Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

ĐẤT NƯỚC NÀY CỦA AI?

Đoàn Bảo Châu

 
*Chau Doan*Đất nước này của ai? * Vẫn là đặc khu nhưng các vị ấy uốn éo câu chữ một chút, vẫn dùng "thủ pháp nghệ thuật" cũ, giống "nước lạ, tầu lạ, nước có đường biên giới chung với Việt Nam..." Tôi đã viết quá nhiều bài phản đối đặc khu, nhắc lại cũng nhàm. Đủ các phân tích thiệt hơn từ kinh nghiệm các nước đã làm đặc khu, sự lỡ nhịp làm đặc khu ở Việt Nam khi mà thời đại mở cửa, Việt Nam đã kí đủ các loại hiệp định liên kết với kinh tế thế giới. Tính thử nghiệm không còn, hiệu quả kinh tế cũng không còn, có chăng đây chỉ là cái bẫy của con sói Trung Cộng và sự... thêm »

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ có cách mới đối phó chiến lược dùng “tàu thân trắng” của TQ ở Biển Đông?


Mỹ đang tăng cường đối phó với chiến lược sử dụng tàu tuần duyên, tàu cá của Trung Quốc tại Biển Đông bằng cách tăng cường hoạt động của các tàu tuần duyên thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ.


Mỹ có cách mới đối phó chiến lược dùng “tàu thân trắng” của TQ ở Biển Đông? - 1
Tàu tuần duyên Mỹ sẽ tăng cường hiện diện ở Biển Đông.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng tàu dân sự “thân trắng” để hăm dọa và uy hiếp tàu của các nước khác ở Biển Đông. Về lý thuyết, các tàu này mang sứ mệnh hòa bình và được triển khai chỉ với mục đích thực thi pháp luật dân sự, theo SCMP.
Dưới danh nghĩa là “Chiến tranh Nhân dân trên biển”, Trung Quốc đã triển khai ồ ạt các tàu đánh cá kết hợp dân quân biển và các tàu tuần duyên khổng lồ xuống Biển Đông, thể hiện yêu sách chủ quyền phi pháp.
Đáp trả các động thái của Trung Quốc, Mỹ cũng đưa các tàu thân trắng thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tới khu vực. Cách tiếp cận mới cho thấy Washington không hề ngần ngại “so găng” với Bắc Kinh trên Biển Đông, theo SCMP.
Bên cạnh đó, chính quyền Tổng thống Donald Trump cũng đề ra cách tiếp cận 3 bước tại Biển Đông. Thứ nhất, Nhà Trắng đã trao quyền tự quyết lớn hơn cho Lầu Năm Góc. Kết quả là sự chuyên nghiệp hóa của các chiến dịch tuần tra bảo đảm tự do hàng hải (FONOPS) trên Biển Đông.
Trong khuôn khổ FONOPS, Mỹ nhiều lần triển khai các tàu chiến đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo do Trung Quốc chiếm đóng trái phép tại Biển Đông. Các tàu chiến Mỹ còn mở rộng tuần tra sang các khu vực mới, đặc biệt là Scarborough - bãi cạn là điểm nóng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Bắc Kinh chiếm quyền kiểm soát bãi cạn này kể từ sau cuộc đụng độ hải quân năm 2012.
Lầu Năm Góc cũng đưa ra nhiều tuyên bố cứng rắn hơn, bao gồm công khai kêu gọi Trung Quốc dỡ bỏ thiết bị quân sự triển khai trái phép trên các đảo nhân tạo.
Mỹ có cách mới đối phó chiến lược dùng “tàu thân trắng” của TQ ở Biển Đông? - 2
Đô đốc Karl Schultz, tư lệnh lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ, nói sẵn sàng hợp tác với các đồng minh trong khu vực về vấn đề Biển Đông.
Từ cuối năm 2018, Lầu Năm Góc đã bắt đầu coi lực lượng dân quân biển Trung Quốc như một nhánh mở rộng của quân đội Trung Quốc. Sự thay đổi này tiếp tục được duy trì trong năm nay, khi Đô đốc Mỹ John Richardson cảnh báo về chiến thuật khiêu khích “vùng xám” của Trung Quốc.
Đô đốc Richardson còn tuyên bố sẽ có cách tiếp cận “cứng rắn hơn”, sau khi  Bắc Kinh cản trở hoạt động của các tàu Mỹ trong khu vực. Sự xuất hiện của các tàu thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ đã tạo ra “làn gió mới” trong chiến lược đối phó Trung Quốc.
Lực lượng tuần duyên Mỹ cũng mở rộng các cuộc tập trận chung với các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, nhằm nâng cao năng lực của các bên. Đô đốc Karl Schultz, chỉ huy tuần duyên Mỹ, cho biết các cuộc thảo luận đề ra kế hoạch cụ thể vẫn đang diễn ra.
“Chúng tôi đang tăng cường huấn luyện các đồng minh và đối tác khu vực. Chúng tôi muốn tập trung vào các đối tác có cùng lập trường nhằm xây dựng một cách tiếp cận mang tầm khu vực”, Đô đốc Schultz nói.
Đô đốc Philip Davidson, chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ - Thái Bình Dương Mỹ, thì tập trung vào cái gọi là “Vạn lý Trường thành SAM” - cách gọi của các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc triển khai trái phép ở Biển Đông.
Các tàu tuần duyên Mỹ cũng tham gia các chiến dịch tuần tra tự do hàng hải với lực lượng hải quân, các chiến dịch tầm xa như thay thế các tàu phản ứng nhanh ở đảo Guam và tham gia tập trận chung với các đồng minh ngoài châu Á ở khu vực phía tây Thái Bình Dương.
Nguồn: http://danviet.vn/the-gioi/my-co-cach-moi-doi-pho-chien-luoc-dung-tau-than-trang-cua-tq-o-bien-d...


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điều ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethoven


Sonata Ánh trăng có thể nói là một bản nhạc đánh dấu sự thay đổi trong phong cách sáng tác âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Nó vừa có một cái gì đó như là tiếc thương, mất mát, vừa có những lời nguyện cầu, vừa có sự dữ dội như bão tố. Đằng sau bản sonata nổi tiếng này là rất nhiều câu chuyện…
Điều gì ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethhoven?
Beethoven. (Ảnh qua Pinterest)
Bản sonata cung Đô thăng thứ dành cho piano mang tên “Quasi una fantasia” thường được biết đến dưới cái tên bản sonata Ánh trăng, là một tác phẩm của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven sáng tác vào năm 1801. Ngày nay, nó là bản nhạc nổi tiếng nhất của ông dành cho piano, và ngay cả thời bấy giờ nó cũng là bản nhạc được rất nhiều người yêu thích. Nói về sự phổ biến của sonata Ánh trăng, nó đã làm Beethoven phát bực. Ông từng nói với học trò Czerny của mình rằng: “Thầy còn viết nhiều bản hay hơn thế”, ấy vậy mà người ta cứ nhắc mãi về sonata Ánh trăng…
Có rất nhiều câu chuyện được kể để giải thích cho sự ra đời của bản sonata Ánh trăng. Vào giữa thế kỷ 19, người ta bắt đầu đồn đại về cuộc gặp gỡ của Beethoven với một cô gái mù. Theo đó, khi gặp cô bé mù đang ngồi bên cạnh một chiếc đàn piano, Beethoven đã rất đỗi cảm thương. Ông ngồi xuống chính chiếc đàn piano đó và đột nhiên cảm nhận được ánh trăng đang chiếu vào qua cửa sổ. Như được truyền cảm hứng, Beethoven đánh lên những nốt nhạc của bản sonata nổi tiếng. Trong một phiên bản khác của câu chuyện, nhà soạn nhạc đã ngắm nhìn ánh trăng chiếu vào cô gái mù trong khi ông đang chơi đàn cho cô và anh trai cô. Và rồi ông nhận được linh cảm để sáng tạo nên “Quasi una fantasia”. Lại có người cho rằng đây là bản nhạc dành cho một tình yêu không trọn vẹn của nhà soạn nhạc thiên tài…
Điều gì ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethhoven?
Cô bé mù dưới ánh trăng. (Ảnh minh họa qua Adriana.blog.fr)
Dẫu sao, đó cũng chỉ là những “truyền thuyết”. Ánh trăng không phải là cái tên do Beethoven đặt cho bản sonata cung Đô thăng thứ (C♯ minor) này. Cái tên sonata “Ánh trăng” chỉ xuất hiện vài năm sau khi Beethoven đã qua đời. Vào năm 1836, nhà phê bình âm nhạc Đức, Ludwig Rellstab, chia sẻ rằng bản sonata này gợi lên trong ông hình ảnh ánh trăng phản chiếu trên hồ Lucerne. Kể từ đó, cái tên sonata Ánh trăng mới trở thành tên gọi “chính thức” một cách không chính thức của bản nhạc.
Điều gì ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethhoven?
Beethoven. (Ảnh qua Lifesitenews.com)
Beethoven không sáng tác sonata Ánh trăng theo mô thức truyền thống là nhanh – chậm – nhanh. Nó bắt đầu với thể Adagio (cung Đô thăng thứ) chậm, rồi nối tiếp bằng Allegretto (cung Rê giáng trưởng) chậm và kết thúc bằng Presto agitato (cung Đô thăng thứ) dữ dội. Phần thứ nhất thật là nhẹ nhàng, sâu lắng, và buồn. Nhà soạn nhạc người Pháp Berlioz bình luận rằng nó như “một thứ thơ mà ngôn ngữ con người không thể nào cất lên được”. Còn học trò của Beethoven, Carl Czerny thì cho rằng nó miêu tả một “màn đêm, với những âm thanh ảm đạm vọng tới từ phương xa”. Cũng có người cảm tưởng rằng mình đang bước đi trong đêm tối dưới ánh trăng chiếu rọi.
Phần thứ hai, Allegretto (cung Rê giáng trưởng), lại mang người nghe bình tĩnh trở lại với những nốt nhạc có phần tươi tắn hơn, trong sáng hơn, đem đến hy vọng. Phần thứ hai rất ngắn, dường như chỉ là cây cầu nối cho phần thứ nhất và phần thứ ba. Nhà soạn nhạc Franz Liszt đã ví phần thứ hai này như là “một bông hoa giữa hai vực thẳm” vậy. Bông hoa của Beethoven cứ nở rồi lại thu về rồi lại nở, tuần hoàn lặp lại trên nền nhạc.
Phần thứ ba là phần “bão tố” của sonata Ánh trăng. Những nốt nhạc nhanh và mạnh mẽ bộc lộ một cảm xúc dữ dội.
Bên cạnh những “truyền thuyết” lãng mạn về bản sonata Ánh trăng, người ta không thể lãng quên một thực tế rằng vào giai đoạn sau 1801, Beethoven bắt đầu nếm trải sự tuyệt vọng trong tâm hồn khi phải cố gắng chấp nhận việc mình bị mất thính giác. Người ngoài nhìn vào thì thấy Beethoven có một cuộc sống lý tưởng, là một nghệ sỹ piano bậc thầy và là một nhà soạn nhạc thành công hàng đầu ở Vienna. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu rời xa khỏi xã hội và bè bạn vì lo lắng rằng mọi người sẽ biết việc mình sẽ bị điếc. Người ta thì cảm thấy ông khó gần…
Điều gì ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethhoven?
Beethoven dần xa lánh người khác. (Ảnh qua Pinterest)
Beethoven đã sống nhiều năm trong tịch mịch và cô đơn cho tới lúc điếc hẳn. Hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và sự sáng tạo của ông trong âm nhạc. Giai đoạn 1800 – 1802 đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Beethoven và cũng khởi đầu cho giai đoạn sáng tác tiếp theo của ông. Khi tai không còn nghe được nữa, Beethoven bắt đầu lắng nghe bằng tâm hồn của mình.
Beethoven đã tìm cách điều trị tại một ngôi làng ở Heilgenstadt vào cuối mùa xuân năm 1802 cho đến tháng 10 cùng năm đó. Quá tuyệt vọng vì việc chữa trị không thành công, ông từng có ý định tự kết liễu đời mình. Trong một bức thư, ông kể: “Nhờ nghệ thuật mà tôi đã không kết liễu đời mình bằng việc tự sát”.
Lặp đi lặp lại trong âm nhạc của Beethoven chính là tinh thần vượt qua nghịch cảnh. Những xung đột nội tâm ông trải qua đều có thể tìm thấy trong âm nhạc, đó là việc vượt lên tất cả để chiến thắng sự tuyệt vọng và đau buồn. Cũng qua những giằng xé trong tâm tưởng đó, Beethoven đã học được cách sống cùng với tật mất thính giác và trở thành một thiên tài âm nhạc với các kiệt tác vô cùng vĩ đại.
Điều gì ẩn giấu đằng sau bản sonata Ánh trăng của Beethhoven?
Beethoven. (Ảnh qua thoughtco.com)
Sau đợt điều trị, Beethoven tỏ vẻ không hài lòng với các tác phẩm của mình và theo như học trò của ông, Czerny, thì “ông quyết tâm đi trên một con đường mới”. Sự thay đổi đó thể hiện qua tiết tấu mạnh mẽ trong những bản sonata, sự kịch tính, sự bất cân đối…
Sonata Ánh trăng có thể được xem là sáng tác đầu tiên khi Beethoven bước sang giai đoạn dần mất đi thính lực cho đến lúc điếc hẳn. Sự tiếc thương và mất mát trong tác phẩm, những lời nguyện cầu, và cả bão tố đã tạo nên một thứ âm nhạc tuyệt hảo, thứ âm nhạc khởi đầu cho những kỳ tích mang tên Beethoven.
Thanh Nhã / Trithucvn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁCH GÌ ĐỂ TRUNG QUỐC LUÔN THẮNG THẦU?


DN Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng 'tiền tươi'
 
 
VTC News – TS Lê Đăng Doanh (ảnh) nói về con số lại quả khổng lồ bằng 'tiền tươi' của 'bậc thầy đút lót' Trung Quốc cho đối tác ở nhiều dự án thắng thầu. 
 
Vì sao các doanh nghiệp Việt Nam "thích chơi" với Trung Quốc, sẵn sàng phụ thuộc vào thị trường này trong khi đây là thị trường chứa đựng khá nhiều rủi ro? 
 
Chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh đã trả lời phỏng vấn VTC News xung quanh vấn đề này. 
 
- Ông từng nói “Trung Quốc là bậc thầy của đút lót”. Vậy nghĩa là sẽ có những “bậc thầy nhận đút lót”? 
 
Đúng là tình trạng nhận đút lót của doanh nghiệp Trung Quốc rất phổ biến và nghiêm trọng. 
 
Việc Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD, tương đương 130.000 tỷ hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc theo số liệu của Hải Quan Trung Quốc công bố thực sự rất nghiêm trọng. 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng.
Việc thắng thầu cũng vậy, nguồn tin am hiểu nội bộ giấu tên cho biết Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng "tiền tươi".
Việc cho thuê rừng, đất rừng 50 năm trên diện tích rất lớn tại những vị trí chiến lược cũng có quá nhiều sự mờ ám.
Nhiều đài địa phương đua nhau chiếu phim Trung Quốc để nhà đài được Trung Quốc mời đi "nghiên cứu" cũng cần phải được xem xét.
- Như vậy rõ ràng có vấn đề lợi ích nhóm chi phối trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc?
Đúng là như thế.
Rõ ràng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.
Vì vậy, muốn giảm sự phụ thuộc vô lý, rất có hại cho lợi ích quốc gia vào Trung Quốc thì phải cải cách thể chế của nước ta.
Vừa qua, Chính phủ họp có thể thấy các tỉnh phía Nam rất bức xúc trước tình trạng phụ thuộc nguy hiểm này nhưng các tỉnh biên giới lại rất nhẹ nhàng cho ta thấy tính phức tạp của tình hình và không dễ khắc phục.
- “Đừng than phiền vì là hàng xóm của Trung Quốc, mà phải biết tận dụng lợi thế đó để tự chủ hơn trong kinh tế”, là vấn đề được ông nêu ra tại hội thảo mới đây. Theo ông, để tận dụng lợi thế đó, Việt Nam phải làm gì?
Trên thế giới có Phần Lan bên cạnh nước Nga, Canada bên cạnh nước Mỹ, các nước đó chịu nhiều sức ép, rất bất bình trước cách ứng xử áp đặt, thậm chí bắt nạt của nước lớn láng giềng nhưng họ có đối sách tốt và tận dụng vị trí đó để đi lên.
              Đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông, một trong những dự án lớn của nước ta mà doanh nghiệp Trung Quốc thắng thầu   (Ảnh: Thế Kha)
Đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông, một trong những dự án lớn của nước ta mà doanh nghiệp Trung Quốc thắng thầu   (Ảnh: Thế Kha)
Họ có chính sách kinh tế, cơ cấu kinh tế khác và bổ sung cho kinh tế nước lớn láng giềng, họ thoát hẳn khỏi tư duy chính sách của nước láng giềng. Sản phẩm của Phần Lan hoàn toàn khác Nga, hệ thống ngân hàng Canada có hiệu quả và ít bị khủng hoảng hơn Mỹ.
Việt Nam cần học tập các nước đó để tận dụng được lợi thế gần Trung Quốc mà không bị phụ thuộc vào Trung Quốc.
Chúng ta phải có tư duy chính sách độc lập với Trung Quốc, lợi dụng các nước bạn ủng hộ ta, phát triển kinh tế bổ sung cho kinh tế Trung Quốc, làm cho kinh tế Trung Quốc cần ta chứ không lợi dụng và bắt nạt ta. 
Muốn thế phải có bộ máy trong sạch, không bị Trung Quốc mua chuộc hay bắt bí được.
Bộ máy phải hiểu Trung Quốc để phát hiện ra mặt yếu của họ để làm khác đi.
Chúng ta phải học tiếng Hoa, nghiên cứu sâu sắc về Trung Quốc để không bị họ lừa, họ cho ta vào bẫy của họ.
- Đặt giả dụ Trung Quốc đột nhiên đóng hàng loạt cửa khẩu với Việt Nam như thông tin mà Bộ NN&PTNN đưa ra tuần trước, điều gì sẽ xảy ra với Việt Nam, thưa ông?
Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo, luôn sẵn sàng nuốt lời hứa, xé hiệp định cam kết họ vừa ký, cho nên, cần đề phòng tình huống xấu nhất là rất cần thiết.
Ngay bây giờ Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất-nhập khẩu, nếu vẫn phải tạm thời tiếp tục nhập từ Trung Quốc thì phải tìm cách nhập những linh kiện cần thiết qua một nước thứ ba.
Ngành dệt may, da giày phải có ngay phương án để khỏi bị động.
Cần xây dựng những chuỗi giá trị, bán hàng giao sau để có thị trường ổn định cho nông sản.
Về lâu dài, việc cấm vận của Trung Quốc sẽ làm cho cho nền kinh tế nước ta hợp tác bình đẳng hơn với Trung Quốc.
Hoàng Lan (thực hiện)

nhận xét hiển thị trên trang

TIẾN SĨ PHẠM CHÍ DŨNG BỊ BẮT NHƯ THẾ NÀO?


Nguyễn Tường Thụy
26.11.2019
(VNTB) - Cho đến lúc này, công luận mới chỉ biết tin Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập bị bắt qua một thông báo trên cổng thông tin điện tử Công an Tp Hồ Chí Minh. Ngoài ra, không có thông tin gì hơn. Vì khi bị bắt, trong nhà chỉ có cô em gái. Nhiều cơ quan truyền thông không có thông tin để liên lạc với gia đình.
Sau khi Phạm Chí Dũng bị bắt tôi đã cố gắng liên lạc với chị Bùi Hồng Loan là vợ anh. Vì không có mặt khi anh bị bắt nên chị chỉ có thể trả lời tôi về những gì chị biết và nghe người thân nói lại. Chị cũng yêu cầu tôi hiểu như vậy. Vì chị cho rằng “em giảng dạy và làm khoa học nên đòi hỏi sự chính xác”. Tôi động viên chị, những gì chị biết thì nói, nếu nghe người nhà kể thì nói là nghe, điều đó không ảnh hưởng gì đến tính trung thực của chị trong câu chuyện. Tôi hỏi chuyện chị Loan để cố gắng tìm hiểu xem Tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị bắt như thế nào.

Gia đình Phạm Chí Dũng có 3 thế hệ cùng sống trong một ngôi nhà, gồm bố mẹ (88 và 77 tuổi), vợ chồng anh (chị Loan giảng dạy ở 1 trường đại học), hai cháu đang học lớp 8 và lớp 1 và cô em gái anh (làm ở đài truyền hình).
Việc bắt Phạm Chí Dũng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Ngay từ 5 ngày trước đó có người anh em gọi cho chị Loan hỏi Dũng có ở nhà không. Khi chị Loan trả lời có thì anh bảo sao nghe nói Dũng bị bắt cách đây mấy hôm rồi? Phạm Chí Dũng nghe vợ kể thì cho rằng họ tung tin cho anh sợ thôi, để hạn chế việc anh đang làm. Như vậy có thể có người biết việc anh sẽ bị bắt.
Quyết định khởi tố và lệnh bắt đều ký từ ngày 18/11/2019, tức là 3 ngày sau mới thực hiện.
Đến ngày bắt, họ cũng bố trí cẩn thận. Trước hết họ tìm cách đưa ông nội (cụ thân sinh Tiến sĩ Phạm Chí Dũng) ra khỏi nhà để không phải chứng kiến cảnh bắt con trai mình, đồng thời đón bắt Phạm Chí Dũng ngoài đường. Việc đưa ông đi họ lấy lý do là đưa ông đi khám sức khỏe. Theo lịch thì 13/12 mới là lịch khám. Nhưng trước khi bắt Phạm Chí Dũng 2 ngày, Ban Bảo vệ Chăm sóc sức khỏe cán bộ thành ủy TP. HCM (Ban BVSK) gọi điện nói phải đi làm một số xét nghiệm ở bệnh viện Hòa Hảo để chuẩn bị khám vào hôm 13/12.
Sáng 21/11, xe của Ban BVSK đến đưa ông đi. Đi theo có người người giúp việc của gia đình. Hơn 10 giờ khám xong, xe đưa ông về lại Ban Bảo vệ sức khỏe để lấy thuốc. Nhưng sau đó họ bảo thiếu thuốc nên cho người ra ngoài lấy và ông phải chờ rất lâu. Tới hơn 12 giờ họ mới đem thuốc về rồi Ban BVSK đưa ông và người giúp việc về nhà. Tới nhà thì cổng khóa, bấm chuông không có ai, ông phải sang nhà bên cạnh ngồi nhờ. Khi ông gọi cho anh Dũng chuông reo nhưng không có người trả lời. Sau đó, ông gọi cho em gái Phạm Chí Dũng (lúc này đang bị mời đi theo anh lên đồn). Lát sau, công an phường mang chìa khóa đến mở cổng cho ông vào.
👉Tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị bắt như thế nào?
Buổi sáng, như thường lệ, Phạm Chí Dũng lần lượt đưa hai con đến trường. Sau khi đưa cả hai con đến trường xong thì anh bị bắt rồi công an đưa anh về nhà khám xét. Buổi sáng, chị Loan đi làm vào lúc 7h30. Khoảng 8h5’ chị Loan định gọi điện nhắc anh về đưa ông đi khám bệnh nhưng không thấy bắt máy. Chị nghĩ việc đưa ông đi khám bệnh mọi người ở nhà xử lý được nên yên tâm. Chị thuật lại lời kể của em gái Phạm Chí Dũng khi cô đang ở trong phòng, nghe ồn ào ngoài nhà thì mở cửa ra xem. Lúc mở cửa phòng thì nhìn thấy anh Dũng và một số người đi lên (lúc họ đưa anh về để khám xét nhà).
Cô thấy anh Dũng bị một người xốc nách đi vào phòng làm việc của anh ấy thì cô mới biết có chuyện. Họ lục máy tính in ra một số tài liệu sau đó lấy đi một số thiết bị (laptop, điện thoại, ổ cứng) và tài liệu (ghi cụ thể trong biên bản). Trong thời gian khám xét, họ yêu cầu cô không được sử dụng điện thoại. Khám xét xong, họ đưa Phạm Chí Dũng đi và yêu cầu em gái cùng đi theo ra phường. Tới khi ông nội về thì cô vẫn chưa được về. Gần 2 giờ chiều, cô yêu cầu vì công việc họ mới cho về.
Hiện nay, Phạm Chí Dũng bị giam ở số 4 Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh. Đây là trại tạm giam của Công an TP.HCM. Anh chị em nhóm Hiến pháp bị bắt hồi đầu tháng 9/2018 cũng đang bị giam ở đây.
Đây cũng là nơi Phạm Chí Dũng bị tạm giam năm 2012. Anh bị bắt khẩn cấp ngày 17/7/ 2012 và bị khởi tố cả hai tội danh "Âm lưu lật đổ chính quyền" và "Tuyên truyền chống nhà nước. 6 tháng sau công an đình chỉ điều tra, kết thúc vụ án và trả tự do cho anh.
👉 Khi đã dấn thân thì phải chấp nhận thôi
Thời kỳ Phạm Chí Dũng bị bắt lần đầu còn ít người biết đến anh. Khi đó, phong trào xã hội dân sự còn manh nha. Đợt ấy, gia đình anh rất sốc và có những bất đồng với việc làm của anh. Thế nhưng, tới lần này thì khác hẳn. Gia đình đã hiểu và cảm thông với anh hơn nên rất bình tĩnh. Chị Loan cho biết: “Đợt trước ông nội bị sốc ghê lắm nhưng đợt này tinh thần của ông ổn định hơn, còn động viên em, bà nội thì không vấn đề gì. Mấy hôm nay, người quen đến thăm gia đình nhiều lắm đa phần là người quen của ông nội”
- Thế còn Loan thì sao? (Tôi hỏi)
- Chuyện này cũng thường lắm rồi, chốt ngang chốt dọc xong rồi mang lên phường, rồi câu lưu mấy hôm. Em nghĩ thế nào cũng có chuyện, em đã chuẩn bị cho việc xấu nhất xảy ra, chắc chắn phải có rủi ro không sớm thì muộn. Khi anh đã dấn thân thì phải chấp nhận thôi nên không có gì sốc lắm.
“Mấy hôm nay thấy mọi người quan tâm sốt sắng cho anh Dũng, em cảm thấy đỡ cô đơn hơn. So với đợt trước, đợt này vui hơn nhiều, em vẫn cười được mà - Chị Loan tâm sự trước khi kết thúc cuộc nói chuyện qua điện thoại.
Theo Tễu Blog

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chẳng lẽ vì người Việt thắng giặc Tàu đến 13 lần nên đòi dẹp môn Sử?



 
Đọc lại toàn bộ trang Lịch sử Việt Nam từ khi vua Hùng dựng nước, không người Việt nào lại không tự hào với truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên chúng ta.
Trong mấy ngàn năm qua, người Việt chuyên trồng lúa nước, hiếu hòa, ở phương Nam, luôn bị giặc Tàu cướp bóc, xâm lăng và mưu toan sát nhập thành một quân huyện của chúng! Ngày nay mưu toan này của chúng vẫn không hề thay đổi.
Không kể những cuộc xâm lấn nhỏ, đã có 13 lần giặc phương Bắc xua đại quân xâm lấn phương Nam, đặc biệt Việt Nam. Nhưng trong tất cả 13 lần đó, Dân Việt đều đại thắng các đoàn quân Phương Bắc. Đã mười ba lần, Dân Việt đại thắng! Đó là mà một điều mà người Tàu lấy làm “nhột” và “phật ý” nhất nên rất muốn dân Việt chẳng nên nhớ sử Việt?
1. Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân (1218 TCN)
Theo sách vở Trung Hoa, năm 1218 TCN, Ân Cao Tôn vua nhà Ân hay còn gọi là nhà Hậu Thương đã đánh Quỷ Phương, vùng Động Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn “không thắng”.
Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng Thị ghi chép lại về Thánh Gióng như sau:
Chuyện kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây". Sứ giả vào, đứa bé bảo: "Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt biết phun lửa, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này".
Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.
Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử ra chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt biết phun lửa, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.
Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là Làng Cháy.
2. Chiến thắng giặc Tần (214 TCN)
Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng tóm thu 6 nước, thống nhất thiên hạ lên ngôi Hòang đế Đại Tần, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân tinh nhuệ xâm lăng vùng đất Bách Việt ở phương Nam, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông.
Cuộc chiến chống Tần của người Việt diễn ra trong nhiều năm. Quân Tần tổ chức tấn công tiêu diệt không hiệu quả, dần dần lương thực bị tuyệt và thiếu, muốn tiến hay lui đều bị người Việt bủa vây đánh úp.
Khi quân Tần bị nguy khốn, người Việt tổ chức tấn công, giết được tướng Đồ Thư. Quân Tần bị thua nặng.
Tại Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng qua đời, Tần Nhị Thế kế vị. Trước tình hình các nước Sơn Đông nổi dậy khôi phục chống Tần và ngoài mặt trận phía nam bất lợi, Nhị Thế buộc phải ra lệnh bãi binh xâm lược nước Việt năm 208 TCN.
3. Chiến thắng giặc Tây Hán (181 TCN)
Sau khi Tần Thuỷ Hoàng mất, nhà Tần hỗn loạn, khởi nghĩa nổi lên khắp nơi. Nhâm Ngao sắp chết, khuyên Triệu Đà chiếm lấy vùng Bách Việt để tự lập làm vua. Năm 208 TCN Triệu Đà chiếm Âu Lạc, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải. Năm 207 TCN, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, tự xưng làm vua là Nam Việt Vương. Sau khi nhà Tần sụp đổ (206 TCN), Triệu Đà tiếp tục tiến đánh và thu phục quận Quế Lâm vào lãnh thổ Nam Việt.
Ở Trung Hoa, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế là Hán Cao Tổ, cử Lục Giả đi sứ để phong Vương cho Triệu Đà. Ban đầu Triệu Đà không phục. Sau Lục Giả thuyết phục nên Triệu Đà mới nhận và được gọi là Triệu Vũ Vương.
Khi Hán Cao Tổ mất, Triệu Đà xưng Đế và phái binh mã đánh quận Trường Sa (tỉnh Hồ Nam ngày nay). Năm 181 TCN, triều Hán sai Long Lân hầu Chu Táo kéo quân Hán đánh Nam Việt. Triệu Đà đã đánh thắng quân nhà Hán, thanh thế của ông càng lẫy lừng.
Theo sách vở Trung Hoa, quân Hán không chịu được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bịnh tật, bởi vậy phải thua chạy về bắc. Sau đó, triều Hán xét việc Nam chinh không lợi, nên không đánh nữa!
Hán Văn Đế lên ngôi, lại sai Lục Giả sang khuyên Triệu Đà thần phục nhà Hán. Triệu Đà nghe theo, bỏ Đế hiệu, thần phục và triều cống nhà Hán.
4. Hai Bà Trưng chiến thắng quân Đông Hán (40 CN)
Năm 30 CN , Hán Quang Vũ áp đặt chế độ trực trị trên vùng đất Việt Lạc. Do đó, toàn dân Việt vùng lên kháng chiến, và bầu Trưng Trắc là Thủ lĩnh với tên hiệu là Trưng Nữ Vương. Sau 10 năm, Dân ta đã đánh đuổi toàn bộ quân Tàu ra khỏi vùng đất Việt Lạc, chiếm lại 65 thành.
Sau cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng năm 40, phần đất thuộc bộ Giao Chỉ (gồm 4 quận Hợp Phố tức Quảng Đông, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) tách ra khỏi lãnh thổ nhà Đông Hán, trở thành một vùng đất độc lập. Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lấy đất Mê Linh làm kinh đô, phong chức tước cho những người cùng tham gia khởi nghĩa. Chính quyền của 2 bà tuy còn sơ khai nhưng cũng đã là một nhà nước độc lập, tự chủ.
Tại phương Bắc, Hán Quang Vũ Đế mới hoàn thành việc thống nhất Trung Quốc sau chiến tranh kéo dài từ cuối thời nhà Tần. Trong nước chỉ còn những cuộc nổi dậy chống đối nhỏ, vì vậy vua Hán có thời gian chú tâm đến Giao Chỉ.
Năm 42-43 CN, nhà Đông Hán cử tướng Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân thống lĩnh 2 vạn quân chỉ huy chống lại quân nổi dậy của Hai Bà Trưng ở đất Việt.
Giao chiến lâu ngày, quân Hai Bà Trưng thiếu trang bị và kinh nghiệm, không địch nổi đạo quân thiện chiến của Mã Viện nên chung cuộc đành thua trận.
Mã Viện sau khi chiếm được đất Việt đã tâu về triều đình nhà Hán rằng luật lệ của người Việt khác với người Hán và xin thi hành Pháp chế để ước thúc họ. Ngoài ra Mã Viện cho rằng chế độ quận huyện trước kia lỏng lẻo, nay phải thi hành chặt chẽ hơn, bèn tâu với Hán Quang Vũ Đế chia đất Tây Vu là đất của con cháu An Dương Vương thêm 2 huyện mới là Phong Khê và Vọng Hải.
5. Lý Bôn chiến thắng giặc Lương ( 541 CN)
Lý Bôn tên thật là Lý Bí có tài văn võ đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa năm 541 CN, năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán cũng hợp binh đánh Lý Bí. Nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao Châu, đánh đuổi được quân nhà Lương đô hộ giành độc lập.
Năm 544 ông xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý .
Đây là lần đầu tiên sách sử Trung Hoa ghi lại quốc hiệu và niên hiệu của dân ta. Nhà Tiền Lý kéo dài 61 năm, từ 541 tới 602 CN.
6. Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán (938 CN)
Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán - một trong 10 nước thời Ngũ đại Thập quốc nằm liền kề với Tĩnh Hải quân - giành lại quyền tự chủ cho người Việt ở Tĩnh Hải quân, tự xưng là Tiết độ sứ.
Năm 937, Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại để cướp ngôi Tiết độ sứ. Con rể và là một tướng khác của Đình Nghệ là Ngô Quyền bèn tập hợp lực lượng ra đánh Công Tiễn để trị tội phản chủ.
Công Tiễn sợ hãi, bèn sai người sang cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Nghiễm nhân cơ hội đó bèn quyết định đánh Tĩnh Hải quân lần thứ hai.
Lưu Nghiễm cho rằng Dương Đình Nghệ qua đời thì Tĩnh Hải quân không còn tướng giỏi, bèn phong con trai thứ chín là Lưu Hoằng Tháo làm "Bình Hải tướng quân" và "Giao Chỉ vương", thống lĩnh thủy quân.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến.
Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cả một đoàn binh thuyền do Hoằng Tháo chỉ huy vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng.
Quân Nam Hán thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi, nuốt sống liền hùng hổ tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ chạy lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Lúc đó Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, còn Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Nghiễm kinh hoàng, đành thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui. Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược Tĩnh Hải quân.
Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng là vương, trở thành vị vua sáng lập ra nhà Ngô. Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một nghìn năm trước.
7. Lê Đại Hành chiến thắng giặc Tống ( 981 CN)
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và thế tử Đinh Liễn bị ám sát. Tháng 5 năm 980 CN, sứ nhà Tống ở Đại Cồ Việt là Lư Tập về nước báo cáo; triều đình nhà Tống biết được tình hình rối ren ở Đại Cồ Việt. Tháng 8 năm 980, Hầu Nhân Bảo, quan trấn thủ châu Ung của Đại Tống dâng thư lên hoàng đế Đại Tống báo cáo việc Đại Cồ Việt có nội loạn và là thời cơ để đánh chiếm và xin được về kinh đô để trình bày rõ hơn. Hoàng đế Đại Tống theo lời khuyên của Lư Đa Tốn không triệu Hầu Nhân Bảo về kinh đô để giữ bí mật việc chinh phạt Đại Cồ Việt.
Mùa thu năm 980, quan trấn thủ châu Lạng báo tin cho triều đình việc quân Tống chuẩn bị đánh xuống Đại Cồ Việt. Lê Hoàn được Thái hậu Dương Vân Nga trao lại quyền lực của triều Đinh, liền lên ngôi vua và gấp rút chuẩn bị kháng chiến.
Với một trận Chi Lăng, quân ta phá tan quân bộ Tàu, giết Hầu Nhân Bảo. Đoàn quân giặc theo đường biển vội vàng rút lui.
8. Lý Thường Kiệt đại thắng quân Tống ( 1076 CN)
Năm 1010, Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Để củng cố khu vực biên giới phía bắc, nhà Lý dùng chính sách gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan hệ với họ. Trải qua 3 triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển ổn định, khá vững mạnh.
Ở phương bắc, nhà Tống từ khi thành lập (960) đã phải khắc phục những hậu quả do thời chia cắt Ngũ đại Thập quốc để lại. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ, nhà Tống phải đối phó với nước Liêu lớn mạnh ở phương bắc - quốc gia của người Khiết Đan được vua nhà Hậu Tấn cắt cho 16 châu Yên Vân ở phía bắc từ năm 936 nên lãnh thổ bành trướng nhiều về phía Trung Quốc và thường nhân đó can thiệp vào trung nguyên. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập quốc nhưng nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu vẫn luôn tiềm ẩn với nhà Tống.
Sang thời Tống Nhân Tông, nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ của người Đảng Hạng phía tây bắc mới nổi. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn bởi những cải cách của Vương An Thạch.
Chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.
Năm 1072 CN, vua Lý Nhân Tôn lên ngôi. Vì vua mới 7 tuổi, nên việc quân đều ở trong tay danh tướng Lý Thường Kiệt.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản kéo 10 vạn quân tái chiếm vùng châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, xưa kia vốn thuộc vùng đất Việt Lạc, nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây.
Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết kéo hơn 30 vạn quân sang xâm lấn Đại Việt. Nhưng chúng bị đánh tan ở sông Như Nguyệt. Giặc Tàu kéo tới hơn 30 vạn, chỉ còn 2 vạn 8 trở về !
9. Trần Thái Tông đại thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258 CN)
Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, chiếm đóng từ Á sang Âu.
Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành
Vua Trần Thái Tông lo sợ, hỏi ý kiến Trần Thủ Độ. Trần thủ Độ khẳng khái : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo !”.
Cuộc chiến mở đầu với thất bại của quân Đại Việt trong trận Bình Lệ Nguyên, nhưng cuối cùng quân Đại Việt đã đại phá quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu, còn bị quân Đại Việt chận đánh tan tành ở vùng Qui Hóa. Cuộc chiến này đã kết thúc với chiến thắng của nước Đại Việt, ghi dấu công lao của vua Trần Thái Tông trong việc lãnh đạo quân dân chiến đấu chống quân xâm lược.
10. Trần Hưng Đạo đại thắng Nguyên Mông lần thứ hai (1284 CN)
Năm 1258, quân Mông Cổ từng thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống.
Năm 1271 Hốt Tất Liệt trở thành Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ, đổi quốc hiệu thành Nguyên. Năm 1279, quân Nguyên chiếm trọn đất Trung Hoa. Đế quốc Mông Cổ bao trùm 40 quốc gia từ Á sang Âu.
Năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.
Năm 1284, Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan, cùng với các danh tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi, kéo 50 vạn quân xâm lăng Đại Việt. Quân Nguyên còn có thủy binh từ Chiêm Thành đánh lên. Khi đó, toàn thể quân Đại Việt chỉ có 20 vạn.
Trước tình hình nguy biến, nhiều người muốn hàng hoặc tìm kế hoãn binh. Nhưng các tướng Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư cương quyết xin đem quân trấn giữ.
Vua Trần Nhân Tôn liền triệu tập các bô lão trong dân tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn thể đồng thanh “quyết chiến”
Trước thế giặc quá mạnh, quân Đại Việt phải rút về Vạn Kiếp. Ở phía Nam, quân Nguyên từ Chiêm Thành cũng đã chiếm Nghệ An.
Vua Nhân Tôn lại lo sợ, ‘muốn hàng để cứu muôn dân’. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp : “Bệ Hạ nói câu ấy thật là lời nhân đức. Nhưng Quê hương Dân tộc thì sao ? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã !”
Thoát Hoan dùng đại bác bắn phá, và vào được Thăng Long. Triều đình ta chạy về Thanh Hóa.
Khi đó tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan dụ hàng và hỏi : “Có muốn làm Vương không ?” Trần Bình Trọng quát to : “Ta thà làm quỷ Nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc !”
Tháng 5 năm 1285, tướng Trần Nhật Duật phá được quân Toa Đô ở cửa Hàm Tử.
Sau đó, tướng Trần Quang Khải đưa quân đi thuyền từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương, rồi dùng phục binh chiếm lại Thăng Long.
Đức Hưng Đạo Vương thì đem quân đánh ở Tây Kết, và giết được Toa Đô. Quân ta bắt được 3 vạn quân Nguyên và vô số chiến thuyền, khí giới.
Hưng Đạo Vương lại sai phục kích chận mọi đường quân Nguyên có thể rút lui, và tự mình dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh Thoát Hoan. Quân Nguyên thua chạy, tới bến Vạn Kiếp bị phục kích, chết quá nửa. Thoát Hoan chui ống đồng trốn thoát về Tàu.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1697 CN, quân Nguyên kéo qua 50 vạn và sáu tháng sau, chỉ còn 5 vạn rút về.
11. Nhà Trần đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ ba (1287 CN)
Cuối tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan lại theo hai đường thủy bộ, kéo thêm 50 vạn quân xâm lấn, với hơn 800 chiến thuyền, cùng với đoàn tàu 100 chiếc chở lương thực. Phía Đại Việt có khoảng từ 20 tới 30 vạn quân.
Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng sợ bị cắt đường liên lạc, nên tập trung ở Vạn Kiếp. Bộ chỉ huy của Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng.
Tướng Trần Khánh Dư đưa quân phục ở bến Vân Đồn và phá tan đoàn thuyền lương.
Tháng 3 năm 1288, cạn lương, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi mở đường theo sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương lại dùng kế đóng cọc bịt sắt đóng xuống sông Bạch Đằng (theo kế của Ngô Quyền năm 938 CN).
Với trận Bạch Đằng, quân Đại Việt tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc Nguyên. Nghe tin thủy quân tan vỡ, Thoát Hoan kéo chạy về qua vùng Bắc Giang và Lạng Sơn, và cũng bị quân Đại Việt chận đánh tan tành.
Sau ba lần thất bại khi mang quân xâm lược Đại Việt và cả ba lần đều đại bài, từ đó nhà Nguyên thui chột và chấm dứt mộng xâm lược nước ta đến khi nhà Minh lên thay thế.
12. Lê Lợi chiến thắng quân Minh (1428 CN)
Ở Trung Hoa, Nhà Minh do Chu Nguyên Chương lãnh đạo kháng chiến chống lại quân Nguyên, khôi phục giang sơn cho người Hán và lập nên triều đại nhà Minh.
Năm 1406, Triều đình nhà Minh cho quân xâm lấn nước ta. Nhà Hồ do Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần thua. Giặc Minh, với Trương Phụ, bắt đầu chính sách đồng hóa dân ta với dân Tàu...
Năm 1418, Lê Lợi vốn là một nông dân ở Lam Sơn, Thanh Hóa thu nạp anh tài khắp vùng để khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, gửi hịch kể tội giặc Minh và nêu rõ mục đích đánh đuổi quân giặc cướp nước.
Năm 1426, sau 8 năm gian khổ, với nhiều lần nguy cấp, Bình Định Vương thắng trận Tụy Động, và bao vây thành Đông Quan, Thăng Long.
Cuối năm 1427, giặc Minh lại đưa thêm 2 đạo quân sang đánh Đại Việt. Đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu với hơn 10 vạn lính, 2 vạn ngựa. Đạo quân do Mộc Thạnh dẫn 5 vạn lính và 1 vạn ngựa. Nhưng tại Chi Lăng, quân ta giết Liễu Thăng, phá tan toàn bộ quân tiếp viện của giặc, bắt sống hơn 3 vạn quân Tàu. Mộc Thạnh nghe tin, bỏ chạy. Quân Nam theo đánh, giết hơn 1 vạn giặc Minh.
Nghe tin, Vương Thông đang chiếm đóng Đông Quan (Thăng Long), viết thư cầu hòa, và xin cho chúng rút quân về Tàu. Số tù binh, hàng binh và vợ con được thả về Tàu lên hơn 10 vạn người.
13. Vua Quang Trung đại thắng quân Thanh (1789 CN)
Năm 1788, Tôn Sĩ Nghị kéo 20 vạn quân Nhà Thanh, chia làm 3 đạo, tiến đánh Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long.
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ở Huế, được tin, tính chuyện tiến đánh. Quan quân xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.
Vua Quang Trung kéo quân ra tới Nghệ An, nghỉ 10 ngày để mộ thêm lính. Tất cả được 10 vạn quân và 100 con voi.
Vua Quang Trung cho ăn Tết sớm, đêm 30 sẽ kéo quân đi, và hẹn ngày mùng 7 Tết sẽ ăn Tết lại tại Thăng Long.
Trận đánh thần tốc đã phá hết các đồn giặc, đến nỗi chúng không kịp báo tin cho nhau. Chỉ trong mấy ngày, quân Nam đánh chiếm từ Giản Thủy, tới Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi... Sáng mùng 5 Tết, quân Nam vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, lên ngựa tháo chạy. Giặc Tàu tan hàng hỗn loạn chạy theo, làm gãy cả cầu phao rớt xuống sông chết đuối chật sông Hồng. Các đạo quân giặc ở phía Bắc cũng tất tả rút chạy. Tất cả quân Tàu bị quân Nam đánh cho tan tác chỉ trong vòng 5 ngày!
---------------------
Với bề dày lịch sử vẻ vang của dân tộc như thế, dầu sử sách của Tàu cố tình che giấu bớt những lần thất bại nhưng không thể không ghi nhận những lần mang đại quân với binh hùng tướng mạnh sang xâm lược nước ta trong hoàn cảnh lúc đó về dân số, tài nguyên, phương tiện chiến tranh so với Tàu có thể nói là nước ta không tương xứng!
Trong tất cả các cuộc chiến đấu chống giặc Tàu phương Bắc xâm lược, cha ông chúng ta đều tự lực cánh sinh, huy động sức lực của toàn dân trên dưới một lòng đoàn kết chống giặc giữ nước và chung cuộc đều đuổi giặc chạy ra khỏi bờ cõi.
Rất tiếc chỉ vì những động cơ chính trị và những toan tính riêng tư mà ngày nay lịch sử nước Việt chưa được giảng dạy một cách đầy đủ cái hào khí ngày xưa của tổ tiên chúng ta đã dày công dựng nước và giữ nước!
Lịch sử là một môn khoa học nên cần phải tuân thủ qui luật khách quan, không thể bóp méo vo tròn, tùy tiện cắt xén, thêm thắt đơm đặt theo kiểu một chiều.
Chính vì lịch sử ngày nay đã bị xuyên tạc và không bảo đảm tính khách quan của một khoa học để chúng ta nhìn nhận những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ nên người học hiện nay hầu như không còn hứng thú để học và nghiên cứu bộ môn này! Số học sinh am hiểu về sử Việt một cách hệ thống chẳng còn là bao nhiêu. Bộ môn Sử vô hình trung biến thành một môn chính trị tuyên truyền khô khan nhàm chán khiến học sinh bỏ thi môn này ngày càng nhiều, và ngay chính những người có trách nhiệm của ngành Giáo dục cũng nhận ra điều này!
Thời gian qua, cả đất nước, nhất là những người dân Việt quan tâm đến đến vận mệnh nước nhà trước âm mưu Bắc thuộc lần nữa của giặc phương Bắc trong thế kỷ XXI hết sức bất bình và lên tiếng về một “dự án” cải cách giáo dục, trong đó dự định sẽ “tích hợp” môn Sử vào một số môn học khác! Như thế là người ta đã cố tình “khai tử” môn sử Việt, không muốn xem môn sử Việt là một môn học chính thống, là môn học nuôi dưỡng tâm hồn quật khởi, yêu nước tự hào với những hào khí mà cha ông mình đã từng thể hiện trong quá khứ và qua đó giáo dục thế hệ trẻ ngày nay học tập những gương người xưa nhằm bảo vệ giang sơn!
Theo quan điểm cá nhân tôi thì đã có những tay “biệt kích” văn hóa, giáo dục đã nằm vùng ngay trong lòng đất nước chúng ta, đã phác họa ra những mưu mô hết sức xảo quyệt nhằm mục tiêu cuối cùng là làm thui chột ý chí của người Việt chúng ta. Những “con ngựa thành Trojan” hết sức nguy hiểm, là những công cụ thôn tính nước Việt một cách …hòa bình, không cần tốn một viên đạn.
Kẻ thù của chúng ta thì âm mưu vẫn không thay đổi nhưng tình hình thế giới ngày nay có khác với cách đây hàng ngàn năm, hàng trăm năm nên những “bộ óc chiến lược” của giặc cũng phải “biến “ theo tình thế …
Khí thế chống Tàu trong thời gian qua của đại bộ phận người Việt của chúng ta vẫn không hề thay đổi, có thể nói là nhờ vào tinh thần của những bài học lịch sử trong quá khứ mà cha ông để lại cho chúng ta.
Thời nào chúng ta cũng có những anh hùng dân tộc như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ …. Nhưng thời nào cũng tồn tại bọn người tham sống sợ chết, bán nước cầu vinh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống …
Chúng ta phải xem lịch sử như một tấm gương có hai mặt sáng-tối và có như thế, những thế hệ hiện tại và tương lai mới có thể giữ gìn được truyền thống tốt đẹp của người xưa, khinh bỉ phỉ nhổ những kẻ vong ơn bội nghĩa với dân tộc, cam tâm cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ và chính lịch sử dân tộc là một điểm tựa vững chắc cho thế hệ hiện tại cũng như tương lai bám vào để xây dựng và bảo vệ quê hương…
Với tinh thần trên, tôi đã tổng hợp những chiến công trong quá trình chống giặc Tàu phương Bắc như trên như là một ý nguyện cho thế hệ trẻ hiện nay làm một hành trang mang theo trên con đường bảo vệ quê hương …
- FB Hoài Nguyễn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

Tình yêu đối với Tổ quốc là thiêng liêng

Trung Linh Nguyen

Ai đã, đang tuyên truyền thổi phồng con ngáo ộp Trung Quốc để truyền vào thế hệ trẻ thói bạc nhược hèn hạ thậm chí buộc phải im lặng, buông bỏ chủ quyền? Các cháu học sinh bây giờ đa số gần như không biết gì về lịch sử của dân tộc Việt Nam với bề dày 4.000 năm bất khuất kể cả cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1979, 1988.. 
Chúng là ai, tại sao lại muốn dọn đường cho kẻ thù truyền kiếp đô hộ Việt Nam mà chính kẻ thù truyền kiếp từng làm mà chúng chưa bao giờ làm được? 

Tình yêu đối với Tổ quốc là thiêng liêng, tự nhiên như hơi thở, là sự hiến dâng, không có mưu cầu đáp trả, là ý chí và cách ứng xử trước quân thù xâm lược, là biết đặt Tổ quốc lên trên hết và trước tiên. 
Người chính nghĩa hay kẻ gian tà, người trung kiên hay tên phản bội đều phải lấy từ đó mà soi xét. 
Ông cha ta chưa bao giờ nại lý do " giặc mạnh, ta yếu " mà buông bỏ chủ quyền bao giờ mà còn " Sát thát " đánh cho nó biết Nước Nam anh hùng có chủ. Nhớ rằng đất nước Nga vĩ đại là vậy mà còn phải khòm lưng làm nô lệ dưới móng sắt quân Mông mất hai thế kỷ, nhưng cũng những vó ngựa sắt đó đã bị ông cha ta đánh tan tác không chỉ một lần mà đến ba lần buộc phải tâm phục khẩu phục.. Nhưng, nhiều kẻ chưa biết mùi thuốc súng, ăn mày được cái dĩ vãng nào đó nhảy xổm lên làm quan mà không biết nóng mặt khi ngoại bang nhục mạ đất nước, quên đi lịch sử tổ tiên, cha ông không từng nại lý do " Địch mạnh ta yếu " mà bạc nhược để ngoại bang lộng hành ngang ngược bao giờ, quên đi truyền thống đã từng chiến thắng tất cả các triều đại lừng lẫy bậc nhất của Trung Hoa, quên đi ngọn lửa sùng sục trong tim của ông cha đã xem việc bảo vệ Tổ quốc là danh dự, phẩm giá làm người, mà khư khư ôm chặt lấy vũ khí chuyên chính vô sản để bảo vệ lợi ích cá nhân và quyền bính với tiền, tình, tham vọng, dục vọng, mưu mô, tị hiềm, quyền lực và bạo lực, sự ngông cuồng của bản năng, sự hiếu thắng, ngạo mạn với nhân dân cần lao.
Tại sao chỉ vài triệu người Israel xa xứ khắp nơi trên thế giới với ý chí dân tộc mãnh liệt đã quần tụ lại, tự lập thân, lập nghiệp, lập quốc dám kiên cường chống chọi trong vòng vây bủa khốc liệt và dám đánh, dám thắng " con hổ dữ " Arab? Đừng lấy cái gọi là " lời nguyền địa lý " hay thổi phồng rằng do nằm sát bên cạnh một cường quốc khổng lồ, tham lam là con ngáo ộp Trung Quốc để mà cúc cung lệ thuộc. Tại sao không tư duy ngược lại là cả thế giới nằm mơ cũng không có vị trí đắc địa chiến lược như Việt Nam - Một căn nhà mặt tiền giữa ngã ba, ngã tư thế giới mà ông cha để lại thì ta chỉ cần biết hợp tác với người tử tế là đủ giàu có, chưa kể nhân dân ta nổi tiếng cần cù, chịu cực, chịu khó..
"Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực" - Lý Quang Diệu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang