Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Những người đàn ông!















Cónhững người đàn ông rất hào phóng, thấy bạn bè nghèo không có chỗ ở liền mời về nhà ở chung, vô quán nhậu nhớ bạn hiền cũng bấm phone rủ đến lai rai ba sợi, có cái xe hơi, bạn muốn mượn, cứ lấy đi thoải mái. Loại đàn ông ấy trên đời này không phải là hiếm.
Nhưng có một thứ mà người đàn ông không bao giờ chịu chia sẻ với ai, đó là vợ mình. Chỉ cần một câu nói, một cái liếc mắt là anh chồng đã “xù lông” lên, sẵn sàng chiến đấu.
Vậy mà có một gã từ nhiều năm nay đã phải chia sẻ bà vợ duy nhất của mình cho một người đàn ông khác mà không hề than thở. Gã này là một quan chức nhà trời, có quyền gặp trực tiếp Ngọc Hoàng để báo cáo tình hình dưới trần gian mỗi năm.
Đó chính là ông Táo.
*
Dân Việt Nam ta, hễ cứ đến ngày 23 Tết là cúng ông Táo, đốt vàng mã, lưu luyến tiễn ngài về trời mà không hề xét lý lịch xem ông ta là ai, có đáng để cho ta tin cậy và tôn kính đến như thế không?
Trước hết, ông ta là một thằng bất tài vì trên thế gian này dù sang hay hèn, dù giàu hay nghèo, dù quân tử hay tiểu nhân… ai ai cũng có một bà vợ, chỉ riêng ông Táo là không thể có. Ông ta phải chia sẻ vợ với một táo quân khác trong nhiều ngàn năm nay. Và như thế, thực tế ông ta chỉ có nửa bà vợ.
Táo quân còn là một thằng hèn vì đã không đủ dũng khí để giành vợ mình khỏi tay người khác. Đêm nào ông cũng nghiến răng nhìn vợ mình “quằn quại” dưới ách xâm lược của người đàn ông khác mà không dám hé nửa lời.
Bất tài, hèn lại còn khiêu dâm nữa! Có lần Táo quân từ nhà bếp ra chợ để mua một con cá chép làm phương tiện bay về trời, ông ta bị quần chúng phát hiện đang … ở truồng! Lũ con nít chạy theo tốc áo lên coi, Táo quân giận quá rút đôi hia ra ném, tụi nhỏ vừa bỏ chạy vừa cười nhạo.
Nhưng chúng ta hãy bỏ qua cái chuyện Táo quân ở truồng ra phố, vì dẫu sao cái mốt “đội mũ mang hia chẳng mặc quần” cũng là đồng phục của nhà Táo.
Hãy sang một vấn đề khác.
Xưa nay ai ai cũng kính trọng Táo quân vì nghĩ rằng ông ta đứng về phía lẽ phải, hàng năm đều có dâng sớ lên Ngọc Hoàng Thượng Đế để tố cáo tham nhũng và những tệ nạn khác dưới trần gian, nhưng sự thật là Táo quân chỉ báo cáo những vụ bê bối lặt vặt ở trong…bếp như anh chồng ăn vụng với cô sen, bà chủ tò te với anh tài xế, còn những vụ tham nhũng lớn tầm cỡ quốc gia, trị giá hàng trăm hàng ngàn tỷ đồng thì ông ta đếch dám động tới. Kết quả là tham nhũng và tệ nạn ngày càng nhiều, lộng hành trên khắp Việt Nam, vô phương cứu chữa.
Còn nữa, Táo quân là một kẻ tham quyền cố vị vào loại nhất thế giới. Quý vị chỉ cần điểm mặt một số kẻ tham quyền cố vị nổi tiếng của nhân loại thì sẽ rõ ngay: Này nhé, Fidel Castro làm vua xứ Cu Ba nghèo đói suốt 49 năm trời không chịu nhường cho ai, cuối cùng già quá, tay chân run rẩy, hết xíu oách đành phải nhường ngôi cho…em trai mình. Kim Nhật Thành làm vua xứ Triều Tiên 46 năm và tự phong là “chủ tịch vĩnh cửu”, cuối cùng trao ngai vàng cho con trai minh là Kim Jong-il,  anh này còn chơi ngoạn mục hơn: đưa một thằng con nít miệng còn hôi sữa tên là Kim Jong-un lên làm đại tướng, ngồi chờ sẵn khi nào bố ra hiệu thì đặt mông vô ngai vàng liền, đố người nào tranh cướp được! Người thứ ba là Mao Xếnh Xáng, ngồi trên ngai vàng 33 năm, cuối đời dùng mọi thủ đoạn trong Cách Mạng Văn Hóa để loại bỏ đồng chí mình, âm mưu đưa… bà xã Giang Thanh lên ngai, tiếc thay đã thất bại. Tóm lại, xưa nay “bám ghế” lâu nhất cũng bốn năm chục năm, chưa có ai bám ghế kỷ lục như Táo quân nhà ta. Từ khi có dân tộc Việt Nam – tạm cho là đời Hùng Vương tới giờ – ông ta cứ giữ rịt lấy cái ghế Táo quân ấy suốt hơn bốn ngàn năm nay “một tấc không đi, một ly không rời”. Và chắc chắn ngày nào còn dân Việt, có lẽ ông ta vẫn còn giữ chặt cái ghế đó.
Và vì suốt nhiều ngàn năm nay ông ta không chịu về hưu cho nên cứ được hưởng lương trăm phần trăm dài dài, chưa kể các khoảng “lộc” khác như nhà, đất, đi du lịch nước ngoài… Và có thể nói Táo quân là anh cán bộ duy nhất trên đời này không bao giờ nghỉ hưu.
Nhưng ông ta làm công tác gì mà quan trọng đến nỗi không ai có thể thay thế được?
Chẳng qua ông ta chỉ là một tên chỉ điểm, tối ngày lẩn quẩn trong xó bếp rình rập nhà dân xem có ai phát ngôn  bừa bãi, bôi xấu chế độ, xúc phạm lãnh đạo, xem có trang web nào “phản động”, có blog cá nhân nào chống tham nhũng, độc tài tay sai ngoại bang … để lập báo cáo mật chờ đến cuối năm cưỡi cá chép về trời, chạy thẳng vô đồn công an tâng công lấy điểm.
Như vậy, xét về tư cách thì Táo quân chỉ được không điểm, xét về đạo đức, người dễ tính cũng cho nửa điểm là cùng. Còn xét về trình độ văn hóa thì một thằng cha tối ngày chỉ biết “đội” đít nồi, chưa hề thấy hắn đi học bao giờ, thì chỉ có thể làm một tên chỉ điểm hạng bét mà thôi.
ĐÀO

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Võ Lão Nông,


tình anh bán chiếu.


1Võ Lão Nông là nick name của Võ Đắc Danh. Nó lập blog đầu tiên ghi là Người nông dân cầm bút, sau sang Facebook đổi tên là Võ Lão Nông. Từ ngày mình vô Sài Gòn chỉ nhậu loanh quanh với năm, bảy anh em trong đó có nó. Lúc mình ở Miếu Nổi bên này kênh Nhiêu Lộc, nó ở bên kia kênh Nhiêu Lộc, hú cái là nó vọt sang ngay. Bây giờ mình về Thảo Điền thì nó về Nhà Bè làm cái nhà vườn đẹp mê tơi, cứ một tháng đôi lần mình lại về nhà nó nhậu. Ngồi nhậu ở đấy thật đã.
Nhà vườn Võ Đắc Danh thật đặc sắc, có hồ cá ao sen, hoa quả sum suê mùa nào thức ấy, có nhà nuôi yến mỗi tháng kiếm được vài ba cân. Đặc biệt có cái nhà rường là bảo tàng nông cụ miền Tây, ở đấy có cái cày, cái cối xay, cái xe trâu đã mấy trăm năm, có cối đá người Chàm chí ít cũng 500 năm có lẻ. Có lẽ đại gia địa chủ ngày xưa cũng khó có được ngôi nhà vườn như nó. Rõ là ông nông dân cầm bút, sống ở thị thành vẫn cố mang về hương đồng gió nội chốn quê nhà Cà Mau của nó.
Mình quen Võ Đắc Danh từ lúc nào không nhớ nữa, chỉ nhớ lần đầu mình ngồi nhậu với nó vào năm 2009. Khi đó vào dịp cuối năm, một hôm nó gọi điện cho mình, nói tuần tới anh đi đâu không. Mình nói không. Nó nói rồi, mấy ngày nữa em ra Hà Nội nhậu với anh. Mình hỏi ra Hà Nội làm gì. Nó bảo nhận cái giải bút kí “ Cổ tích trên đỉnh mồ côi” của báo Văn Nghệ. Mình hỏi giải mấy. Nó cười khì khì, nói hỏi chi kì vậy ta, không giải nhất thì giải gì nữa.
Trước đó mình không đọc của nó bất kì cái gì, nó có gửi tặng hai tập sách mình cũng chưa đọc. Mấy món bút kí phóng sự hồi nhỏ mê lắm, về già hết hứng thú.  Thú thật ngoài kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân, Phan Nhật Nam mình không đọc kí của ai nữa. Biết nó sắp ra, bạn bè không đọc của nhau ngồi với nhau khó nói chuyện, mình tắc lưỡi tìm đọc cái giải nhất của nó xem thế nào, chẳng ngờ đọc xong lại ngồi ứa nước mắt.
 “Cổ tích trên đỉnh mồ côi” kể về hai má con dì Ba và anh Bông đã nhận nuôi 12 đứa trẻ bị bỏ rơi từ các bệnh viện. Cái kí đọc một lần là nhớ đời. Mình là chúa hay quên tên, đến tên nhân vật tiểu thuyết của mình cũng phải nhờ thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) nhắc giùm nhưng tên hai má con dì Ba và anh Bông  khiến mình nhớ mãi. Thằng này viết thật khéo, nó cứ kể tưng tửng vậy thôi mà ứa nước mắt. Nhớ nhất câu nói của anh Bông, khi người ta hỏi sao không lấy vợ, anh nói: “Tụi nó đã khổ từ trong bào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”. Cái câu này mình cũng nhớ như in, vì lời nói chân chất của anh Bông lại chính là một câu thoại rất đặc sắc, nó vừa đưa thông tin, vừa thể hiện tính cách nhân vật và chứa đựng cái “ý tại ngôn ngoại”  về tấm lòng một người cha của những đứa trẻ mồ côi.
Mình tìm lại hai tập bút kí  nó tặng mình, Nỗi niềm U Minh Hạ và Đồng cỏ chat, đọc một lèo trắng đêm. Tuổi già đọc vài chục trang đã mỏi mắt đau lưng nhưng đọc hai tập sách của nó mình không biết mỏi mệt là gì.. Đồng cỏ chát, Thà đui mà giữ đạo nhà, Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Chuyện cũ, Gã khùngNỗi niềm sinh tử bên rìa công thổ quốc gia, Đứa con nuôi, Đất lên, tình người xuống, Nữ hoàng áo bà ba, Chị Phượng, Ông Kỳ Phùng, Thế giới người điên, Bần nông lên ngôi vua, Bà chúa vỉa hè… quá nhiều những số phận lạ lùng, chắc chắn nó đã tìm thấy chứ nó không bịa, dù giàu tưởng tượng đến mấy cũng khó bịa ra được những số phận như vậy.
Hôm nó nhận giải tại Nhà hát lớn mình cũng đến, vì nó nhận giải mình mới đến chứ chẳng mấy khi mình đến mấy nơi đông vui công cộng thế này. Người ta xướng tên, vẫn mặc bộ đồ lùi xùi  hôm qua nó vừa xuống sân bay nó lúi húi lên sân khấu, nhận xong cái bằng nó lúi húi về chẳng phát biểu phát beo gì cả. Đang khi người ta thi nhau phát biểu về sự thành công của giải, nó bấm mình, nói đi anh. Mình kéo áo nó rỉ tai, nói mày không ngồi lại nghe khen à, người ta đang khen mày ầm ầm đó kìa. Nó cười khì chặc lưỡi, nói chà, biết rồi khổ quá nói mãi… rồi kéo mình ra khỏi hội trường.
Bữa hôm đó ở Cá lăng Toàn Thắng mình với nó nhậu say sưa với Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Việt Hà. Mọi người khen nó viết kí thân phận số một Việt Nam. Nó xua xua tay, nói thôi thôi, em lạy các bác, các bác đừng cho em lên mây nữa. Chẳng qua kiếp trước em sống không ra gì kiếp nay trời mới hành em vậy. Mọi người cười, nói thôi đi ông ơi, tụi này chán món khiêm tốn lắm rồi. Nó nhìn mọi người rất nghiêm túc, nói em nói thiệt đó, nhiều khi nghĩ đến những gì mình đã viết thấy mắc cỡ muốn chết, không dám đọc lại. Bảo Ninh trợn mắt lên, nói viết thế còn mắc cỡ thì viết thế nào để tự hào đây, ô kìa! Nó rầu rầu nhìn Bảo Ninh, nói là em mắc cỡ với nhân vật của mình. Mỗi lần mình viết vể họ tên tuổi mình lại nổi lên chút đỉnh trong khi họ vẫn vậy, vẫn khổ đau, vẫn oan ức, vẫn bị đày đọa… cực thấy mồ.
Nói đến đó thì nó im, mắt rưng rưng. Như sực nhớ ra, nó gạt nước mắt cười cái xoẹt, nói thôi nói chuyện chi cho vui đi, chuyện nghề ngỗng buồn lắm. Rồi nó ép người này uống người kia uống, nói uống đi uống đi rồi tui ca vọng cổ cho nghe.
Ngồi nhậu nó thường ít nói nhưng khi đã nói thì nói rất nhiều, sướng lên nó còn ca vọng cổ rất hay, mình nghe nó ca đi ca lại Tình anh bán chiếu không biết bao nhiêu lần vẫn cứ thích nghe nữa.  Nó có cả kho chuyện tiếu lâm đời mới, chuyện nào chuyện nấy cười vỡ bụng. Một hôm ăn cháo hàu, nó hỏi anh biết cháu hàu còn gọi là cháo gì không. Mình nói không. Nó bảo cháo l. ngâm, mình ôm bụng cười rũ. Nó nói cười cái gì, dân mình hay đặt tên gần gũi họ thôi chứ hàu là cái gì ai biết. Nó kể có ông chồng bảo vợ nấu cháo l. ngâm đãi bạn. Mấy ông bạn ăn xuýt xoa  khen ngon. Bà vợ thích lắm, nói em mới ngâm có nửa tiếng phải vội đi đón cháu, nếu để em ngâm lâu chắc còn ngon nữa. Hi hi.
Tan cuộc nhậu nào nó cũng lừ đừ khật khừ, cứ tưởng thằng này rồi phải nằm bẹp mấy ngày, té ra không, sáng sớm gọi uống cà phê nó đã vọt đi miền Tây từ hồi nào. Cái nhà vườn đẹp thế cũng chỉ là chỗ tạm trú, đất sống của nó là những nơi những người nông dân đau khổ đang sống, ấy là nơi bùn lầy, chỗ hoang vu, chốn xơ xác, bến tiêu điều… Lắm kẻ chỉ nghĩ đến việc phải đến đó thôi cũng đã phải rùng mình kinh sợ. Suốt đời nó gắn bó với những người bất hạnh, đói rách lầm than, bị vùi dập- bị lừa đảo- bị đổ oan- bị đày đọa…Nó vừa viết vừa làm phim. Dòng phim tài liệu thân phận của nó cũng hay không kém hơn trăm cái bút kí thân phận của nó. Không phải bạn bè rồi tâng nhau, nói thật  ai đã từng xem mấy phim Con trâu, Nỗi niềm U Minh Hạ, Nhức nhối một vùng quê của nó nếu không chảy nước mắt cũng đêm về khó ngủ.
Một lần ở Miếu Nổi, đang đêm xem ti vi phát lại phim Con trâu, phim làm đã khá lâu, được giải liên hoan phim Bông sen vàng lần thứ 12 từ năm 1998 thì phải. Xem xong ngồi ngẩn ngơ, xem lại vẫn cứ hay như thường. Mình gọi nó sang quán 36, nói vừa xem xong Con trâu, bỗng dưng muốn nhậu với mày quá. Nó cười khì khì, nói anh tính kêu tui sang để khen phải không. Chà, biết rồi khổ quá nói mãi.
 Mình cụt hứng, cáu, nói tao thèm vào nịnh mày, nịnh mày thì được cái éo gì. Nó cười khì khì cúi mặt uống, hồi sau nó ngước lên thấy mắt nó ướt sũng nước. Mình hỏi sao khóc. Nó cười không nói gì. Ngồi im hồi lâu nó mới lau nước mắt thở dài, nói ai không thích khen. Viết văn làm phim loại cà mèng như tui được khen sướng lắm chứ. Nhưng lạ lắm anh ạ, cứ ai khen tui là tui lại nhớ nhân vật của mình, tự dưng buồn nẫu ruột.
Quán nhậu đêm vắng khách. Hai anh em ngồi nhậu cho tới khuya, chẳng ai nói với ai. Khi rượu đã ngấm nó mới thủ thỉ tâm sự, khi em khi tui, nói hồi  mới vào nghề, còn trẻ hăng máu vịt lắm, tui nghĩ mình phải giống ông Lục Vân Tiên “cứu nhơn độ thế”. Tui say sưa kiếm những số phận hẳm hiu để mong làm cho họ đổi đời. Nhưng càng về sau thì càng nhận ra rằng đó chỉ là điều hoang tưởng. Rốt cuộc mình không cứu được đời họ, chưa gặp mình họ đã khổ đau, gặp mình rồi họ vẫn khổ đau, có khác chi đâu. Nó ngừng lại khẽ thở dài, nói nhiều khi em muốn bỏ nghề nhưng trời không cho bỏ, cực quá trời luôn.
Nó im lặng uống nốt chén rượu rồi đứng dậy, nói thôi em về đây, xỉn rồi. Vừa đứng lên nó lại rơi phịch xuống ngồi ngẩn ngơ, nói anh biết vì sao tui hay ca Tình anh bán chiếu không. Cái anh bán chiếu giống anh cầm bút vậy. Yêu đời thương đời nhưng thấy đời cực quá mà mình chẳng làm gì tốt để giúp đời thì xấu hổ muốn chết luôn, muốn chết luôn anh ạ. Nó cầm chén rượu không còn một giọt rượu lên soi đi soi lại, chừng muốn uống thêm chừng muốn úp chén. Và nó hát, hát say sưa.  Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm,/ công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu. /Chiếu này tôi chẳng bán đâu…
Tác giả: Nguyễn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không nên cực đoan đối với Trung Quốc


(PL)- Trung Quốc là một người hàng xóm có khuynh hướng giàu đổi bạn, có ký ức không bền về lịch sử Trung Quốc - Việt Nam và từ chối hiểu phẩm giá Việt Nam - vốn hiếu hòa nhưng thừa tinh thần bảo vệ đất nước.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, TS kinh tế Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu biển Đông) cho rằng những cuộc tranh luận nảy lửa của giới trẻ về lòng yêu nước là tín hiệu lạc quan của đất nước; song cần thiết phải giữ một cách tiếp cận chừng mực, toàn diện và đầy đủ với Trung Quốc để tránh rơi vào trạng thái cực đoan trong phát ngôn và hành xử.
.Phóng viên: Nhiều người Việt Nam hiện nay có xu hướng bài xích Trung Quốc (TQ), thể hiện ở việc không dùng hàng TQ, chửi bới TQ, miệt thị người TQ... Ông đánh giá như thế nào về hiện tượng này?
+ TS Lê Vĩnh Trương (ảnh): Ở góc nhìn kinh tế, hàng hóa và dịch vụ TQ, như dịch vụ phòng khám chẳng hạn, có một số không nhỏ gây quan ngại về phẩm chất làm cho người tiêu dùng nghi ngờ về sự cẩu thả trong quản lý. Đây là phản ứng tự nhiên của thị trường một cách công bằng và lành mạnh. Nếu giới thương mại và sản xuất TQ muốn cải thiện hình ảnh hàng hóa và dịch vụ TQ vào Việt Nam thì họ phải điều chỉnh chất lượng cho thị trường Việt Nam. Tôi không thấy có sự bài xích nào ở đây cả.
Người Việt Nam nói chung có một sự căm phẫn trước hình ảnh TQ tung hoành biển Đông, xâm chiếm đảo của VN. Năm 2005, họ giết ngư dân Hậu Lộc (Thanh Hóa) và thi thể ngư dân phải ướp nước đá chở về. Từ đó đến nay, lính liên tục quấy phá, xâm hại, bắt bớ, đánh đập, sỉ nhục ngư dân Việt Nam đến mức phải vái lạy ngay trên tàu. Và oái oăm là chính họ lại đưa lên các phương tiện thông tin để thị uy.
Đặc biệt, vài năm gần đây, có thể đọc dễ dàng trên mạng các câu chuyện giới cầm quyền TQ lợi dụng cuộc chiến tranh ở Việt Nam để thủ lợi. Thế nên cảnh giác với giới chức TQ là một tình cảm bình thường ở người Việt Nam.
Đó là với giới chức, còn với người dân thường TQ thì sao?

+ Theo tôi, nhân dân TQ đã bị giới chức TQ tẩy não về Hoàng Sa và Trường Sa đến một mức độ gây nguy hiểm cho chính TQ và những người tỉnh táo ở TQ đang tìm cách hạ nhiệt thông qua vụ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng TQ vào tháng 7-2012.
Theo tôi, có lẽ chưa chính xác khi cho rằng có sự miệt thị người TQ. Người Việt trong tinh thần bao dung và cùng chung sống hòa bình vẫn sống và làm việc với người Âu, Mỹ và người TQ. Tại Việt Nam, quảng cáo trường học Hoa ngữ và cả phòng khám bệnh vẫn có mặt trên báo chí, người Hoa vẫn thoải mái đi chùa chiền lễ bái của mình… Người Việt Nam vẫn cứu ngư dân TQ gặp nạn; vẫn treo tranh thủy mặc, đọc thơ Đường các dịp lễ tết, như mối giao lưu văn hóa xã hội bao năm qua giữa các cộng đồng dân tộc Việt Nam với nhau.
Dẫu vậy, tôi vững tin rằng nhân dân Việt Nam sẵn sàng đập tan âm mưu bành trướng nhiều kiểu của TQ từ thủ đoạn phân hóa nội bộ người Việt Nam đến lấn chiếm biển đảo, phá hoại kinh tế, kích động sắc tộc cho đến phá Việt Nam trên trường ngoại giao ASEAN gần đây.
Các hành động quá khích của người Trung Quốc trong các cuộc biểu tình chống Nhật liên quan đến tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư cho thấy hậu quả nghiêm trọng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở nước này. Trong ảnh: Người Trung Quốc đập phá một trung tâm mua sắm do Nhật tài trợ tại Sơn Đông vào tháng 9-2012.
Hiểu biết thì sẽ không cực đoan
Quan điểm của ông thế nào về một ám ảnh nước lớn đè nặng lên VN?
+ Ở thế hệ chúng tôi, công bằng mà nói, có sự khâm phục người TQ cần cù lao động và phát triển kinh tế, khâm phục trí thức TQ bảo tồn nền văn hóa của họ. Việc nhẫn nhịn TQ đã diễn ra từ ngàn xưa, khởi đầu từ các triều đại Việt Nam sau mỗi lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc. Nhẫn nhịn để lo cho kế sách lâu dài của đất nước khác với buông xuôi đầu hàng. Nhưng nếu cho rằng hiện có một nỗi sợ TQ thì với quan sát của cá nhân, tôi cho rằng chưa bao giờ có. Giới làm chính sách có cách ứng xử của họ nhưng tôi tin họ biết và quý bức thông điệp rằng đại bộ phận người Việt Nam không sợ TQ.
Người TQ cũng không thiếu những trí thức như Lý Lệnh Hoa, Lưu Á Châu đã nhìn thấy được điều khiếm khuyết của chính nước họ. Không phải tất cả họ đều sẵn sàng cho một cuộc gây hấn với Việt Nam vốn là một bãi lầy quân sự, một bãi mìn chính trị mà kẻ gây hấn phải trả giá cao.
Khi có đầy đủ kiến thức, ý chí và ý thức về quan hệ Việt Nam-TQ không chỉ từ xưa mà cả thời cận đại từ 1954 đến nay, người Việt sẽ không còn ở hai thái cực - một là quá sợ và hai là quá căm giận người TQ mà mất khôn, dẫn đến ứng xử theo tinh thần dân tộc cực đoan.
TQ phản lại “văn hóa hài hòa”
. Dù thế nào chăng nữa, TQ sẽ mãi mãi là một người hàng xóm của chúng ta, bất chấp họ có thân thiện hay không. Nếu là ông, ông sẽ lựa chọn thái độ cá nhân đối với TQ như thế nào?
+ Khi bàn về những giải pháp hàn gắn quan hệ, theo tôi, mỗi bên cần tìm những điều tích cực từ phía bên kia đã làm cho mình để chiêm nghiệm và thực hiện những điều tích cực trong mối quan hệ. Người Việt Nam với bản tính khoan hòa đã chủ động làm nhẹ nỗi đau trận đại bại 1979 của TQ và sự thảm hại của tội ác “chống lưng” diệt chủng Khmer Đỏ của họ.
Ngược dòng thời gian, tôi nhớ tới hình ảnh Tôn Thất Thuyết nghĩ về TQ như một nước bạn có thể giúp Việt Nam phục quốc chống Tây - hình ảnh ông ẩn náu ở TQ và ngày ngày chém đá, nhìn nước mất vào tay kẻ thù làm xúc động thế hệ chúng tôi. Những mối giao hảo của các chí sĩ Việt Nam-TQ trước và sau cách mạng Tân Hợi vẫn còn đó. Người Việt Nam chia sẻ nỗi đau của nhân dân TQ trong vòng lệ thuộc mãi về sau năm 1949.
Thế còn TQ thì sao? Người TQ chua xót với nỗi đau nô lệ của dân tộc mình nhưng tại sao lại để cho giới cầm quyền thản nhiên ức hiếp, sát hại ngư dân nghèo Việt Nam, ngụy tạo chứng cứ độc chiếm biển Đông, tuyên truyền một chiều cho hàng loạt hành động sai quấy, vụng về trong chính sách bên miệng hố chiến tranh, hống hách trên bàn hội nghị, cậy tiền trong các mối quan hệ? Chính họ đã phản lại “văn hóa hài hòa”, “cầu đồng tồn dị” do chính họ đưa ra trước đây không lâu.
“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” - Không nên hành xử với kẻ khác điều mà mình không muốn kẻ khác ứng xử với mình. Họ quên cả lịch sử lẫn lời dạy của ông thầy nước họ hay sao?
Câu chuyện ngàn năm qua cho thấy: Bạn hay thù là do nước lớn TQ quyết định, nước nhỏ thì chỉ muốn yên ổn. Nói cách khác, TQ là một người hàng xóm có khuynh hướng giàu đổi bạn, có ký ức không bền về lịch sử TQ-Việt Nam và từ chối hiểu phẩm giá Việt Nam - vốn hiếu hòa nhưng thừa tinh thần bảo vệ đất nước. Việc thiếu ký ức này không phải lỗi của đại bộ phận nhân dân TQ.
Ứng xử với phẩm giá
Về việc TQ chiếm đảo Trường Sa, ông nghĩ sao?
+TS Trần Vinh Dự có lần viết rằng Việt Nam - với tư cách là một quốc gia tồn tại - vẫn sẽ mãi tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. Xin bổ sung: Việt Nam đã từng mất nước hàng ngàn năm và trong các cuộc chiến vẫn thường tạm rút ra khỏi thủ đô nhưng… những gì của Việt Nam theo sử sách và luật pháp quốc tế thì Việt Nam vẫn sẽ khôi phục lại, vẫn mãi là của Việt Nam. Dĩ nhiên, trong câu chuyện này, không thể chỉ nói suông mà mỗi người Việt Nam phải hành động cụ thể để bảo vệ và khôi phục chủ quyền này như cha ông Việt Nam đã làm hàng ngàn năm nay.
Chúng ta phải ôn hòa và kiên trì sử dụng Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) cũng như những chứng cứ chủ quyền về Trường Sa - Hoàng Sa từ trước đây, tạo nên cách thức chủ đạo để bảo vệ biển Đông và các đảo Việt Nam; thu thập đầy đủ chứng cứ pháp lý để khi cần Việt Nam sẽ có thể đấu tranh pháp lý với TQ trên mặt trận pháp lý quốc tế.
Bên cạnh đó, việc cần làm là ghi lại hình ảnh những hành vi xâm lấn để đề phòng TQ tạo cớ leo thang và chuẩn bị đầy đủ sức mạnh vũ trang để đáp trả khi bị tấn công và thông báo cho dư luận quốc tế.
“Ứng xử tương xứng với phẩm giá, điều mà thủ tướng Nhật nói với dân, là một kinh nghiệm tốt”.
HỮU LONG thực hiện


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NỒI CHÁO RÌU BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC


Nguyễn Quang Thân
 Cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc Tân Hoa Xã đưa tin, cuối tháng giêng nước này sẽ công bố bản đồ mới chính thức, lần đầu tiên ghi tên 130 đảo và đảo nhỏ ở các vùng biển có tranh chấp trên Biển Đông là thuộc chủ quyền Bắc Kinh.
Thế giới, đặc biệt các nước bị xâm phạm vùng biển chủ quyền như Việt Nam, Philippes, Indonesia, Malaysia và Bruney, hết sức bất bình và ra tuyên bố phản đối, đòi TQ dừng ngay hành động sai trái và vô giá trị này. Ví dụ nào cũng khập khiễng nhưng thế giới văn minh chứng kiến Trung Quốc đang nấu cháo rìu! Đó là câu chuyện dân gian Nga nhiều người biết. Một anh lính láu cá mượn nồi rồi thả cái rìu, tài sản duy nhất anh ta có trong tay vào nước lã để nấu cháo. Anh lính không có gì ngoài cái rìu nhưng lại đang đói và mơ một nồi cháo to và ngon. Anh ta kêu nhạt, tiếp tục lấn dần, xin một nắm gạo, một nhúm muối, rồi một môi mỡ, cuối cùng là cái đùi lợn hong khói.
Rõ ràng là Trung Quốc đang âm mưu biến cái không thành có với nhiều hành động củng cố và mở rộng sự hiện diện phi pháp trên vùng chủ quyền của các nước láng giềng, trong đó có vùng biển quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam. Thay vì tiến hành thương lượng và đàm phán hòa bình để giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc văn minh là tuân thủ luật pháp quốc tế, cụ thể Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa (DOC) mà chính TQ đã cùng ký, Trung Quốc luôn đơn phương làm phức tạp tình hình bằng những hành động vô lối nhiều khi đến trắng trợn.
Hành động Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam trước đây đã gây ra một cuộc tranh chấp lâu dài chưa có hồi kết trên Biển Đông. Vì không có hoặc có rất ít cơ sở pháp lý cũng như chứng cứ lịch sử về những vùng biển mà TQ luôn có tham vọng lấn chiếm, họ đã tiến hành những hành động sai trái từ võ mồm công khai khua chiêng gõ trống đến việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, xua tàu cá đến biển chủ quyền của nhiều nước nhằm từng bước đưa đường lưỡi bò phi pháp và cực kỳ lố bịch thành việc đã rồi. Việc cho phát hành tấm bản đồ sắp tới là thêm một bước đi đơn phương trong chiều hướng sai trái đó.
Tấm bản đồ mới này bộc lộ trái tim đen của lòng tham chiếm trọn Biển Đông, không phải “gác tranh chấp” hay “ thương lượng song phương” như họ thường nói mà là thủ tiêu tranh chấp. Với bản đồ này, TQ tự coi như không còn tranh chấp với Indonesia về vùng biển đông bắc quần đảo Natuna, không còn lăn tăn với Philippines về khu khai thác khí gas Malampaya và Camago hay bãi cạn cát ngầm Scarborough, không còn tranh chấp với Việt Nam về vùng biển quanh Hoàng Sa và quanh một số đảo nhỏ thuộc Trường Sa do TQ dùng vũ lực chiếm đóng phi pháp. Tất cả đã bỗng dưng là lãnh hải thuộc chủ quyền của Trung Quốc! Sự ngang ngược đã tới giới hạn. Nếu thế giới, nhất là các nước ASEAN mất cảnh giác, không lên tiếng phản đối và có hành động kịp thời phủ nhận thì tấm bản đố không là phương tiện để “củng cố nhận thức của nhân dân Trung Quốc về vấn đề chủ quyền” mà sẽ được lợi dụng cho ý đồ chiếm trọn Biển Đông của nước lớn TQ.
Truyện dân gian Nga không kể anh lính được ăn “cháo rìu” hay bị đuổi ra đường. Nhưng các nước đang bị xâm phạm chủ quyền thì đâu có dễ dàng để Trung Quốc, một mình cả mâm cỗ với nồi cháo ngon Biển Đông với vốn liếng chỉ là cái rìu là tấm bản đồ tự vẽ trắng trợn và vô lối kia.
Vẽ…bản đồ kiểu gì là quyền của mỗi nước. Nhưng khoanh biển quốc tế và vùng biển chủ quyền của láng giềng vào bản đồ lãnh thổ của mình là một hành động thực sự phi pháp. Nó chẳng những lố bịch, sẽ không ai thừa nhận mà còn lộ rõ một nước Trung Hoa đang lớn mạnh nhưng không hứa hẹn đưa lại hòa bình và sự yên ổn cho thế giới. Cháo rìu, hãy đợi đấy!
 PNTPHCM 18/01/2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

DU LỊCH TỰ SÁT!




Nguyễn Quang Thân

Những ngày nghỉ dài đã qua. Cán bộ công nhân viên đi du lịch hay về quê chơi thì nông dân vẫn phải ra đồng. Thời vụ là việc của trời đất cây cỏ không liên quan đến ngày này, ngày nọ, có việc réo thì phải làm. Nhưng có một số nơi ngày nghỉ càng dài thì nông dân càng bận. Vì nơi đó có du lịch. Khách các nơi đổ về xem đình chùa miếu mạo, xin xăm, cầu phúc cầu tài. Có khi chỉ đơn giản đưa cô chiêu cậu ấm đi chơi cho nó biết ngoài quạt điện, máy lạnh còn có gió trời hay nước suối mát rượi, cũng cho nó hay, con trâu khác con bò thế nào, cái sừng của nó trên hay dưới cái tai. Du lịch lợi trăm bề, cho người đi chơi và cả người sở tại.
Tự dưng giữa hai thứ người ấy nẩy sinh vấn đề. Khách du lịch bỏ tiền ngàn bạc triệu quẳng vào du lịch cũng xót, họ chỉ tiêu cho những thứ mình thích, không thể mà cũng không muốn xài phí. Vì bản thân du lịch cũng đã có nhiều cái xài phí với người bình thường rồi. Ví như ở nhà quanh năm không mất một đồng xu tiền nhà, tiền giường chiếu, nay phải bỏ ra hàng triệu để ngả lưng chợp mắt một đêm, ai mà chẳng tiếc đứt ruột. Còn công ty lữ hành và dân sở tại thì muốn chớp cơ hội để bán hàng, cho thuê, dịch vụ này nọ, tiền càng nhiều càng tốt vì chẳng mấy khi!
Thế là người thì muốn chi tiêu ít nhất, kẻ lại muốn thu vào túi nhiều nhất. Cả hai ngấm ngầm, mặc cả, đấu tranh với nhau để ai cũng đạt được mục đích của mình. Người này luôn dòm vào túi người kia, người kia thì giữ túi cho chặt, có vẻ như không ai chịu ai.
Chính vì lòng tham của chính quyền ( đấu thầu thật đắt) của người bán, người tổ chức (muốn nhất bản vạn lợi) nên mới sinh nạn chặt chém. Cái gì cũng đắt gấp mấy chục lần thì ai mà chịu được! Hở cái là đòi tiền, mất tiền. Nông dân Sapa là đồng bào dân tộc thiểu số mấy năm trước còn vui vẻ nói tiếng Anh như gió với khách, vài năm lại đây đã biết đòi “bản quyền” chụp ảnh. “Đưa năm ngàn cho chụp!”. Điều đó cũng công bằng thôi, nên ủng hộ để nông dân kiếm chút cháo. Thế nhưng trăm ngàn một quả dừa ở Sầm Sơn, 200 ngàn một cái ghề ngồi hóng mát một lúc ở Vũng Tàu, triệu rưỡi một cuốc xe ôm 7 cây số ở Hà Nội là quá đáng. Khách du lịch không chỉ xót tiền mà còn thấy bị xúc phạm vì trông mặt mũi sáng sủa thế này mà bị coi là ! Người châu Âu thì ngạc nhiên, với kinh nghiệm kinh doanh hàng trăm năm nay, họ không hiểu sao người làm du lịch Việt Nam mình đang muốn tự sát hàng loạt.
Người ta thường nói du lịch cần 4 chứ S tiếng Anh: sun ( Mặt trời), sand ( bãi cát), sea (biển) và Sex ( tình dục). Có nước sống bằng du lịch tình dục, có nước không vì trái văn hóa như nước ta. Người ta thay chữ Sex bằng Soul ( tâm hồn). Hồn chứa đựng sự tử tế, nhân bản, văn minh, sòng phẳng và công bằng, đói cho sạch rách cho thơm. Đã không có Sex mà lại mất  hồn nữa thì khách đến làm chi? Có lỡ đến thì cũng không muốn trở lại. Du lịch đương nhiên teo dần, có thể nguy hiểm tính mệnh sau vài năm vì bỏ vốn ra mà khách không đến.
Thứ du lịch chặt chém ấy gọi là du lịch tuyệt tự, du lịch tự sát!
(NTNN 04/05/13)

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Cận cảnh các bản vẽ kỳ lạ của Leonardo da Vinci



Nhiều ý tưởng “điên rồ” và đi trước thời đại đã được thiên tài người Italia Leonardo da Vinci để lại qua các bản thảo.
Leonardo di ser Piero da Vinci (1451-1519) được coi là một thiên tài toàn năng của Italia. Ông là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và triết học tự nhiên, .
Ông là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình như sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, dù nhảy, sự sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép, cùng nhiều sáng chế khác. Một vài thiết kế của ông đã được thực hiện và khả thi trong lúc ông còn sống. Ông còn đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng, quang học và nghiên cứu về thủy lực.
Những tác phẩm lưu lại của ông chỉ còn một số bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ, bên trong có các ký hoạ, minh hoạ về khoa học và bút ký.
Máy bay hoạt động bằng sức người.

Bản thiết kế máy bay trực thăng đầu tiên của nhân loại.
Một mẫu máy bay kỳ lạ khác.
Nỏ khổng lồ.
Mẫu thiết kế xe tăng đầu tiên trên thế giới của Leonardo da Vinci.
"Ruột gan" của chiếc xe tăng.
Chiến xa ngựa kéo trang bị những lưỡi liềm để "gặt" kẻ thù trên chiến trận.
Một mẫu chiến xa dùng để đánh thành.
Công xưởng sản xuất đại bác khổng lồ.
Súng máy nhiều nòng - một ý tưởng vượt thời đại nhiều thế kỷ.
Quang cảnh nhìn từ mắt một con chim đang bay trên bầu trời.
Các bộ phận của một con robot.
Cấu tạo của một chiếc máy bay.
Một loại thuyền hoạt động bằng máy.
Bản thiết kế của một bộ phận truyền động vô cấp.
Tuốc-bin thủy lực.
Một mẫu tời kéo có 3 cấp độ hoạt động.
Nghiên cứu về sự vận động của dòng nước.
Tìm hiểu về phôi người.
Bản vẽ giải phẫu học của phần cổ.

Nguồn: Kienthuc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quyền năng của Lương Thiện


InEmail
Tác giả: Minghui.ca   

Phía Bắc của Ấn-độ có một thôn trang, gọi là Cơ-y-ma. Đất đai ở đấy khô cằn, đời sống khốn cùng, đ đến việc ăn no cũng trở thành vấn đề. Người dân cũng muốn thay đổi hiện trạng, khổ nỗi không tìm ra được cách nào.
Cách thôn không xa, có một con đường, thuộc dạng con đường đơn giản, tình trạng con đường không được tốt, xe cộ đi ngang qua đó, thường hay xẩy ra tai nạn. Có một lần, một xe tải chở đồ hộp bị lật xuống cống, cả xe đồ hộp rơi rãi dưới đất. Người tài xế vì bị thương, nên đón nhờ một xe chạy ngang qua để đi đến nhà thương, không ai coi chừng số hàng đó. Người dân trong thôn thấy thế, liền trộm số đồ hộp đó về nhà, liên tục trong mấy ngày, nhà nhà đều có đồ hộp để ăn. Việc này gợi ý cho người dân trong thôn, tục ngữ có nói rằng, ở núi thì kiếm ăn từ núi, ở bên sông thì nhờ sông mà kiếm ăn, họ cũng hoàn toàn có thể nhờ con đường này mà kiếm ăn. Vì thế, họ thường đi lang thang trên con đường đó, hy vọng lại có xe chở thức ăn bị tai nạn trên con đường đó, để họ thừa cơ mà kiếm chác.
Nhưng dù sao thì tai nạn cũng không xẩy ra thường xuyên, nhìn thấy những xe chở thực phẩm chạy đến rồi lại chạy đi, mà họ thì không thu hoạch được gì cả, khiến cho họ rất không cam tâm. Vì thế, họ nghĩ ra một cách, thừa lúc ban đêm trên con đường không có ai cả, họ liền mang dụng cụ ra, đào bới trên con đường ấy. Vì làm như vậy, tỷ lệ tai nạn xe cộ được tăng lên. Cho dù xe cộ không bị tai nạn, nhưng vì mặt đường quá xấu, tốc độ của tất cả xe cộ chạy qua đó, đều phải giảm xuống, người dân trong thôn có thể chạy theo sau xe, thừa lúc tài xế không chú ý, mà trộm đi một số đồ mà họ cần từ trong xe.
Việc này tiếp tục diễn biến, ban đầu, họ chỉ ăn cắp một ít thực phẩm, sau đó, họ lấy cả các loại hàng hóa khác, lấy được rồi thì mang ra chợ bán để lấy tiền. Cứ thế mà tiếp tục phát triển, họ không chỉ là ăn cắp, mà lại ăn cướp công khai. Trong một thời gian, con đường đơn giản bên thôn, đã trở thành đoạn đường kém an toàn nhất, cục cảnh sát mỗi tháng đều nhận được vài vụ báo án, liên quan đến hàng hóa trên xe bị cước bốc. Cục cảnh sát phái cảnh sát đi phá án, họ đã bắt được 2 người dân trong thôn đang cướp hàng hóa ở hiện trường, và buộc tội 2 người dân trong thôn ấy.
Nhưng làm như vậy, cũng không thể uy hiếp những người khác trong thôn, trái lại, lại dạy cho người dân trong thôn, là khi gây án thì phải kín đáo và lanh lợi hơn, việc gây án của họ bắt đầu có tổ chức và có thứ tự hơn, có người chuyên môn lo việc canh phòng, hàng hóa cướp được đem giấu ở trong nhà, hay là thay đổi bao bì của hàng hóa, khiến cho cảnh sát đến điều tra, tìm không ra được vật chúng. Chính quyền nơi đó cũng đã nghĩ đến rất nhiều biện pháp, mong rằng người dân trong thôn dẹp bỏ cái hành vi cướp bốc hàng hóa phi pháp và không đạo đức ấy. Tiếc rằng, người dân trong thôn đã được lợi qua việc cướp bốc hàng hóa, họ đã trở thành thói quen trong cách sống không làm mà hưởng này. Do đó, việc cướp bốc hàng hóa đã xẩy ra nhiều lần ở bên thôn ấy.
Mùa đông năm ấy, vì chạy ngang qua con đường gần thôn Cơ-y-ma, thường hay bị đánh cắp hàng hóa, nên rất nhiều tài xế xe chở hàng, đã cố ý chạy vòng để tránh đi qua con đường ấy; cũng vì vậy, đã mấy ngày rồi mà người dân trong thôn không có thu hoạch gì. Có một hôm, cuối cùng cũng có một chiếc xe chở hàng chạy ngang qua đó, trên xe chở đầy những bao bột phốt-phát, đó là một loại bột dùng trong công nghiệp. Người dân trong thôn đều không có mấy học thức, nên họ cho rằng, bột phốt-phát là lương thực, có thể làm được đủ loại thức ăn ngon. Cho nên, họ đã hùa lại mà cướp đi hai mươi mấy bao bột phốt-phát.
Tài xế là một chàng trai trẻ, thấy có người cướp hàng của nó, liền ngừng xe lại, chạy đuổi theo sau lưng những người cướp hàng của nó và vào trong thôn. Vì làm như vậy, trái lại đã tạo cơ hội cho những người khác trong thôn, họ thông thả mà khiên hết những bao bột còn lại ở trên xe. Chàng tài xế trẻ đuổi vào trong thôn, khẩn cầu người dân trong thôn trả lại số hàng cho cậu ta, nhưng thôn dân đâu có dễ dàng mà trả lại những hàng hóa đã lọt vào trong tay, họ đều không thừa nhận là đã cướp lấy hàng của cậu ta, và đã triển khai các biện pháp đối phó. Chàng trai khẩn khoản đủ điều cũng đều vô dụng, vì thế cậu ta chỉ còn có nước là nói với người trong thôn, bột phốt-phát không phải là loại bột mì thông thường dùng để ăn, mà là loại bột dùng cho công nghiệp, có độc. Ăn vào sẽ chết người, họ có lấy đi thì cũng không thể dùng được. Lời chàng trai nói đều là sự thật, nhưng người dân trong thôn đều không tin cậu ta, bởi vì dựa theo màu sắc cũng như độ mịn của bột, không có sự khác biệt gì đối với bột mì dùng để ăn.
Chàng trai thấy người dân trong thôn không tin cậu ta, sợ quá không biết phải làm như thế nào. Vốn là cậu ta muốn đến trạm cảnh sát báo án, nhưng mà, cậu ta lại lo rằng, nếu cậu ta mà rời khỏi nơi đó, mà có người thật sự đã ăn loại bột đó, thì sẽ xẩy ra chuyện chết người. Tuy rằng có xẩy ra chuyện chết người, thì cậu ta cũng không bị trách nhiệm, nhưng mà cậu ta không thể đứng nhìn những người đó đi vào chỗ chết! Nên cậu ta chỉ còn một cách là đến từng nhà một mà nói rõ tình hình, thậm chí còn phải quì lạy những người trong thôn, yêu cầu với họ rằng: “Dù số bột đó, quí vị không trả lại cho tôi cũng không sao, cùng lắm là tôi chịu sự tổn thất, nhưng mà tôi khẩn khoản với quí vị rằng, tuyệt đối không nên ăn loại bột đó, ăn vào sẽ chết người đấy.”
Sự chấp trước của chàng trai, đã khiến cho người dân trong thôn, từ chỗ không tin, trở thành nữa tin nữa ngờ, có người liền dùng loại bột ấy cho gà ăn, để kiểm nghiệm lời nói của chàng trai là thật hay gỉa, kết quả, con gà ăn loại bột đó, chỉ sau một lát đã chết ngay. Vì thế, người dân trong thôn đều trở nên sợ hãi, sau đó lại cảm động thâm sâu. Họ đã cướp hàng của chàng trai, thì chàng trai đáng lý là phải oán hận họ, dù họ có ăn loại bột đó mà bị chết đi, thì họ cũng đáng tội chết. Nhưng mà chàng trai vì muốn cứu lấy mạng sống của họ, đã không ngại mà quì xuống khẩn khoản họ đừng nên ăn loại bột đó. Lòng yêu người như thế, lương thiện như thế, tấm lòng như thế, khiến họ cảm thấy xấu hổ vô cùng, cảm động vô cùng.
Người dân trong thôn tự động mang hết những bao bột công nghiệp giao trả lại chàng trai trẻ, đưa hết lên xe. Từ đó về sau, thôn dân Cơ-y-ma không còn cướp giật hàng hóa nữa, cho dù có người có ý nghĩ muốn cướp hàng của xe qua lại ở nơi đó, lập tức có người đứng ra và nói rằng: “Hãy nhớ tới con người tốt kia, chúng ta làm tổn thương cậu ta, mà cậu ta lại cứu hết tất cả sinh mạng của thôn chúng ta. Hãy nghĩ đến cậu ta, chúng ta còn mặt mũi nào mà còn tiếp tục làm những việc gây hại đến người khác nữa sao? Không lẽ chúng ta thật sự là ma quỉ rồi hay sao?”
Con đường gần thôn Cơ-y-ma đã trở nên thái bình. Sau khi được sự quản lý của cảnh sát, cùng sự hướng dẫn của chính phủ, cũng không thể đạt được kết quả gì, sự lương thiện của một chàng tài xế trẻ lại có thể thay đổi tất cả. Tập quán của con người là có thể thay đổi được, chỉ xem mình thay đổi nó như thế nào; Thiện niệm của con người là có thể đánh thức được, chỉ xem mình đánh thức nó bằng cách nào. Trong lòng của tất cả mọi người, thật ra đều có một giây đàn lương thiện, chì có lòng yêu thương mới có thể gẩy được nó. Muốn người khác trở nên lương thiện, trước tiên mình phải tỏ lòng yêu thương, dù cho người đó có ác đến đâu đi nữa, chỉ cần dùng lòng yêu thương của bạn, đều có thể đánh thức được sự lương thiện của người đó, khiến cho người đó bỏ hết ác niệm. ___Chúng tôi tin rằng, chỉ cần mọi người đều có một tấm lòng lương thiện, đều bỏ ra một chút lòng yêu thương, thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp trở lại!
Quyền lực của thiện là lớn lao. Trung quốc đang được sự giáo dục và tẩy nhuộm của nền văn hóa qua việc “giả, ác, đấu” và “Đặc quyền áp đảo mọi thứ”, nền đạo đức đã bị tuột dốc, tham nhũng tràn lan, mất hết nhân tính, coi thường nhân quyền, nẩy sinh ra các loại vấn đề xã hội, nhưng mà chúng tôi tin rằng, bản tính lương thiện của người dân Trung quốc vẫn còn đó, áng mây đen của nền văn hóa không thể ngăn cản được sự khao khát và sự hướng tới nhân tính lương thiện của con người. “Chân, thiện, nhẫn”  cái Pháp lý này của vũ trụ, cùng với sự truy cầu lương thiện của dung hòa được với bản tính lương thiện của con người, và biết rõ về chân tướng bức hại, đánh thức được thiện niệm của con người, cùng nhau tiến bước đến vị lai tốt đẹp.

Chú thích:
Dịch từ bản tiếng Hoa: http://minghui.ca/mh/articles/2007/6/15/156923.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang