Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

THÁCH ĐẤU HAI THIẾU TƯỚNG MƯỢN DANH KHOA HỌC

Ông Trần Đình Huân – Thượng sĩ, CCB Trung đoàn đặc công 117 và 198 Anh hùng – BTL Đặc công. Đồng thời, là Trưởng ban liên lạc toàn quốc thân nhân liệt sỹ Mặt trận 31 sử dụng địa chỉ facebookHuan Tran Dinh có lời thách đấu với hai vị Thiếu tướng Quân đội Nguyễn Chu Phác và Thiếu tướng Công an Ngô Tiến Quý về sử dụng ngoại cảm trong xác định danh tính Liệt sỹ. Củ Hành xin trân trọng giới thiệu lời thách đấu của ông tại facebook 
 
1. Thiếu tướng Quân đôi, “tiến sĩ” Chu Phác

 
2. Thiếu tướng Công an Ngô Tiến Quý
Đã hơn 20 năm, nhân dân và thân nhân liệt sỹ đã bị lôi kéo vào vòng xoáy của u mê, của những giai thoại kinh thiên động địa của cái gọi là Ngoại cảm và Áp vong tìm mộ liệt sỹ, của cái gọi là nghiên cứu khoa học tâm linh, nghiên cứu tiềm năng con người. Hơn 20 năm, bằng cách lợi dụng truyền thông, lợi dụng hình ảnh của những người có uy tín, địa vị trong xã hội. Những kẻ mang danh “ngoại cảm” và những kẻ đang lợi dụng danh nghĩa “nghiên cứu khoa học tâm linh” đang cổ suý, thực hiện hành vi lừa đảo, trục lợi trên xương máu của các Liệt sỹ đã hi sinh vì Tổ Quốc, khắc thêm nỗi đau cho hàng vạn gia đình liệt sỹ.
Để rồi, với tất cả những bằng chứng trên mặt trận 31, với sự tập trung của hàng ngàn gia đình thân nhân liệt sỹ trên cùng mặt trận, bộ mặt thật của những kẻ mang danh “Ngoại cảm”, những kẻ đội lốt khoa học, Nghiên cứu, Tâm linh, Tri ân, Tâm đức và nhiều thứ ngôn từ hoa mỹ khác nay đã lộ nguyên hình với bản chất mê muội, hoang tưởng, cuồng vỹ, lừa đảo, thất đức.
Bên cạnh đó là sự ấu trĩ trong công tác quản lý khoa học, sự lỏng lẻo, mơ hồ trong hệ thống quản lý nhà nước đã thả nổi suốt hơn hai thập kỷ qua. Đồng thời, với đội ngũ tham gia “nghiên cứu khoa học tâm linh” là những người có địa vị xã hội cùng những học hàm, học vị đến tột đỉnh, thậm chí, có cả những người từng là Bộ trưởng, các sĩ quan cao cấp của Quân đội và Công an và nhiều cán bộ mang những chức danh quan trọng khác. Quá trình nghiên cứu của họ đã đi lệch hướng, mất kiểm soát, áp dụng tùy tiện và dần chuyển thành các tệ nạn xã hội. Thêm vào đó là cả hệ thống thông tin đại chúng cả chính thống và không chính thống, tập trung ra sức tung hô, cổ súy, tuyên truyền dưới dủ mọi hình thức, thậm trí cả hình thức khen thưởng của một số cơ quan quản lý nhà nước cấp vĩ mô.
Hàng vạn gia đình thân nhân liệt sỹ bị lừa, hàng vạn hài cốt liệt sỹ bị chúng mang ra ngụy tạo, tung hứng, nghiên cứu, thực nghiệm, kiểm nghiệm, thực hành và rồi chúng hành nghề trên xương máu của những người con dân đất Việt đã hy sinh xương máu cho độc lập dân tộc và cho sự toàn vẹn lãnh thổ. Vấn nạn này đã lây lan trở thành quốc nạn, hệ luỵ của vấn đề này chính là việc các gia đình bị lừa đảo đất đen, tổ mối thành hài cốt Liệt sỹ, nghiêm trọng hơn, còn cả hành vi đào bốc trộm hài cốt các Liệt sỹ ở các Nghĩa trang. Chúng đã nhạo báng những tình cảm thiêng liêng của các thế hệ thân nhân liệt sỹ, gây bao tổn thất, mất mát trên mồ hôi nước mắt của họ. Những hành động đó làm băng hoại đạo đức xã hội, hàng vạn liệt sỹ mãi không được trả về đúng tên của mình, nhân dân mất lòng tin vào công tác chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Sự thật đã nhãn tiền trước bàn dân thiên hạ, đã bị lột trần trước khoa học chân chính. Nhưng dường như những thủ phạm của quốc nạn này vẫn đang cố bấu víu vào mớ lý luận mù mờ, lập dị của một thứ khoa học di bản có một không hai này. Không đủ can đảm để nhìn thẳng vào sự thật là chính những người này đã trở thành giặc, trở thành kẻ thù của thân nhân liệt sỹ, là những kẻ đã làm ô uế những chốn linh thiêng, hủy hoại lòng tin của nhân dân, làm đảo lộn xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và sự tồn vong chủa chế độ. Chính bản thân những người này cũng đã nhận ra những sai lầm ấy nhưng không đủ can đảm để thừa nhận và không thể dừng lại và đành nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của nhân dân!
Vì vậy:
Tôi –Thượng sĩ Trần Đình Huân – Cựu chiến binh thuộc Trung đoàn Đặc công 117 và 198 Anh hùng của Bộ tư lệnh Đặc Công – Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang; Đồng thời với tư cách là thân nhân liệt sỹ và là đại diện cho hàng vạn thân nhân liệt sỹ Mặt trận 31 xin quyết đấu một cách sòng phẳng với hai vị Thiếu tướng có danh tính nêu trên:
Mục đích: Làm rõ trắng đen, đúng sai về khả năng Ngoại cảm trong việc áp vong tìm mộ liệt sỹ. Đánh giá đúng bản chất của cái gọi là nghiên cứu khoa học và những cái gọi là “thành tựu” của việc ứng dụng khoa học của hiệp hội UIA và hai vị thiếu tướng trong phạm vi này. Trả lại sự trong sáng, lành mạnh cho khoa học chân chính. Xóa bỏ khoa học trá hình và ngăn ngừa việc lợi dụng khoa học.
Hình thức: Đấu loại trực tiếp bằng các bằng chứng kết quả thực nghiệm ngay trên hiện trường thực tế, bằng các kiểm nghiệm nghiêm khắc, dưới sự chứng kiến của các cơ quan chuyên trách và thông tin đại chúng.
Địa điểm: Nơi an táng gần 12.000 hài cốt liệt sỹ của mặt trận 31 – Xương máu của cha anh chúng tôi. Nơi đó đang có gần 1 vạn ngôi mộ “Liệt sỹ Chưa biết tên”.

Nhân lực tham gia:

Phía bị thách đấu:

1. Thiếu tướng Nguyễn Chu Phác – “Tiến sỹ” – trưởng bộ môn “Cận Tâm Lý” – Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người,
2. Thiếu tướng Ngô Tiến Quý – Người đã lấy danh nghĩa Viện Khoa học hình sự – Bộ Công An để tham gia trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người,
3. Cùng những “nhà ngoại cảm” có tên trong danh sách các nhà ngoại cảm đã được Các ông cùng trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người khảo nghiệm thành công và công nhận khả năng ngoại cảm về sự “Chân chính” của những người này:
+ Đỗ Bá Hiệp:

 
+ Nguyễn Văn Liên:

 
+ Phan Thị Bích Hằng:

 
+ Nguyễn Thị Nguyện:

 
+ Nguyễn Văn Nhã:

 
+ Vũ Thị Minh Nghĩa:

 
+ Nguyễn Ngọc Hoài:

 
+ Nguyễn Văn Lư:

 
+ Phạm Văn Lập (Không có ảnh)
+ Trần Văn Tìa (Không có ảnh)
+ và Nguyễn Thị Nghi:

 

Phía thách đấu:

1. Trưởng ban liên lạc thân nhân liệt sỹ Mặt trận 31 cùng các trưởng tiểu ban từ các tỉnh thành (9 người) giám sát quá trình thực hiện.
2. Lực lượng hữu quan của quân đội nhằm bảo về hiện trường và cùng giám sát và ghi nhận kết quả.

Phía các cơ quan hữu quan và các đơn vị truyền thông đại chúng

1. Có các đại diện của bộ chủ quản Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
2. Đại diện bộ Quốc phòng và Cục Chính sách Bộ Quốc phòng,
3. Đại diện Ban Chỉ đạo quốc gia về việc xác định danh tính hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin,
4. Đại diên Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh sở tại,
5. Đại diện Bộ chỉ huy quân sự tỉnh sở tại và huyện đội sở tại
6. Đại diện UBND huyện sở tại,
7. Đại diện Quân khu trên địa bàn
8. Ban quản lý nghĩa trang,
9. Các hãng thông tấn báo chí.

Phương pháp tiến hành:

- Tập hợp hai thiếu tướng và 11 nhà “ngoại cảm chân chính” của trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người tới hiện trường. Bố trí hậu cần đảm bảo.
- Thời gian tiến hành trong 5 ngày. Bằng tất cả những khả năng Thấu thị, Áp vong, Nói chuyện với người cõi âm, chụp ảnh người âm và tất cả những phương pháp mà các ông đã nghiên cứu, đã áp dụng, đã công nhận như là các thành tựu mà các ông đã công bố.
- Yêu cầu trong 5 ngày này, mỗi nhà ngoại cảm và hai ông hãy “hỏi”, “tâm sự”, “nói chuyện” hay “chỉ đạo” hay cả ép buộc các vong hồn liệt sỹ của chúng tôi tùy thích. Miễn là mỗi người công bố duy nhất 1 kết quả và chỉ cần 1 trưởng hợp với các thông tin chi tiết như sau:
+ Họ và tên Liệt sỹ
+ Nguyên quán
+ Đơn vị
+ Ngày tháng năm sinh
+ Ngày tháng năm nhập ngũ, Ngày hi sinh
Lưu ý: Chúng tôi chỉ chấp nhận những thông tin như trên nhằm phục vụ cho công tác đối chiếu, khắc bia mộ liệt sỹ, không chấp nhận những nội dung phán xét khác do “nhà ngoại cảm” đưa ra. Trong thời gian 5 ngày, chúng tôi chỉ yêu cầu 11 kết quả cho 11 “nhà ngoại cảm”. Đối với hai ông Nguyễn Chu Phác và Ngô Tiến Quý thì tiếp tục quản lý, nghiên cứu hiện trạng để cùng chứng kiến kết quả.
Những kẻ đã lộ nguyên hình như Vũ Thế Khanh và Nguyễn Phúc Giác Hải hay kẻ có tiền sự đang bị điều tra như Vũ Thị Hòa và kẻ lưỡi dài hơn tay Đông La hay Đào Viết Sử không đước phép có mặt tại hiện trường. Khu vực thực nghiệm “Đấu trường” ấy sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt, những người không có trách nhiệm không được phép lai vãng.
Nếu kết quả cho thấy trong 11 trường hợp ấy, chỉ cần đúng 1 trường hợp theo kết luận của các cơ quan hữu quan và cơ quan chuyên trách thì coi như hai ông thắng. Và như vậy, không riêng nhà nước Việt Nam mà toàn nhân loại sẽ thừa nhận những gì các ông làm là thành tựu khoa học và các ông được phép tiếp tục nghiên cứu, truyền bá, áp dụng trong mọi lĩnh vực chứ không riêng chuyện áp vong tìm mộ liệt sỹ.
Nếu các kết quả không đúng, các ông phải thực hiện ngay lập tực các việc sau:
1. Trả lại quân hàm thiếu tướng cho nhà nước, chấp nhận bị giáng xuống hàng tội phạm.
2. Giải tán ngay Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, trả lại con dấu cho Bộ Công an. Chấm dứt ngay lập tức những Đề án, Dự án, Đề tài nghiên cứu của các ông. Xóa bỏ bộ môn Cân tâm lý mà ông Nguyễn Chu Phác đang là chủ nhiệm.
3. Tất cả quãng thời gian còn lại của ông và các “nhà Ngoại cảm’ này giành cho việc sám hối trước các anh linh liệt sỹ, trước những nạn nhân mà các ông cùng hệ thông đồng cốt đã lừa bịp. Các ông và những người này buộc phải sám hối trước nhân dân và chờ khởi tố hình sự về hành vi lừa đảo và xâm phạm mồ mả, lợi dụng uy tín và lợi dụng khoa học nhằm lừa đảo, trục lợi.
4. Hai ông và toàn bộ 11 người tham gia phải quỳ trước cổng nghĩa trang nơi an táng cha anh chúng tôi 15 ngày để cho thân nhân liệt sỹ sỉ vả, phỉ nhổ vào chính cái lương tâm bị ma ám và cái liêm sỉ bị đánh cắp của các ông và đồng đảng.
5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.
XÓA BỎ TOÀN BỘ NẠN NGOẠI CẢM. CẤM TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC THAM GIA BẤT KỲ CÔNG VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN LIỆT SỸ VÀ HÀI CỐT LIỆT SỸ. CHẤM DỨT NGAY LẬP TỨC NHỮNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRONG PHẠM VI NÀY. CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ CÁC HÀNH VI VÀ HẬU QUẢ CỦA VẤN NẠN NÀY ĐÃ GÂY RA.
Ban liên lạc toàn quốc thân nhân liệt sỹ mặt trận 31
Trưởng ban

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người bước lên chuyến tàu số phận...


Một sáng lạnh tê, cái lạnh sau mấy ngày nồm nam ẩm ướt khiến con người như đông cứng lại, tôi gọi điện cho anh. Mới sớm, anh đã đến cơ quan làm việc, rất nghiêm chỉnh, đúng giờ.
Nguoi buoc len chuyen tau so phan
Nhà thơ Nguyễn Bình Phương
Cầm ống nghe, tôi cố hình dung gương mặt anh lấp sau chồng bản thảo thơ cao ngất được gửi đến cho ban Thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội mỗi ngày. Hình như đó là một gương mặt lầm lầm lì lì, cực ít nói.
Một Nguyễn Bình Phương nhẫn nại chúi mũi vào đọc và lọc trong cả đống bản thảo từ các nơi gửi về để chọn ra những bài in được.
Sau đó là một Nguyễn Bình Phương gò mình ngồi trước máy vi tính cọc cạch gõ ra những điều quái quỷ khiến nhiều người thấy hoang mang, bực bội.
Thiên hạ đồn anh “kiêu ngầm”, “trong mắt không coi ai ra gì”. Tóm lại anh là một nhà văn khó gần, lạnh lẽo, đến mức chưa bao giờ… “rung rinh” với bất kì ai?…
“Chết thật!” - Phương kêu lên trong máy điện thoại. “Tưởng hôm trước em đùa. Lúc ấy đã làm mấy chén, rượu vào lời ra. Em đề nghị thì cứ nhận lời”… Rồi anh quầy quậy từ chối đề nghị viết về anh của tôi.
Nhưng tôi biết Phương có bao giờ rượu vào lời ra? Đúng hơn, hình như rất ít người có dịp thấy anh say. Rượu không làm “hỏng” được anh, như đã làm với một số nhà văn đàn anh của anh và nhiều nhà văn đương thời cùng thế hệ, nhất là từ khi Phương lấy vợ, lập gia đình, từ khi anh chuyển từ xuất bản sang làm tạp chí.
Cũng thật hiếm khi thấy Phương xuất hiện trong mọi cuộc vui chơi, hội hè, gặp gỡ. Anh có đến, thì lại ngồi thu lu một chỗ. Lâu lâu, cần thiết lắm, ai hỏi gì đến anh mới mở lời, chẳng khác nào cậy được… cóc mở miệng.
Mà chỉ mới nói được một, hai câu, mặt đã đỏ bừng lên. Như ngượng nghịu. Như con gái bẽn lẽn sắp về nhà chồng. Đến nỗi người mới gặp một, hai lần còn nghĩ rằng anh nhạt nhẽo.
Đấy là hình dung của không ít người về Phương. Cái hình dung “chung chung” ấy có đúng hay không?
Riêng tôi, trong buổi sáng như là sáng cuối cùng của một mùa đông đang đi gần về với điểm cuối của trái đất ngày một nóng lạnh bất thường ấy, tôi đã được gặp một Nguyễn Bình Phương khác - một Nguyễn Bình Phương nói rất nhiều, hùng hồn như diễn thuyết để bảo vệ những suy nghĩ của mình, quan điểm của mình.
Phương vừa nói, vừa rít thuốc lá liên tục, từ điếu này sang điếu khác. Anh đã bỏ thuốc được 12 năm nay. Và mới quay trở lại với thuốc lá từ sau Tết Đinh Hợi.
Phải chăng khi nào bức bí, không tìm được lối thoát, thì người ta thường tìm đến với một thứ gì đó để tự ma mị, và mụ mị chính mình, rồi từ đó. người ta sẽ sáng suốt hơn ?
Nguoi buoc len chuyen tau so phan
Cây thơ Nguyễn Bình Phương tại Ngày thơ Việt Nam, Văn Miếu 2007 Ảnh: Hữu Việt
Thấy Phương hút lại thuốc, bạn bè kháo nhau tay này có thể đang gặp phải sự xáo trộn nào đó khá trầm trọng. Tất nhiên, Phương cũng chỉ hút khi ra quán nước với bạn bè hoặc khi ngồi một mình trong phòng làm việc. Càng hút, càng nói, càng trầm ngâm, anh càng đắm chìm vào suy tư.
Tôi ủ tay vào bọc áo nhìn Phương rít thuốc lá, uống nước chè chát ngoét, liên tục xin nước ông chủ quán, vừa lặng lẽ “ngắm” anh.
Sau tất cả những khoảnh khắc bất thần làm tôi ngạc nhiên ở góc quán cóc rất nhỏ của Phố Nhà Binh, nay đã được nhiều người đổi lại thành Phố Hitech, hình như, trên gương mặt ấy, tôi đã thoáng bắt gặp một sự mệt mỏi, cái mệt mỏi của người tiếp xúc quá nhiều với chữ nghĩa và giờ thì đang muốn xa lánh nó.
Sự mệt mỏi ấy đã “quy định” cả chuyện ngại đi, ngại nói, ngại gặp gỡ, ngại làm người của đám đông, chứ nó không chỉ là một phần do “thể tạng” của con người anh.
Nó đã làm cho nhiều người hiểu nhầm rằng Phương chỉ yêu cái tài của mình, chỉ chúi mũi vào một xó nào đó, xa lánh cuộc đời để mà viết. Nguyễn Bình Phương mà mệt mỏi thì xem ra khá vô lý. Anh vừa mới ra mắt tiểu thuyết có tên “Ngồi” hồi cuối năm trước.
Từ sau “Những đứa trẻ chết già”, nhẩm tính chưa đầy mười năm, Phương đã có 5 tiểu thuyết. Cuốn nào cũng đầy thử nghiệm. Cách nhìn mới. Giọng văn mới. Thành công hay không chưa bàn. Nhưng đủ biết anh vật vã với con chữ thế nào.
Anh còn có thơ. Những câu thơ đủ để đọng lại trong trí nhớ độc giả một cái tên với giọng thơ lắm khi tưởng rất lý trí, rất tiết chế cảm xúc, nhưng thực ra, lại khá buông thả mình theo một nhịp đi riêng của tưởng tượng. Tóm lại thì Phương đã có cho mình một con đường mà không ít người ước muốn.
Thế mà anh bảo nếu bắt đầu lại từ đầu, chắc chắn anh sẽ chọn một công việc khác, chưa biết là công việc gì, chỉ biết nó sẽ không dính đến chữ nghĩa.
Chữ nghĩa làm cho anh lúc nào cũng phải tỉnh táo. Nhà văn không thể không tỉnh táo để nhìn nhận cuộc đời. Ai bảo nhà văn chỉ biết có đam mê với câu chữ, hâm hấp, dở người, chỉ biết uống rượu, mê gái?
Sai! Sai toét! Nhà văn không tỉnh thì nhìn thế quái nào được vào lòng người, lòng mình để mà viết. Vì vậy, mới nhanh mệt mỏi. Càng mệt mỏi hơn khi phải giữ cho mình không bê tha, không “rung rinh” và bước qua những giới hạn.
Thì ra, Phương cũng có “rung rinh” trước các cô gái. Rung rinh kịch liệt nữa là đằng khác. Nhưng để anh đổ gục thì thật khó. Về điểm này, có lẽ tôi cũng giống anh ?
Hình như người cầm bút nào cũng có điểm giống nhau. Sự bội phản cảm giác của bản thân sẽ chính là điều khiến bạn khó chịu và không thể nào chấp nhận nổi, trong vô số những sự bội phản hoặc buộc phải chấp nhận một vài thực tại cuộc sống mà bạn đang sống.
Điều đó, có lẽ cũng bởi một phần nhà văn là người cực đoan, và quan trọng hơn, họ sống phần lớn bằng cảm giác, cảm giác - nhưng không phải cảm tính, không phải là mù quáng, không lý trí!
Vì vậy, ai nói gì thì nói, tôi tự nhìn cái sự “đóng cửa viết văn”, sự “không bê tha”, “không rung rinh” trước các cô gái của Nguyễn Bình Phương theo một cách riêng.
Phương không đồng ý với chuyện người ta nói rằng anh thuộc số nhà văn “được quân đội nuôi để ngồi viết văn”, anh bảo cũng phải làm việc cật lực như bất kỳ ai để hoàn thành công việc của một biên tập viên.
Tới giờ Phương vẫn đứng ngoài các giải thưởng, đứng ngoài cả những bổng lộc đầu tư, tài trợ sáng tác. Nghiệp cầm bút chẳng mang lại chút “lộc” nào cho anh, đôi khi chúng còn mang tới những tai vạ, phiền nhiễu vì sự mù mờ khó hiểu của một lối viết.
Như hầu hết những nhà văn khác, tuy không nặng nợ chuyện cơm áo gạo tiền, nhưng anh vẫn phải lao động bên ngoài lao động sáng tạo để duy trì đời sống cho gia đình mình.
Thành công lớn trong đời anh, theo Nguyễn Bình Phương chính là tạo được cho người nhà, người thân thói quen… không bao giờ quan tâm đến những gì anh viết.
Trong con mắt của mẹ, anh chỉ là một cậu con trai đang ở bộ đội và thi thoảng bà hơi lo lắng cho anh khi nghe người ta kháo nhau về những “cuốn gì đó” do con trai bà viết ra.
Là con rể của GS Hoàng Ngọc Hiến, nhưng có lẽ trong mắt ông bố vợ anh cũng như bao người con rể khác, còn ông bố vợ đơn thuần đúng nghĩa… ông bố vợ.
Họ không bao giờ bàn chuyện văn chương với nhau. Vợ anh cũng không bao giờ phải đọc những gì anh viết. Nên anh không có nỗi lo sợ vẩn vơ rằng một ngày nọ người vợ hiền thảo sẽ tra hỏi “em” này, “em” kia ở trong thơ, trong văn của anh là những em nào.
Cứ tha hồ mơ mộng. Đấy là cõi riêng của anh. Là… văn chương. Hơn nữa, chắc chắn vợ anh đủ “đẳng cấp” để chẳng thèm ghen với những “thứ” ấy.
Nếu ví cuộc đời con người giống như một cái sân ga, lúc bạn mở mắt chào đời tức là đã mua vé để lên chuyến tàu của mình, thì ai trong đời cũng có một chuyến tàu để đi suốt với hành trình số phận.
Trong chuyến tàu lớn ấy, bạn sẽ đáp thêm nhiều chuyến đi nhỏ. Hoặc có thể, một chuyến đi nhỏ cũng là một hành trình lớn xuyên suốt cả cuộc đời bạn.
Với Nguyễn Bình Phương, chuyến tàu gắn bó và ảnh hưởng lớn với số phận đời anh đã khởi đầu ở nhà ga Đồng Quang (Thái Nguyên).
Một đêm mưa tầm tã. Hai anh lính binh nhì, một gầy gầy trăng trắng ra dáng thư sinh hơn là người của quân đội, người gầy gầy trăng trắng ấy là Nguyễn Bình Phương, một nhỏ thó, đen như củ súng, rất hồn nhiên và yêu bạn, người lính cùng làm công vụ tên Giang đã trốn thủ trưởng đèo bạn bằng xe đạp ra ga, để bạn đáp chuyến tàu xuôi về Hà Nội thi thố.
Phương khi ấy tuổi trên hai mươi một chút. Còn quá trẻ để tràn trề ước vọng. Ước vọng trong anh còn nhiều hơn, dường như nồng nhiệt hơn cả những bạn cùng niên lứa của mình.
Bởi anh đã sửa soạn trong hành trang của mình một truyện ngắn đầu tay được in trên báo Tiền phong. Truyện có tên là “Chuyện tình nghe lỏm”. Hồi đó, có một truyện ngắn in ở báo Tiền phong là một “vinh dự” rất to lớn, có thể làm cho người viết “sướng” âm ỉ đến vài ba tháng.
Với một anh lính binh nhì của Quân khu I, đóng quân ở rừng núi, đảm trách khá nhiều “chức vụ”: kẻ vẽ pano, khẩu hiệu của Quân khu, chiếu video, làm công vụ, giữ thư viện…thì cái sự “sướng” kia càng ngầm được nhân lên gấp bội, kéo dài gấp bội.
Anh cũng đã có thơ đầu tay được in trên báo Văn Nghệ hẳn hoi. Đằng sau anh, lại có sự “cổ động”, hối thúc của nhà thơ Đặng Vương Hưng, có thể nói là cầu nối duy nhất lúc bấy giờ giữa anh với giới văn nghệ sỹ Hà Nội đã khiến anh quyết định “liều một chuyến”: trốn đơn vị đi thi vào Trường Viết Văn Nguyễn Du.
Khi Nguyễn Bình Phương nhận được giấy báo mời nhập học của Trường Viết Văn, thì ông thiếu tướng Chủ nhiệm chính trị Quân khu lúc bấy giờ kịch liệt phản đối:
“Đi thế nào được mà đi! Một mình nó đảm nhận nhiều công việc như thế, nó đi thì ai thay? Quân khu không cần người viết văn”.
May sao, ông Chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Thái Nguyên Hà Đức Toàn đã biết tin Phương đỗ. Ông chạy sang tỉnh ủy, báo cáo đồng chí bí thư: “Cả tỉnh Thái Nguyên có mỗi một người thi đỗ vào trường Viết Văn Nguyễn Du thôi. Không cho nó đi thì thiệt thòi cho tỉnh!”.
Bí thư tỉnh ủy chỉ đạo “nếu Quân khu không cho đi thì đề nghị giải quyết cho ra quân sớm để tỉnh nuôi đi học”. Cuối cùng Phương cũng kẽo kẹt đáp được chuyến tàu trở về Hà Nội lần thứ hai.
Nhập học muộn một tuần, nhưng điều đó không gây cản trở gì cho anh “đầu quân” vào khóa IV - khóa cuối cùng của Trường Viết Văn Nguyễn Du, để có thêm những người: Tạ Duy Anh, Nguyễn Lương Ngọc, Y Ban, Phạm Khải…
Phương bảo mỗi chặng đường anh có thêm một vài người bạn, cũng như cuộc đời quân ngũ đã cho anh nhớ nhiều cái tên với lòng biết ơn vì sự giúp đỡ vô tư của họ, như ông Đinh Xuân Dũng, ông Phạm Hoa, ông Tạ Xuyện, ông Phạm Gia Đức...
Ra trường, đi làm việc, Nguyễn Bình Phương ở trong một căn hộ nhỏ 24 m2 ở khu Tập thể Thành Công. Đó là nơi ra vào, điểm hẹn của các thi nhân, nhà văn tương lai. Những người đã thành danh cũng góp mặt ở đó.
Nếu ai trong đời đã từng nhìn thấy Nguyễn Bình Phương say, thì chắc đã thấy một đôi lần ở ngày đó.
Những đêm khu tập thể mất điện, cái bóng đèn cuối cùng đã bị cháy, những bậc cầu thang như được làm bằng bùn nhão, thời ấy, nhà văn chưa giàu có để sử dụng điện thoại di động nhiều, để dùng nó làm ngọn đèn sáng ở trong tay như trong thơ của Phan Thị Vàng Anh, nhưng những nhà thơ, nhà văn lớn tuổi hơn Phương, những Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến…mỗi khi đi chén chú chén anh về sợ… vợ mắng, vẫn “bò” lên tầng bốn căn hộ ấy để ngủ.
Không biết bao lần Phương cùng các ông bạn quý của mình nửa đêm về sáng say khướt cò bợ còn cố kịp đun đẩy xe máy lên tận tầng 4, mở cửa phòng rồi mới… lăn quay.
Tôi không sao hình dung được với bộ vó chẳng mấy ấn tượng, khả năng “tán tỉnh” hầu như không có, vì chưa mở lời đã đỏ mặt… anh lại “cưa đổ” được một người con gái con của một nhà văn hóa nổi tiếng - nghĩa là một bóng hồng trong giấc mơ của không chỉ các chàng trai ở trường Viết Văn Nguyễn Du bấy giờ.
Thế mà chị Mai thầm lặng với mối tình cùng anh những 8 năm và đến tận hôm nay. Có lẽ cái 8 năm dài đằng đẵng ấy cũng chưa thể đi đến một “happy end” (cái kết có hậu), nếu không có một ngày đẹp trời, người con gái ấy bảo: “Anh ơi, mình cưới thôi!”. “Ừ, thì cưới”.
Thế là Phương hết độc thân. Hết đi mây về gió với các nhà văn. Hết những đêm đun đẩy xe máy lên mấy tầng cầu thang như được làm bằng bùn nhão, trong bóng tối đen thẳm không nhìn thấy nổi mặt bạn mình.
Vậy là anh bỏ hết bạn bè ư? Không phải. Tôi cũng đã từng chứng kiến anh nhiệt thành với bạn bè như thế nào. Ai nghĩ anh yêu tài của mình mà đóng cửa làm văn chương, ai bảo anh kiêu ngầm thì không biết, nhưng Phương là một con người hết lòng với bạn.
Anh sống trước khi viết. Một nhà văn muốn trở thành nhà văn bao giờ cũng phải sống đã rồi mới viết. Không phải sống, nghĩa là cứ lăn xả vào cái đề tài mà mình sẽ cày xới, như có nhiều người nghĩ rằng để viết được “Làm đĩ”, “Lục xì”, Vũ Trọng Phụng đã phải đi qua hết mọi nẻo đường thập thành son phấn và đủ các thứ ăn chơi xa xỉ khác của những năm đầu thế kỉ trước đầy biến động.
Nhưng ở một nghĩa nào đó, cũng đúng, là nhà văn thì cứ phải lăn xả vào cuộc đời, phải “làm người” trước khi cầm bút. Nguyễn Bình Phương cũng chọn lối ấy.
Anh muốn làm một nhà văn tốt, trước hết, phải là một người chồng tốt, một người cha tốt, phải kiếm sống nuôi đủ gia đình, vợ, con. Mà một nhà văn trong đời sống này, giữa thời buổi này cũng chỉ đến thế thôi.
Vì vậy, Nguyễn Bình Phương được coi là người khá “ngoan”. Có một vài lời đồn đãi về anh, vài ba cô, có cả cô chưa từng gặp mặt, nói chỗ nọ chỗ kia rằng là thế này, là thế kia của Phương.
Nghe được Phương chỉ gãi đầu gãi tai cười khì. Hệt như những khi anh ngồi với bạn bè thân, một nhóm rất ít người, ai chê “Thoạt kì thủy” hành văn kém, ai chê “Người đi vắng” cấu trúc thể nghiệm hỏng, ai mắng xơi xơi vào mặt vì viết khó hiểu, mắng cả “tội” dạo này ít nhậu nhẹt, ít chơi bời, uống rượu cầm chừng không chịu say, anh cũng chỉ cười khì vậy.
Tôi không nghĩ anh “coi thường” sự khen chê của mọi người hay quá yêu cái tài của mình tới mức không thèm biết đến ai. Nhưng đôi khi, anh cũng khiến tôi thấy vô cùng kì lạ.
Làm sao mà một nhà văn sống giữa lòng thành phố Hà Nội, ở tại một tòa tạp chí được xem là có uy tín văn chương thế mà anh nhà văn ấy vẫn lơ ngơ, lớ ngớ, không sao quen được với những đám đông ồn ào.
Hôm Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây có ý định tổ chức buổi giới thiệu về tiểu thuyết “Ngồi” chỉ với một yêu cầu duy nhất: tác giả có mặt và kí tặng sách.
Phương từ chối ngay. Không phải anh không thèm nổi danh, không thèm được người ta biết đến những gì mình viết, không thèm được sống giữa không khí bạn bè chúc tụng, mà là anh... ngại.
Ngại đỏ mặt, ngại làm người của đám đông. Anh có thể bỏ tiền mua rượu, tặng sách cho mọi người, nhưng rất ngại làm “trung tâm cho người ta tý toáy”.
Nếu nhà văn sinh ra phải có đôi chút ảo tưởng về bản thân để nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo, tất nhiên, cũng có những nhà văn ảo tưởng cả đời về bản thân không thể nào thoát ra khỏi cái bóng của chính mình, thì Nguyễn Bình Phương có lẽ thuộc vào loại nhà văn chỉ ảo tưởng trong chính phút giây anh viết.
Sau viết, sẽ là sự tỉnh táo. Sau viết, anh không có chút gì của nhà văn cả, anh chỉ là một công chức bình thường, hơi rụt rè, hơi khép kín.
Những lúc tếu táo, Nguyễn Bình Phương thường đùa sở dĩ anh dám viết cả văn và thơ, vì anh tài. “Người tài ít thì chỉ viết một thứ, người tài to thì mới viết được cả thơ lẫn văn”.
Nhưng tếu táo chưa hết một câu, anh lại trở về ngay với cái vỏ cẩn trọng của mình. Thực ra thì tất cả các nhà văn đều làm thơ và tất cả các nhà thơ đều viết văn, chỉ có điều ít người đủ tự tin và tài năng để đi với cả hai.
Trên chuyến tàu văn xuôi hiện đại Việt Nam, anh bảo, ở nước ta, chỉ có ba nhà văn là đã cầm chắc vé của mình, đó là Nguyễn Huy Thiệp của truyện ngắn, Bảo Ninh của Nỗi buồn chiến tranh và Lê Lựu với Thời xa vắng.
Hỏi anh nếu tự xếp chỗ cho mình thì sao. Anh cười bảo anh không có chỗ vì chỉ là người viết nghiệp dư, viết chơi, viết khi rỗi rãi cho nên đừng chấp với anh.
Anh có thể bỏ bút bất cứ lúc nào. Đó cũng là một phần lý do giải thích tại sao tới giờ anh chưa là hội viên hội nhà văn. Anh ngại rằng cầm cái thẻ hội viên rồi, lại không viết nữa thì ngượng.
Nguyễn Bình Phương bảo “biết mình đang ở đâu cũng mệt, không biết cũng mệt”. Anh không quan tâm mình đang ở đâu, chỉ cặm cụi với công việc: biên tập thơ, làm báo thu nhập thêm, rỗi rãi thì “viết nhăng viết cuội” cho vui.
Nhưng tôi vẫn cố hình dung ra gương mặt anh trên sân ga văn chương nhốn nháo và trùng điệp người đi, người ở, trùng điệp những ảo tưởng và khát vọng chữ nghĩa.
Trên sân ga ấy, hình như có một Nguyễn Bình Phương đang lặng lẽ nép mình ở một góc, gầy gầy, trắng trắng, cực lầm lì ít nói, chờ đến lượt mình mua vé. Sau Phương, còn dằng dặc người…

Lê Mỹ Ý

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Buổi giới thiệu sách “Thành phố bị kết án biến mất”


Trung Tâm VHNN ĐÔNG TÂY: 3/4/2014 tại thư viện cafe sách Đông Tây đã diễn ra buổi giới thiệu cuốn sách “thành phố bị kết án biến mất” của nhà văn, nhà họa sĩ Trần Trọng Vũ. Buổi giới thiệu đã thu hút rất nhiều nhà văn, nhà báo và bạn bè độc giả đến tham dự.
1. Trần Trọng Vũ
Trần Trọng Vũ sinh năm 1964 tại Hà Nội, là con trai út của nhà thơ Trần Dần. Sau khi tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật Hà Nội năm 1987, năm 1989 anh nhận được học bổng vào Trường Mỹ thuật Quốc gia Pháp (Ecole Nationale des Beaux Arts, Paris). Ông mở triển lãm mỹ thuật tại nhiều nơi trên thế giới, và được xem là một trong những tên tuổi hàng đầu của hội họa đương đại Việt Nam ở nước ngoài.
Trần Trọng Vũ được coi là một “đại diện của nghệ thuật thị giác Pháp”. Anh cũng đã từng được trao giải Pollock-Krasner 2011-2012, bởi quỹ Jackson Pollock – Lee Krasner tại New York. Suốt hơn 20 năm, Trần Trọng Vũ tổ chức rất nhiều triển lãm trong và ngoài nước, đem về Việt Nam những dự án ấn tượng về một họa sĩ tài ba.
2. Cuốn sách “Thành phố bị kết án biến mất”
Vào quý I năm 2014 nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin kết hợp với Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây đã xuất bản cuốn sách “Thành phố bị kết án biến mất’ của Trần Trọng Vũ. Cuốn sách là một phần trong dự án nghệ thuật cá nhân của anh mang tên “những đề nghị của lời và hình”, trong đó văn học và hội họa được tác giả sử dụng như những phương tiện biểu diễn.
‘‘Nhưng nếu như không thể chia đôi cả hai nghịch lý và hợp lý giống như X đã không thể chia đôi chủ nhật với tất cả những gì xô đẩy những sự kiện vào chủ nhật. Nhưng nếu như nghịch lý và hợp lý hoàn toàn có thể hòa tan vào nhau giống như dầu lạc và dầu hướng dương giống như tình yêu và tình dục giống như ngày mai và ngày kia. Giống như kỷ niệm và ký ức. Nhưng nếu như nghịch lý cuả X sự ngông cuồng thơ mộng lại đem cho người khác ngần ấy cảm giác về sự hợp lý kém cỏi và cô độc. X đã không rơi xuống đất từ đỉnh cao một bức tường xây dở X cũng đã không bấu víu vào một vài viên gạch để đừng sợ hãi, để đừng tự hỏi nếu như anh sợ hãi.
Buổi tối chủ nhật người phụ nữ nói vớI X người đàn ông hai mươi tám tuổi. Từ bên kia bóng tối của căn phòng X. Cô nói với anh trong hơi nước và trong lúc đi lạc vào hơi nước. Cô nói: ‘‘Ngày-mai-anh-đừng-quay-lại’’… ( Trích “Thành phố bị kết án”).
Những anh chàng mang cái tên X bí ẩn, cũng những trang sách không dấy phẩy trải dài ra cùng hình ảnh sẽ khiến độc giả ấn tượng với cuốn sách “khó hiểu” nhưng cực kỳ quyến rũ này. cuốn sách tác động đến độc giả “hoàn toàn là thị giác trong một bố cục lơn” của những con chứ (Trần Trọng vũ nói về cuốn sách của mình).
3. Buổi giới thiệu sách “Thành phố bị kết án”
3/4/2014 tại thư viện cafe sách Đông Tây, nhà N11A Trần Quý Kiên, đã diễn ra buổi giới thiệu cuốn sách “thành phố bị kết án biến mất” của nhà văn, nhà họa sĩ Trần Trọng Vũ. Buổi giới thiệu đã thu hút rất nhiều nhà văn, nhà báo và bạn bè độc giả đến tham dự.
Ở buổi giới thiệu sách ta có thể bắt gặp rất nhiều gương mặt quen thuộc như: dịch giả Dương Tường, thầy Văn Như Cương, nhà giáo Phạm Toàn, PGS – TS nhà văn Ngô Văn Giá, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Giáng Vân, giáo sư Đặng Hùng Võ … cùng nhiều độc giả quan tâm.
1979651_645022778901031_849438521_n
Chủ tịch hội nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên đến tham gia chương trình trong vai trò của một MC-đầu bạc lôi cuốn, sinh động mà thâm thúy.
Trong buổi giới thiệu sách Trần Trọng Vũ chia sẻ “tôi muốn sử dụng toàn bộ từ ngữ để diễn tả khoảnh khắc mà thời gian hoàn toàn biến mất bởi bằng hội họa điều đó rất khó làm”. Trần Vũ không nói nhiều về nội dung cuốn sách mà ông muốn người đọc tự tìm hiểu. tự cảm nhận theo cách riêng mình những gì ông muốn gửi gắm.
Được hỏi về cảm nhậ của mình khi đọc tác phẩm “Thành phố bị kết án biến mất” nhà thơ Giáng Vân đã giành cho Vũ những lời nhận xét tốt đẹp: “Khả năng sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời của Vũ” đã làm tôi bị choáng, Vũ đã mở ra một con đường mới cho tiểu thuyết hiện đại bàng lợi thế của một họa sĩ làm văn.
Nhà văn, nhà thơ đồng thời là dịch giả Dương Tường cũng giành cho Trần Trọng Vũ những lời khen ngợi chân thành: “cháu xứng đáng với bố cháu”. Đây là cuốn sách mà tôi rất thích bởi khi bước vào thế giới của Vũ ta phải bỏ bên ngoài những cách đọc cũ như bỏ giày dép bên ngoài một căn phòng đã dọn dẹp sạch sẽ. Bỏ qua những cách đọc bình thường, bỏ qua những cái không hợp lý hay tại sao … tất cả biến mất hết như những dấu phẩy trên trang sách.
Đạo diễn Quốc Trọng nhận xét trong buồi giới thiệu: “chưa có cuốn sách nào tôi đọc vất vả như cuốn này. Đọc lướt qua lần một tôi không hiểu gì cả và đây là cuốn thứ ba trong một đêm tôi phải đọc đến hai lần. Đến lần thứ hai tôi thực sự mới cảm nhận được điều Vũ muốn nói. Mọi người nói Vũ đang viết văn nhưng với tôi, Vũ đang vẽ văn và viết hình”.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo giành cho Trần Trọng Vũ lời khen hết sức dí dỏm và uyên thâm: “Đọc cuốn sách tôi không hiểu gì cả, và xin chúc mừng Vũ. Cậu đã tiếp thu được truyền thống của một nhà thơ vĩ đại – Trần Dần”.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo
Một số hình ảnh trong buổi giới thiệu sách:
10154510_509803405796582_1186436674_n
10176002_644940372242605_973446942_n
10175983_600595643366957_2041570408_n
1509299_645022918901017_1489304211_n
Trần Trọng Vũ kí tặng sau buổi nói chuyện
10155128_644940322242610_2067690320_n
Cuốn sách được bày bán tại buổi giới thiệu
10014611_645022675567708_1059806764_n
10012987_645022835567692_1450274886_n
Đài truyền hình cũng góp mặt trong buổi giới thiệu sách
10009856_645022792234363_336538979_n
1525101_645022875567688_1145570462_n
603614_509803369129919_1515449430_n
1511075_645022872234355_1457578697_n

Nhà thơ Giáng Vân



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điệu luân vũ chóng mặt

Nhiều ngày nay Saigon lặn ngụp trong triều cường và mưa bão. Sau một đêm thức dậy hoặc giật mình tỉnh giấc nửa đêm, nhiều cư dân bỗng thấy mình đang ở giữa lòng sông hoặc đang sống trên ốc đảo. Người, xe lóp ngóp ngoài đường, nhà cửa đắp chặn kiểu gì nước cũng tràn vào và dâng lên làm lung lay, chuyển dịch mọi thứ. Đỉnh triều vẫn đang vươn tới mức báo động, bão rớt lê thê, mưa đong đầy những dòng sông trên phố- những dòng sông lạ lùng chẳng biết từ đâu tới và đã trôi về đâu…

Dù vậy, có lẽ do tính lạc quan của người Saigon, loáng thoáng từ đâu đó vẫn vọng về những giai điệu Latino nồng nàn, đắm say, khắc khoải. La Isla Bonita. A young girl with eyes like the desert… This is where I long to be… I fell inlove with San Pedro.
Nơi ta thuộc về không phải một Isla Bonita mà là quá khứ của nó, từ thuở hồng hoang mông muội nào đó… Nơi ta thuộc về không phải là Saigon mà là quá khứ hơn 300 năm sâu thẳm. Và phải chăng vì thế mà có những buổi trở về tiền kiếp như hôm nay?! Ta nhớ nhung đau đớn, ta ngơ ngác kiếm tìm… Saigon mà ta đã yêu từ khi mới lọt lòng đã không còn là nó nữa. Những con đường thênh thang nằm ngủ dưới vòm cây, những lâu đài, dinh thự cổ xưa, những nếp nhà yên ả thanh bình, những công viên, quảng trường , quán xá, mùa nắng , mùa mưa, sách vở, âm nhạc, thi ca… những con người hiền hòa, lãng mạn, yêu ghét thật thà, bình dân, lịch lãm… tất cả đã đi đâu? đã tan nát, chìm sâu, đã tro than, cát bụi hết rồi?!
Bây giờ Saigon mang trên thân mình đầy dẫy ung nhọt ngoại lai, chứa đựng  cuộc sống hỗn mang tàn bạo, lừa đảo, cướp bóc, giết người như dã thú… Trước một xã hội suy đồi đến tận xương tủy, từng ngày người ta bàng hoàng tự hỏi điều gì đang diễn ra? Nguyên nhân, hệ quả, giải pháp? Không có câu trả lời. Những con đường nghẹt thở lúc nhúc người, xe, như những con sâu khổng lồ bò nhích từng chút một giữa khói bụi và khí thải. Con người ẩn thân trong những áo mũ, khẩu trang, kính râm… như người thuộc một hệ phái mới hay từ một hành tinh xa lạ nào. Trong vỏ bọc đó khó có thể nhận ra thiên thần hay ác quỷ, do vậy phải luôn cảnh giác lẫn nhau trong mọi tình huống dù khi ở ngoài đường hay trong nhà! Một thứ ngục tù cam tâm thụ án vì hồn đất đá cỏ cây, vì nơi chôn nhau cắt rốn, vì nợ duyên ràng buộc, vì cơm ăn áo mặc… Cuộc sống không như lời hứa hẹn với những kỳ vọng không tưởng. Không còn niềm tin, không có niềm tin vào bất cứ điều gì.
-Đừng bao giờ cứu vớt những giấc mộng.
-Vậy thì cứu vớt cái gì bây giờ?
-Hãy cứu vớt niềm tin. Còn những giấc mộng thì tự chúng sẽ hồi sinh. (E.M.R)
Sự thay đổi luôn mang đến những điều mới mẻ và tiến bộ, cái chuyển động luôn mạnh hơn cái bất động, nhưng thay đổi, chuyển động để xa rời căn nguyên, nền tảng của cái đẹp về cuộc sống và nhân cách thì chắc chắn sẽ … sụp xuống hố tử thần!
Kim nằm co trên giường như một cái bào thai ba mươi tuổi với những ý tưởng bi quan không lối thoát, kiểu mà người ta hay gọi là triết lý salon, chính trị phòng khách! Một cơn buồn phiền dai dẳng kỳ lạ cứ đeo đẳng mãi, không cách gì thoát ra. “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”, loài người cũng bỏ nhau, ta cũng bỏ thân ta khi chìm sâu trong những nỗi khổ đau buồn bã nhiều khi không lý do, không tên tuổi. Rong ruổi ngoài phố, trốn lánh trong nhà, internet, sách báo, tranh ảnh, âm nhạc, công việc…vẫn không thể bứt rời. Kim đang giống một động vật u mê nào đó hơn là một con người (chắc Kim đã quên, thật ra nhiều khi con người lại chính là động vật u mê nhất!). Chiếc điện thoại mở toang hoang với hai mảnh sim bị tháo rời nằm vô dụng trên bàn, chúng cũng giống như Kim, hình như đang trải qua cái chết của chính mình.
Mở một trang mạng bất kỳ. Sao không để người chết được ngủ yên? Sao cứ đánh thức hàng năm, cứ kể lể, cứ tô hồng, chuốc lục, bôi đen? Dường như sau cái chết sinh học của ông công chúng đã phải chịu đựng thêm nhiều cái chết khác của ông. Những con số thống kê về ông (những cô gái mà ông đã yêu, số ca khúc mà ông đã viết, số tranh mà ông đã vẽ, những lần uống thuốc xổ để trốn lính, say rượu leo cổng vào nhà bạn, lần cưới vợ rồi bỏ chạy trong đêm, mấy trăm bức thư tình ông viết cho một người đã đăng tải công khai…) tất cả những thứ đó hình như đã thêm nhiều lần muốn giết chết người nhạc sĩ ấy trong lòng người hâm mộ! Như sợ chưa đủ còn bồi thêm cái tin ông đạo nhạc của người khác… Ta chấp nhận con người đời thường của ông, ta không thần thánh hóa dù là một thần tượng đã được tôn vinh gần nửa thế kỷ, không chính trị, không đảng phái gì ở đây cả, nhưng sao lòng cứ như ngộ độc, rồi lặng đi, rồi trống vắng, buông tay, trôi dạt về miền nhung tơ quá khứ, thuở “Ướt mi”… Dẫu đã có một con đường mang tên ông, nhưng lối ngõ âm thầm trong ký ức lại đưa về một nơi chốn khác để tìm ông. Nơi đó có những tình khúc mênh mang mà ta đã từng nghe ở đâu đó dọc đời và cứ đi theo ta mãi. Nơi đó có người-tình yêu tất cả mà như không yêu ai cả, để ai cũng được trầm mình trong hạnh phúc trần gian khi nghe những giai điệu trỗi lên từ đất cát, cỏ cây, biển cả… hay rơi xuống từ trời với mưa, nắng và ngàn mây… Cho dù ta 13, 17 hay khi đã đi qua tuổi 50…thì những giai điệu đó cũng là nơi chốn để hồn ta trú ẩn, là niềm an ủi vô biên, là lửa trầm thơm một kiếp người…
Những dây đàn mà ông đã từng chạm, những ly rượu mà ông đã từng uống, những tư tưởng, ngôn từ chỉ mình ông mới có, những đường đi lối về của một người mà trăm năm, thậm chí ngàn năm mới gặp… hãy để mỗi người tự tìm đến, tự gắn kết và thố lộ với tình yêu bền chặt dành cho ông.
Còn ta, tiếc thay, ta đã để nghìn thu trôi qua mà không một lần níu giữ.
Một con tắc kè ẩn mình đâu đó bỗng cất lên những tiếng kêu ngắn ngủi, mỏi mòn. Kim ước gì mình cũng có thể kêu lên, hét lên thật to hay đập nát tan một cái gì đó. Chai rượu bị vứt vào một xó từ mấy tháng nay đang lảo đảo trên nền nhà ngập nước như những cái chai đựng thư thỉnh thoảng vớt được ngoài biển cả. Kim nhoài người lôi nó lên, một chút cồn lúc này chắc cũng tốt! Kim bỗng bật cười nhớ đến tiếng chửi thề của Tuyển khi phát hiện chai rượu giả mà anh đã mất gần hai triệu để mua. Từ âm vực trầm ấm của giọng nói quen thuộc với những lời minh triết thường ngày bỗng bật lên một câu thuộc văn hóa vỉa hè nghe thật lạ tai! Cảm thấy tươi tỉnh ra một chút vì cái cười bất chợt, thì ra một chút cồn cộng với một câu chửi thề cũng có thể cho ra một điệu cười chứ không phải lúc nào cũng đánh nhau! Nhưng chỉ có vậy thôi, đóng nắp chai rượu lại rồi đâu lại vào đấy, Kim vẫn ngụp lặn trong cơn đau ốm của mình. Nếu là Tuyển thì anh sẽ gọi đó là cơn trầm cảm của những người đàn bà đa đoan, bệnh tự kỷ của gái đẹp, niềm trống vắng của sao Kim hay sự bức bối của ngôn ngữ và nỗi cô đơn trải rộng của trang giấy… Rất nhiều tỷ dụ, chính là tính cách của những “nhà phân tích tin tức truyền thông” như Tuyển!
Những trang kịch bản vẫn đứt quãng, gãy vụn, Kim vẫn đang rơi vào trạng thái của nhân vật chỉ xuất hiện trong phim có vài phút nhưng đã tạo ra số phận đầy bi kịch của nhân vật chính trong kịch bản của mình. Kim chắc chắn mình sẽ hủy diệt nó- nhân vật khốn kiếp ấy- ngay trang sau thôi! Cơn buồn chán vẫn ngập tràn không lối thoát, như nước vẫn đang dâng lên tràn ngập chung quanh. Những mẫu tự rời rạc, lăn tròn, xoay tít trong đầu Kim làm xáo trộn cảm giác, ý tưởng hỗn độn, hình tượng nhạt nhòa. Khoảng trắng chờ đợi mênh mông trên trang giấy điện tử bỗng chói lòa, nhức nhối. Kim nhắm mắt quay cuồng trong điệu luân vũ bất tận của tư tưởng, từng ngày sống cũng rối bời, cuộn chặt khiến Kim nhiều lúc ngộp thở nhưng không biết phải thoát ra bằng cách nào. Thật tệ !!!
Cửa sổ hình chữ nhật của căn hộ trên tầng tám của chung cư đối diện nhà Kim luôn mở, từ đó thỉnh thoảng xuất hiện một ông cụ ăn vận tề chỉnh, cặp kính trắng lấp lánh trên mắt. Kim luôn giật mình mỗi lần nhìn thấy ông, thật kỳ cục, không hiểu sao Kim cứ sợ ông rơi xuống đất! Ông cụ đứng lặng hàng giờ không biết để làm gì, nhiều khi Kim mải chúi mũi vào màn hình laptop đến khi sực nhớ nhìn sang thì ông cụ đã đi mất. Mấy hôm nay nước ngập Kim lười không muốn đi đâu, nhìn mãi lên cửa sổ vẫn không thấy ông cụ. Một cảm giác xốn xang khó tả, giống như một cái gì đó quen thuộc ngay bên cạnh ta bỗng một ngày không còn nữa, không lý do, không một lời giải thích. Ta cứ hoang mang tìm hoài, cứ bồn chồn mong đợi, lâu dần cũng vùi lấp trong bộn bề cuộc sống nhưng rồi một lúc nào đó lại nhớ đến, lại kiếm tìm, mong mỏi.
Nằm dài với tấm chăn mỏng cuốn tròn quanh thân, sao ta chưa hóa thành con sâu trong trang sách của Kafka ?! Hãy trở thành, để trong ta còn có một giấc mơ- giấc mơ với đôi cánh xanh biếc bay lên, không mang theo nỗi buồn độc dược này.

                                                                                                                                                            NGUYỄN THỴ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thử nhận diện:

 Chân Dung Nhà Văn - 49

Lê Xuân Quang

Con số 49 là con số độc.
Dân ta đã có câu tổng kết: ’’Bốn chín chưa qua, Năm (mươi) ba đã tới’’ - đó là 2 cột mộc - Xung và Hạn, rất ‘’nguy hiểm’’ cho một đời người. Có lẽ Xuân Sách đã đánh số 49 cho bức chân dung hoàn toàn ngẫu nhiên ?
Chúng ta hãy cùng nhau nhận diện chân dung số 49: Đây là ai?

49.

Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá Vây xong lại chết mòn trong vây.

Biển Lửa (truyện phim), Phá Vây (tiểu thuyết), Con nuôi của trung đoàn (truyện) - là tên các tác phẩm của nhà văn PHÙ THĂNG.

Phù Thăng - tên thật là Nguyễn Trọng Phu, sinh tại Hải Dương, đi kháng chiến chống Pháp từ năm 1947. Phù Thăng - đọc, đảo lái đi thành ‘’Thằng’’ Phu. Thiếu úy Đỗ Đức Dân, bạn thân, đồng hương, cùng đơn vị chiến đấu với Phù Thăng chuyển ngành (đợt 8 vạn binh sĩ giải trừ quân bị) - về làm phó chỉ huy công trường Khoan - Bắn mìn của mỏ Cọc 6 - Công ty than Hồng Gai - kể lại khi báo chi phê phán cuốn tiểu thuyết Phá Vây - hồi hơn 40 năm trước : ‘’Cậu ấy lấy bút danh Phù Thăng, ngay từ khi viết Báo tường của đơn vị’’!

Sau này, trở thành hội viên Hội nhà văn, trên văn đàn Việt Nam, Nguyễn Trọng Phu vẫn dùng bút danh Phù Thăng, và ngay sau đó Phù Thăng đã trở nên nổi tiếng qua cuốn tiểu thuyết Phá Vây. Và sự kiện ‘’Phá Vây‘‘ - xứng đáng xếp vào loại ’’độc nhất vô nhị’’ trong lịch sử văn học của làng Văn Chương Việt, ở nửa sau thế kỷ 20! 

Phá Vây viết về đề tài chiến tranh.
Nhân vật chính (hóa thân của tác giả) là cán bộ chỉ huy đơn vị trinh sát, có những suy tư về chiến tranh, về hòa bình khác thường, độc đáo. Lãnh đạo Văn Nghê thời đó rất ’’cay’’ nhà văn mượn nhân vật để phê phán chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng chiến tranh, phát triển thành nguyên lý: '' Làm Cách Mạng không thể đeo găng tay'' (J.Stalin),'' Súng đẻ ra chính quyền'' (Mao Trạch Đông) và gần nhất - Pol Pot đã tiến hành ‘’Đấu tranh giai cấp’’ với chính dân tộc mình, bằng cuộc Diệt chủng man rợ...

Trần Đăng Khoa nói văn tắt trong Chân Dung Và Đối Thoại về nguyên nhân Phù Thăng ‘’mang hoạ’’: ‘’Tập sách sẽ là con thuyền xuôi chèo mát mái nếu không có vài dòng Phù Thăng luận về chiến tranh…’’ (CD&ĐT trang 66).

Nguyễn Quang Thân trên TT&VH số 55 ngày 24.02.2008 - thì trích ‘’cụt lủn’’ về nguyên nhân tai họa của Phù Thăng chỉ do một câu than vãn: ‘’… Đời Lính là đời quá nhọc nhằn’’.
Nói và trích dẫn như vậy quá thiếu, khiến người đọc dễ gây phản cảm : Lẽ nào chỉ viết có thế mà ‘’đầy đoạ’’ một con nguời - một nhà văn đến tận đáy cuộc đời ?

Sự thực đoạn văn nặng kí ‘’vài dòng’’ do Nguyện Hưng Quốc trích - đưa vào một tiểu luận - như sau : ''... Chiến tranh đã gây lên và sẽ gây lên bao nỗi đau khổ, vất vả, tủi nhục, căm giận khác nữa… Chiến tranh không có gì đáng ca ngợi cả, và đời lính chỉ là cuộc đời nhọc nhằn mà thôi.  Nếu như trong chiến đãu có thu được cái vinh quang chân chính của nó, thì cũng đã trả một gía quá đắtPhải sớm kết thúc cuộc đổ mắu cùng những thảm họa của nó !''.

Có thế chứ ! Đây mới là nguyên nhân chính khiến tác gỉa mang họa.
Đoạn văn, tác gỉa viết ra hoàn toàn không đúng lúc. Chiến tranh đang bao trùm không gian Việt Nam, được lí giải : Có 2 loại Chiến tranh - Chính nghĩa và Phi nghĩa. Chúng ta làm chiến tranh dù dưới hình thức nào, với lí do gì cũng là Chính nghĩa. Bọn Đế quốc và bè lũ tay sai gây chiến tranh là Phi nghĩa. Cần phải ủng hộ triệt để cuộc chiến tranh CHÍNH NGHĨA, chống lại chiến tranh PHI NGHĨA...

Thế mà Phù Thăng lại coi chiến tranh chung chung… và cần phải ‘’sớm kết thúc’’. Trong thời điểm khi mà nghị quyết 9 đã đưa ra, các đoàn quân đã rùng rùng chuyển động hướng ra chiến trường… làm sao có thể chấp nhận, cho ‘’luồng tư tưởng’’ này tồn tại. Hệ thống tuyên truyền và nền Văn Nghệ được huy động tối đa ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến nhằm thống nhất đất nước. Bỗng dưng cuốn sách của Phù Thăng công khai nói ngược thậm chí phủ định - một ý kiến ‘’lạc lõng’’. Không bị xếp vào rọ ‘’Phản động’’ là may cho Phù Thăng lắm rồi. Sẽ không nghi ngờ lòng trung thành của một sĩ quan quân đội nhiều năm cầm súng chống Pháp, giờ cấm bút chiến đấu trên mặt trận Văn Nghệ, chỉ gọi lên phê phán rồi yêu cầu phải sửa lại tác phẩm, (cắt bỏ những đoạn văn luận bàn về chiến tranh).

Phù Thăng không chịu, công khai từ chối lời yêu cầu kia : ''Thực tâm tôi nghĩ thế nào thì tôi viết ra một cách trung thực thế. Nếu các anh cảm thấy không được thì thôi, không in nữa. Nếu trót in rồi thì không phát hành nữa, chứ bây giờ bảo tôi chữa khác đi, thì thú thực tôi chẳng biết chữa thế nào''. (Chân dung và Đối thoại trang 67).

- ’’Thế là thế nào ? Nuôi quân ba năm xử dụng một ngày. Đảng và Nhà nước nuôi anh, cho anh cơm ăn, áo mặc, môi trường để viết rồi gíup anh in ấn, phổ biến, quảng bá tác phẩm để anh gặt hái vinh quang. Giờ cần anh ủng hộ ‘’bằng… mồm’’, anh lại từ chối à’’ ?
- Ơn đó tôi ghi nhận, nhưng đây là lương tâm, lương tri, bản lĩnh của người cầm bút, tôi không thể làm khác.
- Thế thì…được… được ! ‘’

Ngay sau đó, các Báo, Tạp chí đăng tải những bài viết phê bình Phá Vây mà không cho ông lên tiếng thanh minh, bảo vệ, cũng giống như trường hợp các nhà Văn khác, từng bị ''Trói vào mà đánh, khen thay chịu đòn''. Kết quả là : Phá Vây bị thu hồi, tác giả bị chuyển đi, lần lượt từ cơ quan này đến cơ quan khác, bị ‘’treo bút ngầm’’. Từ đó không thấy ông xuất hiện trên văn trường nữa. Ông sống lặng lẽ cho tới khi đủ tuổi hưu trí, về quê nhà đi cầy, vui với đồng ruộng và lũ ... Gà - Vịt (1).  

Đề tài này quả thật gai góc : Cả chục năm sau - Việt Phương cũng viết, bàn  về Chiến tranh, bằng những câu thơ ‘’Không hợp thời’’ : 

Ta thắng Mỹ cho ngàn vạn năm đời sắp tới
Cho cả thời con cháu ta sẽ hỏi
Vì đâu ?
Ngày xưa trước năm 2000
Người ta giết nhau,
mạng người như hòn sỏi ?...

Sau Hiệp định Paris (1973) - Phạm Tiến Duật - cũng lại ‘’than thở’’ về chiến tranh - trong  bài thơ Vòng Trắng :

''...Khói bom lên trời thành một vòng đen
Trên mặt đất hiện bao nhiêu vòng trắng
Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số Không...''

Việt Phương, Phạm Tiến Duật - cũng giống như Phù Thăng -  có những suy nghĩ ‘’lệch lạc’’ về chiến tranh khiến ‘’Con thuyền… cuộc đời’’ họ đều không ‘’xuôi chèo mát mái’’.

Cũng không thể ‘’trách’’ những người lãnh đạo được, vì lúc đó, chủ trương, đường lối, nghị quyết giải phóng miền Nam bằng chiến tranh đã ban hành, muốn thực hiện được mục đích, người lãnh đạo buộc phải làm như vậy…

Nhưng cũng không thể ‘’chê’’ Phù Thăng qúa cố chấp (…). Đó là ‘’nghiệp chướng’’ của người cầm bút có bản lĩnh, chân chính và sự kiên trì trong ý thực hệ của người lãnh đạo văn nghệ của chế độ ! Cả hai phía hành động đều đúng theo ‘’chức trách’’ của mỗi bên… Cuộc đấu sức qúa chênh lệch khiến nhà văn phải lãnh nhận hậu qủa.

Có điều : Hành động của Phù Thăng khiến chúng ta nhớ đến chuyện viên quan viết Sử thời Đông Chu Liệt Quốc bên Trung Hoa, cách đây hơn 2000 năm, Sử gia Tư Mã Thiên đã ghi lại, có thể tóm tắt :
''Một người thoán đoạt ngôi vua. Sau khi tại vị, ông ta ra lệnh cho các quan trong triều tìm mọi cách ca tụng mình. Trong khi các quan thực thi ý kiến của vua mới, riêng viên quan chép Sử lại ghi vào sách :
''Năm ấy... tháng ấy... ngày ấy... ông X  giết vua...''. Nhà vua vô cùng tức giận, cho gọi người chép Sử đến, bắt ông phải sửa lại đoạn văn. Người chép Sử không nghe, vua tuyên bố: Nếu không sửa lại sẽ bị chém đầu. Người chép Sử vươn cổ ra chịu chém chứ nhất định không sửa câu văn mình đã viết.

Con ông ta nghe tin, đến thay Cha, lại bị chém.
Người Cháu noi gương Cha, Ông tiếp tục lặp lại: '' Ngày... ông X giết vua''. Nhà vua đọc đoạn văn, nhìn đứa cháu của viên quan ngự Sử, ngửa mặt lên trời than: Ta chịu thua các ngươi ! đoạn tha tôi chết cho Cháu người chép Sử.

Người Cháu thoát chết ra về, tới cửa thấy có nhiều người xếp hàng chờ mình. Anh ta ngạc nhiên. Những người đứng chờ giải thích: Chúng tôi chờ, nếu ông bị chém đầu, sẽ lần lượt thay thế chức vị của ông''.

Ta cũng lại liên tưởng tới hoàn cảnh của nhà bác học Ga li lê trước lúc đao phủ châm lửa giàn thiêu, hỏi ông lần cuối rằng, có thừa nhận trái đất đứng nguyên không ? Trước ngọn lửa, Ga li lê đành chấp nhận và đồng ý cải chính: ‘’trái đất đứng nguyên’’… Khi được cới trói, chưa ra khỏi giàn thiêu, ông đã lại thốt lên : Dù sao thì trái đất vẫn cứ… quay !
Gía - Phù Thăng hành xử như Ga Li lê thì…

Nhưng ‘’Thằng - Phu - Chữ’’ đã nêu tấm gương sáng về lòng dũng cảm của người Nghệ sĩ chân chính! Có thể coi ông là người chép Sử của Việt Nam thời hiện đại.
Qua Phá Vây, Phù Thăng muốn gửi tới người đọc đương thời bức thông điệp về chiến tranh và hòa bình. Sự bất đồng quan điểm với lãnh đạo cấp cao đã đến điểm đỉnh. Phù Thăng lại không nhân nhượng... Guồng máy chỉ đạo chiến tranh không thể để cho vật chắn cản đường: Phải ‘’gạt - xúc - quẳng’’ đi ! Nó không thể tồn tại trước ‘’Ba giòng thác cách Mạng’’ : Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước ‘’dù có phải đốt cháy cả dẫy trường Sơn’’ !

Kết cục ‘’Không xuôi chèo mát mái’’ đã đến với nhà văn tài năng !

Việt Nam ta có câu ngạn ngữ: ''Về đuổi gà cho vợ'', là ám chỉ việc các đấng trượng phu thất bại trong sự nghiệp, trở thành phế nhân, chỉ còn làm ông chồng suốt ngày ngồi bên bếp lữa vuốt… đuôi mèo (2), hoặc đuổi gà cho bà xã, sống qua ngày. Câu ngạn ngữ đó vận ngay vào Phù Thăng. Chỉ khác một điều, ông không thất bại theo nghiã hẹp của câu nói kia. Ông về phục vụ bà nhà : Đi cầy, hàng phục ‘’Trâu điên’’ - như Trần Đăng Khoa kể trong CD&ĐT - và chăn… Vịt !
Thế nhưng con GÀ cứ ám ảnh ông...

Chân dung và Đối thoại, xuất bản gần 10 năm trước (1999), Trần Đăng Khoa dành cho Phù Thăng những giòng chứa chan ân tình rồi tóm tắt, giới thiệu Hạt Thóc - Truyện ngắn có thể xem là ‘’Nặng Kí’’ trong sự nghiệp sáng tác sau Phá Vây của Phù Thăng. Người đọc ‘’rùng mình’’ khi nghe đoạn văn của Hạt Thóc, (cũng như đã từng rùng minh khi đọc ‘’vài giòng’’ trong Phá Vây) : ''... Thật tội nghiệp cho gã ! Thà gã cứ coi mình là một cục cứt  để rồi mà sợ chó thì đời gã chẳng đến nỗi khổ như vậy....''.

Câu văn gợi cho ta nhớ tới câu ví: '' Trí thức không đáng gía bằng cục... Phân'' ! Nhưng ‘’Trí - ta’’ hãy dẹp sự tự ái sang bên, tiếp tục nghe Phù Thăng tâm tình:

''... Chó đang thưa vắng dần...  Chỉ ở Hà Nội mới có chó. Rất nhiều chó. Chó ngào ngạt suốt một rẻo đê Nhật Tân...

Nhưng đó lại là những con chó hoà bình, chẳng có gì phải sợ. Khốn nỗi gã lại là hạt thóc, một hạt thóc bé nhỏ nên mới sợ Gà. Mà Gà thì ở đâu chẳng có. Chúng sinh sôi nẩy nở đàn đàn lũ lũ... đến cả những phố phường xầm uất... cũng có thể bất thần nghe tiếng gà gáy te te... bởi vậy tính mạng gã luôn bị đe dọa''. (CD&ĐT Trang 62 - 63).

Chó thì được bà con nông dân nuôi ở làng quê để giữ nhà chống trộm, để giúp các cháu bé ''làm sạch'' sau khi các chắu bĩnh ra, chứ ở Hà Nội có điện, có nước máy, cần gì chó, ai nuôi chó… ta. Thế mà bây giờ chó ở làng quê, miền ngược đang thưa dần... chỉ ở Hà Nội mới có chó... thậm chí rất nhiều chó là đằng khác ! Sao lạ vậy nhỉ ?

Chó nhiều - chẳng việc gì phải sợ : Không phải chó điên, chó sói, chó Berger to như con bê, được nuôi phục vụ việc bắt trộm cướp, bắt hung thủ trong các vụ án hình sự! Đây là những con chó không thể làm hại người - chó thuần chủng,’’chó hoà bình’’. !

 Chó ngào ngạt chẳng những suốt rẻo đê Nhật Tân, mà dường như còn ảnh hưởng ''mùi'' cả Hà Nội rồi lan ra xung quanh, khiến hàng ngày người ta ‘’đánh hơi’’ thấy, lũ lượt kéo về thưởng thức : Rựơu - Thịt Chó !

Chó - nhưng ''đó là những con chó hoà bình chẳng có gì phải sợ'' - nghĩa là chúng không thể cắn người được. Ngược lại, chúng còn bị người ‘’cắn’’… lại rồi nhai ‘’chín’’, nuốt ‘’tươi’’ !

Một số ông chủ của đất Ngàn năm văn vật và ngay cả ở Sài Thành Hoa Lệ ''Hòn ngọc của Viễn Đông'' - dùng chúng làm phương tiện hốt bạc. Họ biến việc nuôi, cung cấp, kinh doanh, nhập khẩu… chó - thành Vàng và Đô la, khiến đi trên đường phố, khách du lịch, vãng lai luôn gặp những bảng hiệu : ''A ! đây rồi - thịt cầy 7 món'' !

Rượu - Thịt Chó đã trở thành món hấp dẫn của cả dân Việt khiến ngành kinh doanh ăn uống phục vụ, nhanh nhậy khai thác biến ngành ẩm thực thuần Việt ngày một phồn thịnh phát đạt. Và trong nền kinh tế thị trường (có giai đoạn được định hướng XHCN - bây giờ thì không), họ hàng nhà Khuyển được nhanh chóng phân loại, xếp hạng : Nhất Vện, nhì Vàng, tam Khoang, tứ Mực - đáp ứng nhu cầu, khẩu vị của người ăn !

Thế là người này bảo người kia, rủ nhau ùn ùn, nghìn ngịt kéo đến Nhật Tân... rồi hình thành từng mâm, từng nhóm, từng cặp... Từ gìa đên choai choai. Từ các ông, gã, thằng... Phu đến các Sỹ Phu đủ kích cở, chủng loại - đều có mặt trong bữa nhậu. Đến ngay cả các nam thanh, nữ tú - Sinh viên, học sinh - cũng hăng hái tham gia mâm rượu. Tất cả (xếp chân bằng tròn trên chiếu)... đồng loạt vui vẻ, hả hê ''đưa cay'', ‘’trăm phần trăm’’ rồi cắn, nhai ngồm ngoàm, thưởng thức hương vị của khúc dồi, đĩa chả, bát nhựa mận trong tâm trạng ‘’Thăng hoa’’, say sưa nghẫm nghĩ về câu nói của dân gian:

Sống ở trên đời ăn miếng Dồi chó
Chết xuống âm phủ liệu có hay không.

Tiếp đó, TĐK diễn giải - Hạt Thóc (3).
Chuyện kể về nhân vật - nhà văn bị tâm thần. Gã tâm thần mang trong lòng nỗi ám ảnh, tưởng mình là một hạt thóc... và vì là ''Thóc'' nên luôn sợ... Gà... ''Mổ'' !

Nỗi ám ảnh ngày một tăng... đến độ gã phải vào nhà thương điên để chữa trị. Rất may, được người bác sỹ tài giỏi, thân ái, thậm chí kính trọng trí tuệ gã người bệnh của mình. Ông bác sĩ nhân ái kia chăm sóc gã tận tình đúng như câu khẩu hiệu do đích thân cụ Hồ nói về trách nhiêm của thầy thuốc, được ghi khắp nơi trên tường của các trạm xá, bệnh viện : Lương y ‘‘kiêm‘‘ từ mẫu. (Thầy thuốc kiêm mẹ hiền - nguyên văn lúc đầu phát ra, sau sửa ‘‘Kiêm‘‘ thành ‘‘Như‘‘).  Gã được sống trong căn phòng : ''... chẳng có cửa rả, ngày đêm mở thông thống... bệnh viên chẳng có tường ngăn, rào chắn, bệnh nhân chẳng ai bị trói giữ giam nhốt...'' (Sách đã dẫn, trang 63) - nghĩa là gã tâm thần được sống và chữa trị trong môi trường thoải mái, tự do !
Nhờ vậy, nhà văn tâm thần kia khỏi bệnh. Người ta cho gã xuất viện. Thế nhưng trên đường từ bệnh viện về nhà, nghe thấy tiếng gà gáy... căn bệnh cũ lại tái phát... Người Bác sỹ ngạc nhiên hỏi, gã trả lời : Quả thực tôi đã khỏi bệnh, tôi là NGƯỜI hẳn hoi !
- Thế sao nghe tiếng GÀ... anh lại sợ như trở cơn vậy ?
- Đúng ! Dù tôi là NGƯƠI... Nhưng lũ GÀ kia lại cứ coi tôi là... HẠT THÓC, thì sao?...

Thực ra Phù Thăng không phài là ''Thóc''... cũng chẳng phải ‘’Gà’’, lại càng không về... đuổi ''Gà'' ! Theo Trần Đăng Khoa nhận xét : Ông là chỉ huy của một đoàn quân... ''ông chỉ khẽ vẫy tay là cái đoàn quân ấy rùng rùng chuyển động...'', (CD và ĐT trang 67).
- Phù Thăng là ''Tư Lệnh'' của đoàn quân... ''VịT'' !

Việt Nam ta khi xưa thường gọi những người lao động là PHU : Phu Mỏ. Nông Phu. Phu Xe. Phu Mộ. Phu Bốc xếp, Phu... Phu... Nếu là người có chữ nghiã, trí thức thì gọi là SỸ PHU. Còn nếu là kẻ vô tích sự thì là THẤT PHU ! Nhà văn tự nguyện đại diện cho họ hàng nhà Phu bằng bút danh PHÙ THĂNG - THẰNG  PHU, là bởi ông sinh ra từ giới cần lao này. Phù Thăng tình nguyện đại diện cho những Ông, những Gã, những Thằng Phu... vì Ông muốn làm một người Phu chân chính, thực hiện lời dậy cuả tiền nhân : ''Quốc Gia hưng vong, Thất Phu hữu trách'' !

Nhưng, ông đã phải trả gía quá đắt cho hành động tích cực của mình bằng sự trả thù của ý thức hệ, dám đi ra ngoài khuôn mẫu. Phù Thăng chết dần, chết mòn trong vòng vây thù địch chỉ vì yêu quý chế độ, giữ vững khí tiết của nhà văn chân chính, ‘’vắt’’ ra những giọt, những giòng… mắu lầy nhầy tủy - não, mà lẽ ra ông cần phải biết : Người cầm quyền không thích loại ‘’mắu’’ này!
Nếu ông chiụ làm ’’cục cứt’’ chồm hỗm để mà đợi lũ chó ngoạm - như ông nghĩ - thì đời ông chắc sẽ khác đi nhiều !
Nhưng khốn nỗi : Ông là Phù Thăng - Thằng Phu… Chữ !
Sau sự kiện Phá Vây, trên văn đàn Việt Nam, tên tuổi ông bị sổ thẳng.

Cho đến nay, hơn 40 năm trôi qua, kể từ ngày nổ ra sự kiện Phá Vây, người đương thời không còn ai biết đến bút danh Phù Thăng nữa. Tuy muôn, châm nhưng Văn Chương Việt vẫn dành cho Phù Thăng chỗ, để đăng tải toàn văn truyện ngắn Hạt Thóc và khi ông về với cát bụi đã có những giòng cáo phó chân tình. Thiết nghĩ, thế cũng là nén nhang thắp cho Phù Thăng về nơi chín suối thanh thản.

Liệu VCV có thể làm tiếp việc nữa : Cho đăng tải toàn văn hay trích đọan Phá Vây?

Hoặc gỉa, cổ súy Mạnh Thường Quân nào hảo tâm cho xuất bản những di cảo của nhà văn - ‘’sử gia’’ (tin rằng những tác phẩm như Hạt Thóc - vẫn còn), tạo điều kiện cho Phá Vây chính thức bước vào đời (nếu chưa xuất bản), hoặc tái xuất giang hồ (tài bản) - mà lúc tại thế, từ hơn 40 năm trước - Phù Thăng đã mong muốn Đứa con đẻ của Thăng - Phu - Chữ (chứ không phải Con nuôi của Trung Đoàn) được sống đời của nó.

Thế nhưng, ác thay, vừa sinh ra đã bị ‘’cầm tù’’, bây giờ đã sắp lên lão (50).  Đứa con tinh thần nào của Nhà văn cũng muốn được sống thoải mái, tự do trong cuộc đời của chúng. Những đứa ‘’con… đẻ’’ của Phù Thăng - Nếu được như thế - chắc người cha khốn khổ sẽ ngậm cười mà an nghỉ ở thế giới bên kia ! 

08. 08. 08

(1) . Trong phim Chuyện Tử Tế, Đạo diễn Trần Văn Thủy đã dùng câu bình rất ‘’sắc’’ :’’Xem ra khoảng cách giữa nhà quay phim và gã chăn vịt chỉ là gang tấc’’. Phù Thăng cũng từng là ‘’Gã chăn vịt’’…
(2) - Nguyên văn câu ca dao : Chồng người đi ngược về xuôi/ Chồng em ngồi bếp vuốt đưôi con mèo .
(3) - Hạt Thóc - VCV đăng ngày 23.02.2008. http://vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=7452&LOAIID=2&LOAIREF=1&TGID=1514


Phần nhận xét hiển thị trên trang