Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Củi lửa:

LỜI ĐỌC TRƯỚC MỘ

BÙI GIÁNG, KẺ TẬN HIẾN

bùi giáng


Kính anh, việc anh dứt áo ra đi hôm nay, theo lẽ biến dịch của vạn hữu, là như nhiên, và đã được chính anh cũng như tất cả chúng tôi ở đây, cùng những ai yêu quí thơ ca Việt Nam trên cùng khắp mọi miền thế giới, đã chuẩn bị trước. Ấy vậy mà, tin anh qua đời, chúng tôi vẫn cứ bị choáng váng, lòng đầy nhớ tiếc và đau đớn tột cùng.
Anh Bùi Giáng

Ngợi Ca và tuyên xưng anh, dù với lời lẽ lộng lẫy hay hàm súc đến đâu chăng nữa, trong hạn hữu một bài viết và ngay cả những số báo đặc biệt về anh, có lẽ cũng khó lòng với tới chốn cao vợi và quảng bá mà anh đã dày công hàm dưỡng và đắm đuối vun đắp nên. Có phải vì lẽ đó đã khiến cho tôi luôn ngần ngại để nói hay để viết về anh [?] Cho dù tôi vẫn thầm hứa trước lòng kỳ vọng anh dành cho, dù vẫn muốn ôm được anh riêng cho mình. Tôi cứ phải thức tỉnh rằng, vốn sống, vốn chữ nghĩa và cảm thức của mình vẫn chưa thể hứng chờ nổi chiếc bóng lồng lộng, đa âm sắc và linh hoạt của anh.. Có phải, càng viết nhiều thì càng bầy lộ sự thiếu sót trầm trọng của mình trước thiên tài bát ngát nơi anh?

Anh Bùi Giáng,

Mấy lời biện bạch vụng về và hàm hồ như vậy, chẳng biết anh có tạm bằng lòng mà lượng thứ cho tôi?

Xin hãy để cho lòng nhân thế dịu lại sau cái mất mát lớn lao này, nén cơn xúc động, bình tâm để được gần gũi anh một cách chân thật và sâu sắc hơn, từ tốn trước một gia tài đồ sộ của thông tuệ và tài hoa ngất trời điên đảo mãi tỏa sáng.

Ngoài những tư tưởng và chủ nghĩa mà anh để lại, đã làm giàu có đáng kể cho kho tàng tiếng Việt, anh còn thật sự ghi đậm lên tôi một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ, rằng anh là một sinh thể luôn bị lay động và bị cấu xé bởi ánh sáng và lửa tịch mịch, điêu linh với những ám ảnh về lẽ sinh tử không cùng, dấn mình một cách hiên ngang và khốc liệt vào cõi thơ ca. Tận Hiến hết cả đời mình cho duy nhất - thơ ca - Từ buổi sơ ngộ đầu đời đến những giây phút cuối cùng về nơi chốn lâm chung - Tận hiến mà không hề nhận lại một sự bù đắp đối đãi nào của nhân thế, trút gửi hết thảy xương máu và hồn phách, lưu lại ở đời như vậy tạm một hình cốt mong manh bi thiết và mộng mị. Với riêng tôi, hình ảnh đắm chìm của tận hiến hung hiểm đó chính là một tượng đài vĩ đại đến khủng khiếp của thiên tài thơ Bùi Giáng.

Nói đến sự Tận Hiến, tôi chợt nhớ ai đó đã nói, đại khái: "Nếu người không chết trong cuộc tại thế, thì người sẽ mất tích, sau khi qua đời." Và hôm nay, chúng tôi ngậm ngùi kính cẩn tiễn đưa anh - Kẻ Tận Hiến. Kẻ, đã chết trong cuộc tại thế này sang bên kia thế giới, cũng có nghĩa rằng, xin được thay cho người mai hậu, đón chào đấng tài hoa của thế kỷ trước ngàn sau bát ngát...

Trong khung cảnh thiêng liêng và đầy cảm động hôm nay, tôi không dám rậm lời, chỉ xin nói lên một vài cảm nghĩ tận đáy lòng liêm kính của mình để bái biệt anh, xin như góp một chiếc đinh nhỏ cùng nhau treo bức chân dung kỳ vĩ của anh lên khoảng tường lớn trong căn nhà Thơ ca Việt Nam.

Trong ngàn ngàn châu báu anh để  lại, tôi có nhớ được một bài thơ anh viết đã từ lâu, tôi quên mất tựa đề, như một lời tạ từ với trần gian cố quận.

Anh Bùi Giáng.

Không có gì hơn bằng chính lời anh, xin được thay anh, tôi đọc bài thơ ấy để anh được nỏ lời chia biệt với cõi người ta:

"Rồi Mai đi về xứ nào chẳng biếtĐỗ Quang ơi và có lẽ Quyên ơiĐi lìa xa xứ sở của mặt trờiThì chuyện cũ cũng như từng biếtTôi nào biết cội nguồn tôi ly biệtDấu tiên nga và ngấn tích tiên saBờ dạt bèo hay bến lạnh trôi hoaNgày ngóng mộng hay đêm ngờ máu chảyXuân thơ dại hay đông tàn thu gãyChút tình xưa Đông Á mất đâu rồiRồi mai đi về xứ nào chẳng biếtNhững người em hãy ở lại bên đờiNô hay đùa xin cứ mỉm hai môi"...
Xin vĩnh biệt anh Bùi Giáng yêu kính. Cầu cho hồn anh được siêu sinh tịnh độ, nương theo mây trắng mà về lại với quê nhà, tiếp tục rong ruổi vui chơi trên cõi  trời đâu suất

HUY TƯỞNG



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Trích TT của Ngổ:


