Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Dư luận

         Nguyễn Mạnh Trinh: Chí Phèo và Hậu Chí Phèo – Những nhân vật của một thời mạt kiếp

Sau khi tay Chí mồ yên mả đẹp, dân làng Vũ Đại bắt đầu tính chuyện dựng “bia” để đời cho hắn bằng cách bàn tính chuyện xuất bản tập hồi ký của hắn. Kể, hồi ký của tay Chí cũng thật hấp dẫn, rất xứng đáng đóng góp cho kho tàng văn học “của làng”. Tôi xin lược trích ra đây, đoạn nói về con đường dẫn tới sự nghiệp của hắn.

Tay Chí viết:”Tôi phải gào lên cho thiên hạ biết cái đã:- Lương thiện! Hãy trả lương thiện cho tao!Ai trả lương thiện cho tao? Bất lực, tay tôi cầm mảnh chai vỡ, sắc, rạch mạnh vào mặt mũi mình. Mạnh tay quá, máu tuôn ra, chảy vào mũi, chảy xuống miệng, chảy xuống cổ, xuống ngực, thấm vào áo, đầm đìa. Tôi ghê cả người và tiếp tục gào to:- Lương thiện! Hãy trả lương thiện cho tao!Sau lần đó, tôi bị chúng nó tống ngục. Sau khi ra tù, tôi nhìn đời chẳng còn gì đau đớn lắm nữa. Nhưng căm thù bố con nhà Bá Kiến thì ngày một ấp ủ, sục sôi. Tôi muốn cầm dao rạch bụng bố con Bá Kiến cho hả. Nhưng, thế lực Bá Kiến, Lý Cường mạnh quá, lại đi đâu hắn cũng đem súng đi cùng, tôi cũng chờn chờn. Chưa trả được hận, đã có biết bao lần tôi thề dưới trăng, nguyện không đội trời chung với chúng nó. Thời gian này, dân Vũ Đại thấy tôi càng uống rượu dữ hơn, nhưng lại ít thấy tôi nói, cười. Vì sao tôi uống nhiều rượu? Tôi uống rượu nhiều là nhằm quên đi sự cay đắng, bất công của cuộc đời do bố con nhà Bá Kiến gây ra. Tôi ít nói, ít cười nhằm tĩnh tâm để nghiền ngẫm lòng căm thù thêm sắc nhọn. Dạo đó, mắt tôi cũng hay trợn lên, nhìn cái gì cũng trừng trừng như người sắp gây sự. Có người nói, lúc đó, mắt tôi thường vằn lên những sợi máu đỏ, lòng đen biến đi, trông con mắt chỉ ánh lên toàn màu trắng dã. Làng Vũ Đại có người hỏi, tôi cũng chỉ ậm ờ cho qua chuyện, hiếm khi có một câu trả lời nghiêm chỉnh, hoặc đầy đủ. Tâm ý tôi là nung nấu và luôn mài sắc chí căm thù, chờ dịp. Dạo đó, tự nhiên tôi tin, lòng căm thù đã nói ra ở cửa miệng thì vợi đi ở trong lòng.

Thú thật, chỉ canh cánh trong lòng mối hận thù đó mà tôi không biết rõ ràng cao trào cách mạng đang dâng lên ở làng Vũ Đại. Tôi cũng không cảm nhận thật rõ khí thế sôi sục của quần chúng lúc tiền khởi nghĩa. Tôi như thằng phớt đời, chán đời. Trông cái bề ngoài vớ vẩn này, dân Vũ Đại ít có người biết rằng, lúc nào tôi cũng gài lòng căm thù thực dân, đế quốc trong xương tủy. Họ không biết rằng, tôi đang cháy lòng đợi dịp.

Vận may đời tôi đã đến:

Một buổi sáng tháng tám, trời xanh, tình cờ tôi thấy có một đoàn người quần áo xanh, thắt đai ngang bụng gọn ghẽ, tay cầm hai loại cờ (một búa liềm, một sao vàng) đều đỏ, từ dưới bờ sông Vũ Đại chạy lên. Họ vừa chạy, vừa hô: “Đả đảo đế quốc, phong kiến. Người cày có ruộng. Cơm áo về cho nông dân”. Cùng với đoàn người xuất hiện, tự nhiên tôi nghe chiêng trống làng Vũ Đại rộ lên.

Lúc đó, tôi đang ngồi ở góc chợ uống rượu và nghiền ngẫm mối hận thù. Khi đoàn người chạy qua chợ, tự nhiên tôi thoáng nghĩ: “Lại cái bọn ăn cướp ngày, ngụy trang là cách mạng, đi làm ăn ở đâu về”. Nhưng khi nghe trong đoàn có người hô: “Cách mạng muôn năm” thì tôi hiểu ngay sắp xảy ra chuyện lớn rồi. Thế rồi, không khí chợ cứ chộn rộn lên. Rồi chợ vỡ, thoáng một cái, tôi thấy thằng Lý Cường mặt tái xanh, tái xám đang chạy thục mạng ngược với bước tiến của đoàn cách mạng. Tôi định lao ra, nện cho nó một chai rượu, nhưng chợt nhớ tới Bá Kiến, tôi bỏ hắn chạy về cổng nhà Bá Kiến. Khi tôi chạy tới nơi mà tôi hằng căm thù, thì đoàn người đã phá xong cổng nhà Bá Kiến, nhưng chưa có ai dám xông vào. Chắn giữa cổng là mấy chục con chó lai tây xếp thành ba, bốn hàng đang cố sức chắn đoàn người ngay từ đầu cổng. Con nào cũng tỏ ra hung hãn, răng trắng nhởn, nhọn hoắt, nhe ra; chân luôn cào sồn sột xuống nền gạch, miệng gầm gừ, đến là khủng khiếp. Tôi đã thấy mấy lần, đoàn người tay nắm tay đồng loạt xông vào, nhưng xem chừng đàn chó không nao núng, lại phải lùi lại. Khi tôi đến nơi và đang đứng thở thì đoàn người lại quyết tâm xông vào một lần nữa. Nhưng cả chục con chó lai tây cùng một lúc chồm lên, nhằm cổ tay, họng đoàn người mà ngoạm. Bất ngờ, tôi nghe một ai đó bị chó cắn kêu lên. Đoàn người lại một lần nữa phải lùi lại. Bực mình, quên cả nhọc, tôi bước tới, rẽ đám đông bước vào. Đứng giữa cổng nhà Bá Kiến, tôi ngửa cổ lên tu nốt phần rượu ở trong chai. Bình tĩnh ngắm cái chai không một chút, tôi vung tay ném mạnh vào giữa sân. Đàn chó nhà Bá Kiến mới tinh khôn làm sao! Chai vỡ, chúng chỉ chịu ngoảnh lại một khắc, rồi lại tiếp tục chĩa cái mõm chó đen ngòm hướng về phía đám đông. Mọi người chừng như nao núng. Cáu quá. Điên lên, tôi quát đại lũ chó:

- Cút.

Không ngờ, chỉ một tiếng cộc lốc ấy mà xong chuyện. Đàn chó tinh khôn nhà Bá Kiến đã nhận ra tôi, chúng cụp đuôi, cụp tai lủi mất. Đoàn người được dịp ùa vào.  Lập tức, tôi nghe ầm ầm, những tiếng la thét:

- Bá Kiến đâu?

- Bá Kiến đâu?

Bá Kiến bị đập chết tươi ngay từ phút đầu đoàn người xông vào. Có người nhanh tay nhặt mảnh chai vỡ đâm vào bụng, xiết vào cổ Bá Kiến. Máu từ ngực, từ bụng hắn ồng ộc tuôn ra, giống như máu từ ngực trâu bị cắt tiết.

Ai giết Bá Kiến? Thật khó mà trả lời, khi nhiều người chung mối hận thù, cùng một lúc xông vào. Khi Bá Kiến còn đang thoi thóp, mọi người kéo hắn ra giữa sân. Và khi Bá Kiến chỉ còn như một búi giẻ rách tơi tả nằm bất động ở giữa sân, nhiều người nhìn mà thấy tiếc. Tội ác của làng này từ nó mà ra cả. Nó chết rồi, biết đấu tố thế nào? Vả lại, nhìn máu me đầy mình trên người, và bộ râu trắng dài vấy máu, thật chả ai nỡ còn lòng nào.

Tôi nghe trong đám đông có người lo lắng  hỏi:

- Làm sao bây giờ?

- Làm sao được, đem chôn chứ còn làm sao. Lũ con cháu nhà nó đâu có theo được Lý Cường mà trốn hết. Mấy con vợ của Bá Kiến còn sờ sờ ra đó, lo gì không đấu được.

Một người cao giọng tố:

-Con Bà Ba cũng là con mụ ác độc. Cái con đĩ thối thây ấy, ngày xưa ai chả từng làm thuê cho nó? Hắn sợ ta ăn hết nhiều gạo nhà nó nên nấu cơm nếp, lần nào cũng trộn mỡ vào để ta ăn cho chóng chán.

Trong khi có người kể thì có người vẫn đang rít lên trong cổ họng:

- Mày… Mày…

Có người la hét:

- Lôi cổ nó ra đây!

Cả ba bà vợ của Bá Kiến mắt cắt không còn hột máu được đoàn cách mạng lôi từ trong buồng tối ra và cũng lập tức bị trói gô lại rồi sai người đem ra đình làng nhốt chúng lại, chờ xử.

Làng Vũ Đại bình luận: Đấu mấy mụ vợ thối thấy của Bá Kiến thì đúng rồi. Nhưng lão Bá Kiến nằm kia, lão Lý Cường chạy trốn, mà không đấu thì bất công quá. Cần phải đấu vào giữa mặt nó mới hả.

Để tìm ra biện pháp, cả làng Vũ Đại phải họp lại, thảo luận và phát huy sáng kiến tập thể. Cuối cùng thì phương án được cả làng nhất trí là: Bá Kiến nhất quyết phải được dựng dậy.

Để cho lão quỳ được, làng phải buộc một khúc luồng thẳng đứng dọc theo xương sống lão và khúc luồng đó được đào hố chôn sâu xuống đất.

Cái khó nhất là tìm ra cách đấu Lý Cường. Lúc bình tĩnh, có thể nghĩ làm một cái hình nộm hao hao giống Lý Cường là được. Nhưng lúc không khí thắng lợi đang sôi sục, cả làng Vũ Đại như ngu hết cả. Chẳng ai chịu nghĩ ra cách gì, tất cả chỉ lăm lăm nhảy vào đấu.

Và quả thật, trong lúc chưa có giải pháp dứt khoát cho việc đấu Lý Cường, nhiều người đã sắp hàng tề chỉnh trước Bá Kiến và một lũ vợ của ông ta. Khi có ai đó hô “đấu đi”, thì lập tức những người đứng ở hàng đầu đã chực nhảy dựng vào. Giữa lúc ấy, chợt sắc sảo thông minh lóe trong đầu tôi, tôi hô:

- Dừng lại. Đã đấu thì đấu luôn thể.

Mọi người như đứng nghiêm cả lại, tỏ ý ngạc nhiên:

- Đấu luôn thể là thế nào?

Tôi tiếp tục nói lớn:

- Tôi. Tôi tình nguyện làm Lý Cường.

Và thế là điều sáng tạo đầu tiên trong đấu tranh của làng Vũ Đại được thực hiện. Một miếng gỗ mỏng, nhặt từ chuồng lợn, đem vào sân. Cả làng chặt, đẽo cho đến lúc miếng gỗ thành hình bầu dục, đường kính hai chiều bằng đường kính hai chiều của mặt người trung bình của làng Vũ Đại. Trên mặt miếng gỗ đó, mặt Lý Cường được làng dùng than gỗ vẽ lên.

Hình vẽ trên miếng gỗ bầu dục có giống mặt Lý Cường không? Không biết. Nhưng làng Vũ Đại đã vẽ mặt Lý Cường thì nhất định mặt đó phải là mặt Lý Cường. Làng Vũ Đại mãn nguyện hoàn toàn. Xong xuôi, tôi tự giác quỳ xuống cùng dãy với Bá Kiến và vợ con của y và ra lệnh:

- Đấu đi.

Bởi quá ngạc nhiên vì điều sáng tạo tôi thành Lý Cường, nên làng hỏi lại tôi:

- Đấu gì?

Tôi đang quỳ, bực mình cáu lên:

- Đấu gì cũng được.

Một ai đó hỏi thêm:

- Đấu như thế nào?

Đến nước ấy thì chả ai còn chịu được nữa, tôi buộc lòng đứng phắt dậy, quát cả làng.

- Đấu như thế nào chả được. Ngu thế!

Quát xong, tôi lại tự giác quỳ xuống. Cả làng lại sôi sục lòng căm thù. Đủ các kiểu xỉa xói, đủ các kiểu đá móc, bạt tai, vặt tóc… quần thảo trên thể xác bố con, vợ chồng nhà Bá Kiến.

Từ đó, không khí đấu tranh của cả làng bắt đầu chộn rộn hẳn lên vì có mấu đã đổ, có máu bốc lên tanh tanh cánh mũi mỗi người. Trẻ, già, trai, gái, ai đấu hay, ra đòn hiểm, ai kể càng nhiều tội ác của chúng, càng được cả làng vỗ tay, tán thưởng.

Thật nhục nhã cho Bá Kiến, Lý Cường và những bà vợ của ông ta. Ngày trước chả ăn hiếp của làng nữa đi!

Có lẽ nhờ chiến công dẹp tan lũ chó nhà Bá Kiến, và chịu kế khổ nhục cho cả làng sung sướng mà tôi được làng Vũ Đại lựa chọn lên làm lãnh đạo. Mà công bằng mà nói, lúc đó làng Vũ Đại có ai xuất sắc hơn tôi?

Này nhá:

Có ai căm thù thực dân đế quốc đến tận xương tủy như tôi? Làng Vũ Đại, có ai có dấu tích tội ác của chúng trên mặt mình như tôi? Cả làng có ai vô sản bằng tôi? Cả làng biết, có mấy khi tôi có đủ bộ quần áo lành lặn mặc trên người! Có mấy khi tôi có đủ ăn ngày hai bữa! Lại nữa, nhờ đi tù mà tôi cũng là người đầu tiên ở làng Vũ Đại biết ông râu xồm, ông đầu hói là ai. Vì thế, tôi cũng là người đầu tiên ở làng Vũ Đại biết lý sự về chủ nghĩa Mác – Lênin. Và cuối cùng, ai là người có công lớn cướp chính quyền ở làng Vũ Đại, nếu người đó không phải là tôi…”

- Ông nhà báo thân mến! Tay Chí viết hồi ký như vậy có được không ạ?

- “Hay quá! Đúng quá! “Chí lý quá!””. – Tôi phục thầm trong bụng mà chẳng dám bình phẩm gì. Vì không phải tôi là người không biết thời, biết thế mà cái chính là cái đơn kiện của tay Chí, không, cụ Chí vẫn còn nằm nguyên trong túi tôi đây. Người ta sinh ra ai cũng có một lần sống, một lần chết. Cứ lấy chữ dại, chữ khôn mà suy xét cho một số phận thì chẳng biết dại hơn, hay khôn hơn. Cụ Chí nhà ta đấy, khôn gì, dại gì, cả làng đều biết. Nhưng mà dại gì thì cụ cũng đã là một vị đứng đầu làng Vũ Đại. Chả gì thì cụ cũng là người có danh, khối người trong chúng ta nhờ có cụ mà nên duyên, nên nghiệp.

Cụ Chí còn là một người có hậu nữa. Mấy chục năm sau cách mạng đã để lại cho đời ba cậu con trai, được cài cắm ở ba khu vực khác nhau. Cứ từ đám ma cụ mà suy ra, thì ba người con của cụ cũng xứng đáng là ba ông tổ của dòng họ Chí Phèo mới. Với kiểu cách trả thù của cụ Chí di truyền lại, hẳn họ sẽ sinh con đàn, cháu đống, nối dõi đời mãi mãi về sau.

Nhưng dù sao, cái đống đất lù lù ở nghĩa địa vẫn chế ngự tâm trí tôi rằng, thế là hết một đời ông tổ sư Chí. Nỗi oan ức của cụ tổ sư theo đất mà thành đất chăng? Tôi lại thò tay vào túi áo vân vê cái đơn kiện đã từ lâu của cụ. Nhưng mới đây, nhờ có ánh sáng đổi mới, nên đơn kiện của cụ mới được lấy từ kho lưu trữ ra để tra xét. Đơn cụ Chí kiện một ông Nam Cao nào đó, đã rất vô trách nhiệm khai tử cụ. Thực ra thì cụ vẫn sống, và sống rất oanh liệt nữa là khác. Thực thì cụ có rạch mặt ăn vạ làng, máu có chảy đầm đìa, nhưng cụ không chết. Thực là cụ không chết. Sự thực nó vậy. Trong đơn cụ còn gào lên: “Nếu tôi đã chết, làng Vũ Đại làm sao có sự nghiệp cách mạng như hiện nay. Cả làng Vũ Đại còn đó, sao lại ngô ngọng khai tử tôi đi”.

Tôi thưa lại với Người kể chuyện sử làng Vũ Đại sự thật này và nói rõ nỗi niềm hối hận của mình rằng, nếu biết cụ Chí còn sống cho đến ngày hôm nay, tôi đã đính chính cho cụ rồi, để cụ chết được thanh thản.

Người kể chuyện sử nói:

- A! Hóa ra tay Chí khó chết, có lẽ còn có lý do đơn giản này nữa cũng nên. Lần sau kể chuyện, có lẽ tôi phải thêm chi tiết này vào nữa.

Tôi phàn nàn thêm:

- Tôi làm chuyện này cũng là việc công. Được thì tôi chẳng được gì. Nhưng dù sao lá đơn khiếu nại của cụ Chí cũng nằm trong túi áo tôi, tôi sợ cụ ấy oán.

Người kể chuyện sử khẳng định:

- Oán chứ còn gì nữa?

Tôi hốt hoảng:

- Làm sao bây giờ?

Người kể chuyện sử hiến kế:

- Theo tôi, anh cứ có ý kiến vào đơn khiếu kiện của tay Chí. Thắp hương mà viết, thành tâm vào, rằng: người khai tử hắn còn chết trước cả hắn. Bây giờ cả hai người đều đã xuống âm phủ. Hãy tìm đến nhau mà giải quyết…

Hay. Có lý. Tôi làm đúng như lời Người kể chuyện sử làng Vũ Đại bảo. Tôi phê vào đơn hẳn hoi. Và để cho có tổ chức, tôi về cơ quan xin dấu đỏ của chính quyền đóng vào lời phê ấy. Sau đó, tôi trịnh trọng chọn ngày giờ tốt đến mộ cụ Chí đốt đơn và lời phê cùng cái dấu đỏ của chính quyền. Chỉ một loáng, tờ giấy bị lửa biến thành tro. Nhìn những tàn tro bay lên, rồi rơi nhẹ trở lại mộ cụ Chí, tự nhiên tôi rùng mình. Một ý nghĩ chua chát chợt đến với tôi: Chẳng lẽ một đời người sống cũng vô lý đến như tàn tro này chăng? Ta thì có thể con cụ Chí thì thế nào? “ Thật là lo bò trắng răng”. Ta thì có thể, nhưng cụ Chí nhất định thì không! Cụ Chí, trước khi nhắm mắt xuôi tay, đã kịp để lại một sự nghiệp vàng son cho dân làng Vũ Đại, mà ngày nay, ai muốn biết cũng có thể sờ thấy được. Rồi đây cụ Chí sẽ hóa thần, hóa thánh, hóa quyền hóa khoa, hóa tiền như bất kỳ một người vô sản nào, bới lẽ lợi quyền ắt phải qua tay mình hết. Cụ Chí để lại một sự nghiệp như vậy là cụ đã đáng sống một đời lắm rồi!

Ấy là một đêm trăng rằm, trời sáng. Từ mộ cụ Chí đi về, chân bước nhưng mắt tôi luôn ngước nhìn về phía trời cao. Trời đầy sao sáng. Thỉnh thoảng lại bay qua mắt tôi những vì sao đổi ngôi, hằn trên nền trời những vạch sáng nhỏ. Ấm áp từ trăng sao không làm nguội âm khí trong lòng tôi. Kìa, những vì sao đang nhấp nháy như muốn nhỏ lệ xuống mặt đất này. Tôi có cảm giác như ngàn vạn vì sao trên trời lúc này như đang âm thầm khóc. Có lẽ sao khóc cho một sự tang tóc, bất công nào đó ở đời này…

Ôi! Những vì sao chứa chan ánh sáng… Bất chợt, trong đêm vắng, tôi nghe bước chân của mình đang nện thình thịch trên mặt đất. Và từ lòng đất vang lên lời trối trăng cuối cùng của cụ Chí:

- Cách mạng muôn năm!

- Từ lòng đất vọng lên ư? – Người kể chuyện sử giật mình hỏi lại:

- Vâng! Tôi nghe rành rọt thế. Mà ông biết rồi còn gì, xưa nay chỉ có cách mạng mới có khả năng thay đổi cuộc sống cũ mèm, bệnh hoạn.

- Cái tay Chí hóa ra lại là kẻ gặp thời nhất. Hắn quý cách mạng đến thế là cùng…

- Thì cách mạng cho hắn tất cả mà lại!

- Nhưng cách mạng cũng phải có điểm dừng chứ? Lúc nào cũng mong cách mạng thì xã hội nát bét chứ còn gì?

- Hừm. Hừm. Hừm.

( Hết phần I. Còn tiếp Phần II)

Dư Luận: Chí Phèo và Hậu Chí Phèo Những nhân vật của một thời mạt kiếp

Nguyễn Mạnh Trinh

Chí Phèo là tên một nhân vật nổi tiếng của truyện ngắn Nam Cao.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đã tới lúc Việt-Mỹ xác lập khuôn khổ quan hệ mới


(ĐVO) - Nhận lời mời của Tổng thống Mỹ Barack Obama, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ tiến hành chuyến thăm chính thức Mỹ từ ngày 24-26/7/2013. Nhân dịp này, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường đã trả lời phỏng vấn về chuyến thăm cũng như về quan hệ Việt -Mỹ.

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường xác định chuyến thăm chính thức Mỹ lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có ý nghĩa rất quan trọng, mở ra một giai đoạn mới cho quan hệ hai nước.
Đây là chuyến thăm chính thức Mỹ lần thứ hai của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam sau gần hai thập niên bình thường hóa quan hệ và là chuyến trao đổi đoàn cấp cao đầu tiên trong vòng 5 năm qua, diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước đang trên đà phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, các kênh trao đổi giữa hai nước ngày càng đa dạng.

Chuyến thăm chính thức Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang còn là sự triển khai tích cực đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, cũng như chiến lược hội nhập quốc tế của nước ta.

Trong chuyến thăm, ngoài hội đàm với Tổng thống Obama, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ có một chương trình hoạt động hết sức dày đặc, làm việc với lãnh đạo Quốc hội, nhiều thượng nghị sỹ và hạ nghị sỹ, gặp gỡ chính giới, nhiều doanh nghiệp và học giả, bạn bè, lãnh đạo một số tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ.

Tại các cuộc gặp này, lãnh đạo hai nước sẽ cùng trao đổi về tầm nhìn quan hệ song phương trong giai đoạn mới, về những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, qua đó đưa quan hệ đi vào chiều sâu và ổn định hơn.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Phu nhân đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phu nhân tại hội nghị APEC 19. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Phu nhân đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phu nhân tại hội nghị APEC 19. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Đánh giá về thực trạng và triển vọng quan hệ hai nước, Đại sứ Nguyễn Quốc Cường nhận định dựa trên nền móng khá vững chắc với những cơ chế hợp tác ổn định cho quan hệ song phương, quan hệ hai nước còn rất nhiều tiềm năng và hoàn toàn có cơ sở để lạc quan về mối quan hệ giữa hai nước trong những năm tới.

Theo Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: "Gần một thập niên đã trôi qua kể từ khi hai nước xây dựng khuôn khổ quan hệ "đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi" vào năm 2005. Với tầm mức của quan hệ hai nước hiện nay, với những tiềm năng đáng kể đang hứa hẹn phía trước, đã đến lúc hai nước cần xác lập khuôn khổ đối tác mới cho quan hệ hai nước.

Và, chúng ta trông đợi vào cuộc hội đàm giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ xác định được khuôn khổ quan hệ mới đó, cùng với những nguyên tắc và nội hàm rõ ràng."

Trong gần hai thập niên kể từ khi bình thường hóa, quan hệ hai nước những năm qua đã phát triển khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực.

Về chính trị ngoại giao, hai bên duy trì các chuyến thăm lẫn nhau và các cuộc gặp gỡ cấp cao bên lề các hội nghị quốc tế; hợp tác, phối hợp có hiệu quả trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Diễn đàn kinh tế châu Á-Thái binh dương (APEC), Diễn đàn an ninh châu Á (ARF), Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng mở rộng (ADMM+)...

Về kinh tế, từ năm 2005 Mỹ liên tục giữ vị trí thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với lượng hàng xuất khẩu tăng hơn 100 lần trong chưa đầy 20 năm. Hai bên cũng tăng cường hợp tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ cũng như đẩy mạnh giao lưu nhân dân giữa hai nước.

Hiện nay, có khoảng 16.000 sinh viên Việt Nam đang theo học ở Mỹ, tăng gấp đôi so với con số năm 2008, đưa Việt Nam đứng đầu trong các nước Đông Nam Á, và đứng thứ 8 trong số tất cả các nước có sinh viên du học tại Mỹ. Trong năm 2012, lượng khách Mỹ đến Việt Nam đạt gần 400.000, xếp thứ 4 trong số các nước có nhiều du khách vào Việt Nam.

Về việc giải quyết các hậu quan do chiến tranh để lại và những vấn đề hai bên còn khác biệt, Đại sứ Nguyễn Quốc Cường cho rằng đúng là nói đến quan hệ hai nước, không thể không đề cập đến việc giải quyết những vấn đề do chiến tranh để lại. Việt Nam đã trải qua những mất mát, hy sinh hết sức to lớn về người và của trong cuộc chiến và nếu vẫn với nguồn lực như hiện nay thì phải mất 100 năm nữa, Việt Nam mới giải quyết xong việc rà phá bom mìn còn chưa nổ tại khắp các tỉnh, thành của đất nước.

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn coi việc tìm kiếm lính Mỹ bị mất tích trong chiến tranh là vấn đề nhân đạo và hợp tác vô điều kiện với Mỹ trong vấn đề này. Tính đến tháng 5/2013, Việt Nam và Mỹ đã thực hiện thành công 109 đợt hoạt động hỗn hợp, hơn 125 đợt trao trả hài cốt, nhờ đó phía Mỹ đã nhận dạng được 693 trên tổng số 1.983 trường hợp bị mất tích. Về phần mình, phía Mỹ cũng đã giúp thu thập, chia sẻ thông tin với Việt Nam về khoảng 1.000 trường hợp bộ đội Việt Nam bị mất tích, trao trả các kỷ vật.

Theo Đại sứ Nguyễn Quốc Cường, Việt Nam "ghi nhận sự hợp tác, hỗ trợ ngày một tăng của chính phủ và các tổ chức, cá nhân của Mỹ liên quan đến việc giải quyết hậu quả chất độc da cam dioxin và các trợ giúp y tế đối với các nạn nhân chất độc da cam/dioxin…," đồng thời hy vọng phía Mỹ "làm nhiều hơn nữa liên quan đến những vấn đề nhân đạo này."

Về vấn đề dân chủ nhân quyền, Đại sứ thừa nhận hai bên còn có những khác biệt, song khẳng định vấn đề quan trọng là hai bên sẵn sàng trao đổi thẳng thắn để tăng cường hiểu biết, thu hẹp các khác biệt.

Trên tinh thần đó, "tôi hiểu rằng trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng ta cũng sẵn sàng trao đổi các vấn đề liên quan đến dân chủ nhân quyền, tự do tôn giáo," Đại sứ cho biết.

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường khẳng định "chỉ có hữu nghị, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau mới là sự lựa chọn đúng đắn để đưa quan hệ Việt Nam-Mỹ hướng tới tương lai, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước".

Theo TTXVN


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hãi vãi:


  • LÀM NGƯỜI TỐT PHẢI " THỦ ĐOẠN"

    Thằng cháu kéo mình chạy một mạch ra bãi cát, rồi hò chú
    nằm xuống. Quanh đấy, vắng tanh vắng ngắt. Gió vần vụ. Cát bay. Những bông hoa lông chông chạy loăn xoăn, vấp ngã, lại chạy.
    Nhìn thằng cháu mà mình yêu quý, thấy mặt nó nhàu nát, đôi mắt thăm thẳm buồn, mình ôm cháu hỏi:
    -Sao lại đến nông nỗi này hả cháu?
    Nó vùi chân trong cát, vùi tay trong cát, nghiêng người, úp mặt vào cát, thở phì phì, rồi lại xoay người ngửa mặt hét oang oang, nói, thích quá chú ạ, thoải mái quá, chú thấy không, ở trên cát, nói, cười, hét, hò, khóc lóc, muốn gì cũng được. Tự do. Thế ai bắt cháu không tự do? Vui cháu cười. Buồn cháu khóc. Có ai ép cháu đâu.
    Thằng cháu nằm im. Chú ạ, cháu muốn làm người tốt. Ơ kìa, thằng ranh con, sống trên đời mà không làm người tốt thì làm người gì. Nhưng mà khó lắm chú ạ, làm người tốt khó lắm chú biết không? Rồi nó khóc. Mình nhìn cháu, thằng cháu thông minh, giỏi giang nhất dòng họ, tốt nghiệp kỹ sư xây dựng loại ưu tú, đã được một Ban quản lý dự án tầm vóc quốc gia mời về, ăn lương chuyên gia, mọi thứ đối đãi như một lãnh đạo, lương cao, công việc nhiều, uy tín, mấy năm nay là như thế, cả dòng họ hân hoan về tương lai của cháu, giờ thấy nó xách cái túi về, kéo chú ra đây, nằm, thở dài và nói lảm nhảm những điều thật khó nghe quá.
    Cháu vi phạm chuyện gì? Dạ không, cháu vẫn là người tốt chú ạ.
    Nó vùng dậy, nhìn chú. Cháu đã thề trước vong linh ba mẹ cháu, bất luận điều gì xảy ra cũng phải sống tử tế, làm một người tử tế. Và vì cháu muốn mình làm người tử tế, nên cháu phải bỏ việc. Cái gì? Bỏ việc? Một nơi làm việc tốt như vậy? Thu nhập cao như vậy? Điều kiện như vậy? Bỏ việc? Vâng. Cháu phải bỏ việc. Họ đuổi? Cũng có thể hiểu như thế ạ. Hay cháu tự bỏ? Cũng có thể hiểu như thế ạ. Và cháu vẫn là người tử tế, người tốt đấy chứ? Vâng, chắc chắn như thế.
    Nó kể, nó là kỹ sư trẻ, nó muốn cống hiến, cống hiến bằng tài năng chứ không phải bằng những xảo thuật, nó muốn khẳng định mình bằng năng lực, bằng sự trung thực của chuyên môn, chứ không phải bằng xu nịnh, bằng chạy chọt, bằng sự bợ đỡ. Đúng đúng đúng. Cháu làm vậy là đúng, là cách làm của một người tốt, một người tử tế.
    Nhưng muốn thế, muốn làm người tốt trong cái Ban quản lý của cháu, làm người tốt mà vẫn được làm việc ở đó, cần phải thủ đoạn, mà cháu thì không có thủ đoạn.
    Tầm bậy tầm bạ cháu. Chú chưa nghe ai nói điều này, kẻ xấu mới phải dùng thủ đoạn, làm người tốt, như cây mọc trên núi, ngọn cây vươn thẳng về phía mặt trời, tự mình sống, tự mình khẳng định, sao lại phải dùng thủ đoạn?
    Phải dùng thủ đoạn chú ạ. Đó là điều cháu rút ra được khi quyết định bỏ việc. Vì cháu không biết dùng thủ đoạn nên cháu bị loại dù cháu là người tốt.
    Có những người tốt, họ vẫn trụ lại được, vì họ biết cách giấu cái tốt của mình đi, hay tạm thời ép cái tốt của mình xuống, a dua theo bọn xấu, a dua theo sự dối trá, giả vờ đồng minh, rồi từ từ, bằng cách này hay cách khác, khi có cơ hội thì những người đó bắt đầu đứng dậy, vạch mặt bọn xấu để hiện ra mình là người tốt. Nhưng cháu không có khả năng hoạt động theo kiểu gián điệp “ hai mang”. Hàng ngày, tại cơ quan, cái tốt của cháu, lòng trung thực của cháu cứ lồ lộ ra đấy. Người ta bảo cháu làm trái đi, làm trái đi, công trình này phải thiết kế nhắng lên thế này để tăng dự toán. Công trình kia sai phạm thì phải có văn bản nói loằng nhoằng muôn vàn nguyên nhân để né tội cho nhau. Làm thế thì công việc nhiều, tiền nhiều, lời khen nhiều, sự ve vuốt nhiều, nhưng cháu không làm thế được. Hai cộng hai phải bằng bốn chứ, sao lại lại bằng năm? Sao lại bằng ba? Sao lại vọt lên bảy?
    Sếp bảo cháu, em ơi, em rất giỏi, rất tài, các anh rất cần em, em cũng rất tốt, rất trung thực, nhưng người ta không cần mình trung thực, người ta trả tiền để mua sự dối trá của chúng ta, chúng ta không theo, chúng ta đói, chúng ta thất nghiệp. Chúng ta không theo thì đối tác nó tìm chỗ khác và nó vẫn được như thế, như thế, như thế, em hiểu chứ. Anh biết là em cắn rứt lương tâm, em áy náy, nhưng muốn tồn tại phải theo thủ đoạn của người ta, đi ngược lại thủ đoạn người ta, người ta chưa chết, mình chết. Sếp đã khuyên cháu như thế… Sếp nói, một thằng đối tác đến với mình, quanh nó, trên nó, bên phải bên trái nó vây bủa toàn sếp sếp sếp thôi em ơi, không chống lại được nó đâu, không sống tốt được đâu, mà muốn sống tốt thì phải thủ đoạn mới vượt qua được chúng nó em ạ.
    Bây giờ cháu tính sao?
    Cháu phải làm người tốt.
    Tất nhiên, ai chẳng mong cháu là người tốt.
    Nhưng bây giờ cháu tính sao? Công việc? Cuộc sống?
    Chẳng lẽ sống tốt cũng phải thủ đoạn sao chú?
    Mình vùi mặt trong cát hét, mày hỏi tao thì tao hỏi ai? Tao hỏi ai? Tao hỏi ai???
    Tiếng hét bị vùi trong cát cùng nước mắt.
    Chia sẻ với mình, các cháu trẻ cũng thốt lên cay đắng: Đời rất dở nhưng vẫn phải niềm nở…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TÁC PHẨM HOA LÁ CÓ TẠO RA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN ?



 Nguyễn Hoàng Đức
 3

Sống ở đời ai chẳng muốn vinh danh tên tuổi mình, như phương ngôn “Cọp chết để da, người chết để tiếng”. Bất hạnh lớn nhất của cuộc đời là “vô dấu vết” hoặc là “không có gì vọng lại” gọi tắt là “vô lại”. Vô lại nghĩa là bóng tối soi vào vật tối đã không hề phản xạ lại, trong khi đó một ánh sáng dù rất nhỏ soi vào vật phản quang đã phản xạ lại. Cái gì soi xuống nước đều có bóng của nó, vậy mà tối tăm bất hạnh nhường bao thứ vật nào vô hình đến mức soi xuống nước chẳng có hình?!
Tiếng hô lớn dội vào vách núi sẽ phản lại âm vọng lớn! Đó là điều tất nhiên. Chúng ta nên chấp nhận nguyên lý giản dị này. Như vậy, cách tự nhiên một tiếng hô nhỏ bé dội vào vách núi sẽ vọng lại một thứ u oa ong ong bé tẹo. Và cũng tất nhiên rằng: Nhìn quả sẽ biết cây. Cây tốt không thể ra trái xấu. Cây còi không thể ra trái to. Nhìn tác phẩm hiển nhiên sẽ phản ánh tầm vóc của tác giả. Tác phẩm lớn thì phải ra đời từ tâm hồn lớn. Còn tác phẩm nhỏ, tép riu thì làm sao chứng tỏ cha đẻ của nó là cá voi?
Họ đều là những nhà thơ
Họ đều là những nhà thơ
Nghệ thuật tiên quyết phải là sự thể hiện ra ngoài thành tác phẩm. Chỉ khi  đó người ta mới có thể đăng ký phát minh hay sáng tạo. Không có nghệ thuật còn ở trong óc, trong tim hay trong bụng. Triết gia Hegel nói rằng: Tự do là giá trị đầu tiên của con người. Nhưng tự do không thể có nếu không được thể chế ra bằng quyền tự do đầu tiên là tự do sở hữu. Tự do đó nói rẳng tôi ít nhất sở hữu thân thể tôi, rồi nhà tôi, của cải của tôi. Vậy thì không thể cách nào chối từ hay biện hộ, tác phẩm dù to hay bé kia lại không phải sản phẩm của chính tâm hồn mình.
Hình ảnh thường thấy của các nhà thơ đông như kiến ở Việt Nam là gì? Là họ đổ xuống từ vài chiếc xe buýt. Hội nghị nào họ cũng có mặt đông rinh ríc, họ biện hộ “chúng tôi là nhà thơ nhưng chúng tôi yêu lý luận, nên chúng tôi muốn đến hội nghị lý luận”, thật giống người Việt bảo đó là cách “tuần chay nào cũng có nước mắt”, không phải đám cháy, mà đám cỗ nào giấy mời cũng lan sang nhà họ. Một tư duy vé kèm, ăn theo, sau lưng luôn có một đàn long tong như vậy, thử hỏi, hội nghị karaoke họ có bảo, chúng tôi yêu ca hát, hội nghị rau sạch, họ bảo chúng tôi yêu rau, hội nghị thịt họ bảo chúng tôi yêu thịt, hội nghị “giá áo túi cơm” họ bảo chúng tôi cũng yêu, hội nghị đóng bàn ghế thì có thể chúng tôi không cần nhưng hội nghị leo ghế thì chúng tôi không thể nào không dự vì đó là nhu cầu tiến bộ của loài người, còn hội nghị ẵm giải thì họ cũng đòi có mặt vì cho rằng đeo huân chương là bản năng của cán bộ… như vậy thử hỏi có hội nghị nào mà họ có thể vắng mặt?
Dân gian có câu “Việt Nam có Đoàn giỏi mà không giỏi”. Có người bình rằng, trời ơi, người giỏi lấy đâu ra một đoàn như vậy, nhà thơ gì mà đi đâu cũng thấy vài xe buýt đổ xuống, kéo vào ngập hội trường? Còn thơ là nghệ thuật tinh hoa ư, sao cả triệu người làm được, từ cô buôn thúng đến bác nông dân, cả anh xe thồ cũng làm ngon ơ?!
Một lần tôi nghe một nhà thơ cán bộ say sưa ca tụng: Trời ơi, về làng đó mới thấy người ta yêu thơ thế nào, các cụ già kéo ra rưng rưng cảm động, nói rằng “chúng tôi chưa bao giờ được trọng thị đến thế!” Nghe thế tôi buồn quá. Trời ạ, có phương ngôn “tuổi già tương lai đã ở phía sau”. Người Việt nói “già được bát canh, trẻ được manh áo mới”. Già không cần áo mới để mặc cho hôm nay và cả ngày mai, mà chỉ cần ăn bữa nay bữa mai không biết thế nào. Một thứ nghệ thuật phải đi tranh thủ người già, tức nghệ thuật mặt trận cho tổ hưu, thì làm sao còn có tương lai???
Tại sao chỉ có câu lạc bộ thơ phường, thơ khóm, thơ làng mà không có câu lạc bộ viết văn của tỉnh? Có phải vì thơ dễ quá không? Câu trả lời thật đã lộ ra quá rõ ràng: thơ hầu hết chỉ dựa trên cảm xúc được chăng hay chớ nên quá dễ làm. Có một nguyên lý làm thơ phổ biến mà chúng ta vẫn thường nghe nói đó là “tức cảnh sinh tình”. Nghĩa là đi đâu, làm việc gì, sinh hoạt ra sao người ta thấy hưng phấn lên thì liền “nặn chứng cá” ra mấy bài thơ.
Kiến trúc được xem là bộ môn nghệ thuật đầu tiên của nhân loại bởi vì nơi ở là nơi cần thiết đầu tiên của con người. Trong Kinh Thánh, Chúa Trời có nói, một người muốn xây dựng nhà, thì trước hết anh ta phải ngồi xuống tính toán, mình có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu nguyên vật liệu, có bao nhiêu công thợ… để rồi quyết định tầm vóc của nhà sẽ thế nào tùy vào những gì mình có thể.
Vậy muốn làm việc gì lớn ở đời, người ta đều phải tính toán, dự liệu và vạch dự án. Đó là việc to! Còn làm thơ, ngẩn ngơ ra ao thấy con cá quẫy, xốn xang một lúc khi bạn tình chưa đến, vu vơ bắt được một mùi hương bất chợt, hoặc thấy mây bay xếp hình ngang trời, rồi lá vàng rụng có vẻ xao xuyến… thế là việc to hay bé? Một việc do cảm xúc tức thì mang lại liệu có là việc lớn được không?
Cái mà quốc gia đông nhất thế giới Trung Quốc có là công trình Vạn Lý Trường Thành vĩ đại cả thế giới biết, bởi vì nó dài và rất dài. Nếu nó dài một mét hay chục mét có lẽ chẳng ai để ý?! Sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, cũng có nghĩa là vụn vặt thì chẳng bao giờ có tác phẩm hoành tráng cả. Muốn có tác phẩm lớn nhất dứt khoát người ta phải dùng đến lý trí. Thử nhìn xem, Một con cá sau khi bị gắp hết thịt, nó sẽ trơ ra một cái xương sống gắn liền với cái đầu. Tất cả các động vật có xương sống thì đều vậy. Cái đầu là bộ não của hệ lập trình cũng như kiểm soát và ra lệnh, nó được nối với xương sống là trục dọc của hệ thần kinh, từ đó mới tỏa đi các chi thể. Như vậy cơ thể đó đã nói lên nó là một kiến trúc của lý trí. Những động vật thân mềm không có xương sống thì lạc hậu hơn vì chúng không có cột sống để làm quốc lộ thông tin cho bộ não.
Các nhà thơ vụn là thân mềm hay thân cột sống? Hàng nghìn nhà thơ không thể nghĩ ra cốt truyện cũng như nhân vật cho thơ của mình liệu đó có phải bằng chứng cho việc một cấu trúc chỉ có phần mềm không định hình mà không có nổi sự điều hành trục dọc của hệ thần kinh? Rất nhiều nhà thơ, phớt lờ điều kiện mỗi người chỉ đọc một bài, sau khi đọc xong bài thứ nhất liền bảo “tôi xin đọc ba bài”. Đọc xong cả ba bài ngắn tũn vẫn thòm thèm. Tại sao? Trời ơi, thơ chỉ có cảm xúc, không có thông điệp nên đọc bao nhiêu vẫn cảm thấy mình chưa nói gì?!
Tới đây, tôi sẽ bàn đến tài năng và nhân cách của những người sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, không rõ nó có đồng nghĩa với “ma cà chớp” không? Mời các bạn xem. Xin cám ơn!
NHĐ  22/07/2013

( Bài viết là quan điểm riêng của người viết, không phải chủ ý của gia chủ! )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Miến Điện sẽ 'thả toàn bộ tù chính trị'



Miến Điện mong muốn nhận thêm hỗ trợ từ Anh quốc
Tổng thống Thein Sein nói trong chuyến thăm Anh quốc rằng trong năm nay Miến Điện sẽ trả tự do cho tất cả số tù chính trị.

Ông tổng thống đã đưa ra cam kết trên trong bài diễn văn tại London, sau khi hội đàm với Thủ tướng Anh David Cameron.
Miến Điện, còn gọi là Myanmar, đã thả hàng trăm tù chính trị kể từ khi ông Thein Sein lên nắm quyền vào tháng Ba 2010.
Trước đó nước này vẫn khẳng định không có tù chính trị. Việc trả tự do cho những người này là một phần trong tiến trình cải cách chính trị đang diễn ra trong nước.
Tổng thống Thein Sein tuyên bố hôm thứ Hai: "Trước cuối năm nay, sẽ không còn tù nhân lương tâm nào ở Myanmar nữa".
Ông nói thêm rằng một ủy ban đặc biệt đang xem xét tất cả các trường hợp tù chính trị.
Ông tổng thống hiện đang ở Anh để thảo luận các chủ đề liên quan quan hệ thương mại và quân sự song phương.
Ông Thein Sein muốn trợ giúp của Anh nhằm thúc đẩy kinh tế Miến Điện và các nước phương Tây cũng muốn đầu tư vào quốc gia châu Á giàu tài nguyên này.

BẠO LỰC SẮC TỘC

Trong khi đó Thủ tướng Cameron nói với tổng thống Miến Điện rằng nước ông cần có nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực nhân quyền.
Thủ tướng Anh cũng nói ông đặc biệt quan ngại về cách đối xử với người Hồi giáo Rohingya ở đất nước đa phần là người theo Phật giáo này.
Bạo lực sắc tộc tại bang Rakhine hồi năm ngoái đã làm 200 người thiệt mạng và hàng chục nghìn người, đa phần là người Rohingya, phải ly tán.
Chính quyền Miến Điện đã bị chỉ trích là không ngăn chặn được bạo lực và bảo vệ được quyền lợi cho người Hồi giáo.
Chính quyền nước này thì biện hộ rằng người Rohingya là di dân từ Nam Á và Hiến pháp Miến Điện không coi họ là sắc tộc được công nhận quyền công dân.
Tổng thống Thein Sein đã đưa ra các cải cách rộng lớn kể từ cuộc bầu cử tháng 11/2010, trong đó chính thể dân sự do quân đội hậu thuẫn đã thay thế chính thể quân sự.
Nhiều tù chính trị sau đó được trả tự do và kiểm duyệt báo chí được nới lỏng.
Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi, vốn tẩy chay kỳ bầu cử năm 2010, đã tái tham gia tiến trình chính trị và nay đã có hiện diện nhỏ tại Nghị viện.
Đổi lại các cải cách trên, đa số chế tài đối với Miến Điện đã được phương Tây nới lỏng.
*****

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chu Mộng Long - Vì sao sinh viên Việt Nam “ngấy tận cổ” môn Triết?

HH- Bài viết dưới đây của Chu Mộng Long (*) , giảng viên một trường đại học ở Việt Nam, lý giải vì sao sinh viên bây giờ “ngấy tận cổ” môn triết học. Xin được bàn thêm vài ý sau:
Ở những nước dân chủ, và theo tôi được biết dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa ở miền nam trước đây, một số trường đại học vẫn dạy hoặc nghiên cứu chủ nghĩa Marx nhưng người ta coi nó như một môn khoa học nên chấp nhận sự phản biện của sinh viên. Còn ở ta thì môn này bị chính trị hóa, thực chất là một trong những môn học chính trị và vì là môn chính trị nên nó phải được diễn giải theo định hướng chính trị của những người chủ xướng và không chấp nhận phản biện theo hướng phê phán. Đấy cũng là lý do khiến sinh viên chán học.
Ngoài lý do trên, bản thân triết học, ngay cả nếu không bị chính trị hóa làm cho xơ cứng, thì cũng là một môn kén người học và cũng chỉ có rất ít những người  như thầy Chu Mộng Long cho nó là “hấp dẫn từ thời cổ đại”. Thực tế là như vậy và chẳng cứ là triết học Marx và cũng không cứ là ở Việt Nam mới thế. Vì thế nó không nên là một môn học đại trà cho tất cả các ngành học ở tất cả các trường đại học như ở Việt Nam hiện nay.
Chẳng đâu như ở Việt Nam, sinh viên cơ khí ô tô, tàu thủy, công nghệ thông tin, hóa thực phẩm, vô tuyến điện, mỏ – địa chất… cũng đều bị bắt buộc phải học môn này trong khi họ có thiên hướng khoa học khác và môn học ấy cũng không phục vụ trực tiếp cho ngành học của họ.
Kiến thức nhân loại là vô hạn và không ai có thể học được tất cả mọi thứ ở trên đời. Người bình thường chẳng phải là nhà triết học cũng ý thức được điều này. Đành rằng học được cái gì cũng đều tốt cả, biết thêm được điều gì cũng không thừa, nhưng trong cuộc sống cũng có hàng trăm hàng ngàn những kiến thức khác cũng “hấp dẫn từ thời cổ đại” chẳng kém gì môn triết học nhưng người ta không thể cứ thấy bất kỳ cái gì hay hay cũng lao vào học mà phải chọn cái phù hợp với mình và/ hoặc mình yêu thích nhất.
Vì thế ở các trường đại học nước ngoài, những môn học ấy hoặc là chỉ bắt buộc ở những chuyên ngành về xã hội, hoặc là một môn cho sinh viên tự chọn ở những chuyên ngành khoa học -kỹ thuật tự nhiên cùng với những môn tự chọn khác như điện ảnh, hội họa, âm nhạc, mỹ học, luật đại cương… Và với những sinh viên đã chọn những môn học ấy để học cho biết (hay đã chọn những “chuyên ngành xã hội” mà không thể không học những môn ấy)  thì tức là họ đã ham thích hay quan tâm. Đấy là chưa nói  không phải bất cứ “chuyên ngành  xã hội” nào cùng cần phải học những môn học như môn triết. Thà chỉ dạy 5- 10 sinh viên có nhu cầu học những môn đó còn hơn là bắt hàng trăm sinh viên khác phải học thứ mà họ không thích và cũng không có lợi ích thiết thân với họ hoặc phục vụ trực tiếp cho ngành học chính của họ.
Hahien’s Blog
____________________________________
(*) Đọc bài của nhà giáo Chu Mộng Long (có kèm theo bài viết của nhà báo Trương Duy Nhất):

CHU MỘNG LONG - CHỦ NGHĨA MARX VÀ BỘ MÔN TRIẾT HỌC Ở ĐẠI HỌC


K.Marx thời trẻ hào hùng
Triết học là bộ môn khoa học mẫu mực, đỉnh cao của trí tuệ. Nó là sản phẩm của tư tưởng, nâng tầm vóc con người lên tầm vũ trụ. Trong nghĩa sâu sắc của bộ môn, triết học giải quyết mọi vấn đề của vũ trụ và nhân sinh. Con người tư duy sâu sắc về chính mình trước khi tư duy về thế giới. Con đường chân chính của triết học là thế, và trên con đường ấy, triết học tạo ra động lực của sự vận động và phát triển.
Bộ môn này đã từng hấp dẫn từ thời cổ đại và trở thành khoa học mẫu mực của mọi thời đại.

Và có những thời điểm lịch sử, triết gia đã làm thay chuyển cả thế giới, mà K. Marx là một điển hình. Marx hiểu sâu sắc sức mạnh của đám đông có thể thúc đẩy cỗ xe lịch sử tiến lên phía trước nhưng Marx không hình dung hết điểm yếu trong tâm lí của họ có thể đẩy cỗ xe lịch sử xuống vực.
Tất nhiên, câu chuyện đúng sai của triết học và sự thay chuyển của thế giới tích cực hay tiêu cực bởi tác động của triết học còn tùy thuộc vào giới hạn của lịch sử và giới hạn của nhận thức. Nhưng không có triết học nào đứng một cõi riêng độc lập, chúng luôn kế thừa, phản biện liên tục trong nhu cầu vận động của tư tưởng nhân loại.
Và như vậy, chủ nghĩa Marx hiện nay tồn tại như một đại tự sự trong các bộ đại tự sự của thế giới chứ không bao giờ là mớ giấy lộn trong sọt rác như các ý kiến cực đoan.
Có điều, vì sao sinh viên Việt Nam ngấy tận cổ cái bộ môn này. Một là, tư duy Việt là kiểu tư duy đoản trí, tầm nhìn không vượt qua giới hạn của đôi đũa tre, do bốn nghìn năm vật lộn với cái ăn, đói khát đến mức khi người nông dân Thạch Sanh lên ngai vàng chỉ mơ có niêu cơm trắng ăn mãi không hết nên triết học trở thành món xa xỉ. Hai là, triết học Marx khi đã Việt Nam hóa (theo đường vòng đã Liên Xô hóa và Trung Quốc hóa) thành giáo trình dạy cho sinh viên, nó không còn là triết học với tư cách là công cụ để tư duy mà là tư duy để thành công cụ – bởi nó độc quyền nên nó sản xuất ra một mẫu người công cụ bị điều hành bởi diễn ngôn quyền lực được mệnh danh là triết học. Ba là, một sự thật không thể không nói lên, xin lỗi những giảng viên triết học chân chính, đại đa số các giảng viên triết học được ưu đãi mọi thứ độc quyền, từ quyền ăn đến quyền nói, cụ thể: ưu đãi tiền lương, phụ cấp, tiền dạy hơn mọi giảng viên các bộ môn khác, người nói độc quyền chân lý buộc người nghe phải nghe miễn tranh luận; đặc biệt là độc quyền sinh sát với lưỡi tầm sét trong tay mà mọi sinh viên đều sợ hãi.
Triết học vì thế trở thành triệt học, như có lần tôi từng nghe sinh viên mỉa mai!
Người dạy sợ hãi mất thế độc quyền nên đã bằng mọi cách làm cho người học sợ hãi để chiếm thế độc quyền.
Tiêu cực vì thế đã nảy nở nhiều hơn cả ở những người dạy bộ môn gọi là mẫu mực này. Sự khủng hoảng niềm tin một phần cũng xuất phát từ đây vì người học phải tiếp thu thứ tư tưởng ở hạng người nói một đằng làm một nẻo.
Tất nhiên, sự khủng hoảng niềm tin là một lí do thường được mang ra biện bạch hay phủ nhận một tư tưởng, nhưng đó không bao giờ là lí do chính đáng. Nhân loại này đã từng trải qua bao lần khủng hoảng niềm tin, nhưng những tư tưởng vĩ đại thì vẫn trường tồn!
Tính chất thực dụng của sự chạy đua theo tiền tài, quyền lực đã làm cho món ăn tinh thần cao cấp là mọi triết học bị rẻ rúng chứ không riêng triết học Marx.
Muốn cứu cái bộ môn này thoát ra khỏi sự chán ngấy của người học, trước hết phải nhìn thẳng vào sự thật ấy để tháo gỡ, xây dựng và chỉnh đốn lại chứ không phải ở việc chiêu dụ bằng tiền bạc để gọi mời. Sự hấp dẫn, đam mê triết học nằm ở tinh thần với tất cả sự năng động sáng tạo của tư duy chứ không hề là sự hấp dẫn bởi vật chất thường tình.
Bài viết sau của Trương Duy Nhất phản ánh thực trạng học triết Marx – Lenin của sinh viên và mỉa mai vào sự ưu đãi của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà chưa dám nói lên sự thật của việc biên soạn và dạy bộ môn gọi là triết học này của các ông giảng viên triết học, cho nên có chỗ làm cho ông Marx bị oan sai.

* * *

TRƯƠNG DUY NHẤT - MIỄN PHÍ MÁC LÊ

Trước tình trạng ế ẩm, không thể tuyển được sinh viên vào học ngành Mác Lê – nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục- đào tạo đang dự thảo sẽ tiến hành miễn phí cho sinh viên vào học ngành này.
Theo đó, nếu sinh viên nào chịu chấp nhận vào học ngành Mác- Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ được miễn hoàn toàn học phí...
( Đoạn này cắt bỏ vì quá gay gắt& cực đoan )
Theo: Blog Chu Mộng Long
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chất lượng trường đại học ra sao? Câu hỏi sau sự việc này?


Lỗi ngớ ngẩn trên tấm bằng tốt nghiệp danh giá

(Kienthuc.net.vn) - Hàng trăm sinh viên, học viên phải khóc dở, mếu dở khi bằng tốt nghiệp mới nhận được lại có nhiều sai sót về chính tả tới mức ngớ ngẩn.
Ký thay "Hệu trưởng"...
Hơn 700 sinh viên khóa 7 trường ĐH Khoa học (Đại học Thái Nguyên) vừa nhận bằng tốt nghiệp ngày 1/7 vừa qua. Tuy nhiên, bản chính bằng tốt nghiệp không có tem chống hàng giả của Bộ GD-ĐT, trong khi đó, bản sao lại mắc lỗi chính tả ở phần chức danh: "KT Hệu trưởng...".
Lỗi chính tả xuất hiện trong hơn 700 bằng tốt nghiệp của trường ĐH Khoa học.  
Một tân cử nhân chia sẻ: "Bằng tốt nghiệp thiếu tem dán và mắc lỗi chính tả nghiêm trọng khiến chúng em rất khó xin việc vì các cơ quan tuyển dụng nghi ngờ đây là bằng giả".
Đây không phải lần đầu tiên xảy ra sự việc sai chính tả trên văn bằng đồng loạt với số lượng lớn như vậy.
Cách đây chưa lâu, vụ việc tương tự cũng xảy ra tại trường Học viện Báo chí và tuyên truyền (Hà Nội). 270 học viên cao học K16 bị thu hồi bằng thạc sĩ do sai lỗi chính tả sáng 18/4.
Lỗi chính tả bằng thạc sĩ trường Học viện Báo chí và tuyên truyền. 
Ngay sau khi nhận bằng, các tân thạc sĩ đã phát hiện có lỗi sai sót chính tả trong phần ghi bằng tiếng Anh. Theo đó, thay vì viết “The director of Academy of Journalism and Communication” (giám đốc Học viện Báo chí và tuyên truyền) thì mẫu văn bằng các tân thạc sĩ nhận được lại in nhầm “director” thành “derector”.
Sau khi phát hiện lỗi chính tả, các học viên đã báo lại cho phòng đào tạo. Được biết số bằng này đã được học viện thu hồi để in lại. Đối với những học viên từ các tỉnh phía Nam ra nhận bằng được lớp trưởng hẹn sẽ chuyển bằng qua đường chuyển phát nhanh sau khi chỉnh sửa. 
Trước đó, năm 2011, vụ việc tương tự cũng xảy ra ở Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM. Ngày 5/11/2011, sau lễ phát bằng, nhiều sinh viên ngành công nghệ sinh học Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm khóa 2007-2011 phát hiện tên ngành học ở phần tiếng Anh. Thay vì ghi “Biotechnology” thì trên bằng lại ghi nhầm là “Biotechnogy”. 
Cũng trong năm 2011, ngày 13/6, vừa được nhận tấm bằng thạc sĩ, các tân thạc sĩ đại học Huế khóa 2008-2010 chưa kịp vui mừng đã phải lo lắng khi phát hiện một loạt các lỗi sai nghiêm trọng in trên bằng.
Bằng thạc sĩ cũng sai lỗi quốc huy. 
Bằng Thạc sĩ được trao gồm 4 trang, bao gồm 2 trang bìa và 2 trang nội dung. Tuy nhiên ngay mặt bìa đầu tiên, bên trên dòng chữ Bằng thạc sĩ là hình quốc huy được in nổi với dòng chữ: “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam”, tức là thừa một chữ “Việt Nam”. Bên cạnh đó, tấm bằng này còn mắc lỗi chính tả là viết hoa ở từ “Lập” và từ “Phúc”.
Lỗi tại ai?
Giải thích về sai sót "Hệu trưởng", chiều 17/7, ông Nguyễn Đức Lạng, Hiệu phó trường ĐH Khoa học (Thái Nguyên) nói, bản sao bằng tốt nghiệp do Phòng Công tác Học sinh - sinh viên tự làm, có sai sót là do “lỗi của cơ sở in”. Còn bằng tốt nghiệp chưa dán tem chống giả của Bộ theo ông Lạng là do "phát bằng xong sinh viên về hết nên chưa dán kịp". Trường ĐH Khoa ra thông báo, từ ngày 15/7, sinh viên có nhu cầu thì mang bằng lên dán tem và ghi số bổ sung vào bằng tốt nghiệp.
Dư luận đặt câu hỏi, không hiểu nổi cách làm việc của những người có trách nhiệm ở trường đại học này như thế nào mà có thể để xảy ra sai sót tới hơn 700 cái bằng tốt nghiệp. Họ đổ lỗi cho “cơ sở in”, nhưng còn trách nhiệm người kiểm duyệt, ký và đóng dấu cuối cùng thuộc về ai? 
Trước đó, nói về sự việc để xảy ra sai sót ở Học viện Báo chí và tuyên truyền, nhà văn, nhà ngôn ngữ học PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt lắc đầu nói: "Để xảy ra lỗi ở trên tấm bằng thạc sỹ là không thể chấp nhận được. Người duyệt phôi bằng và kí văn bản này quá tắc trách. Tại làm sao mà cả người duyệt phôi bằng lẫn người kí đều không phát hiện được lỗi trong mấy trăm bằng. Bằng đại học, bằng thạc sĩ đâu phải chỉ là bộ mặt của trường, đó còn là bộ mặt của quốc gia. Nếu như những thạc sĩ đó mang bằng đó đi học ở nước ngoài, người ta sẽ nghĩ gì về vấn đề chất lượng giáo dục của Việt Nam.
Tôi là người dạy cũng thấy buồn và chắc rằng những học viên đó cũng buồn lắm. Suốt quá trình học hành, sau bao cố gắng, họ lại được chứng nhận bởi một tấm bằng khiếm khuyết". 
PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt, PGS.TS Phạm Văn Tình, Phó tổng biên tập Tạp chí Từ điển học cũng cho rằng: "Nhìn vào văn bằng người ta sẽ đánh giá ngôi trường cấp bằng đó và họ sẽ đánh giá về trình độ giáo dục. Chính tả là văn tự và nó liên quan đến câu chuyện văn hóa. Khi nhìn thấy một văn bản sai lỗi chính tả, cảm nhận đầu tiên là thấy phản cảm. Bởi đó là văn hóa sơ đẳng, khi sai sẽ khiến cho người đọc cảm giác như ăn phải hòn sỏi trong bát cơm ngon".
Anh Tuấn (tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang