Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Bất công nhưng sao không ai dám chống ?


Tại một đại hội nọ [ý nói Đại hội XX đảng Cộng sản Liên Xô - ND], Khơ-rut-xôp ra sức vạch trần và phê phán chế độ chính trị tàn bạo của Stalin. 
Có người chuyển lên một mẩu giấy chất vấn Khơ-rut-xôp: Bản thân Khơ-rut-xôp cũng là một thành viên trong tập đoàn quyền lực nòng cốt khi Stalin nắm chính quyền. Vì sao hồi ấy ông không đứng lên chống lại sự độc đoán của Stalin?
Khơ-rut-xôp cao giọng đọc nội dung mẩu giấy kia rồi lớn tiếng nói với mọi người: Đây là mẩu giấy của ai thế? Xin người đó đứng ra! Đứng ra nào! ... Bên dưới nhốn nháo một lúc nhưng chẳng thấy ai đứng ra cả.
Khơ-rut-xôp nói: Mọi người xem đấy, chúng ta hiện nay dân chủ như thế này, trong tình hình chẳng có gì phải sợ hãi mà ngay cả đồng chí viết mẩu giấy này cũng không dám đứng ra. Vậy hãy nghĩ xem, trong bầu không khí dưới thời Stalin thống trị ấy có người nào dám đứng ra cãi lại Stalin không? Cả hội trường vỗ tay.

Xem thêm:

Wikipedia: Nikita Sergeyevich Khrushchyov
Khrushov không an táng tại Quảng trường Đỏ
(13) HỒI KÝ KHRUSEV
(12) HỒI KÝ KHRUSEV
(11) HỒI KÝ KHRUSEV
(10) HỒI KÝ KHRUSEV
(9) HỒI KÝ KHRUSEV
(8) HỒI KÝ KHRUSEV
(7) HỒI KÝ KHRUSEV
(6) HỒI KÝ KHRUSEV
(5) HỒI KÝ KHRUSEV
(4) HỒI KÝ KHRUSEV
(3) HỒI KÝ KHRUSEV
(2) HỒI KÝ KHRUSEV
(1) HỒI KÝ KHRUSEV

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm rõ 'vùng cấm' và cơ hội báo tư nhân


Báo chí ở Việt Nam
Việt Nam chưa có báo chí tư nhân hiện nay và trong tương lai gần, theo chuyên gia
Việt Nam cần luật hóa 'vùng cấm', 'vùng nhậy cảm' để người dân và giới báo chí, truyền thông được biết rõ, theo nhận xét của nhà nghiên cứu báo chí từ trong nước.
Nếu các chủ đề, nội dung và vùng cấm này không được làm rõ như hiện nay, việc làm báo, cung cầu, tiêu thụ thông tin báo chí sẽ tiếp tục gặp những vấn đề khó khăn, khó xử, đó là quan điểm của ông Huỳnh Văn Thông, Trưởng Khoa Báo chí, thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
Trao đổi với BBC hôm 21/11/2013 từ Sài Gòn, Tiến sỹ Thông nói:
"Cái gì đã được định nghĩa là vùng cấm thông tin, nhất là trong trường hợp của một vài quốc gia có những khó khăn về mặt an ninh, về mặt chính trị v.v..., có thể định nghĩa vùng cấm đó,
"Nhưng đối với người dân thì quan trọng là các vùng cấm đó phải được nhận diện rõ ràng."
"Nếu không được phân chia rõ ràng bằng một ranh giới được định nghĩa về phương diện pháp lý, thì chuyện nhạy cảm hay không nhạy cảm rõ ràng là một vấn đề khá khó xử trong nhiều trường hợp."
"Tự do báo chí theo quan điểm của tôi như trong một dàn nhạc. Nó phải tấu lên một bản giao hưởng hài hòa, không thể cho những cái lung tung, cái bè này nó làm nghịch âm với bè kia"
Ông Phạm Khắc Lãm
Nhận định của Tiến sỹ Thông được đưa ra nhân dịp Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông Nguyễn Bắc Son lên diễn đàn của Quốc hội Việt Nam nói về các vấn đề của báo chí, truyền thông ở trong nước.
Hôm thứ Năm, một đại biểu Quốc hội, ông Trương Trọng Nghĩa đã đặt câu hỏi với vị Bộ trưởng về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin của công chúng trong bối cảnh Việt Nam mới nắm một ghế trong Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc.
Được hỏi về việc khi nào Việt Nam sẽ cho phép báo chí tư nhân, một trong những nội dung liên quan tới mở rộng tự do báo chí và các quyền mà Đại biểu Nghĩa đã đề cập, Tiến sỹ Thông cho rằng báo chí tư nhân sẽ vẫn chưa có cơ hội ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai gần, nhất là ở các khu vực tin tức quan trọng, nhạy cảm liên quan đến đời sống chính trị - xã hội.

'Cầm trịch và nguyên tắc'

"Cần phải coi trọng các quá trình trao đổi và đưa những tin tức được xem là những tin tức đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sự thực của người dân và nếu như điều đó không phương hại đến lợi ích chung của đất nước, quốc gia, đứng trên phương diện là lợi ích của dân tộc"
TS Huỳnh Văn Thông
Trả lời câu hỏi liệu phải chăng lý do chính là do chính quyền e ngại báo chí tư nhân, một khi đã được phép hoạt động, sẽ có thể dần dần đề cập những chủ đề thách thức vị thế và quyền lực của chính quyền và Đảng Cộng sản, Tiến sỹ Thông nói:
"Có vẻ cho tới thời điểm này, Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho một nền tảng gì đấy liên quan tới báo chí tư nhân, về chuyện này, mọi người đều phỏng đoán, chứ chưa có một cơ sở gì cả...."
Cũng trả lời câu hỏi này, cùng ngày từ Hà Nội, ông Phạm Khắc Lãm, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam nêu quan điểm:
Báo chí VN: 'Lá cải và vùng cấm'
TS Huỳnh Văn Thông, Chủ nhiệm Khoa Báo chí, Đại học Quốc gia TP.HCM nói về báo lá cải, báo tư nhân và viễn cảnh tự do báo chí ở VN.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
"Tự do báo chí theo quan điểm của tôi như trong một dàn nhạc. Nó phải tấu lên một bản giao hưởng hài hòa, không thể cho những cái lung tung, cái bè này nó làm nghịch âm với bè kia."
Theo ông Lãm thì: "Việt Nam có những cơ quan quản lý, thì những cơ quan đó phải cầm trịch ở đây, làm cho mọi người thực hiện đúng luật, mà luật của Việt Nam, luật báo chí là không có báo chí tư nhân."
Trong khi đó, Tiến sỹ Huỳnh Văn Thông cho rằng, mặc dù chưa có báo chí tư nhân, mặc dù còn các vùng cấm, vùng nhạy cảm thông tin chưa được minh định, Việt Nam vẫn cần phải lưu ý một nguyên tắc đảm bảo quyền tự do báo chí, ngôn luận và tiếp cận thông tin của người dân.
"Về nguyên tắc, cần phải coi trọng các quá trình trao đổi và đưa những tin tức được xem là những tin tức đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sự thực của người dân và nếu như điều đó không phương hại đến lợi ích chung của đất nước, quốc gia, đứng trên phương diện là lợi ích của dân tộc, thì tôi nghĩ chuyện đó cần được tôn trọng," ông nói với BBC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trí thức ‘tồn kho’

Trí thức ‘tồn kho’


Hồng Bích
lao dongChuyện thạc sĩ tốt nghiệp loại khá thất nghiệp rộ lên từ cuộc tiếp xúc với cử tri Đà Nẵng của ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương.
Có một người mẹ phản ánh con mình tốt nghiệp thạc sĩ ngành sư phạm nhưng nộp hồ sơ xin việc lần nào cũng bị đánh trượt nên thất nghiệp triền miên. Ông Nguyễn Bá Thanh đã “bút phê” vào lá đơn xin đi dạy của “thạc sĩ thất nghiệp”, chỉ đạo Sở Nội vụ TP phải xem xét trường hợp này.
Và mới đây, Sở Nội vụ TP. Đà Nẵng rà soát số lượng thạc sĩ, tiến sĩ (có hộ khẩu ở Đà Nẵng) chưa có việc làm với mục đích sẽ ưu tiên bố trí công việc cho những người này.
Mới nghe cứ tưởng chính sách này nhất quán với chương trình “chiêu hiền đãi sĩ” trước nay, và là một ý tưởng tốt cho mục tiêu nâng cao chất lượng công chức của Thành phố. Nhưng xem ra việc này cứ phảng phất cái màu mè của chuyện “thành tích sâu sát cuộc sống” và giải quyết các điểm “thắt nút cổ chai” của chính quyền địa phương.
Khảo sát thực trạng lao động tại Công ty TNHH Điện tử Foster của cơ quan chức năng cho thấy, hơn phân nửa trong số gần 11.000 lao động có trình độ đại học và họ chấp nhận làm công việc phổ thông không liên quan đến ngành nghề được đào tạo.
Sở dĩ họ chấp nhận thực trạng này chỉ vì ra trường mấy năm mà không tìm được việc làm phù hợp với bằng cấp, trình độ. Thực trạng lao động phổ thông “bằng cấp cao” ở Công ty Foster không cá biệt.
Nhiều doanh nghiệp khác cũng có trường hợp cử nhân làm lao động phổ thông trong các nhà máy. Chuyện đáng buồn này là hệ quả của thực trạng đào tạo “thừa thầy thiếu thợ”, cả xã hội chạy theo bằng cấp, ai cũng hiểu rõ, không cần phải bàn nhiều.
Nhưng chuyện ưu tiên giải quyết việc làm cho thạc sĩ, tiến sĩ thật ra cũng chẳng hay ho gì. Nếu công việc đó chỉ yêu cầu trình độ cử nhân thì cứ tuyển cử nhân vào làm.
Còn các thạc sĩ, tiến sĩ học xong, lấy bằng rồi nhưng với lối đào tạo hiện nay của các trường đại học trong nước, họ chẳng có chút kinh nghiệm thực tiễn, lại càng không thấy mấy thạc sĩ, tiến sĩ trẻ ứng dụng được kiến thức đã học vào nghiên cứu.
Là người quản lý lại phải phập phồng với chuyện mấy vị thạc sĩ, tiến sĩ nhảy việc (nếu có khả năng), còn không nhảy việc thì hầu hết là… làm không tốt, nhảy việc không nổi.
Có một sự tréo ngoe, nghịch lý như thế trong lao động trí thức trẻ. Nếu nhà tuyển dụng không tỉnh táo, chạy theo phong trào “ưu tiên thạc sĩ, tiến sĩ” thì cử nhân mới ra trường lại ào ào đi “nâng cấp” bằng lên thạc sĩ (chuyện này cũng đã xảy ra), lại tốn kém thêm biết bao thời gian, tiền bạc, để rồi những tấm bằng chỉ là để tiến thân mà không có ích cho xã hội.
Các vị lãnh đạo ở Đà Nẵng từng than thở, thành phố có nhiều kế toán giỏi, nhiều người giỏi tiếng Anh, nhưng cần tìm một kế toán vừa giỏi nghề, vừa giỏi tiếng Anh thì “bói” không ra, phải mời từ TP.HCM về làm việc!
Mặt khác của chuyện ưu tiên giải quyết việc làm cho thạc sĩ, tiến sĩ là chưa có bất cứ địa phương nào đưa ra khảo sát mỗi ngành nghề cần bao nhiêu thạc sĩ, tiến sĩ cho những vị trí công tác cụ thể nào để căn cứ trên nhu cầu đó mà tuyển dụng những thạc sĩ, tiến sĩ có năng lực đáp ứng yêu cầu công việc.
Đó là việc nên làm trước, không nên cứ chạy theo thành tích, rước các vị thạc sĩ, tiến sĩ về cơ quan để làm đông thêm đội quân công chức “sáng cắp ô đi, tối cắp về” khiến xã hội tiếp tục nặng gánh! Và chả lẽ không ai nhận thấy chuyện ưu tiên tuyển dụng này đi ngược lại quy trình tuyển dụng thông thường?
Theo DNSG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khác biệt giữa Philippines và Việt Nam về chiến lược Biển Đông

Thùy Dương chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Lucio Blanco Pitlo III & Amruta KarambelkarThe Diplomat
Cả hai nước đều nhìn thấy các khu vực tranh chấp là lợi ích sống còn nhưng vẫn chưa đưa ra được phương thức rõ ràng trong việc khẳng định chủ quyền của mỗi nước.
Bien Dong-4Trong số các bên tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải ở khu vực Biển Đông, Philippines và Việt Nam là hai nước mạnh mẽ lên tiếng và phản đối nhiều nhất việc Trung Quốc bành trướng sức mạnh trong khu vực. Cả hai nước biết rõ tiềm lực sức mạnh và vị thế của mình khó có thể so sánh với Trung Quốc nên họ đã cùng hợp tác với Hoa Kỳ. Manila và Hà Nội nhanh chóng trở thành những đối tác chiến lược trong chính sách “trục châu Á” của Washington, đồng thời thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với các nước khác để tìm kiếm thêm nhiều sự ủng hộ. Phillipines đã củng cố được sức mạnh quốc phòng và hải quân với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trong khi đó, Việt Nam tìm đến các đối tác truyền thống của họ như Ấn Độ và Nga – các quốc gia này hợp tác với nhau nhằm tạo ra một đà tiên phong để chống lại sức mạnh cũng như sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực. Ngoài ra, cả hai nước cũng đang tìm kiếm sự hỗ trợ từ các đối tác trong khối ASEAN.
Vấn đề tranh chấp biển Đông đã có một vài điểm đáng chú ý trong thời điểm vừa qua khi Phillipines đã mang “đường chín đoạn” ra toà án Liên Hiệp Quốc. Trong thời điểm trước đó, các bên tranh chấp đã tìm kiếm cách giải quyết khá nhạy cảm này thông qua các cơ chế khu vực và các cuộc đàm phán song phương. Có lẽ không ngạc nhiên khi Trung Quốc thấy khó chịu với động thái của Phillipines khi vấn đề tranh chấp đã từng được giao ước sẽ không quốc tế hóa. Có thể còn quá sớm để kết luận bất kì điều gì qua động thái đó của Manila, nhưng nó cũng là điểm đáng quan tâm để so sánh những nét tương đồng cũng như chênh lệch trong các chiến lược của Manila và Hà Nội trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc.
‘Tiến thoái lưỡng nan’ của Việt Nam
Chiến lược của Việt Nam được hình thành dựa trên nền tảng lịch sử, địa lý cũng như mối quan hệ kinh tế gần gũi với Trung Quốc. Nền kinh tế của Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào đầu tư và thương mại của Trung Quốc và sự phụ thuộc này đã hạn chế khá nhiều hành động của Việt Nam. Và quan trọng hơn, những điều này đã mang lai những mất mát khá đắt giá cho Việt Nam.
Bài học lớn nhất cho Việt Nam khi phải phụ thuộc vào Trung Quốc là mất chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và một phần quần đẩo Trường Sa (Johnson South Reef và Đá Chữ Thập). Do đó, Hà Nội có khá nhiều động lực và lí do để ngăn chặn hành động bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Các cuộc xung đột xảy ra trong thời gian qua giữa Hà Nội và Bắc Kinh xoay quanh những lần thăm dò khoáng sản biển của các nhà đầu tư nước ngoài, các buộc bắt giữ và sách nhiễu ngư dân, và những cuộc xung đột đó đã gây ra những làn sóng phản đối khá mạnh mẽ từ phía Hà Nội.
Tuy nhiên, bên cạnh các cuộc đụng độ là các sự kiện quan trọng mang tính tích cực giữa hai nước như phân định ranh giới đất liền, thiết lập vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Bộ và gần đây nhất là lập đường dây nóng dành cho các hoạt động ngư nghiệp. Những hành động tích cực đó có thể hỗ trợ khá nhiều trong việc giảm thiểu “sự cố” trên biển phát sinh từ sự chồng chéo tại các khu vực đánh bắt cá mà hai bên đều lên tiếng tuyên bố có chủ quyền.
Cùng là hai nước xã hội chủ nghĩa với quá trình lịch sử có cả tranh chấp lẫn hợp tác đồng minh (Chiến tranh Lạnh và Chiến tranh Việt Nam), Hà Nội và Bắc Kinh đang thực hiện hợp tác dựa trên nhiều kênh chính thức lẫn không chính thức, bao gồm cả việc đàm phán Biển Đông. Những việc đó có thể kiểm soát những căng thẳng và không làm ảnh hướng đến các khía cạnh khác của mối quan hệ song phương, đặc biệt là thương mại và đầu tư.
Để có được những điều trên, không thể phủ nhận khả năng ngoại giao của Trung Quốc trong thời gian vừa qua. Trung Quốc đã giảm thiểu các cuộc xung đột với Việt Nam trong khi Bắc Kinh lại đang dính vào một vụ tranh chấp với Philippines tại Biển Đông. Việc Trung Quốc triển khai những chiến lược đúng đắn và đúng thời điểm với Việt Nam đã giúp mối quan hệ song phương được thúc đẩy mạnh hơn trong khi vẫn đang tranh chấp lãnh thổ và hàng hải. Những động thái này của Trung Quốc làm cho Việt Nam có khá ít “lí do” để ra quyết định thực hiện những động thái “nắn gân” như Philippines – thách thức các yêu sách của Bắc Kinh trước cơ quan quốc tế.
Tất nhiên, Việt Nam vẫn cố gắng tăng cường và mang chủ để Biển Đông ra trước diễn đàn ASEAN. Họ cũng đang cố gắng cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ để chia sẻ mối quan tâm lẫn nhau với Philippines, mặc dù những hành động ủng hộ cho các quyết định của Manila về vấn đề tranh chấp Biển Đông tương đối khá ít. Những hành động trợ giúp ở thời điểm hiện tại chưa thể tạo cho Hà Nội – Manila một mặt trận chung để đối phó với Bắc Kinh. Một lần nữa, Hà Nội lại bị hạn chế trong sự lựa chọn của mình để đối phó với Bắc Kinh vì họ không thể tạo ra quan điểm rõ ràng hay đưa ra những quyết định “mạnh tay”.
Hà Nội sẽ tiếp tục bày tỏ rõ thái độ không đồng tình của mình đối với Trung Quốc trước Diễn đàn Khu vực ASEAN, và họ vẫn muốn bày tỏ quan điểm này trên các diễn đàn quốc tế qui mô nhỏ hơn. Trong khi đó, như các nước ASEAN khác – đặc biệt những nước có liên quan đến chủ quyền ở Biển Đông – Việt nam sẽ theo dõi chặt chẽ các động thái của Manila để có thể định hình lại chiến lược của mình cho phù hợp. Với thách thức pháp lý của Manila, Trung Quốc có thể sẵn sàng thỏa hiệp với Hà Nội nhằm cô lập Manila và hơn nữa là ngăn chặn việc hình thành một mặt trận thống nhất chống lại các yêu sách của Bắc Kinh trên Biển Đông.
Philippines cứng rắn
Trong khi đó, chiến lược Biển Đông của Philippines đối với Trung Quốc cũng đang tạo ra khá nhiều khó khăn cho Manila. Mặc dù có phần quản lý các đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa nhưng khả năng quân sự của Manila vẫn còn khá hạn chế. Kể từ khi “mối đe dọa Trung Quốc” trở thành hiện thực, Philippines mới có các quyết đóng quân ở Mischief Reef – 2 năm sau sự kiện dời các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Philippines. Tranh thủ cơ hội này, Bắc Kinh đã tăng cường sự hiện diện của hải quân và cộng sự với số lược lớn trên khu vực.
Từ khi Hiệp ước Phòng thủ chung với Hoa Kỳ năm 1951 kết thúc, Philippines đã gặp vấn đề về  quân sự khá lớn. Hiện có nhiều lo ngại rằng quan hệ Trung–Mỹ sẽ phát triển, trong đó Washington ngầm liên kết với Bắc Kinh để củng cố vị trí của mình trên Biển Đông. Những điều này đang có nguy cơ trở thành hiện thực và đem lại cho Philippines thách thức trong việc buộc phải đa dạng hóa các đối tác an ninh để có những hành động độc lập về quân sự trong tương lai. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn là đối tác quan trọng của Philippines, đặc biệt về thương mại và an ninh bất chấp những thăng trầm trong mối quan hệ giữa hai nước.
Manila đã đóng cửa các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Subic và Clark vào năm 1991 nhưng vẫn cho phép quân đội Mỹ trở lại vào năm 1999 thông qua các hiệp định về thăm viếng quân sự, từ đó trở thành một đồng minh quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố. Bên cạnh trở thành một đối tác quan trọng trong chính sách “tái cân bằng” của Hoa Kỳ, Philippines cũng đã tăng cường quan hệ đối tác với Nhật Bản, chia sẻ mối quan tâm chung trong việc tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc. Các mạng lưới đối tác này mang lại khá nhiều biện pháp và động lực cho Philippines trong việc chống lại các chính sách của Bắc Kinh.
Do đó, chúng ta có thể thấy sự khác nhau trong việc sắp xếp quyền lực và chiến lược giữa Việt Nam và Philippines. Hơn nữa, trái ngược với Việt nam, Philippines không bị phụ thuộc vào đầu tư và thương mại với Trung Quốc. Trong thời điểm hiện tại thì Hoa Kỳ và Nhật Bản mới là đối tác thương mại chính của Philippines. Quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines đúng là đã phát triển trong thời gian vừa qua nhưng Philippines chắc chắn đã thấy được ảnh hưởng của Trung Quốc trong các quyết định hạn chế nhập khẩu chuối và du lịch. Tuy nhiên, với mức cam kết kinh tế tương đối thấp đồng nghĩa với việc trừng phạt kinh tế của Trung Quốc vẫn chưa đủ để buộc Philippines phải thay đổi ý kiến, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại. Ví dụ, Philippines đã có thể bù đắp sự thâm hụt thị trường Trung Quốc đối với xuất khẩu chuối bằng cách xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
‘Lợi ích sống còn’ của hai nước
Tuy nhiên, sự nổi lên của Trung Quốc và việc dần mất vị thế Hoa Kỳ đã tiếp tục tạo ra bóng đen lớn ở khu vực Biển Đông. Mặc dù một số nước ASEAN đã hoan nghênh chính sách “tái cân bằng” của Hoa Kỳ nhưng các nước đó đã có những mối quan hệ kinh tế khá sâu đậm với Trung Quốc trong thời gian vừa qua. Do đó, Biển Đông có thể trở thành lí do cho sự chia rẽ giữa các nước trong khu vực. Điều này đã làm các lãnh đạo Philippines tin rằng ASEAN không thể trở thành một diễn đàn tin cậy và hiệu quả trong việc đối phó với Trung Quốc tại Biển Đông. Các quốc gia có tranh chấp lãnh hãi từ lâu đời và chưa được giải quyết với Trung Quốc như Nhật Bản hay Ấn Độ có thể trở thành những hỗ trợ nhỏ trên vấn đề tranh chấp, nhưng các cam kết và động thái của các nước đó vẫn chưa tạo được dấu ấn thực sự quan trọng.
Biển Đông là vùng biển mang tầm chiến lược an ninh, chính trị và kinh tế quan trọng cho cả Philippines lẫn Việt Nam. Cả hai nước đều thấy việc tuyên bố chủ quyền tại khu vực Biển Đông là yếu tố quan trọng đối với an ninh quốc gia, các kênh thương mại quan trọng, ngư trường truyền thống và nguồn tài nguyên năng lượng ngoài khơi đã trở thành những lợi ích cốt lõi không thể tách rời lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, khi cân nhắc đến lịch sử, kinh tế và chính trị đã khiến cho hai nước có những chiến lược Biển Đông khác nhau, đặc biệt là vấn đề đối phó với Trung Quốc.
© 2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Trung Quốc lại nói:

Tướng TQ: Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của người Mỹ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.
Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức
Có một câu chí lý thế này: Hay bàn luận về khuyết điểm của người khác thì anh là kẻ đạo đức thấp kém. Hay bàn luận về khuyết điểm của nhân loại thì anh là một nhà tư tưởng.
LTS: Lưu Á Châu sinh năm 1952, là con rể cố Chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có thời là Phó Chính uỷ bộ đội không quân Trung Quốc, nay là Chính uỷ Trường đại học Quốc phòng Trung Quốc, từng là giáo sư thỉnh giảng của ĐH Stanford Mỹ. Ông đồng thời là một nhà văn có tiếng, chủ nhân một số giải thưởng văn học. Các bài viết của ông ngôn từ mạnh dạn, quan điểm mới mẻ (nhất là quan điểm đối với Mỹ), lập luận sắc bén của ông được dư luận rất quan tâm.

Ông Lưu Á Châu
ới đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông - Trung tướng không quân Lưu Á Châu, lúc đó là Chính uỷ bộ đội không quân Quân khu Thành Đô Trung Quốc, trước các cán bộ quân đội cấp tiểu đoàn trở lên tại căn cứ không quân Côn Minh, Vân Nam. Tuần Việt Nam xin đăng lại ý kiến cá nhân của ông, một vị Trung tướng của Trung Quốc để rộng đường dư luận. Mời quý bạn đọc gần xa, trong nước và nước ngoài gửi bài, ý kiến trao đổi, tranh luận.

Người phê phán văn hoá Trung Hoa

Trong quá khứ, tôi trước tiên là người kế thừa văn hoá Trung Hoa, sau đó mới là người phê phán văn hoá Trung Hoa. Hiện nay tôi trước tiên là người phê phán văn hoá Trung Hoa sau đó mới là người kế thừa.

Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu, cái sai thành cái tốt, cái đúng. Lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt cái đúng thành cái xấu cái sai. Thời cổ, phương Tây cái gì cũng cấm, chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm, riêng bản năng thì cấm.

Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng, tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.

Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel từng nói: "Trung Quốc không có triết học." Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào. Nhà tư tưởng tôi nói là những người như Hegel, Socrates, Plato, những nhà tư tưởng ấy có cống hiến to lớn đối với tiến trình văn minh nhân loại. Lão Đan [tức Lão Tử - ND], bạn nói ông ấy là nhà tư tưởng phải không?

Chỉ dựa vào "Đạo đức kinh" 5000 chữ mà có thể làm nhà tư tưởng ư? Đấy là chưa nói "Đạo đức kinh" của ông có vấn đề.

Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực.

Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc.

Trung Quốc không thể có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Xã hội Trung Quốc là xã hội binh pháp, dân tộc ta chỉ tôn sùng nhà mưu lược. Một Gia Cát Lượng chẳng mấy thành công về sự nghiệp lại được người ta kỷ niệm nhiều lần. Ông ấy bụng dạ kém khoáng đạt, cách dùng người cũng chưa thích hợp.

Có tư liệu cho thấy ông ta còn là kẻ lộng quyền. Nhưng chính con người như thế lại được nâng lên tầm cao phát sợ. Đây cũng là một phác hoạ tâm hồn dân tộc ta. Dưới hình thái xã hội như thế có ba loại hành vi thịnh hành ở Trung Quốc.

Ba loại hành vi thịnh hành tại Trung Quốc

1.Thuật nguỵ biện. 

Con trai tôi năm nay thi vào khoa báo chí một trường đại học. Khoa này là một trong những khoa báo chí tốt nhất Trung Quốc. Tôi bảo nó: Đưa giáo trình cho bố xem. Đọc xong tôi bảo thứ này không đáng đọc. Trong giáo trình có một suy đoán như sau: Trung Quốc phát minh ra thuốc nổ; thuốc nổ truyền tới châu Âu đã phá tan dinh luỹ phong kiến Trung thế kỷ của châu Âu. Thật nực cười. Thuốc nổ anh phát minh ra phá tan dinh luỹ phong kiến của người ta, thế sao dinh luỹ của chính anh lại không bị phá vỡ? Ngược lại còn vững chắc hơn?
Tại Đại học Quốc phòng Trung Quốc, khi thảo luận vấn đề Đài Loan có một quan điểm được nhiều người tán đồng như sau: Đài Loan như một cái ổ khoá. Nếu không giải quyết được vấn đề Đài Loan thì ổ khoá ấy sẽ khoá chặt cánh cổng lớn của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không có lối ra biển cả. Đó là sự nguỵ biện. Tây Ban Nha sau khi trở thành cường quốc biển, đâu có thể ngăn cản anh hàng xóm Bồ Đào Nha cũng trở thành cường quốc biển. Eo biển Dover của Pháp cách nước Anh có 28 hải lý, Anh Quốc có thể ngăn cản Pháp trở thành cường quốc biển không?

Trung Quốc mất biển, chủ yếu là do tầng lớp thống trị Trung Quốc nhiều đời chưa có quan điểm Quyền lực biển.

Có lẽ mọi người chưa chú ý tới chuyện một số hội Phật Giáo, Đạo giáo thường đứng ra chủ trì việc phê phán một số đoàn thể mê tín phong kiến, các vị đạo trưởng ung dung nói năng, phê phán người ta là mê tín phong kiến. Tôi muốn cười thầm nhưng lại không nhịn được cười thành tiếng. Bảo người ta là mê tín phong kiến, lẽ nào ông là duy vật chăng? Chẳng phải cũng là mê tín đó sao?

2. Đối ngoại lôi kéo vỗ về, đối nội tàn nhẫn. 

Văn minh châu Âu và văn minh Trung Quốc hầu như đồng thời cất bước nhưng châu Âu hình thành nhiều quốc gia nhỏ, Trung Quốc hình thành một đại đế quốc thống nhất. Nói tới chuyện này chúng ta thường hí hửng phấn khởi. Thực ra châu Âu hình thành nhiều quốc gia như thế chính là một dạng thể hiện tư tưởng tự do của họ. Tuy hình thành nhiều quốc gia như vậy nhưng bao nhiêu thứ có liên quan đến văn minh nhân loại chính là sinh ra từ các tiểu quốc chia tách ra ấy.

Còn chúng ta đã làm được gì cho văn minh thế giới? Có thể khẳng định, thống nhất giang sơn có mối quan hệ tất nhiên nào đó với tư tưởng thống nhất. Xã hội mưu lược là xã hội hướng nội.

Tôi từng nghiên cứu kỹ sự khác biệt giữa Trung Quốc với Mỹ. Trên mặt công việc quốc tế, về cơ bản Trung Quốc mềm mỏng, còn trên mặt công việc trong nước thì cứng rắn. Nước Mỹ ngược lại, họ rắn trên mặt công việc quốc tế, mềm trên mặt công việc trong nước. Chẳng còn nhớ trong một cuốn sách nào đấy tôi có đề cập vấn đề này, có lẽ là cuốn Đánh giá nguy hiểm tác chiến với Đài Loan, và kết luận: Chuyện này là do sự khác biệt văn hoá quyết định.

Văn hoá Trung Quốc có tính khép kín, kín đáo, hướng nội. Văn hoá Mỹ thì cởi mở, hướng ngoại. Tư tưởng đại nhất thống cũng là tư tưởng kiểu hướng nội. Điều đó giải thích vì sao trước bọn xâm lược nước ngoài thì chúng ta là bầy cừu, trước đồng bào mình thì chúng ta là lang sói. Ngót trăm lính Nhật là đủ để áp giải 50 nghìn tù bình quân Quốc Dân Đảng đến Yến Tử Cơ [một địa danh thuộc tỉnh Giang Tô - ND] xử bắn. Chưa nói đến chống lại, các tù binh này chẳng có cả tới dũng khí bỏ chạy nữa kia.

3. Hành vi thô bỉ. 

Sự thô bỉ về tinh thần ắt đem lại sự thô bỉ trong hành vi. Sự cao quý tinh thần ắt sẽ đem lại sự cao quý trong hành vi. Khoảng hai chục năm trước khu phố nhà tôi có xảy ra chuyện như sau: Một đôi vợ chồng li dị, ông chồng dẫn cô bồ mới về nhà, hai vợ chồng cãi nhau. Bà vợ chạy lên gác trên muốn nhảy lầu. Rất nhiều người xúm lại xem. Có kẻ vì hí hửng khi thấy người khác gặp tai nạn mà hét to: "Nhảy đi, nhảy đi!" Về sau cảnh sát đến cứu được bà kia xuống, những người xem thậm chí còn cảm thấy tiếc rẻ.

Tôi thở dài một cái rồi về nhà, mở ti-vi xem. Đúng lúc ấy trên ti-vi đang chiếu bộ phim kể về một chuyện có thật xảy ra ở châu Âu. Chuyện như sau: Một nước nào đó, nhớ mang máng là Hungary thì phải, 70 năm trước có một anh thợ mỏ trẻ sắp cưới vợ. Trong lần cuối cùng xuống giếng mỏ trước ngày cưới thì mỏ xảy ra sụt lở, anh thợ kia mãi mãi không thể trở về. Cô dâu không thể tin rằng người yêu của mình có thể bỏ cô mà đi, cứ thế đằng đẵng chờ 70 năm trời.

Cách đây ít lâu người ta sửa lại hầm mỏ, phát hiện thấy trong vũng nước đọng ở chỗ sâu có một xác người. Đó chính là chàng rể- thợ mỏ nọ bị vùi dưới giếng 70 năm trước. Vì dưới ấy không có không khí, xác lại ngâm trong nước có khoáng chất nên người ấy trông vẫn trẻ như lúc chết. Cô dâu thì đã là bà lão tóc bạc phơ.

Bà cụ ôm lấy người yêu khóc nức nở. Bà quyết định tiếp tục làm lễ cưới của họ. Cảnh này thật quá xúc động: Cô dâu 80 tuổi mặc áo cưới trang trọng một màu trắng như tuyết. Tóc cũng trắng như tuyết. Người yêu của bà thì vẫn trẻ như xưa, mắt nhắm nghiền nằm trên cỗ xe ngựa. Hôn lễ và tang lễ đồng thời tiến hành. Bao nhiêu người rơi lệ.

Vụ 11/9 thử thách trình độ đạo đức quốc dân

Vụ 11/ 9 năm ngoái là sự việc có thể khảo nghiệm trình độ đạo đức của dân tộc ta nhất. Hôm nay [tức 11/09/2002 - ND] vừa đúng tròn một năm sự kiện ấy. Vụ 11/ 9 tuy không thể thay đổi thế giới nhưng đã thay đổi nước Mỹ. Đồng thời, thế giới sau ngày ấy rất khó trở lại trước sự kiện này.

Khi xảy ra vụ 11/9, ít nhất trong một quãng thời gian sau đó nước ta bị bao phủ bởi một bầu không khí không lành mạnh. Tối hôm 12/9, có người bạn gọi điện thoại cho tôi nói sinh viên ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa đang khua chiêng gõ trống. Tôi bảo đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc còn chưa lọt vào vòng sau kia mà, phải đến mồng 7/10 đội Trung Quốc mới đấu trận cuối cùng với đội Liên hiệp Vương quốc A Rập, nếu thắng thì sẽ lọt vào danh sách dự World Cup. Một lúc sau mới biết thì ra sinh viên Trung Quốc đang chúc mừng việc toà tháp đôi Mỹ bị đánh sập.

Báo chí nước ngoài đưa tin: Hồi ấy có một đoàn nhà báo Trung Quốc đang ở thăm Mỹ, khi thấy hình ảnh toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới bị đánh phá, các thành viên đoàn nhà báo này bất giác vỗ tay. Đây là một dạng ngấm văn hoá; điều đó không thể trách họ, bọn họ đã không thể kiềm chế được bản thân.

Kết quả họ bị [chính phủ Mỹ - ND] tuyên bố là những người mãi mãi không được hoan nghênh. Hồi ấy tôi đang ở Không quân Bắc Kinh [1], mấy hôm ấy đều có người ở bộ đội đến thăm, gặp ai tôi cũng hỏi quan điểm của họ đối với vụ 11/9. Tất cả đều trả lời: Đánh bom hay lắm.

Sau này tôi nói đây là một tình trạng rất đáng buồn. Nếu những người ấy yêu mến Trung Quốc, thế thì có cứu được Trung Quốc hay không? Về giới truyền thông thì càng chẳng nên nhắc tới. Ở Trung Quốc, nơi không có tin tức nhất là trên báo chí.

Năm 1997 công nương Diana chết vì tai nạn giao thông. Cho dù Diana là người thế nào, hoàng gia Anh Quốc ra sao thì ít nhất bà ấy cũng có giá trị tin tức. Các tờ báo lớn trên thế giới đều đăng tin này trên trang nhất, riêng báo chí Trung Quốc không đăng tin ấy. Hôm đó tin tức đầu bảng của các tờ báo lớn ở Bắc Kinh là "Các trường trung, tiểu học Bắc Kinh hôm nay khai giảng". Tin này chẳng khác gì tin "Người Bắc Kinh hôm nay ăn sáng rồi", chỉ có cái giá trị [thông tin - ND] ấy thôi.

Tối hôm 11/9 tôi ngồi xem chương trình "Tiêu điểm phỏng vấn" trên ti-vi. Tôi muốn xem xem "những cái miệng lưỡi của đất nước" đánh giá tiêu điểm vụ 11/9 như thế nào. Kết quả chương trình "Tiêu điểm phỏng vấn" hôm ấy có nội dung là nói về việc các chi bộ ở nông thôn tăng cường xây dựng chi bộ gì gì đó. Bạn muốn xem cái gì thì không có cái ấy. Cái bạn không muốn nghe thì người ta cứ nói cho mà nghe. Dĩ nhiên, những cái miệng lưỡi của quốc gia thì vô tội.

Văn hoá truyền thống ảnh hưởng tới quan niệm đạo đức

Năm 1999 Mỹ tấn công Nam Tư. Trung Quốc đứng ra phản đối. Cái giá của lần ấy là Đại sứ quán Trung Quốc tại Nam Tư bị bắn phá. Suýt nữa thì Trung Quốc lại đứng ra lần nữa. Đoàn tàu văn hoá này của chúng ta có quán tính lớn, chở chúng ta, những kẻ có khiếm khuyết đạo đức, phóng như bay tới điểm chót.

Hồi ấy có người còn đề xuất nhân dịp này tấn công Đài Loan, ra tay một lần là xong. Có thể thông cảm với nỗi lòng của các bạn ấy, nhưng bấy giờ quả thật không phải là thời cơ thích hợp. Hồi ấy tôi nghĩ, vụ 11/9 chết bao nhiêu người, đều là người vô tội. Cái mất đi là sinh mạng con người, thứ tôn nghiêm nhất trên thế giới. Những sinh mạng ấy không có liên quan với chính phủ Mỹ. Chúng ta dùng thái độ như vậy đối xử với người ta, nhưng người ta không dùng thái độ như vậy đối xử với ta.

Thảm án Dover hình thành sự đối chiếu rõ rệt với việc này. Năm 2000, một đoàn người Phúc Kiến vượt biên trái phép ngồi trong xe thùng bịt kín cập cảng Dover lên đất Anh Quốc. Vì ngồi mấy chục giờ trong thùng xe thiếu không khí, tất cả đều chết ngạt [2], chỉ có 2 người sống sót.

Khi vụ này bị phanh phui, không một quan chức nào của Đại sứ quán Trung Quốc xuất đầu lộ diện. Cuối cùng dân chúng Anh Quốc vùng Dover tự phát làm lễ truy điệu và lễ thắp nến tưởng niệm những người đã chết.

Rất nhiều trẻ em tham dự, chúng cầm trong tay những thứ đồ chơi chế tạo tại Trung Quốc. Nhân đây xin nói thêm, hiện nay 90% đồ chơi trên thế giới là Made in China. Nhà báo hỏi lũ trẻ: Tại sao các cháu dự lễ truy điệu? Bọn trẻ nói: Họ cũng là người cả mà; các thứ đồ chơi trong tay chúng cháu cầm đây có thể là do những người trong số họ sản xuất.

Không một người Trung Quốc nào có mặt trong buổi lễ truy điệu ấy. Thế nào là văn minh, thế nào là không văn minh? Tôi đang suy nghĩ.

Thờ ơ, coi nhẹ sinh mạng con người thật đáng sợ

Thật là đáng sợ khi người ta ca ngợi khủng bố. Trung Quốc thoát thai từ nền văn hoá giáo dục Trung Quốc, trước hết thờ ơ coi khinh sinh mạng của chính mình, từ đó mới có thái độ coi tính mạng của người khác, nước khác như trò trẻ con. Bản thân không có quyền lực quý trọng sinh mạng mình, cũng không cho người khác có cái quyền ấy. Tâm trạng "khán giả" năm xưa từng bị Lỗ Tấn hồi trẻ phê phán chính là được tôi luyện như vậy đấy.

Người Trung Quốc xem cảnh giết người khác, không ai không vui mừng phấn khởi. Giai cấp thống trị cố ý đem người ta ra giết tại nơi đông người. Kẻ bị thống trị thì hưởng thụ tại nơi đông người cái cảm giác khoái trá của kẻ thống trị. Nhất là khi xử tử bằng kiểu tùng xẻo, kéo dài ba ngày, người xem đông nghìn nghịt. Cả đến những chủ sạp hàng nhỏ cũng bày hàng ra bán tại đấy. Đao phủ còn bán bánh màn thầu dính máu.

Trung Quốc ngày nay không có tục tùng xẻo nữa. Nhưng xử án tại nơi đông người cũng là sự mở rộng tập quán đó. Người nước ta năm nào đi xem giết Lục Quân Tử Đàm Tự Đồng [3] như đi trẩy hội. Với những người như thế, trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ [4] ta sao mà không mất Đài Loan. Con cháu họ, tức chúng ta, nếu lại như họ thì làm sao mà giải phóng được Đài Loan.

Khi có kẻ xấu hành hung trên xe buýt, những người đi xe đều im thin thít. Dựa vào những con người ấy đi giải phóng Đài Loan ư? Dựa vào họ để thực hiện 4 hiện đại hoá ư? Bạn thực hiện 4 hiện đại hoá rồi thì có lợi gì nhỉ?

Sáng nay khi tập thể dục tôi tranh thủ xem truyền hình, chương trình quảng cáo "Tin tức buổi sáng", sản phẩm nào bán chạy nhất? Đó là cửa chống trộm. Đây là nỗi buồn của một dân tộc. Bạn xem đấy, nhà chúng ta ở chẳng khác gì cái cũi. Tại Thành Đô, tôi ở căn nhà mấy vị chính uỷ không quân tiền nhiệm từng ở. Tôi vào xem, ôi chao, như vào nhà giam ấy. Cửa sổ, ban công đều bao bọc bằng hàng rào chấn song chống trộm. Tôi bảo dỡ bỏ hết.

Hôm nọ đọc một cuốn sách có tên "Trung Quốc có thể nói Không". Tôi bảo, anh có thể nói Không, nhưng anh đứng sau cánh cửa chống trộm mà nói Không; đó chẳng phải là dũng sĩ mà là kẻ hèn nhát. Kiều Lương [5] nói chí lý: [Đó là] "Những người yêu nước khi gặp bọn trộm cướp mà còn lánh mặt nhưng lại dũng cảm dõng dạc nói Không với một cường quốc ở xa tít mù!"

Cần nhìn nhận nước Mỹ một cách khách quan toàn diện. Nước Mỹ là một quốc gia như thế nào? Nhớ lại hồi trẻ từng nghe một câu nói hình dung thành phố New York: Cái tốt nhất trên thế giới và cái xấu nhất trên thế giới cộng lại với nhau thì là New York. Dùng câu ấy để hình dung nước Mỹ ngày nay có thích hợp hay không?

Thế hệ quân nhân chúng ta, những quân nhân đảm nhận niềm hy vọng tương lai của tổ quốc, vừa không nên làm "phái thân Mỹ", cũng chẳng thể làm "phái chống Mỹ" một cách đơn giản, mà nên làm "phái hiểu Mỹ" chín chắn.

Hiểu kẻ địch thì mới chiến thắng được kẻ địch. Đánh giá thấp đối thủ tức là đánh giá thấp chính mình. Thác Bạt Đạo [6] đổi tên nước của Nhu Nhiên thành "Nhu Nhu", ý là sâu bọ, nhưng chính ông lại bị con sâu ấy đánh bại. Thế thì ông chẳng bằng con sâu nữa kia.

Mỹ không muốn Trung Quốc hùng mạnh, hoàn toàn cũng như Trung Quốc không muốn Mỹ xưng bá. Mối quan hệ Trung Quốc- Mỹ có xung đột nhưng cũng có lợi ích chung nhất định. Làm thế nào hoá giải xung đột, phát triển lợi ích chung là việc các nhà ngoại giao Trung Quốc hiện nay nên cố gắng làm.

Trung Quốc muốn phát triển thì không thể cắt đứt sự đi lại với thế giới. Thế giới hiện nay là đơn cực, chỉ khi nào Mỹ suy sụp thì mới có thể xuất hiện thế giới đa cực. Chúng ta vừa không thể cắt quan hệ với Mỹ lại vừa không thể có quá nhiều kỳ vọng về Mỹ. Hiện nay mà đối kháng với Mỹ thì chưa phải là thời cơ thích hợp nhất. Lợi ích quốc gia nên mãi mãi là chuẩn tắc cao nhất cho hành động của chúng ta. Chúng ta cần nhẫn nại; nhẫn nại không phải là mềm yếu, chỉ có khuất phục mới là mềm yếu.

Đấu tranh ngoại giao càng cần đấu trí

Dĩ nhiên Mỹ không từ bỏ dã tâm diệt chủ nghĩa xã hội. Dĩ nhiên Mỹ không muốn Trung Quốc trỗi dậy, không muốn kinh tế Trung Quốc phát triển đi lên. Nhưng cần nhớ cho kỹ: Khi đấu tranh với đối thủ, nhất định phải làm cho đối thủ của anh nhìn thấy cái tình hình họ không muốn thấy nhất.

Người Mỹ muốn người Trung Quốc đánh nội chiến; chúng ta quả thật đánh nội chiến rồi. Họ không rúc trong chăn mà cười đến nôn ruột thì mới lạ chứ. Dĩ nhiên nhất mực "Nằm gai nếm mật, thao quang dưỡng hối [vờ ngu giả dại/ giấu tài - ND]" cũng không được.

Là một nước lớn, Trung Quốc có thể làm theo cách như một võ hiệp thời xưa ẩn vào núi sâu khổ luyện võ công, chờ khi võ nghệ cao cường rồi tái xuất quyết thắng kẻ địch chăng? Với số dân và tài nguyên của Trung Quốc, đặc biệt là với nền văn hoá của mình, Trung Quốc không thể lớn mạnh như nước Mỹ được, huống chi Mỹ cũng chẳng dừng lại không tiến lên.

Vẫn là Mao Trạch Đông nói chí lý: "Đánh vẫn cứ phải đánh, đàm [đàm phán - ND] vẫn cứ phải đàm, hoà vẫn cứ phải hoà." Con người cần khôn ngoan tài trí, đấu tranh ngoại giao lại càng cần khôn ngoan. Phải dắt mũi người ta mà đi chứ đừng bị người ta dắt.

Khơ-rut-xôp là một tay khôn ngoan. Tôi xin kể cho các bạn nghe chuyện này: Tại một đại hội nọ [ý nói Đại hội XX đảng Cộng sản Liên Xô - ND], Khơ-rut-xôp ra sức vạch trần và phê phán chế độ chính trị tàn bạo của Stalin. Có người chuyển lên một mẩu giấy chất vấn Khơ-rut-xôp: Bản thân Khơ-rut-xôp cũng là một thành viên trong tập đoàn quyền lực nòng cốt khi Stalin nắm chính quyền.

Vì sao hồi ấy ông không đứng lên chống lại sự độc đoán của Stalin? Khơ-rut-xôp cao giọng đọc nội dung mẩu giấy kia rồi lớn tiếng nói với mọi người: Đây là mẩu giấy của ai thế? Xin người đó đứng ra! Đứng ra nào! ... Bên dưới nhốn nháo một lúc nhưng chẳng thấy ai đứng ra cả.

Khơ-rut-xôp nói: Mọi người xem đấy, chúng ta hiện nay dân chủ như thế này, trong tình hình chẳng có gì phải sợ hãi mà ngay cả đồng chí viết mẩu giấy này cũng không dám đứng ra. Vậy hãy nghĩ xem, trong bầu không khí dưới thời Stalin thống trị ấy có người nào dám đứng ra cãi lại Stalin không? Cả hội trường vỗ tay.

Chúng ta đấu tranh với Mỹ nên có sự khôn ngoan ấy của Khơ-rut-xôp. Khi cần thao quang dưỡng hối thì thao quang dưỡng hối đến tận nhà. Như một câu đồng chí Đặng Tiểu Bình năm nào nói với Thủ tướng Canada Trudeau (đại ý): Cái Thao quang dưỡng hối chúng tôi nói bao gồm cả việc không cần giữ thể diện cũng nhất định phải giữ mối quan hệ với quốc gia phát triển nhất trên thế giới. Ý của đồng chí Đặng Tiểu Bình là Trung Quốc nhất định phải bước cùng nhịp với văn minh thế giới, không thể xa rời nền văn minh thế giới.

Không có lý do căm ghét Mỹ

Trong sự kiện 11/9, trừ một số quốc gia cá biệt, một bộ phận dân chúng Trung Quốc (chứ không phải là chính phủ) đã tỏ ra mình ở cách nền văn minh dòng chính của thế giới một khoảng cách xa nhất.

Khi cần đấu tranh thì một tấc cũng không nhường. "Sùng bái Mỹ" là không đúng, "Thân Mỹ" không đúng, "Ghét Mỹ" cũng không đúng. Chính phủ và chính khách Mỹ vừa giống dân chúng Mỹ lại vừa không giống. Bạn cần phải có trí tuệ cao để phân biệt họ.

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc. Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Những cái đáng sợ của Mỹ

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ? Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông.

Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines, Indonesia, lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng.

Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.
Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.

Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. 
Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.
Nên tham khảo kinh nghiệm thành công của Mỹ

Tôi thường có ý nghĩ quái lạ như thế này: Những vũ khí đỉnh cao nhất, KHKT tối tân và lực lượng vũ trang mạnh nhất trên thế giới nếu nằm trong tay những người như thế là rất thích hợp. Bao giờ cũng hơn nằm trong tay người Nhật, người Libya, người Iraq chứ? Cho là nằm trong tay chúng ta thì chúng ta có thể làm gì, điều đó cũng chưa thể biết. Nước Mỹ, quốc gia này có rất nhiều kinh nghiệm thành công, đáng để chúng ta tham khảo học tập. Sau vụ 11/9, Mỹ không thành lập Uỷ ban 11/9, không lập Bộ Chỉ huy ứng phó tình trạng khẩn cấp gì gì đó.

Tôi cực lực phản đối những thứ không thực tế. Sau khi đến bộ đội không quân Thành Đô, tôi chủ trương hoặc không họp hoặc ít họp hành. Cuộc họp nào không thể không họp thì họp ngắn thôi. Đến nơi trước tiên tôi thay đổi việc học tập của các Uỷ viên thường vụ thành tự học.

Cầm văn kiện đọc thì học được cái gì kia chứ. Tôi đang đấu tranh với thế lực thói quen. Lực lượng cá nhân tôi có hạn nhưng tôi không thể không đấu tranh. Cho dù sứt đầu mẻ trán cũng không được nản chí. Chẳng hạn nói chung khi xuống thăm bộ đội, tôi đều không ăn cơm. Chỉ cần có thể về nhà trong ngày thì tôi đều mang theo lương khô chứ không ăn cơm bộ đội.

Khi ở bộ đội không quân Bắc Kinh tôi đến sư đoàn 33 cũng thế. Nếu không thể không ăn thì tôi chỉ ăn đơn giản. Tuy rằng nói uống một chén rượu chưa đủ làm đổ cờ đỏ, ăn một bữa cơm chưa thể mất giang sơn, nhưng nhiều lần quá, lãng phí quá, tích tiểu thành đại thì rất khó nói. Có người nói đánh Đài Loan chẳng cần dùng vũ khí mới gì cả, cứ cho mấy vị cán bộ lên đảo ấy ăn nhậu các thứ của họ 2- 3 năm thì bảo đảm ăn hết các thứ của họ.

Còn một chuyên tiếu lâm nữa nói về chuyện họp hành. Có ông cục trưởng ốm sắp chết đến nơi, chỉ có điều không trút được hơi thở cuối cùng. Bà vợ bảo con cháu đến đông đủ cả rồi, ông yên tâm lên đường đi. Không được, chưa chết được. Vợ lại nói, mọi chuyện đều thu xếp ổn thoả rồi, ông yên tâm lên đường đi. Không được, chưa chết được. Vợ bảo, tài sản nhà ta đã thu xếp xong xuôi cả rồi, ông cứ đi đi. Cũng chưa được đâu. Về sau, vẫn là tay thư ký tương đối hiểu ông ta bèn ghé tai cục trưởng nói: "Báo cáo cục trưởng, mọi người đến đủ cả rồi, ta họp thôi ạ." Lúc ấy cục trưởng mới hả lòng hả dạ nhắm mắt xuôi tay. Dĩ nhiên đây là chuyện bịa nhưng nó nói lên sự phản cảm, chán ghét của mọi người đối với thói quen ấy.

Sự kiện 11/9 là cơ hội của nước Mỹ, cũng là cơ hội của Trung Quốc. Làm không tốt thì Trung Quốc trở thành vật hy sinh lớn nhất của sự kiện đó. Vấn đề then chốt là anh nắm cơ hội thế nào, toàn thế giới đều đứng trước dịp xóc lại quân bài. Khi nghiên cứu nước Mỹ, chúng ta nên nắm được nội hàm thực sự của nó, không thể chỉ xem cái nhỏ mà phải xem cái lớn. Có một câu chí lý thế này: Hay bàn luận về khuyết điểm của người khác thì anh là kẻ đạo đức thấp kém. Hay bàn luận về khuyết điểm của nhân loại thì anh là một nhà tư tưởng.
....

Hôm nay lần đầu tiên gặp các cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên của căn cứ Côn Minh, tôi đã nói chuyện nhiều thế này với thái độ vô cùng thẳng thắn và mạnh dạn. Đây là thành quả nghiên cứu của tôi, tôi chịu trách nhiệm về bài nói của mình.

Chỗ nào tôi nói đúng thì các đồng chí ghi nhớ. Chỗ nào nói sai thì các đồng chí nghe tai bên này, cho ra tai bên kia, tủm tỉm cười bỏ qua, chớ cho là chuyện gì cả. Mỗi người là một cá thể, mỗi cá thể đều tự do. Tôi không thể yêu cầu áp đặt tư tưởng của tôi cho các đồng chí, tôi lại càng không thể yêu cầu đem tư tưởng của các đồng chí thống nhất vào một tư tưởng nào đó. Chuyện đó không thể được, nhưng chúng ta lại cứ khăng khăng tìm kiếm khả năng ấy, đây là chuyện hão huyền, trên thực tế không làm nổi.

Lưu Á Châu
-------------------------
[1]: Tác giả đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh]

[2]: 60 người này lấy hộ chiếu sang Đông Âu rồi chui vào xe container chở bằng tàu biển từ Bỉ bí mật sang Anh, ngày 19/6 /2000, hải quan cảng Dover kiểm tra container phát hiện 58 người chết]

[3]: Đàm Tự Đồng: Nhà chính trị cuối đời Thanh, chủ trương duy tân, sau khi phong trào Duy tân Trung Quốc thất bại, ông bị xử tử cùng 5 người khác, 6 chí sĩ này được gọi là Lục Quân tử.

[4]: Chiến tranh Giáp Ngọ: Chiến tranh Trung Quốc- Nhật xảy ra năm Giáp Ngọ tức năm 1894. Kết quả Nhật thắng, Trung Quốc phải cắt đảo Đài Loan cho Nhật].

[5]: Thiếu tướng không quân, nhà văn Trung Quốc nổi tiếng

[6]: Tức Thế tổ Bắc Nguỵ, Thái Vũ hoàng đế, vị thống soái kỵ binh kiệt xuất thời Nam Bắc Triều. Dẫn quân diệt các nước Hạ, Bắc Yên,... thống nhất phương Bắc; diệt nước Hãn của Nhu Nhiên tại Mông Cổ

[7]: Đại tá không quân Trung Quốc, viết nhiều chuyên luận quân sự, chính trị

[8]: 197-264, tướng giỏi nước Nguỵ, năm 263 đánh Thục Hán, đầu tiên chiếm Thành Đô, là công thần diệt Thục của họ Tư Mã.

[9]: Bàng Đức là một viên tướng chủ chốt của Tào Tháo

Nguyễn Hải Hoành giới thiệu và lược dịch
(Tuần Việt nam)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn có ý kiến:

Mong các sếp hãy hưởng lương cao nữa và cao mãi…!
(Dân trí) - Đừng để cá nhân mình thì nhà lầu xe hơi mà nhân viên không có một nơi, một chỗ trú thân. Đừng để con mình du học Mỹ, Anh mà con thuộc cấp của mình thất học. Con mình ăn cơm, xin hãy để con nhân viên kiếm thìa cháo loãng...
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Các sếp đây là các vị lãnh đạo của các Tổng công ty Nhà nước. Theo công bố mới nhất của một cơ quan quản lý về thu nhập đối với các vị lãnh đạo ở 31 công ty mẹ các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước cho thấy các sếp hưởng lương tiền tỉ trong 2 năm (2011 - 2012) có tới gần 20 vị.

Quán quân thuộc về lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh đã cổ phần hóa, niêm yết trên sàn chứng khoán. Năm 2011, vị Chủ tịch HĐQT này thu nhập trung bình tới hơn 275 triệu đồng/tháng, khoảng 3,2 tỷ đồng/năm. Năm 2012, thu nhập của vị này giảm nghiêm trọng, 27% nhưng vẫn là 202 triệu đồng/tháng, tức khoảng gần 2,5 tỷ đồng/năm.


Người đứng cuối cùng về thu nhập tiền tỷ trong năm 2011 cũng là TGĐ thuộc lãnh đạo của một tập đoàn tài chính - 1,025 tỷ đồng/năm…

Về việc lãnh đạo thu nhập cao, thậm chí ở mức theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “lương khủng” là điều đáng để mừng, rất mừng. Nó không chỉ tốt cho các sếp mà còn là tín hiệu vui cho toàn xã hội. Bởi cán bộ mà còn nghèo thì làm sao dân không khổ? Lãnh đạo phải giàu, thật giàu thì dân mới có cơ sung sướng.

Hơn nữa, các sếp dấn thân vào con đường doanh nhân thì một trong những mục tiêu chính là làm giàu. Nếu không, họ sẽ đi làm việc khác.

Vì vậy, thực tâm mình mong tất cả các ông chủ doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhà nước lương thật cao, cao nữa và cao mãi…

Có điều, nên thu nhập quang minh, chính đại để giàu có trong sự kính nể của toàn xã hội và yêu mến của thuộc cấp.

Một sếp thu nhập tiền tỉ mỗi năm mà lương người lao động chỉ năm ba triệu là sự bất công.

Sếp giàu có mà để nhân viên đói nghèo là sự bất nhân.

Sếp giàu có nhờ sự bớt xén mồ hôi, công sức của người lao động là bất lương.

Sếp giàu có nhờ tham nhũng, tham ô là gian tham.

Sếp giàu có bằng nỗi đau và sự trả giá của cộng đồng là độc ác.

Mong các sếp sẽ tiếp tục giàu, ngày càng giàu nhưng đừng để cá nhân mình thì nhà lầu xe hơi mà nhân viên không có một nơi, một chỗ trú thân. Đừng để con mình du học Mỹ, Anh mà con thuộc cấp của mình thất học. Đừng để bố mẹ mình đau ốm chạy chữa ở Singapo, Mỹ, Nhật mà bố mẹ người lao động ốm đau không có tiền mua thuốc…

Con mình ăn cơm, xin hãy để con nhân viên kiếm thìa cháo loãng.

Xin đừng làm giàu trên nỗi thống khổ của nhân viên và để lại hậu quả cho toàn xã hội.

Việc giám đốc Công ty Thoát nước đô thị TPHCM lương 2,6 tỷ đồng/năm, tương đương trên 200 triệu đồng/tháng, chủ tịch HĐTV và kế toán trưởng có lương hơn 1,6 tỷ đồng/năm… là điều mừng, rất đáng mừng nếu như nước bẩn thì thoát, nước sạch thì dồi dào chứ đừng ngược lại, nước bẩn dồi dào còn nước sạch thì khan hiếm.

Càng đáng mừng hơn nếu như đời sống của người lao động ở đây cũng tỉ lệ thuận với lương của sếp chứ không phải lợi dụng khe hở của những qui định hiện hành để bòn rút mồ hôi, công sức của công nhân.

Cũng đừng làm giàu bằng cách chôn thuốc trừ sâu đầu độc cả cộng đồng như vụ Công ty Nicotec Thanh Thái – Thanh Hóa.

Đừng đẩy đất nước tới mức nghèo nàn, tập đoàn bị phá sản như vụ Dương Chí Dũng ở Vinalines…

Đạo lý không cho phép như vậy và nhân phẩm của một công chức trong hệ thống nhà nước luôn nêu cao tinh thần do dân, vì dân không có chỗ cho những con người như vậy.

Sự giàu có chỉ được kính trọng khi làm giàu bằng chính tài năng và công sức của mình, biết chia sẻ lợi ích với nhân viên và góp phần làm giàu cho đất nước.

Còn ngược lại, giàu có nhờ bớt xén tiền bạc của nhà nước (thật ra là ăn cắp tiền dân), bóc lột mồ hôi, công sức của nhân viên, để lại hậu quả cho xã hội thì đó là sự giàu có đê tiện và độc ác, phải không các bạn?!

Bùi Hoàng Tám
(Dân trí)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại chiến Trung-Nhật giả định, Liêu Ninh thành biển lửa

(Soha.vn) - Trong cuộc chiến diễn ra ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, tàu sân bay Liêu Ninh bốc cháy dữ dội, các siêu chiến cơ của Trung Quốc gãy cánh, bị bắn rơi lả tả...

Mặc dù mục đích là nhằm quảng bá cho một cuốn sách mới xuất bản gần đây nhưng đoạn video dưới đây khá thú vị bởi nó cho thấy người Nhật đã mường tượng ra viễn cảnh chiến tranh trên biển với Trung Quốc trong tương lai sẽ diễn ra như thế nào.
undefined
Máy bay chiến đấu và ném bom của Nhật Bản tác chiến bắn hạ một tàu sân bay được cho là mô phỏng tàu sân bay Liêu Ninh.
Hiển nhiên là cuộc chiến được giả định diễn ra tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, khu vực đang nằm trong tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài J-20, J-31, Nhật Bản dự đoán phải đối mặt với nhóm tác chiến tàu sân bay mang theo tiêm kích hạm J-15 của Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là trong những loại máy bay chiến đấu của Trung Quốc xuất hiện trong đoạn video đều là những chiến cơ mà họ đang sở hữu (như J-20, J-31, J-15), trong khi đó, phía Nhật lại tung ra một chiến đấu cơ hoàn toàn mới có tên F-3, với 2 biến thể là F-3A và F-3E (cánh tam giác). Theo một số nguồn tin, dự án phát triển loại máy bay này phải đến khoảng năm 2016 hoặc 2017 mới được triển khai.
Một số cảnh phim còn mô phỏng siêu tiêm kích F-35C hoạt động trên tàu sân bay của Nhật.

Đây không phải là video chính thức do Lực lượng Tự vệ Trên không Nhật Bản công bố nhưng nội dung và các hiệu ứng đồ họa cho thấy nó nhằm ủng hộ tin thần dân tộc của Nhật và phù hợp với chính sách tái vũ trang của Thủ tướng Shinzo Abe.

Phần nhận xét hiển thị trên trang