14.
Mẹ tôi là một người mẹ cứng cỏi. Có lẽ sau này tôi thừa hưởng được tính cách ấy từ trong dòng máu của bà. Một tính cách mà nhờ nó tôi đi hết, vượt qua được những khúc quanh của số phận mình.
Lúc tôi về đến nhà, thấy mẹ tôi đang ngồi lặng yên như hóa đá bên bếp lửa đã tắt tự bao giờ.
Tôi đứng ngoài sân mà mẹ không biết. Không còn con chó nào để sủa, để mừng quấn quýt chào đón tôi như mọi lần. Người ta đã đập chết chúng và mang đi từ mấy hôm trước khi tôi về.
       Tôi cất tiếng gọi, mẹ mới quay lại, nhìn tôi không nói câu nào. Mặt mẹ đen xạm lại, đôi mắt trũng sâu, một mớ tóc bạc rối bù lộ dưới vành khăn mỏ quạ mẹ tôi đội trên đầu. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nét mặt mẹ như vậy bao giờ!
Linh tính báo cho tôi biết đã xảy ra việc không hay, chẳng lành với gia đình bấy lâu xa cách của mình.
Tôi chưa hết thảng thốt thì mẹ từ trong bếp ra, ôm lấy kéo đầu tôi vào ngực mình. Không thấy mẹ khóc, chỉ những giọt nước mắt nóng hổi của mẹ lăn xuống cổ, xuống vai áo tôi. Mẹ nói như nói thầm:
- Con đã về.. Nhà mình gặp tai họa rồi!
- Chuyện gì hả mẹ?
Bàn tay xương xẩu của mẹ chỉ lên phía nhà trên, chỗ hai cánh cửa có dán hai tờ giấy màu đen xỉn dán chéo nhau. Tôi vẫn chưa rõ chuyện gì? Mẹ tôi lại nói:
- Nhà mình bị quy thành phần, bố con đang bị nhốt ngoài đình, còn nhà cửa bị niêm phong, con vào đây, không lên chỗ đấy được đâu.
Mẹ tôi nói đến đấy, tai tôi đã ù đi. Tôi thực sự choáng váng, không nghe được những câu sau mẹ nói gì? Đất dưới chân tôi như chao đảo. Tôi nhìn thấy xung quanh như nhòa đi. Có lẽ tôi đã khóc.
Tôi không ngờ mẹ tôi vẫn đủ bình tĩnh, bà bảo:
- Con về được tới đây mẹ đỡ lo rồi. Mọi sự rồi cũng sẽ qua thôi con ạ, có cơn mưa cơn bão nào kéo dài được mãi đâu!
Mẹ nói vậy, nhưng làm sao tôi an tâm được vào lúc này?
        Tôi hỏi mẹ anh tôi đã về chưa? Mẹ bảo có lẽ đơn vị người ta không báo cho anh biết.
Trong ba chị em, tôi là người duy nhất được hay tin này. Anh tôi đang trong quân đội, có thể người ta sợ ảnh hưởng công tác của đơn vị, nên không ai báo tin này.
Chị Nhiên tôi chồng đang có cương vị đặc biệt, cũng không ngoài tình trạng ấy. Còn tôi người ta báo vì lý do gì?
Tôi chưa kịp hỏi, mẹ tôi đã nói:
- Thôi, cất túi nải vào trong kia. Hai mẹ con mang cơm ra cho bố con rồi về ăn sau. Nếu con mệt thì ở nhà cũng được, mẹ đi một tí rồi về.
- Không, con đi cùng mẹ.
Tự nhiên tôi không còn thấy đôi chân mỏi nhừ như lúc ngồi thuyền sang sông. Lạ một nỗi cái đói cồn cào khi nãy tan biến. Chỉ còn nỗi thắc thỏm làm tôi quên hết mọi cảm giác lúc mới bước chân về đến nhà.
Mẹ tôi sơi cơm ra cái liễn bằng xứ có nắp đậy, gói chút muối vừng vào mảnh lá chuối khô đặt lên trên. Còn có thêm một chiếc chai đựng nước uống và cái khăn mặt mang cho bố tôi.
Tôi hỏi chỉ có bây nhiêu thôi ư? Mẹ bảo ừ. Có mang thêm gì người ta cũng không cho nhận vì đang quá trình hỏi cung.
Tôi hỏi mẹ bố mắc tội gì mà bị người ta hỏi? Mẹ tôi nói đến mẹ cũng không biết tội gì. Thời buổi này cái tóc cái tội, con đừng hỏi nhiều, không có lợi cho bản thân.

Hai mẹ con đi theo lối nhỏ vòng phía sau đình. Hình như mẹ cố ý tránh con đường rộng phía trước cửa. Ở đấy lố nhố thấy mấy người cầm súng đứng gác. Đàn ông, đàn bà người nào người nấy ngang lưng đều thắt dây lưng to bản mang bao đạn xề xệ một bên, nét mặt ai cũng đanh lại vì nghiêm nghị thái quá.
Tôi nhận ra Cu tèo em anh cu tý. Nó hơn tôi hai tuổi nhưng đã có vẻ người lớn, trán thót, má bạnh ra như hổ mang bành, cặp lông mày xếch, nom rất dữ tướng. Nó làm như không biết mẹ tôi là ai, quát:
- Ê mụ kia, đến đây có việc gì?
Không hiểu sao lúc đấy mẹ tôi có vẻ luống cuống ( cũng có thể mẹ cố ý làm ra vẻ sợ sệt như thế để lấy lòng nó? ):
- Xin phép ông, tôi mang tý cơm lên cho chồng tôi ạ!
Nó quát:
- Chưa đến giờ, cơm nước cái gì, mang về đi!
Mẹ tôi khẩn khoản:
- Ông ấy ngày hôm qua sốt cao, chưa ăn tý gì vào bụng. Các ông thể tình thương cho tôi vào một tý rồi tôi ra ngay, không dám ở lâu..
Mấy người dân quân đưa mắt nhìn nhau, như thể hội ý.
Một chị có tuổi, chân tay dóng một, ngực lép có vẻ chần chừ, lúc sau gật đầu:
- Thôi mụ ấy đã mang ra, trước sau cũng một lần, cho nó vào đi. Nhưng đồng chí nào kiểm tra xem mang những gì vào? Có giấy tờ gì hay dụng cụ để trốn không?
Một tay mặt gãy hất hàm nói trống không bảo mẹ tôi:
- Mang lại đây xem nào?
Hắn bẻ cái que bờ rào gần đấy, bới liễn cơm, ngó chai nước, nói với người kia:
- Báo cáo chị, không có gì ạ!
Người đó nói:
- Chỉ được mười lăm phút thôi đấy. Nếu vi phạm ngày mai cắt không cho gặp, mụ rõ chưa?
Mẹ tôi từ tốn:
- Thưa rõ ạ!
Mẹ tôi đậy điệm lại, cui cúi đi vào. Tôi theo mẹ tôi được mấy bước có tiếng quát, gọi giật lại:
- Này thằng kia, ai cho mày vào đấy mà vào?!
Tôi cố lấy vẻ bình tĩnh:
- Dạ em đây, anh Tèo không nhận ra em sao?
Cu tèo trừng mắt:
- Ai anh em với nhà mày? Từ nay cấm chỉ không được gọi như vậy nghe chưa? Thành phần phức tạp, anh em với chúng mày liên quan để chết ông à?
Tôi sững người, choáng váng vì câu nói của anh ta. Nhà anh ta có bảy anh chị em thì có đến năm người sinh ra và lớn lên trong nhà tôi. Bố mẹ tôi cho ăn, cho ở từng ấy năm trời. Không ai ngờ sự thể bây giờ lại xảy ra như thế này. Có cái gì uất ức, tủi cực dồn lên cổ khiến tôi nghẹn thở. Chân tay túa mồ hôi như bị cảm đột ngột.
Tôi nằn nì một lúc, cũng không có kết quả gì. Chợt từ phía trong đình có tiếng gọi của một người mặc áo sơ mi màu xanh sĩ lâm vọng ra:
- Đồng chí nào ở ngoài đó đưa tên Tính vào gặp tôi!
Cu Tèo bỗng trở nên phấn chấn:
- Báo cáo thượng cấp, tôi nghe rõ!
Quay sang tôi, anh ta bảo:
- Đi theo tao, thượng cấp muốn gặp mày!
Tôi chưa biết thượng cấp là ai? Gọi tôi về việc gì?
Còn đang ngơ ngác, cu Tèo đẩy mạnh vào vai làm tôi suýt ngã:
- Đi!


( Còn nữa..)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phia Tay Nam ?


Vấn đề người Việt ở Campuchia lại nóng

Quốc Việt, thông tín viên RFA  2013-06-20 
 
Một cửa hàng bán sách báo của người Việt tại thủ đô Phnom Penh, ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
RFA PHOTO/Quốc Việt 

Vấn đề người Việt nhập cư sang sống ở Campuchia bất hợp pháp lâu nay là đề tài nhạy cảm đối với chính phủ Phnom Penh. Cứ tới mùa bầu cử, ở xứ này lại dấy lên làn sóng phản đối sự có mặt của người Việt tại đây. Chính phủ Campuchia có phản ứng ra sao?

Kỳ thị người Việt Nam

Những đề tài chủ quyền đảo Phú Quốc, vùng đất Kampuchia Krom (các tỉnh Nam bộ của Việt Nam) và người Việt sống bất hợp pháp ở Campuchia lại nóng lên mỗi dịp bầu cử tại Campuchia.
Trong nhiều ngày qua, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã tuyên bố sẽ không đòi lại chủ quyền đối với đảo Phú Quốc và vùng đất Kampuchia Krom vì quốc tế đã công nhận đường biên giới của Campuchia – Việt Nam.
Ngày 19/6, Thủ tướng Hun Sen lại phản bác những ý kiến cho rằng có đến 4,5 triệu người Việt đang sống hợp pháp và bất hợp pháp tại xứ này. Ông Hun Sen lên tiếng như vừa nói tại lễ khánh thành một trường học ở tỉnh Kandal.


Trước đó, các phe đối lập, Nhà giám sát Campuchia, cùng giới trí thức khẳng định đã có hàng triệu người Việt ngược sông Mekong bằng ghe xuồng lên Campuchia làm nghề đánh bắt cá, mua bán vỉa hè, trồng trọt, và làm gái mại dâm.
Việt Kiều ở Campuchia không tới 10 ngàn người mà phe đối lập lại nói có tới 4,5 triệu người. Họ nói làng nào cũng có người Việt.
-TT Hun Sen
Một phần các công ty Việt Nam đã gia tăng đầu tư vào xứ này cũng kéo theo số lượng nhân lực trẻ người Việt sang Campuchia đang ngày một tăng.
Thậm chí, bộ phận người Việt sống bất hợp pháp lẫn hợp pháp đã sớm hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia. Do đó, phe đối lập và giới trí thức lo ngại về rủi ro của tương lai đất nước.
Tuy nhiên, Thủ tướng Hun Sen cho rằng những vấn đề nêu lên có liên quan Việt Nam chỉ là các luận điệu của phe đối lập. Ngoài ra còn cảnh báo sẽ tước quyền chính trị của các lãnh đạo phe đối lập nếu trong chiến dịch tranh cử họ tiếp tục nói chính phủ để người Việt nhập cư tự do vào Campuchia.
Ông Hun Sen phát biểu:
“Việt Kiều ở Campuchia không tới 10 ngàn người mà phe đối lập lại nói có tới 4,5 triệu người. Họ nói làng nào cũng có người Việt. Cứ 10 người thì có 9 người là người Việt, nói tiếng Khmer không rõ. Các tài liệu chỉ trích, kỳ thị người Việt Nam, chính phủ sẽ chuyển cho các đại sứ quán và các tổ chức phi chính phủ.”
P-6-250.jpg
Người Việt bán hàng rong tại thủ đô Phnom Penh, ảnh chụp ngày 15/4/2013. RFA PHOTO/Quốc Việt.
Năm ngoái, Bộ nội vụ Campuchia và Hội người Campuchia gốc Việt khẳng định có khoảng 300.000 người Việt sinh sống và làm ăn tại đây. Trong số này, phần lớn họ có giấy tờ hợp pháp nhưng cũng có rất nhiều người là những người nhập cư lậu, không thẻ căn cước, hay giấy tờ hợp pháp.
Con số vừa nói cũng không được đảng đối lập và nhà giám sát Campuchia đồng ý. Theo họ, thì người Việt nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp hàng triệu người và có 24 tỉnh thành có chi nhánh của Hội người Campuchia gốc Việt.
Ông Châu Văn Chi, Chủ tịch Hội người Campuchia gốc Việt nhận định:
“Đối với bà con người Việt đang sinh sống hợp pháp tại Campuchia, đa số họ có nơi sanh đẻ tại Campuchia lâu đời. Tính tới thời điểm này, bà con đó đều được chính quyền địa phương thừa nhận. Nếu mà nói không hợp pháp thì làm sao bà con sinh sống ở đây được. 
Trong việc cấp giấy tờ, thì còn một số họ chưa được cấp quốc tịch. Nhưng vẫn có giấy xác nhận để bà con sống hợp pháp.”
Dân biểu Son Chhay, từ đảng chính trị đối lập Campuchia cho rằng đảng của ông không được đưa ra con số nói trên nhưng đảng đối lập được biết chính phủ của ông Hun Sen đang có chính sách ủng hộ, tạo điều kiện làm ăn cho người Việt sống tại đây.
Người Khmer có ác cảm với người Việt. Có lẽ họ tôn trọng người Trung Quốc hơn. Mình thấy rõ, thật sự bị phân biệt.
-Anh Hồ Minh Phi
Ông Son Chhay:
“Chính phủ đang ủng hộ cho người Việt sang sống tại đây. Phe đối lập không có con số chính thức vì trong những Tổng điều tra dân số vừa qua, chính phủ không công bố. Những gì đảng đối lập từng khẳng định là đảm bảo thi hành luật xuất nhập cảnh. Không để người nước ngoài nhập cảnh bất hợp pháp, đảm bảo chủ quyền.”

Khác biệt tôn giáo?

Lý do mà người Campuchia không thích người Việt là vì họ có khác biệt Văn hóa truyền thống. Về tôn tôn giáo, người Việt theo Phật giáo Đại thừa, còn người Campuchia theo Phật giáo Tiểu thừa. Dân bản xứ còn cho rằng người Việt đang giành công ăn việc làm của người địa phương.
Không ít người Việt sống tại Campuchia gặp phải những rắc rối như vừa nêu. Trang “Kết bạn người Việt Nam sống tại Campuchia” trên mạng xã hội (facebook) cho thấy đã có không ít người Việt than phiền người Campuchia không thích họ. Sự mong muốn của họ là sống hòa bình, không muốn bị kỳ thị.
P-3-250.jpg
Làng người Việt ở Neak Loeung, tỉnh Prey Veng, ảnh chụp ngày 13/3/2013. RFA PHOTO/Quốc Việt.
Anh Hồ Minh Phi, một nhà thiết kế nữ trang là thành viên của trang “Kết bạn người Việt Nam sống tại Campuchia” chia sẻ với chúng tôi:
“Người Khmer có ác cảm với người Việt. Có lẽ họ tôn trọng người Trung Quốc hơn. Mình thấy rõ, thật sự bị phân biệt. Còn lúc trước họ nói người Việt qua để chiếm đất. Cả bây giờ họ vẫn nói vậy. Người Việt Nam lên Campuchia một cách tự do, đâu có cản được. Phi lên, đi làm, ở đây, định cư ở đây…mua đất họ ở. Cuối cùng toàn là người Việt Nam ở trên này không.”
Tiến sĩ Kem Ley, nhà phân tích chính trị độc lập Campuchia nói Campuchia sẽ không bao giờ có số liệu thống kê chính xác vì chính phủ và phe đối lập không cùng chung một quan điểm.
Để giải quyết sự bất đồng, Tiến sĩ Kem Ley nói:
“Chính phủ phải điều tra dân số một cách minh bạch nhưng không phải để đối phó với đảng đối lập. Chính phủ phải thực hiện nghiêm khắc luật xuất nhập cảnh. Chính phủ cũng có thể giúp giải quyết những người Việt bất đồng chính kiến lánh nạn sang Campuchia hoặc sang Campuchia xin quốc tịch để đi định cư ở nước thứ ba. ”
Mặc dù, nhiều người Việt phải gặp khó khăn nhưng cũng có nhiều người có giấy tờ hợp pháp, biết chữ Khmer làm việc trong cơ quan nhà nước. Thậm chí, có nhiều người làm kinh doanh, Chủ nhà hàng, công ty tại đây mà không hề có sự rắc rối nào.
Ông La Văn Hêng, người Campuchia gốc Việt là một viên chức của Campuchia phát biểu:
“Người Việt Nam lên đây cũng nhiều lắm đâu phải ít đâu. Mà đâu có bị gì đâu. Đâu có thấy khó khăn gì đâu, cũng bình thường. Campuchia này dễ, muốn mua bán gì cũng được. Hiện người Việt ở Campuchia này nhiều lắm.”
Có ý kiến cho rằng nếu Campuchia có sự thống nhất, không lợi dụng chính trị, đem vấn đề người Việt ra vận động trong chiến dịch tranh cử thì xứ này sẽ có số liệu thống kê chính xác về người Việt, và người Việt ở Campuchia cũng có thể hòa nhập tốt với người Khmer.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bao giờ em sẽ dẫn con về thăm nhà?



Tháng 6 21, 2013
Ph. Th. H.
Em đến nước Đức như một dãy số không dàn hàng ngang. Không gia đình. Không nghề nghiệp. Không bằng cấp. Không học vấn. Không ngoại ngữ. Không một xu dính túi. Tất nhiên là không hộ chiếu, không thị thực nhập cảnh. Không cả nhan sắc. Đến chơi nhà, tôi còn thấy em không giỏi việc nội trợ; bồn tắm thì vương mấy cọng rau, tủ lạnh vướng vài sợi tóc. Khi đã tàn nhẫn thì tạo hóa tàn nhẫn triệt để. Tất cả 50 hạt trên 10 gióng của chiếc bàn tính gẩy là số phận em đều đứng im.
Cho nên gặp lại em bốn năm sau trong một cửa hàng bán đồ 99 xu mà em là bà chủ, tôi sững sờ. Ở đó em là nô lệ của chính mình, từ tám giờ đến tám giờ; nhưng những người Việt tay không đi bắt giấc mơ Đức cặm cụi mỗi ngày mười mấy tiếng đồng hồ là bình thường. Em đã nói được chút tiếng Đức, vừa có bằng lái và sở hữu một chiếc xe đã chạy hơn một trăm ngàn cây số, nhưng là Mercedes. Thân hình gầy guộc năm nào đã đẫy đà, tóc nhộm hoe vàng, lông mày xăm nâu, da dẻ bớt mầu nắng gió Quảng Bình. Tôi đoán em cũng đã trả hết tiền vé hai trăm triệu cho chuyến vượt biên bất hợp pháp vào Đức. Tất cả như một câu chuyện thành đạt ngoài sức tưởng tượng. Em có quyền tự hào. Có lẽ em cũng may mắn.
Chẳng hạn may mắn hơn một chị Nghệ An đứng tuổi, có lẽ đã gần sáu mươi, cả ngày chực ở bãi đậu xe của một siêu thị giấm dúi bán thuốc lá lậu. Có lần chị khoe với tôi là con trai ở nhà vừa vào đại học. Trong vài phút, người phụ nữ ấy quên rằng mình đang chui lủi kiếm những đồng tiền phạm pháp, nhớn nhác chạy cảnh sát, đã bị bắt dăm bảy lần, sắp bị tòa phạt và sớm muộn cũng bị trục xuất. Chị chỉ còn là một người mẹ đầy tự hào. Thời trẻ tôi thấy những bà mẹ suốt ngày khoe con là lố bịch. Sau này tôi mới thấy điều đáng kiêu hãnh nhất của cuộc đời mình là đứa con. Riêng em không thế.
Công nghệ chạy giấy tờ để trở thành “người của nước Đức, có gì nước Đức lo cho hết”, như người Việt sang đây bất hợp pháp ao ước, hiện nay không quá khó. Chìa khóa để đổi đời là những đứa con. Đứa thứ nhất trên danh nghĩa có quốc tịch Đức để người mẹ “ăn theo”. Danh nghĩa ấy theo thời giá hiện nay lên tới ba chục ngàn Euro. Đứa thứ hai “ăn theo” mẹ và người bố lại “ăn theo” nó. Đứa thứ ba để cấp danh nghĩa cho một người bố khác, lấy lại vốn. Giấy khai sinh của trẻ em gốc Việt thế hệ tị nạn kinh tế ở Đức bây giờ là một mê hồn trận với những ông bố thật và những ông bố giả chồng lên nhau. Nhưng nhiều năm trước, em không có cơ hội đó. Chiếc chìa khóa của em mầu đen. Em sinh con với một chàng Mozambique, công nhân hợp tác lao động ở CHDC Đức cũ, đã nhập tịch, mà em gọi là “thằng mọi”. Khi “thằng mọi” bỏ đi với một “con Mông Cổ mắt híp”, còn lại hai mẹ con. Em bảo giấy tờ mình xong rồi, tiếc gì thằng Tây hôi. Về thăm gia đình em đi một mình. Em bảo đem thằng “Oẳn tà roằn” về Quảng Bình, cha mạ ra đường không dám nhìn ai nữa.
Tôi đã nghĩ đến em và thằng bé da đen buồn lủi thủi, khi Barack Obama trở thành người đàn ông quyền lực nhất thế giới, không lâu sau chuyến thăm Berlin lần thứ nhất mùa hè năm 2008 và thủ đô nước Đức nóng rực trong cơn sốt Yes We Can. Hôm qua tôi ghé cửa hàng của em, khi Obama đến Berlin lần thứ hai. Tôi mất hai tiếng rưỡi đồng hồ để bò trên đoạn đường bình thường chạy xe 20 phút. Toàn bộ thành phố bị lùa khỏi trung tâm, để ngài Tổng thống cùng gia đình và đoàn tùy tùng hộ vệ được an toàn chuyển động trên những đường phố Berlin đầy cảnh sát và không một bóng dân sự. Obama diễn thuyết trước 6.000 người tại Cổng Brandenburg thay vì trước 200.000 người tại Cột Khải hoàn như 5 năm trước. Cơn sốt lần này nóng rực các mạng xã hội và mang tên Yes We Scan. Người gửi cho tôi đường link vào trangObama Is Checking Your Email tái bút ngay bên dưới: “Xóa ngay email này, trước khi tình báo Mỹ tìm ra bạn”. Facebook và Twitter tràn đầy những hình ảnh giễu cợt ngài Tổng thống. Ảnh một bên là J.F. Kennedy với phát ngôn bằng tiếng Đức: “Ich bin ein Berliner” (Tôi là một người Berlin) tròn 50 năm trước tại Berlin, một bên là câu của Obama: “Ich bin ein Trojaner” (Tôi là một phần mềm do thám Trojan). Một bên là hình Bức tường Berlin với câu “Mr. Gorbachev, tear down this gate!” của Tổng thống Reagan, một bên là hình bức tường rào dây kẽm gai của nhà tù Guantanamo với câu “Mr. Obama, tear down this gate!”. Một bên là M.L. King với câu “I have a dream”, một bên là câu của Obama: “I have a drone”. Hình Obama lột mặt nạ rồi hiện ra thành Bush nhan nhản. Tại Checkpoint Charlie, cửa khẩu nổi tiếng nhất từng ngăn Đông và Tây Berlin, những người biểu tình giương biểu ngữ: “Your privacy ends hier” (Không gian riêng tư của quý vị chấm dứt tại đây) ngay dưới tấm bảng lịch sử “You are entering the American Sector (Quý vị đang bước vào địa phận do Hoa Kỳ kiểm soát). Song được truyền bá nhiều nhất là hình Obama đeo tai nghe, như diễn viên Ulrich Mühe trên áp phích của bộ phim Đức nổi tiếng được giải Oscar Cuộc đời của người khác (Das Leben der anderen) về cơ quan mật vụ Đông Đức Stasi. Bên dưới đề: “Stasi 2.0”. Bên cạnh đề: “All your data is belong to us.” Mươi ngày trước trên tờ Guardian, ông Daniel Ellsberg, người đã tiết lộ Hồ sơ Pentagon về Chiến tranh Việt Nam bốn mươi năm trước đã đưa ra cụm từ mới: United Stasi of America.
Obama đến. Obama đi. Em không lây những cơn sốt vừa kể. Em sắp nhượng lại cửa hàng 99 xu, mở tiệm bán hoa. Tôi hỏi thăm, đã dẫn con về thăm nhà chưa. Em lắc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Loi cho cu cai:

TẠI SAO CHÚNG TA LẠI CHỌN CON ĐƯỜNG NHƯ VẬY?



By: Blog Đặng Ngữ

Nếu thật lòng bầu bí thương nhau, xem nhau như anh em trong một nhà thì chúng ta phải xem tổ tiên của người Khơ-me cũng như tổ tiên của người Kinh. Nghĩa là, văn hóa, văn minh của người Khơ-me phải được xem là văn hóa, văn minh của người Việt Nam. Chúng ta nhất thiết phải xây dựng lại tinh thần Việt, tương lai chung của một nước Việt Nam bằng việc đối xử công bằng, tôn trọng, kính ngưỡng những giá trị lịch sử mới hòng thoát khỏi nguy cơ Hán hóa từ trong suy nghĩ.  

Nếu thật lòng bầu bí thương nhau, xem nhau như anh em trong một nhà thì chúng ta phải xem tổ tiên của người Chăm cũng như tổ tiên của người Kinh. Nghĩa là, chúng ta phải kính trọng thủy tổ của người Chăm như cái cách chúng ta kính trọng Hùng Vương-thủy tổ của người Kinh vậy. Nên nhớ, chính sự pha trộn giữa ngôn ngữ của các cư dân thuộc nền văn minh sông Hồng và văn minh Chăm đã cho ta hệ thống ngôn ngữ mà chúng ta hiện đang sử dụng: chữ quốc ngữ . Muốn thoát khỏi nguy cơ Hán hóa từ trong suy nghĩ, cần phải truy nguyên và xiển dương những giá trị gốc như vậy.

Muốn thoát khỏi nguy cơ Hán hóa từ trong suy nghĩ, chúng ta cần phải quay về với những giá trị gốc, không nhất thiết phải hoành tráng, to lớn, đồ sộ…của văn minh phương Bắc mà quay về với những thứ nho nhỏ, be bé, xinh xinh…nhưng chứa đựng trong đó tư duy của chính chúng ta, những người phương Nam bất khuất.  

Trong các loại bệnh, bệnh về não vốn khó thăm khám, chẩn đoán, kê toa và được liệt vào loại bệnh nguy hiểm nhất. Người có bệnh não thường không biết mình mắc bệnh nên không đề phòng. Trường hợp phát hiện ra bệnh thì ngoài việc tìm ra đơn thuốc phù hợp, con bệnh phải kiên trì và đủ dũng cảm mới mong khỏi bệnh. Thường nghe nói “bệnh từ tâm mà ra” bởi não bộ con người ta điều khiển mọi hoạt động của cơ thể con người, tâm có ổn thì thân mới khỏe, tâm không ổn thì cơ thể sinh lắm chứng bệnh tật. Một dân tộc có thể tồn tại bên cạnh Trung Hoa mấy ngàn năm nay mà không bị đồng hóa, không bị thôn tính ắt hẳn không phải một dân tộc tồi. Hẳn bên trong dân tộc ấy phải có cái gì đặc biệt, rất đặc biệt. Điều đấy chúng ta không thể phủ nhận. 

Câu hỏi đặt ra là: tại sao chúng ta có thể tồn tại mà không thể văn minh, hùng cường được? Ở vào những khúc quanh lịch sử, dân tộc ta luôn có những lựa chọn không thể hiểu nổi, hết lần này đến lần khác. Có người bảo rằng chúng ta không may. Có người bảo rằng số phận dân tộc mình phải chịu cảnh như vậy. Cá nhân tôi, tôi không chịu cách lý giải đấy. Vậy thì do điều gì làm cho chúng ta ra nông nổi như thế này? Hay chăng dân tộc chúng ta dung chứa một khuyết tật gì đấy, một khuyết tật tập thể trong cách suy nghĩ, một khuyết tật truyền thừa từ tổ tiên trong cấu trúc tư duy của người Việt? Nếu thừa nhận cái khuyết tật trong tâm lý dân tộc đấy thì chúng ta phải phá bỏ tất cả sao? Vậy thì chúng ta còn gì? Theo tôi, phải phá bỏ để xây dựng lại còn hơn tiếp tục dung chứa những khuyết tật đó, cái thứ độc hại trong tư duy đã làm cho chúng ta tồn tại nhưng tồn tại chẳng khác chi đời sống thực vật.

Đời sống nhân loại từ thời cổ đại cho đến nay vốn được xây dựng xoay quanh các trục sau đây: kinh tế, chính trị và văn hóa. Nếu suy nghĩ cho thật kỹ, đời sống văn hóa chính là thượng tầng kiến trúc mà kinh tế & chính trị là hạ tầng của xã hội nhân loại, cũng như của mỗi dân tộc. Không cần thảo luận gì nhiều, hẳn nhiên, chúng ta đánh giá nền văn minh của một dân tộc dựa trên nền thượng tầng kiến trúc của dân tộc ấy bao gồm: tôn giáo, tư tưởng và nghệ thuật. 

Liệt kê ra từng phân ngành riêng biệt thì gồm 03 phân ngành nhưng cái gốc của cả tôn giáo và nghệ thuật đều nằm ở nơi tư tưởng. Nói cho ngay, tư tưởng-cái gốc của cả kinh tế và chính trị bởi kinh tế hay chính trị thì cũng bắt nguồn từ những cái lý tất nhiên của nó, nghĩa là, phải có những tư tưởng ấy thì mới có những nền tảng kinh tế và chính trị ấy. Muốn tìm hiểu cho thấu đáo nguyên nhân tại sao Nhật Bản có thể duy tân tự cường để văn minh, hùng mạnh mà không phải Trung Hoa hay Việt Nam (theo rất nhiều người vẫn quan niệm, cả ba nước này được xem như “đồng chủng đồng văn” và chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng Khổng Mạnh và triết lý Phật Giáo), chúng ta phải đi tìm cái gốc của vấn đề: cách suy nghĩ của người Nhật Bản, tư tưởng Nhật Bản. Tôi dám chắc rằng, cái tư tưởng Nhật Bản ấy, nó phải có điều gì riêng có, rất đặc sắc và vượt trên hẳn tư tưởng Trung Hoa và Việt Nam cùng thời. Cái tư tưởng ấy thể hiện tinh thần quốc gia Nhật Bản. Vì cái tinh thần quốc gia ấy mà giai cấp cầm quyền khôn ngoan sáng suốt chọn lựa duy tân tự cường thay đổi vận mệnh quốc gia. Vì cái tinh thần quốc gia ấy mà tầng lớp trí thức tinh hoa sốt sắng làm người hướng đạo tiên phong cho công cuộc cải cách. Vì cái tinh thần quốc gia ấy mà quần chúng nhân dân lập chí hăm hở tấn hóa tự cường. Chẳng giống nơi giới cầm quyền của Trung Hoa và Việt Nam: đầu óc ngu dại, cứ ngồi lì trên ngôi cao, lấy quyền cao và sức mạnh bạo lực để đè ép, cản trở ý muốn duy tân tự cường của quốc gia nên công cuộc duy tân không sao thực hiện nổi. Lại thêm đám trí thức hủ nho, thủ cựu cứ tưởng mình khôn lắm rồi, mạnh lắm rồi chẳng thèm đổi mới. Cái mâu thuẫn ấy cứ mỗi ngày một dâng lên tạo thành cách mạng đổ máu tàn bạo mà vẫn không đi đến đích văn minh được. Rốt cuộc vẫn nằm trong cái vòng yếu hèn, phụ thuộc mà mất nước. Bài học lịch sử ấy dường như đang lặp lại với Việt Nam. Nhật Bản duy tân tự cường thành công bởi họ có quần chúng nhân dân rất có chí, trí thức thì thức thời và chính quyền rất sáng suốt.

Nói chuyện vui, tôi vốn kỹ sư điện tử, thật lòng chẳng biết gì về kiến trúc với lại mỹ thuật. Mấy năm trước làm thuê cho tụi ngoại quốc nên thỉnh thoảng có qua lại Thượng Hải, Thâm Quyến, Hồng Kông, Ma Cau…rồi học được cái nghề: “architectural lighting solution” chuyên thiết kế, cung cấp các giải pháp chiếu sáng cho các tòa nhà. Có người hỏi tôi, sao lại đâm đầu vào cái chuyên ngành gì mà hẹp vậy. Tôi trả lời, cái gì Hồng Kông, Thượng Hải, Ma Cau, Thâm Quyến có thì Hà Nội, Sài Gòn vài năm sau sẽ có, giống y hệt, không chạy thoát được. Ô hay, sao tôi lại dám qủa quyết như thế nhỉ ? Ngẫm mà xem, cái suy nghĩ này không chỉ mình tôi. Rất nhiều người đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy. Thể loại nào bán chạy nhất trên thị trường sách mấy năm nay? Xin thưa, sách dịch các truyện ngắn, tiểu thuyết ngôn tình của các tác giả đô thị Trung Quốc. Lối viết của các nhà văn trẻ ăn khách chúng ta cứ giống giống như các nhà văn trẻ ăn khách bên Tàu. Tôi không cho rằng họ đạo văn hay thuổng ý của đồng nghiệp bên Tàu. Nhưng từ lối hành văn cho đến cách dùng chữ, rồi ý tứ, rồi cốt truyện…tất thảy đều na ná như văn học Tàu. Cái gì dân Tàu làm giả, làm dối được thì người Việt cũng làm được dù cái sự giả, sự dối không bằng với người Tàu. Người Tàu phun hóa chất vào trái cây thì người mình chơi phóc môn vào bánh phở. Người Tàu lấy thịt thối làm nhân bánh bao thì ta lấy thịt thối làm cơm hộp. Người Tàu phá hủy môi sinh thì người ta xem nhẹ sinh thái. Có thể liệt kê rất, rất nhiều những sự giống nhau đến kỳ quặc như vậy. Tự hỏi, người Tàu truyền bá mấy cái trò đấy cho người mình ư? Không thể kết luận như vậy được. Hay người mình cử người sang Tàu học hỏi mà mang về nước hại lẫn nhau? Lại càng không thể. Tại sao người mình lại có những thói quen, hành động giống người Tàu đến vậy? Nếu đồng ý với nhau rằng, tư duy thể hiện thành hành động thì hóa ra người mình có cách suy nghĩ giống người Tàu sao? Cũng có thể lắm chứ.

Bây giờ, quay trở lại với câu hỏi đặt ra từ đầu, tại sao chúng ta lại chọn con đường như vậy? Tôi cho rằng, chúng ta không chủ động trong việc chọn lựa. Chúng ta đã chọn lựa như cái cách mà người Tàu đã chọn lựa. Cứ vào những khúc quanh của lịch sử, khi đòi hỏi phải chọn lựa thì lại thấy những người lèo lái vận mệnh quốc gia ngoái cổ sang phương Bắc để xem bên đấy làm như thế nào. Cứ như thể dưới vòm trời này không đâu hơn Trung Hoa. Cứ như thể trên bề mặt đất này không nơi nào văn minh cho bằng nền văn minh của người Hán. Đến ngay cả một tác phẩm vĩ đại của nền văn học Việt như Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng phải dựa vào nguyên tác của một tay vô danh bên Tàu có tên gọi Thanh Tâm Tài Nhân. Phải chăng cụ Nguyễn Du nhà ta không có khả năng sáng tác từ một nguyên bản do chính cụ tạo nên ? Nói như thế tức coi thường bậc danh nhân của nhà mình rồi. Có thể Nguyễn Du không ý thức việc này. Nhưng Freud và Carl Jung có thể lý giải: bởi cấu trúc tư duy của Nguyễn Du, cái văn hóa Hán nó truyền thừa từ tổ tiên đã ăn sâu vào tận vô thức của đại thi hàoi. Nguyễn Du đã như vậy, các sĩ phu khác của chúng ta cũng không khá hơn. Thứ Nho giáo của chúng ta là thứ Nho giáo cặn bã, không được tinh lọc với tên gọi Việt nho. Sĩ phu chúng ta muôn đời thờ hai chữ “trung quân” mà không biết đến quần chúng nhân dân cái chi cả. Vua cho ăn thì ăn, vua bảo nói thì nói, vua bảo viết thì viết. Cho nên, cái sử của nước ta chỉ thuần túy thứ sử của nhà cầm quyền đánh nhau mà chả thấy hình bóng quần chúng nhân dân đâu cả. Lịch sử đâu phải một dòng sông đầy máu và chiến sĩ trận vong. Hai bên bờ lịch sử phải có kẻ cày ruộng, người dệt vải, học trò đi học…nữa chứ. Rõ ràng, cách viết sử của mình cũng thuần một thứ copy cách viết lịch sử của người Hán. 

Có người thắc mắc, sao người Việt chúng ta không thể lập thuyết? Lập thuyết để làm gì khi Khổng Tử vẫn còn ngồi bệ vệ trên cao kia, nơi phát khởi nguyên khí quốc gia. Lập thuyết để làm gì khi ngày ngày sĩ tử nước ta vẫn vái lạy con người xa lạ đến từ Trung Nguyên kia. Những người suy nghĩ giống nhau thì hành động giống nhau, những nền văn hóa giống nhau thì chọn lựa cũng giống nhau. Một người am hiểu văn hóa, chính trị như ông Nguyễn Xuân Tụ có ý gì khi lấy cái “nick name” Hà Sĩ Phu? Sĩ phu Bắc Hà ư? Cái “nick name” đầy Nho nghĩa ấy gợi nên nhiều suy nghĩ về việc chúng ta bị Hán hóa từ trong cấu trúc tư duy. Nó làm chúng ta nhớ đến một vị quân vương chăng? Cho nên, cá nhân tôi cho rằng ngày nào mà người phương Bắc chưa thay đổi mô hình chính trị hay chủ thuyết của họ thì ngày đó nước mình vẫn chưa có hi vọng thay đổi gì lớn. Chúng ta không chống Tàu, chúng ta không kỳ thị Tàu nhưng ngày nào mà chúng ta chưa nhận thức đúng vấn đề để thay đổi từ trong cái cách mà chúng ta tư duy thì: đừng có mơ.
Tôi nói sai chăng?
Tự đáy lòng mình, với tư cách một con dân đất Việt, tôi sẽ reo mừng nếu tôi nói sai các bạn ạ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Khon luong:

Bút danh Trần Nhật Thi với 8 năm (2002-2010)

1. Một câu trong một cuộc phỏng vấn nhân ngày 30 tháng 4 năm 2013:

Ông vẫn viết báo, viết văn?

Sau tai họa 2002, tôi viết báo với bút danh Trần Nhật Thi. Nhiều bài được dư luận quan tâm: “Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu” (Lao Động); “Nụ cười, nước mắt nông dân”, “Cảm động một dòng chảy thông tin”, “Hãy xử sự vì lợi ích xã hội” và nhiều bài khác trên Báo Tiếng nói Việt Nam, nay là Báo VOV...

Tên Trần Mai Hạnh ký dưới các bài báo và sáng tác văn học được tôi dùng lại từ năm 2010.

2. Đó là cuộc phỏng vấn của nhà báo Đào Quang với nhà báo Trần Mai Hạnh. Cuộc phỏng vấn được xem là dưới chân Cột cờ Hà Nội vào ngày 20 tháng 4 năm nay.


3. Tôi thường nhớ đến dáng lặng lẽ của chú Hạnh trước một bàn viết bằng mây tre đan, nhìn ra mặt hồ Đồng Nhân, trong ngôi nhà ở không xa đền thờ Hai Bà Trưng. Ông kiệm lời hết sức và hầu như lúc nào cũng đang suy nghĩ điều gì đó có lẽ cần phải tập trung tư tưởng cao độ.


Đường "chạy án" của Năm Cam:


Khoảng 57.000 USD đã được “ông trùm” chi ra cho ông Phạm Sĩ Chiến, một số quan chức VKSND Tối cao và ông Trần Mai Hạnh, để chạy tội cho mình trong lần bị bắt cải tạo giam giữ năm 1995. Đây là những gì mà các bị can trong vụ án xã hội đen Năm Cam khai ra hoặc "tâm sự" trong trại tạm giam.
Năm 1993, trong một dịp vào TP HCM “đánh” hàng điện tử cao cấp (mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Thuyết “buôn vua”), một chiến hữu ở chợ trời Huỳnh Thúc Kháng giới thiệu Thuyết đến nghỉ tại khách sạn Cam, trên đường Nguyễn Tất Thành, quận 4. Trong thời gian lưu lại đây, “tình cờ” Năm Cam gặp Thuyết. “Ông trùm” nhanh chóng phát hiện Thuyết là kẻ chuyên nghề vận động hành lang với các quan chức ở Hà Nội và trung ương. Một tháng sau khi quay ra Hà Nội, Thuyết bất ngờ đón tiếp Năm Cam tại nhà riêng. Cùng đi với “ông trùm” là Hồ Việt Sử - chỗ quen thân với ông Bùi Quốc Huy, vừa ra nhậm chức Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh tại Hà Nội.
Năm Cam nói thẳng với Thuyết là mình sắp bị bắt giữ, và chuyến đi của ông ta không ngoài mục đích “gỡ rối”. Lần ra Bắc này, Năm Cam mang theo hơn 100.000 USD, nhưng đã được Sử và một số người hướng cho “dội bom” vào nhiều mục tiêu, nên đến khi gặp Thuyết, chỉ còn đúng 7.000 USD. “Ông trùm” giao nốt cho Thuyết với lời hứa “sẽ còn nhiều hơn thế”.
Về tới TP HCM, Năm Cam rút luôn vào hẻm 148 Tôn Đản, quận 4, tin rằng mình sẽ thoát nạn. Sau đó, Năm Cam nhận được lời mời đến gặp lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát trụ sở phía Nam để “thương lượng”. Nghĩ là “cá cắn câu”, Năm Cam lập tức theo hai sĩ quan công an là ông Ngọc và ông Giám đến 258 Nguyễn Trãi. Y đã mắc kế “điệu hổ ly sơn”, bị bắt giữ ngay và chuyển ra trại T16 - Hà Tây ngày hôm sau. Tại Hà Nội, Thuyết nhận được “tin dữ” gần như cùng lúc.
Ít lâu sau, Hiệp “phò mã” cùng Long đầu đinh ra Bắc theo lời dặn dò của Năm Cam phòng khi "thọ nạn". Theo hướng dẫn của ông Tư Ánh, nguyên trưởng Công an quận 4 – thày ruột của Năm Cam – hai người tới đặt vấn đề với thiếu tướng Trịnh Thanh Hiệp, người phụ trách chuyên án C5 hồi đó, nhưng vấp phải thái độ kiên quyết của ông này. Hết đường, Hiệp dùng tới phương án dự phòng là Thuyết. Sau khi bàn bạc, Thuyết nghĩ ngay đến Nguyễn Thập Nhất, một quan chức của VKSND Hà Nội có quan hệ với nhiều đầu mối ở trung ương.
Tại trại tạm giam T16, Năm Cam luôn giữ thái độ cố thủ, không khai báo để chờ viện binh. Y tìm mọi cách để liên lạc ra bên ngoài, kể cả đập đầu dọa tự sát. Móc nối được với gia đình, Năm Cam và Thuyết đã thống nhất được phương án. Thuyết cùng nghiên cứu với Thập Nhất về quy trình bắt giữ Năm Cam lúc đó, và đi đến kết luận, Tổng cục Cảnh sát mà cụ thể là chuyên án C5 lúc đó có một số sơ hở khi bắt “ông trùm”. Khai thác điểm này có thể cứu được Năm Cam.
Một lá đơn “kêu oan” của vợ Năm Cam, bà Phan Thị Trúc được đích thân Nguyễn Thập Nhất soạn thảo. Sau đó, Thuyết và Hiệp “phò mã” với sự dẫn dắt của Thập Nhất đã tới “mật đàm” tại nhà riêng ông Phạm Sĩ Chiến, phó viện trưởng VKSND Tối cao. Năm Cam "tâm sự" rằng, một túi quà trị giá khoảng 5.000 USD kèm với một phong bì “nặng” chừng ấy đã được Nhất trao cho ông Chiến trước sự chứng kiến của Hiệp “phò mã”. Một “khẩu phần” tương tự cũng được Nhất yêu cầu chuẩn bị để sau đó chuyển một quan chức khác ở VKSND Tối cao, thông qua thư ký riêng của vị đó. Lời khai của Hiệp “phò mã”, Long đầu đinh, Trần Văn Thuyết, Nguyễn Thập Nhất đều khẳng định tình tiết này, song đến nay, vị quan chức đó vẫn khăng khăng phủ nhận...
Để chắc chắn hơn, Thuyết đã hướng dẫn Hiệp trao cho một nhân vật ở Cục Cảnh sát điều tra, Bộ Công an, một phong bì khoảng 3.000 USD trong một bữa cơm thân mật (đây là người đã trực tiếp hỏi cung Năm Cam, và đã đến nhậu tưng bừng tại nhà hàng Ra Khơi khi “ông trùm” được tha về). Nhưng Năm Cam đã thất bại khi yêu cầu nhân vật này gọi điện mời trung tá Nguyễn Hữu Ngọc, người trực tiếp bắt y. Nhưng ông Ngọc đã không tới với lý do bận công tác ở Tây Nguyên. Thực ra, ông Ngọc đã kiên quyết không dính đến Năm Cam.
Để tạo dư luận thuận lợi, Thuyết bắt đầu sử dụng con bài Trần Mai Hạnh - người có quan hệ với y từ trước. Thông tin từ can phạm này bị lọt ra trong tù cho thấy, một đồng hồ Thuỵ Sĩ trị giá không dưới 3.500 USD, cùng túi quà “chất lượng” như của ông Phạm Sĩ Chiến đã được chuyển đến ông Hạnh, đủ để ông này “an tâm làm việc nghĩa”.
Bằng các túi quà rót đúng nơi, đúng lúc, Năm Cam đã nhận được sự tác động từ VKSND Tối cao (ông Phạm Sĩ Chiến) và tờ Nhà Báo & Công Luận (ông Trần Mai Hạnh). Các văn bản do hai ông này ký đều khẳng định việc bắt giữ Năm Cam của Tổng cục Cảnh sát là sai và cần sớm trả tự do. Và thực tế, Năm Cam đã được ra khỏi trại cải tạo trước thời hạn.
Tất cả những kẻ có công đều được Năm Cam ban thưởng. Ông Chiến tới cửa hàng của Thuyết mua một dàn máy VCD với mức giá 3.000 USD mà hóa đơn thanh toán được gửi cho Hiệp “phò mã”. Hai dàn máy với phương thức thanh toán tương tự đã được lắp đặt cho ông Hạnh và viên thư ký của một quan chức khác. Năm Cam đã từng tâm sự rằng, ông Hạnh còn gợi ý “vay thêm khoảng 140 triệu đồng để sửa chữa nhà cửa”. Hiệp “phò mã” không chấp nhận, chỉ chi 100 triệu đồng. Do đã lỡ hứa với “chiến hữu lâu năm và toan tính đường dài”, Thuyết đành phải xuất tiền túi để đưa cho ông Hạnh. Tổng số “bom” Năm Cam dội xuống một số quan chức VKSND Tối cao và ông Hạnh vào khoảng 57.000 USD. Nhưng Hiệp “phò mã” đã kê lên hơn 100.000 USD để kiếm chác.
(Theo Tiền Phong)

Phần nhận xét hiển thị trên trang