng không dám nữa kia. Trong trường hợp tương tự, không và sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra đối với người VN.
Nhưng, hung hăng vẫn là một “thuộc tính” khó thay đổi của giới cầm quyền TQ. Vừa mới lập nước, TQ đã lao ngay vào cuộc chiến tranh Triều Tiên. TQ hung hăng đến mức, Bắc Triều Tiên chưa yêu cầu, họ đã chuẩn bị xuất quân rồi. TQ muốn thử sức với người Mỹ. Họ muốn tạo ra một vùng đệm an toàn ở phía Bắc. TQ đã đưa sang chiến trường Triều Tiên 1,34 triệu quân gồm: 27 quân đoàn bộ binh, 15 sư đoàn pháo binh, 12 sư đoàn không quân, 3 sư đoàn xe tăng, 14 sư đoàn công binh, 10 sư đoàn đường sắt, 2 sư đoàn công an.
Sự hung hăng của TQ đã phải trả giá rất đắt: Phía Trung – Triều thương vong 1,03 triệu người, riêng TQ thương vong trên 30 vạn người (có 11,5 vạn chết trận), thương vong phi chiến đấu trên 41 vạn người.
Thế nhưng, ngay sau khi cuộc chiến Triều Tiên vừa kết thúc, Quân uỷ Trung ương TQ họp ở Hàng Châu. Người ta thấy Mao vừa say sưa hút thuốc vừa chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu, đôi khi lại cười nhạt.
Báo cáo vừa xong, Mao đột nhiên nói:
- Triều Tiên đình chiến, gánh nặng trên vai chúng ta nhẹ đi rất nhiều, nhưng e rằng chưa thể lơ là, phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng ngọn lửa chiến tranh lại bùng lên, phòng trước thì sau không mắc họa. Chúng ta hiện nay đã có thể rảnh tay, tôi thấy cần tập trung lực lượng giải quyết vấn đề Đài Loan. Ngay từ bây giờ phải bắt tay vào chuẩn bị, muốn được yên ổn lâu dài, không giải phóng Đài Loan không xong.
- Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của Chủ tịch. Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, như thường lệ đi đầu ủng hộ ý kiến của Mao.
Chu Đức:
- Ý kiến của Chủ tịch và Tổng tư lệnh Bành, tôi đều tán thành. Tôi cho rằng có thể chia làm hai bước, bước thứ nhất “dọn sạch cửa ngõ”, tức là giải phóng những đảo ven biển còn bị Quốc dân Đảng chiếm, quét dọn cửa ngõ ta cho sạch sẽ. Như vậy, vừa loại bỏ được mối đe doạ đối với vùng duyên hải Đông Nam của ta, đánh thông được đường hàng hải Nam – Bắc, mà cũng chặt đứt được tay chân của Đài Loan, không còn mối lo sau lưng khi chúng ta đi bước thứ hai giải phóng Đài Loan.
- “Dọn sạch cửa ngõ”, nói rất hay – Mao thích thú. Tôi tán thành cả hai tay.
Trần Nghị:
- Tôi cho rằng “dọn sạch cửa ngõ” có thể bắt đầu từ đảo Đại Trần, nó là trung tâm chỉ huy và trọng tâm phòng ngự của quân Quốc dân Đảng đóng ở các đảo ven biển Đông Nam tỉnh Chiết Giang. Chiếm được Đại Trần tức đánh trúng chỗ hiểm của địch, tất cả những đảo khác ở ven biển Đông Nam tỉnh Chiết Giang có thể không đánh mà tan. Như vậy quân ta có thể bằng một giá tương đối rẻ đổi được một thắng lợi tương đối lớn.
- Đảo Đại Trần giao cho đồng chí Trần Nghị. Mao ra lệnh. Quân khu Hoa Đông các vị trước hết vạch kế hoạch tác chiến, sau khi được Quân ủy phê chuẩn, sẽ thực hiện.
Dưới sự chỉ đạo của Mao, TQ hung hăng lao vào chuẩn bị trận đánh. Trong khi đó, Mỹ và Đài Loan gấp rút ký kết Hiệp ước phòng thủ chung. TQ được tin càng hung hăng hơn, lập tức lệnh cho quân đội mặt trận Phúc Kiến, “hãy dùng bom đạn tỏ rõ thái độ và lập trường của chúng ta”. Chỉ trong hai tháng, TQ đã pháo kích 47 lần vào các đảo Kim Môn lớn, Kim Môn nhỏ và Đại Trần.
Nhưng sự hung hăng của TQ đã vấp phải bức tường thép Hoa Kỳ, đành phải dừng lại.
Không phải TQ cứ hung hăng là thành công. Nhớ lại tháng 11.1949, TQ hung hăng mở hai cuộc tấn công lên đảo ven biển Triết Giang và đảo Kim Môn, ven biển Phúc Kiến bị thảm bại – tổn thất trên 9 ngàn người. Mao đã nhận được một bài học xương máu.
Sự hung hăng của TQ lại chuyển sang Liên Xô, sau khi Xtalin qua đời. Mao coi thường Khơrútsốp, muốn làm lãnh tụ cộng sản thế giới mà hung hăng gây sự với Liên Xô.
Ngày 31.7.1958, Khơrútsốp thăm TQ. Mao bất chấp mọi lễ nghi ngoại giao tối thiểu, bố trí hội đàm với Khơrútsốp ngay cạnh bể bơi riêng trong Trung Nam Hải. Khi được mời vào, Khơrútsốp thấy Mao mặc quần tắm, khoác khăn tắm, nhàn nhã hút thuốc lá, giống như Quốc vương Roma gặp sứ thần thuộc quốc. Rõ ràng, đây là sự cố ý chọc tức nhằm buộc Liên Xô trở mặt trước – sự hung hăng cộng với sự thâm hiểm kiểu Tàu.
( Theo mình hình như tác giả bỏ lửng đoạn kết. Chẳng biết có phải không? )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Viển vông lúc này là có tội, một cái tội không thể tha thứ.

Chu lai 

  
Nhà văn Chu Lai
Trong lịch sử bang giao giữa các quốc gia trên thế giới, đúng là tôi chưa thấy một nước nào lại có thể cùn, liều,  và thiếu tự trọng đến vô sỉ  vừa ăn cướp vừa la làng như quốc gia mang tên Trung Quốc này, tất nhiên là giới cầm quyền chứ không phải nhân dân. 

 
Ngay từ cuộc xung đột biên giới phía bắc năm 79 do Trung Quốc khởi hấn, là người lính cầm bút  theo sát bộ đội đặc công Dù ở mặt trận Cao Bằng, khi tại cái pháo đài cổ vừa bị họ chiếm đóng ấy, tôi sững sờ khi được chứng kiến một buổi kết nạp đảng của họ. Giống  hoàn toàn buổi lễ kết nạp đảng của ta, cũng giơ nắm tay trái lên thế, cũng Quốc tế ca, chỉ khác tiếng nói và bài Đông Phương Hồng. Và tôi biết rằng ở họ, từ trong cắn cốt đã có cái gì phản trắc  không ổn.

Để đến bây giờ thì không ổn thật. Họ đã hiện nguyên hình là một kẻ có hành vi  ngông cuồng, lì lợm, bất chấp tất cả công lý, đạo lý và pháp lý về chủ quyền lãnh thổ của nước khác. Đã thế họ còn lớn giọng đến không tin nổi, không, biển ấy, nước ấy là của tôi, của lịch sử nước tôi, chúng tôi có quyền ra vào làm gì thì làm, thoải mái.Dàn khoan ư? Chuyện bình thường, chuyện vặt. 

Thử hỏi có kẻ cướp nào xông vào nhà người ta rồi la lối đây là nhà tôi không?  

Và cũng thử hỏi có quốc gia nào như Việt Nam, người láng giềng cậy to cậy khỏe bỗng một ngày mang đồ đạc, gậy gộc, tàu bè đến nằm chình ình ngay trong sân nhà mình rồi la hét, rồi phá quấy, đâm cái này, chọc cái kia mà vì đại cuộc, vì những điều xa xôi , ta vẫn cố giữ hòa khí , vẫn ngậm bồ hòn làm ngọt thay vì theo lệ thường xưa nay, một hành vi trắng trợn như thế ắt sẽ phải trả giá ngay. 

Một sự nhún nhường đáng thán phục. Một năng lực ôn hòa chỉ có ở một  dân tộc có  nền văn hóa vượt trội. 

Vậy mà, để biện minh cho hành động này, người lãnh đạo cao nhất của họ lại dám vỗ ngực xưng xưng:” Không, người Trung Quốc chúng tôi không có  Zen xâm lược” Vậy thì thử hỏi 20 ngày qua người của các ngài làm đủ trò đủ vẻ mà chỉ có phường thảo khấu, hải tặc mới có thể làm như thế trên vùng biển hiền hòa của Việt Nam thì là các ngài đang mang thứ Zen gì ? Và thử hỏi hàng ngàn năm qua, cả dân tộc Việt Nam phải luôn chiến đấu và chiến thắng vó ngựa xâm lăng của người Trung Hoa thì chúng tôi có Zen xâm lược chăng? Một câu nói rất tùy tiện của một hệ tư duy rất bá quyền không thể chấp nhận được.

Dân tộc Việt Nam  bao giờ cũng lấy hai chữ hòa hiếu làm đầu. Phải chăng đau thương lắm nên vị tha nhiều. Vietj Nam Chúng tôi đã vị tha, đã thể tất, đã nín nhịn từng phút từng giây để mong Trung Quốc thấy hổ thẹn, thấy quá lố mà nghĩ lại và khi đã ngĩ lại rồi, đã rút giàn khoan về rồi thì chúng ta lại là bạn như bao lâu nay chúng ta vẫn là bạn.

 Mà, nếu nói theo cách nói của vị nguyên thủ ấy thì, truyền thống người việt Nam chúng tôi không có zen phản bạn. Kể cả anh bạn đó đôi khi cũng trái gió trở trời. Bởi triết lý của tổ tiên chúng tôi là Một điều nhịn chin điều lành.

Nhưng càng nhịn thì càng không lành khi các vị liên tục lấn tới, liên tục đe dọa, uy hiếp chúng tôi bằng đủ những trò tinh vi, hiểm ác nhất. Các vị muốn đưa chúng tôi vào bẫy, buộc chúng tôi phải phát khùng lên một khi không còn kiềm chế được để các vị lấy đó làm nguyên cớ mà mở cuộc xung đột mang màu sắc chiến tranh ư?

Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. chúng tôi nhịn không phải vì chúng tôi hèn, chúng tôi sợ mà nhịn vì chúng tôi là một dân tộc biết điều. Nhưng thưa các ngài, một khi cái nhịn đó, cái biết điều cao thượng đó bị các ngài coi thường, xúc phạm, dồn đến chân tường thì câu trả lời của chúng tôi thuộc về nhân dân, thuộc về lịch sử mà hàng ngàn năm nay đã biết kiêu hãnh trả lời chắc các ngài còn nhớ. 

Bởi người Việt Nam có thể bỏ qua được mọi điều nhưng nếu một ai, một thế lực nào dám động chạm đến bàn thờ ông bà, đến phẩm hạnh dân tộc thì người Việt Nam sẽ rất biết các trả lời và trả lời có hiệu quả.

Trộm nghĩ, tất cả đều chưa muộn. Rút dàn khoan về lúc này là hợp lý. Cái dàn khoan khổng lồ ấy, xét đến cùng nó là một cái mụn ghẻ trong mối bang giao giữa hai nước. Mà đã là mụn ghẻ, thì một khi kẻ sinh ra nó không tự kéo nó đi thì người sở tại sẽ có cách bứng nó đi.

 Khi đó, và ngay bây giờ, bằng sự xâm lược đến trơ tráo của mình, chính các ngài đã biến đất nước mình thành sự điếm nhục của lịch sử, thành nỗi cô độc thảm hại trước cảm nhận của mọi quốc gia. Mà đã cô độc rồi thì các ngài biết chơi với ai trên hành tinh này.

Xin cám ơn những người bạn có lương tri trên khắp thế giới đã biết chia sẻ đúng lúc những cố gắng phi thường của việt Nam và biết căm phẫn đúng độ trước những động thái ngày một leo thang của kẻ mang tham vọng làm sen đầm biển Đông. Những người tử tế, lương thiện vẫn còn nhiều, rất nhiều. Việt Nam không đơn độc vì Việt Nam có chính nghĩa. Việt Nam không cực đoan dân tộc vì Việt Nam biết lấy đối thoại, lấy lòng tin làm điểm tựa.

Những ai đã trả qua những năm tháng kháng chiến xa xưa chắc hẳn còn  nhớ những câu khẩu hiệu hiện trên Băng rôn, trên tường nhà, nơi công sở, giữa thành cầu với dòng chữ tươi rói:” Tình hữu nghị Việt – Trung  đời đời bền vững”. Vâng, những dòng chữ đó thời điểm ấy là không hề giả dối, là vô cùng chân thật và cho đến lúc này người Việt Nam vẫn mong muốn nó là chân thật song một khi phía bên kia không còn chân thật nữa thì câu khẩu hiệu bỗng thành hết sức viển vông. Việt Nam không thể đánh đổi bản chất chủ quyền để lấy một thứ hữu nghị viển vông như thế. Máu và nước mắt không thể đổi bằng nước bọt. Sự chân thật không thể đổi lấy sự giả dối. Lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng chính những chặng đường gian truân của mình đã hiểu điều đó, rất biết điều đó để hôm nay, muôn đời con cháu không thể viển vông.Viển vông lúc này là có tội, một cái tội không thể tha thứ. 

Tới đây, Trung Quốc có thể giàu hơn, có thể thành siêu cường kinh tế số 1 của nhân loại, đâu có sao,  nhưng bằng những hành động phi nhân, phi đạo vừa rồi trên sóng nước biển Đông thì hình ảnh một đất nước Trung Quốc sẽ bị méo đi, hạ thấp xuống biết chừng nào. Cái giá đó ngàn năm không trả được. 

Và tôi, một người lính, một người cầm bút, tôi tán thành cách hành xử của đất nước tôi, của nhân dân tôi, trong thời gian nhạy cảm và không kém hiểm nghèo vừa qua, song nếu điều tồi tệ nhất xảy ra, chắc chắn tôi cũng sẽ có mặt cùng với đồng đội tôi, nhân dân tôi ở những điểm đòi hỏi chí quả cảm và lòng tự trọng nhất. 

Nhân dân việt Nam, dân tộc việt Nam đã  quá thấu hiểu cái giá vô cùng đắt  phải trả cho một cuộc chiến nhưng không phải vì cái đắt đó mà  cúi đầu cho kẻ khác làm nhục. Điều đó còn đắt hơn. 90 triệu dân Việt chắc cùng đồng lòng như thế. Và cũng đã từng đồng lòng như thế trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang, hiển hách,./. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang