Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019

Đắc Lộ bản cập nhật 2019 : vẫn chưa yên với "chữ quốc ngữ" suốt từ 1650s


Thập niên 1650 là một thập niên đáng ghi nhớ trong lịch sử chữ quốc ngữ, với việc giáo sĩ Đắc Lộ đã miệt mài trong suốt mấy năm ở châu Âu để cho ra đời bộ 3 tác phẩm quan trọng:
Từ điển Việt - Bồ - La,
- Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài,
Hành trình và truyền giáo.

Bộ sách được chuẩn bị từ mấy chục năm trước, nhưng đến thập niên 1650 mới được in thành sách và phổ biến rộng rãi ở châu Âu.
1. Niên đại 1650s luôn là cột mốc vĩ đại trong lịch sử Việt Nam (trên nhiều phương diện). Còn riêng về lịch sử chữ quốc ngữ, bộ 3 tác phẩm của Đắc Lộ cũng là một cột mốc vĩ đại.

2. Bộ sử chính thống của Đại Việt phải đến 1680s mới được nhà nước Đại Việt đem in khắc gỗ. Tức là muộn lại so với 1650s tới khoảng 30 năm. 

3. Loạt bia đá chính thống của nhà Lê Trịnh ở Văn Miếu - Quốc tử giám, tức bia đề danh bia kí (ghi tên các vị đỗ tiến sĩ ở các đời vua Lê trung hưng - Lê mạt), cũng là phải tới thập niên 1650s mới được khắc tiếp. Khắc cùng lúc tới mấy chục tấm bia đề danh tiến sĩ, vì phải đến lúc đó mới có được điều kiện.

Sắp tới, mấy hôm nữa, tôi sẽ công bố một bài viết về thập niên 1650 đáng ghi nhớ này trong lịch sử Việt Nam.

Đến năm 2019, vấn đề Đắc Lộ với chữ quốc ngữ vẫn chưa yên.

Đi một ít tư liệu. Cập nhật dần theo thứ tự ngược.


---




1.


Đăng lúc: Thứ sáu - 05/08/2005 07:20 - Người đăng bài viết: Administrator

Từ CHLB Đức, GSTS Thái Kim Lan, uỷ viên hội đồng biên tập tạp chí Văn hiến Việt Nam, đã gửi về bài viết này và đề nghị giới thiệu để góp phần đính chính những nhầm lẫn tai hại về A. Rhodes dẫn đến việc đề nghị 'tri ân' không xứng đáng với nhân vật lịch sử này. Nhận thấy bài viết của Bùi Kha là rất đáng tham khảo, BBT chúng tôi cho đăng toàn văn, mong nhận được sự trao đổi của các nhà khoa học trong và ngoài nước để có thể đi đến nhận định thống nhất về việc nên hay không tôn vinh A. Rhodes trên đất nước Việt Nam chúng ta.

Mấy ngày qua nhiều anh em gởi email cho tôi với tựa đề "Khôi phục lại tượng đài Alexandre de Rhodes" các bạn nghĩ sao ? Kèm theo bài viết của PGS Hà Đình Đức đăng trên TTX Việt Nam và nghe nói bài viết này cũng được báo Hà Nội mới đăng lại khoảng hai tháng trước.
Đúng ra tôi không nên viết để nêu rõ những nhầm lẫn trong bài của PGS Hà Đình Đức vì tháng 7/1996 tôi đã viết bài đối luận về những sai lầm trong bài "Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau"  của GS Chương Thâu đăng trong Nguyệt san Công giáo  năm 1995. Bài đối luận của tôi có tựa đề. "Góp ý với Giáo sư Chương Thâu về vai trò của linh mục Alexandre de Rhodes và nguồn gốc chữ Quốc ngữ",  về sau đổi gọn thành  "Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ, biện chính với Giáo sư Chương Thâu".  Tháng 2/2004, bài viết này được in lại trong cuốn "Bùi Kha, tuyển tập" gồm 4 bài: A.d. Rhodes, Trần Lục, Trương Vĩnh Ký và Ngô Đình Diệm.
Vì bài viết nói trên quá dài, 55 trang sách, nên tôi thấy cần viết thêm bài này, cô đọng vài điểm chính của bài viết trước, cách đây 8 năm, cũng chỉ nhằm để thảo luận với PGS Hà Đình Đức về linh mục Alexandre de Rhodes, người cố ý hay vô tình vinh danh sai lầm qua nhiều thế hệ!
1. PGS Hà Đình Đức viết: "Cách đây hơn 60 năm, tại khuôn viên nhỏ cạnh đền Bà Kiệu trên Hồ Gươm đã từng có nhà bia Alexandre de Rhodes - người có công trong việc chế tác chữ Quốc ngữ...".
Sáu mươi năm trước, tức là khoảng 1940, thời kỳ Việt Nam còn bị ách thống trị của thực dân Pháp và của giáo hội Công giáo Pháp thì việc ca tụng A.d. Rhodes (một giáo sĩ người Pháp) chắc chắn mang nhiều tính chất chính trị, tôn giáo và thiên vị hơn là tính sử học khách quan đúng đắn.
2. "Ông để tâm nghiên cứu về phong tục tập quán, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên nước ta...Ông đã sọan ra nhiều truyện ký dịch ra nhiều thứ tiếng như: "Phép giảng tám ngày", "Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha - La tinh", "Diễn giải vắn tắt về Hành trình truyền giáo Đàng Ngoài", "Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài"...
PGS Hà Đình Đức chép lại đoạn ghi trong bia ký như trên nhưng đã không đọc để biết mục đích "nghiên cứu về phong tục tập quán, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên nước ta..." của vị linh mục này là với hậu ý gì ? PGS cũng không đọc để biết các cuốn "Phép giảng tám ngày", "Hành trình tuyên giáo"... viết gì trong đó ? Với những lời lẽ kích động "tiến lên",  xấc xược ngạo mạn đầy rẫy trong mấy tác phẩm của ông, nhất là trong cuốn "Phép giảng tám ngày" của vị giáo sĩ Dòng Tên này có đáng được xem là những tác phẩm văn hoá có giá trị hay không ? Vấn đề này tôi đã phân tích trong bài viết cách đây 8 năm, nên không nhắc lại ở đây nữa. Và cuối cùng là cuốn "Từ điển Việt - Bồ - La"  không phải là sản phẩm hoàn toàn của A.d. Rhodes mà ông chỉ thêm phần La tinh vào hai cuốn từ điển đã có sẵn của người khác.
3. "Đến năm 1993, nhân 400 năm ngày sinh của Alexandre de Rhodes, Câu lạc bộ Sử học đã tổ chức cuộc toạ đàm về Alexandre de Rhodes. GS Nguyễn Lân nhắc đến nhà bia tri ân Alexandre de Rhodes bên Hồ Gươm đã bị phá bỏ do tư tưởng hẹp hòi không phù hợp với đạo đức của dân ta, một dân tộc trọng tình nặng nghĩa, uống nước nhớ nguồn...Sau Cách mạng tháng Tám, ta vẫn giữ tượng bán thân của nhà vi trùng học Pasteur ở vườn hoa trước viện Vệ sinh dịch tễ, trước viện này có phố mang tên bác sĩ Yersin..."
Qua đoạn văn trên chúng ta thấy ý kiến của GS Nguyễn Lân rất đúng là "đạo đức dân ta, một dân tộc trọng tình nặng nghĩa, uống nước nhớ nguồn". Nhưng trọng tình nặng nghĩa và uống nước nhớ nguồn trong trường hợp nhà vi trùng học Pasteur và bác sĩ Yersin thì đúng, còn trường hợp đối với linh mục A.d. Rhodes tại Hà Nội thì hoàn toàn sai, và việc phá bỏ nhà bia tri ân A.d. Rhodes tại Hà Nội và bãi bỏ tên đường mang tên ông ta tại TP. Hồ Chí Minh là một việc làm sáng suốt áp dụng đúng cho bản chất và con người chính trị đội lốt tôn giáo, A.d. Rhodes, mà tôi sẽ chứng minh trong bài này.
4. "Năm 1995, nhân kỷ niệm 335 ngày mất của Alexandre de Rhodes, Trung tâm KHXH & NVđã tổ chức hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Alexandre de Rhodes. GSTS Nguyễn Duy Quý đã kết luận: trước mắt, đối với Alexandre de Rhodes - như chúng ta đã có kiến nghị với Chính phủ - để thiết thực ghi nhận những đóng góp của ông, chúng ta sẽ tiến hành đưa tấm bia ghi công ông trong việc điển chế hoá chữ Quốc ngữ vào khuôn viên Thư viện Quốc gia và sẽ khôi phục là tên phố Alexandre de Rhodes ở TP Hồ Chí Minh".
Đoạn văn này, một lần nữa, cho thấy các nhà khoa học trong cuộc hội thảo nói trên đã không tìm hiểu rõ ràng nên đã sai lầm trong việc kiến nghị với Chính phủ để ghi nhận, thay vì lên án linh mục A. D.Rhodes. Nguyên nhân chính dẫn đến việc khôi phục lại địa vị của Alexandre de Rhodes như trên, GS Chương Thâu trình bày rõ hơn trong bài "Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau". Theo bài viết này thì trong cuộc hội thảo tháng 3/1993, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Cầu, GS Sử học Đinh Xuân Lâm và cả GS Chương Thâu đã đồng ý với linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch cụm từ "Pluisieurs Soldats" là "mấy chiến sĩ" và còn chú thích, chiến sĩ ở đây được hiểu là "Lính thừa sai", tức là "các giáo sĩ" chứ không phải là lính chiến là các người có súng để đánh giặc. Vì việc dịch sai lầm nên mới đưa đến có kiến nghị phục hồi vị trí (sai lầm) cho ông A.d. Rhodes như vừa nói trên.
Trong bài " Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ biện chính với Giáo sư Chương Thâu" tôi đã đưa ra 6 luận điểm bằng sử liệu để chứng minh việc dịch sai lầm ấy. Sau đây tôi chỉ tóm lược 3 điểm chính.
a. Từ điển Larousse dịch "Plusieurs"  là "nhiều"  và chữ  "Soldats" là "lính chiến" (tiếng Anh: soldiers). Và chữ "Missionnaires" mới có nghĩa là "thừa sai"  hay "giáo sĩ"
b. Linh mục Alexandre de Rhodes viết rất rõ: "Tôi nghĩ nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều binh lính (Plusieurs Slodats) để chinh phục toàn cõi Phương Đông (La conquête de tout I"Orient".
Nước Pháp hay nói đúng hơn là Chính phủ Pháp thì không thể có lính thừa sai mà chỉ có lính chiến (soldats) mà thôi. Và chỉ trong Giáo hội Pháp mới có "lính" ("thừa sai" missionnaires).
c. Tại sao linh mục Alexandre de Rhodes không xin Giáo hội Pháp mà xin Chính phủ Pháp ? Vì sắc lệnh 1493, Giáo Hoàng Alexander Borgia chia thế giới làm hai, cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha có quyền đi chiếm thuộc địa và truyền đạo. Vì vậy mà Giáo hội Pháp không có quyền chen chân vào các nước Phương Đông nơi mà Giáo hoàng Alexander Borgia đã chia cho Bồ Đào Nha. Vì thế, linh mục A. D.Rhodes không thể nhờ cậy gì vào Giáo hội Pháp trong việc chinh phục toàn cõi Phương Đông (laconquête de tout I"Orient) mà phải nhờ Chính phủ Pháp là vì vậy. Chính cụm từ "la conquête de tout I"Orient"  cũng được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, GS Sử học Đinh Xuân Lâm và GS Chương Thâu trong buổi hội thảo nói trên dịch là "Nước Cha trị đến" thì thật là quá gượng ép, nhằm cưỡng từ đoạt lý.
Tôi không những đồng ý với Bộ Văn hoá và Chính phủ Việt Nam, đã có lần, bãi bỏ việc vinh danh Alexandre de Rhodes mà còn nên liệt kê rõ công, nếu có, và tội của ông giáo sĩ này để làm gương cho hậu thế.
Công, nếu có, hay tội của Alexandre de Rhodes thường được căn cứ vào ba câu hỏi chính sau đây:
A. Sáng chế chữ quốc ngữ:
Alexandre de Rhodes có phải là người sáng chế chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh hay không ? Chính ông Alexandre de Rhodes, chứ không phải là người nào khác, trả lời KHÔNG qua đoạn trích dẫn do chính ông viết trong "Lời nói đầu" của cuốn "Từ điển Việt - Bồ - La"  như sau:
"Quyển từ điển tam ngữ này, gồm  tiếng An Nam, Bồ Đào và La tinh tôi đặt nó vào trong tay và để trước mắt bạn được, là nhờ vào sự tài trợ của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin...
Tuy nhiên trong công việc này (học chữ Quốc ngữ - B.K) ngoài những điều mà tôi học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần hai mươi năm thời gian mà tôi lưu trú lại hai xứ Cô-sinh (Đàng trong - B.K) và Đông Kinh (Đàng ngoài - B.K) thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê - su rất nhỏ bé, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ đào, nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi còn thêm tiếng La tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn..."
(Từ điển Việt - Bồ - La, Alexandre de Rhodes, NXB Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh, 1991, trang 3, phần Việt ngữ).
Ông A.d. Rhodes cho thấy rõ là ông không phải là người sáng chế chữ Quốc ngữ và ông cũng chưa bao giờ là tác giả hoàn toàn cuốn "Từ điển Việt - Bồ - La" mà ông chỉ có công thêm phần La tinh vào mà thôi. Vậy, chúng ta có cần phải gán cho Alexandre de Rhodes cái công sáng chế chữ Quốc ngữ là việc làm mà chính ông đã khẳng định là KHÔNG qua đoạn văn chính ông viết thư trên ? Alexandre de Rhodes "lương thiện" như thế vì trước ông đã có "Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha" của Gaspar de Amaral, "Từ điển Bồ Đào Nha - An Nam"  của Antonio Barbosa, "Nhập môn tiếng Đàng Ngoài" (Manuductio ad Linguam Tunckinensem) của giáo sĩ Thuỵ Sĩ gốc Đức Onofre Borges.
Thêm nữa và gần đây nhất, bài viết của Nguyễn Phước Tương cũng đưa ra những sử liệu cho thấy Rhodes không phải là người sáng chế chữ Quốc ngữ. Tạp chí "Huế, xưa & Nay "  số 62 (tháng 3,4/2004), trong bài viết "Sự phát minh chữ Quốc ngữ: vai trò tiên phong của Francisco de Pina và vị trí quan trọng của người Việt", tác giả Nguyễn Phước Tương đã trích dẫn lá thư dài 7 trang của vị giáo sĩ Bồ Đào Nha này gửi cho Khâm sai  Jérónimo Rodriguez vào năm 1623 (được nhà ngôn ngữ học người Pháp Roland Jacques tìm thấy trong Thư viện Quốc gia của Cung điện Hoàng gia Ajuda ở Lisbone và công bố trong công trình của mình vào năm 1995 và 2002), cùng những trước tác ngữ học và văn học bằng tiếng Việt La tinh của ông ("Chuyên luận về Từ vựng và các thanh tiếng Việt", "Ngữ pháp tiếng Việt", "Tập các loại chuyện cổ tích", "Tuyển tập các bài viết hay ở Đàng trong"), cũng như ghi lại quá trình lĩnh hội và xử lý tiếng Việt để chứng minh hai điều: (a) Nếu phải xác định ai là người tiên phong và đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ, trước khi Rhodes đặt chân tới nước ta, thì người đó phải là linh mục Bồ Đào Nha Fracisco de Pina; và (b) Chính De Pina đã dạy cho Alexandre de Rhodes tiếng Việt và sau khi De Pina chết, chính Rhodes, "một người dị nghị trong hàng ngũ đồng nghiệp về trình độ tinh thông tiếng Việt "đã" giữ lại các công trình đó cho mình và đã mang theo trong chuyến ra Đàng Ngoài vào năm 1627.
B. Tư tưởng chính trị
Ông Alexandre de Rhodes có vận động Pháp đánh chiếm Việt Nam hay không? Chính ông ta trả lời Có trong đoạn văn mà cũng chính ông viết như sau trong cuốn "Hành trình và truyền giáo" (Divers Voyages Et Mission), bản dịch của Hồng Nhuệ, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Tp Hồ Chí Minh, 1994)
"Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Đông Phương, đưa về quy phục chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Roma ngày 11/9/1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng" - (gần cuối tr.263).
"Tội đi quan Marxaay và Lyon rồi tới Paris; theo tôi thì Paris là thu gom hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất này" - (cuối tr. 263).
Trên đưòng từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên uý của Hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngày rất nhiều nhân đức và thương yêu, suốt đời tôi, tôi quý mến công ơn và sẽ đề cao cuộc hội ngộ may mắn nhất trong suốt các hành trình của tôi" (đầu tr.264.).
Đoạn văn trên đã cho thấy, chính linh mục Alexandre de Rhodes đã nhờ Giám mục thành Puy, Henri de Maupa cũng là tuyên uý của Hoàng hậu vợ vua Luis, dẫn vào triều đình để vận động xin giúp nhiều lính chiến (Plusieurs Slodats) để chinh phục toàn cõi Đông phương (trong đó có Việt Nam). Tuy sự vận động đó chưa thành hình vào thời điểm của ông, nhưng nó đã mở đường cho Pháp xâm lăng nước ta 206 năm sau. Lính Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 1/9/1858.
Thế mà một số các nhà nghiên cứu của ta, bảo hoàng hơn vua, lại cứ muốn "cưỡng ép" ông Rhodes (Đắc Lộ) phải đóng vai cha đẻ chữ Quốc ngữ cho bằng được, và tìm cách chối bỏ cái tội mà ông đã vào trong triều đình Pháp vận động để Pháp đánh chiếm nước ta để rồi kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền để vinh danh một người không những tầm thường mà là một tên gián điệp, vì động cơ chính trị của ông là bước khởi dẫn cho gần một trăm năm nước ta bị Pháp đô hộ và hệ quả của nó vẫn còn di hại cho đến ngày nay.
Trong suốt gần 100 năm Pháp thuộc, chính quyền Pháp và Giáo hội Công giáo Pháp  (cũng như Việt) đã cố tình "dạy" cho dân ta rằng người sáng chế chữ Quốc ngữ là một ông cố đạo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes mà không nhắc đến các giáo sĩ người Bồ Đào Nha chủ yếu là vì hai lý do: (a) Về mặt tôn giáo, thách thức sắc lệnh năm 1493 của Giáo hoàng Alexander Borgia chia thế giới làm hai, gạt bỏ Giáo hội Pháp dành cho Bồ Đào Nha độc quyền truyền bá đạo Chúa tại các nước phương Đông; và (b) Về mặt chính trị, ghi công Rhodes đã góp phần đắc lực vào công cuộc xâm lược và đặt nền móng đô hộ tại Việt Nam của Pháp thông qua những hoạt động gián điệp và đào tạo một đội ngũ tay sai bản xứ của ông ta.
Như vậy, Rhodes biểu tượng rõ ràng cho cả cuộc xâm lăng văn hoá (sẽ trình bày rõ hơn trong phần C dưới đây) lẫn nền đô hộ chính trị. Và đối với Giáo hội Công giáo Pháp và bản địa thì việc vinh danh Rhodes, vì ông là người đi chinh phục toàn cõi phương Đông, trong đó có Việt Nam, để mang về cho Vatican những con người sẵn sàng phản bội với tổ quốc của chính họ. Còn người Pháp cũng như tay sai của họ, việc đúc tạc bia cho Rhodes là chuyện đương nhiên phải làm để nhớ cái công ơn sáng kiến chinh phục cõi phương Đông, và cung cấp cho Pháp một đội ngũ trung thành không thể thiếu trong cuộc xâm lược và đô hộ nước ta. Còn dân Việt ta đã đánh đuổi được quân xâm lăng Pháp ra khỏi bờ cõi để dành lại nền độc lập chính trị và chủ quyền quốc gia, thế mà giờ này, năm 2004, ngay tại Thủ đô Hà Nội, vẫn còn có một số nhà nghiên cứu đòi vinh danh một tên gián điệp của thực dân ?
C. Khí cụ chữ Quốc ngữ
Các giáo sĩ Tây phương sáng chế chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh với mục đích gì ? Chúng ta nên thấy rõ chiến lực chính trị của Giám mục Puginier mặc dầu ông không sống đồng thời với linh mục Alexandre de Rhodes, nhưng chiến lược lịch sử thì giống nhau, vì đây là một trong những công cụ đã được sáng chế bởi những giáo sĩ đi trước Giám mục này.
Mục đích việc sử dụng chữ Quốc ngữ của Giám mục Puginier.
"Từ lâu, tôi chủ trương dạy chữ và dùng chữ châu Âu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà đã sáu lần tôi đề nghị. Nhưng tôi sung sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta hoạt động tích cực trong mục đích này: ngoài trường dạy tiếng Pháp của phái bộ là trường đầu tiên thiết lập ngày 8/2/1884, Chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5/4/1885.
Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy học và viết tiếng An Nam bằng chữ châu Âu. Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần dà bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.
Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi nước Trung Hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An Nam và phe trí thức An Nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần.
Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông"
Ngoài việc Thiên Chúa giáo hoá xứ này và xoá bỏ chữ Nho, Giám mục Puginier còn đề nghị một số biện pháp thực tế khác để củng cố nền thống trị Pháp ở Bắc Kỳ: cho định cư tại ven biên giới Việt Nam, tiếp cận Trung Hoa các nhóm dân thân hữu và trung thành với nước Pháp, sử dụng các dân tộc ít người trong công việc bình định, đào tạo một đội quân Pháp theo mẫu quân đội Ấn Độ xưa kia, tạo lập một nông trại kiểu mẫu do tu sĩ dòng Luyện Tâm đảm đương, giảm bớt chi phí và thuế má để chinh phục (lòng quý trọng và thương yêu) của dân chúng...
Giám mục kết luận: "Tôi đã làm việc gần 30 năm trong phái bộ và tôi biết khá nhiều về đất nước này để đảm bảo được rằng nếu Chính phủ chấp thuận theo kế hoạch mà chúng tôi hân hạnh đưa ra, thì không bao lâu nữa Bắc Kỳ sẽ thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông mà tôi một lòng tha thiết muốn xây dựng"
"Là giám mục Hà Nội, người cầm đầu phái bộ lớn nhất Bắc Kỳ đã giúp nhiều cho đoàn quân chiếm đóng Pháp nhờ sự hiểu biết rộng lớn về đất nước này, Puginier lúc nào cũng là vị cố vấn được nghe theo nhiều nhất, là kẻ hợp tác mà giới chức Pháp luôn tôn trọng. Tóm lại, ông ta là Laviegerie ở Đông Dương" (Cao Huy Thuan "Christianisme Et Colonialisme Au Vietnam 1857 - 1914), Paris, Frace - 1968. Pp.425 - 426; Luận án Tiến sĩ của Cao Huy Thuần, "Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam 1857 - 1914",  bản ronéo  tiếng Pháp. tr.425-426).
Như thế, chữ Quốc ngữ được các giáo sĩ người Bồ, nhất là Fracisco de Pina, chứ không phải Alexandre de Rhodes, sáng chế, trước hết, là để dễ dàng biến đổi những người Việt hiền lành theo lời kêu gọi "Chẳng thà mất nước không thà mất Chúa"  như linh mục Hoàng Quỳnh khẳng định, hoặc như Giám mục Puginier cũng đã xác nhận "Không có giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng như cua bị bẻ gẫy hết càng", và về sau chữ Quốc ngữ đã trở thành một khí cụ đồng hoá dân tộc ta như Giám mục Puginier cho thấy như trên.
Nhân dân ta đã nhanh nhẹn biết sử dụng loại vũ khí chữ Quốc ngữ để dễ mở mang dân trí nhằm đánh đuổi thực dân ra khỏi nước. Vì tiến trình không tốt đẹp giữa cứu cánh và phương tiện chữ Quốc ngữ, nên nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều ý kiến tương đồng:
Tiến sĩ Trần Chung Ngọc: một bọn cướp vào nhà, chúng dùng khí giới uy hiếp, giết người. Nhưng khi có người đã giành được khí giới của chúng và giải phóng các nạn nhân. Vậy chúng ta có cần phải biết ơn những tên cướp đó không ?
Cựu thẩm phán Charlie Nguyễn, một trí thức đạo Dòng hỏi: kẻ thù vào nhà dùng dao cướp của giết người, chúng để lại dao, ta dùng dao vào việc tiện ích. Vậy chúng ta có cần phải tạc tượng để ghi ơn chúng ?
GS Trần Thanh Đạm cũng luận: thực dân Pháp vào Việt Nam, chúng xây phi trường để cho máy bay oanh tạc nghĩa quân kháng chiến. Nay chúng ta sử dụng phi trường đó để vận chuyển, chẳng lẽ chúng ta phải biết ơn thực dân ?
Tóm lại, bài viết được đăng trên một hãng thông tấn có giá trị của Nhà nước (TTXVN), nhưng hầu như PGS Hà Đình Đức đã không đọc mấy tác phẩm của Alexandre de Rhodes, mà chỉ lặp lại vài đoạn khắc "công lao"  của vị linh mục này trên tấm bia ký dựng năm 1941.
Cũng thế, qua bài viết của GS Chương Thâu "Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau", chúng ta cũng thấy được thêm nhiều hội thảo viên đã chưa đọc mấy tác phẩm của Alexandre de Rhodes, nhất là cuốn "Từ điển Việt - Bồ - La" và "Hành trình và truyền giáo" nên đã bị các GS Chương Thâu, Nguyễn Đình Đầu, Đinh Xuân Lâm và linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên...chi phối. Vì vậy, GS Chương Thâu cho biết, "Chính trong cuộc hội thảo đó của Hội Sử học đã đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hoá...) nhằm "khôi phục" vị trí xứng đáng cho linh mục A.d.Rhodes".
Việc kiến nghị thiếu nghiên cứu kỹ lưỡng này đã làm cho Thủ tướng và Bộ văn hoá trở thành khó xử trước một vấn đề lịch sử, mà cho đến nay các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước vẫn chưa cử một ban đặc biệt chuyên môn để nghiên cứu lại các nhân vật được vinh danh nhầm như Alexandre de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký...để công bố cho quốc dân biết công và tội của họ.
        Nguồn: Văn hiến Việt Nam, số 7(39), 2004, tr. 12-15


Từ Giao blog


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2019

Hãy nhớ và "để điều này có thể không bao giờ xảy ra nữa".




Phuong Vo Truc đã đăng trong Cựu chiến binh 88 (CBB 88).

Sắp đến kỷ niệm ngày E88 bước chân sang K làm nghĩa vụ quốc tế để xoá sổ chế độ Pôn Pốt.
Các bạn có thể hồi tưởng lại những kỷ niệm mà mình đã trãi qua.
Bài báo được đăng lần đầu trên trang nhất tờ The Mirror của Anh, ngày 12/9/1979)
-Theo An ninh thủ đô-
"VÙNG ĐẤT CHẾT" CỦA KHMER
Khmer Đỏ tuyên bố 1975 là “Năm Zero” - sự khởi đầu của sự kết thúc thế giới hiện đại. Mục đích là tái tạo một xã hội nông thôn “thuần khiết” tương tự như đế chế Khmer thế kỷ thứ 10?
Ít người biết về Pol Pot, ngoại trừ việc ông ta là một trong nhóm người Campuchia đã học chính trị ở Paris vào cuối những năm 1940.
Ông ta tuyên bố đã là một nhà tu theo Phật giáo và một giáo viên; thực tế, ông ta xuất thân từ một gia đình giàu có và ước mơ của ông ta về một xã hội không phân chia tầng lớp đã kết thúc vì thân phận đó. Mao Trạch Đông là anh hùng của ông ta và ông ta muốn trở thành Mao Trạch Đông của Campuchia: một Pharaoh châu Á.
Thực ra ông ta, có khả năng, là một kẻ tâm thần.
7 giờ 30 sáng 17/ 4/1975, Khmer Đỏ tiến vào thủ đô Phnom Penh. Một giờ sau họ đã ra lệnh giới nghiêm.
Không có ngoại lệ.
Các bệnh viện đã được dọn sạch; các bác sĩ buộc phải ngừng hoạt động vào giữa ca mổ. Những bệnh nhân đang hấp hối bị đẩy ra đường phố trên giường bệnh.
"Tôi đang ở trong lớp học khi họ xông vào”, ông Prak Sarinn, một cựu giáo viên nói, "Họ dí súng vào chúng tôi và bảo tất cả chúng tôi phải đi về nông thôn. Những đứa trẻ bật khóc. Tôi hỏi liệu chúng tôi có thể về nhà để gặp gia đình trước không, họ nói không. Thế nên chúng tôi buộc phải đi, và hầu hết những đứa trẻ đã chết vì kiệt sức hoặc đói. Tôi không bao giờ gặp lại gia đình mình nữa".
Ông Sarinn sống sót bằng vỏ bọc nông dân – tầng lớp duy nhất "được chấp nhận".
Khi quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh vào tháng Giêng năm ngoái, kết thúc bốn năm rưỡi của khủng bố, họ đã tìm thấy một thành phố gần như giống hệt khi nó bị giới nghiêm vào ngày đầu tiên của "Năm Zero".
Đó là một cảnh tượng khó quên, khó quên. Trong sự im lặng, ẩm ướt và thiếu dưỡng khí, nó giống như một thành phố không người, chỉ có các tòa nhà.
Nhà, căn hộ, văn phòng, trường đại học, trường học, khách sạn bị bỏ hoang và mở cửa, khi hơn hai triệu người bị đưa ra đầu mũi súng, hầu hết trong số họ đã chết.
Một tấm bằng tốt nghiệp y khoa nằm trên một con đường; một chiếc xe ba bánh bị nghiền nát trong máng thoát nước; đèn giao thông bị kẹt trong màu đỏ. Ngoại trừ ở trung tâm, không nơi nào có điện.
Không có nước máy và nước uống; các hồ chứa vẫn bị ô nhiễm với những xác người.
Tại ga đường sắt, xe lửa đứng chơ vơ trên các đường ray. Đằng sau một ngôi chùa là một đống điện thoại bị đốt cháy.
Từ “Năm Zero”, không có điện thoại, không bưu điện, không có liên lạc dưới bất kỳ hình thức nào; và không có tiền.
Cơn gió mùa buổi chiều ập đến và máng xối đột nhiên tràn ngập giấy. Nhưng nó không phải là giấy, đó là tiền. Tiền rải đầy trên các đường phố, hầu hết đều có số serries mới. Trên một góc tiền có ghi: Ngân hàng Nhà nước Campuchia.
Có những quyển séc vẫn còn trên quầy, ghi tháng 4 năm 1975 - năm Zero. Một cặp kính vỡ nằm trên sổ cái đang để mở.
Tiền ở khắp mọi nơi: sàn nhà trơn trượt với tiền xu và hộp ghi chú mới được xếp chồng lên nhau khi chúng được nhận từ nhà cung cấp ở London cách đây bốn năm rưỡi.
Thành phố như trong một giấc mơ.
Một nhà thờ Gothic tráng lệ được người Pháp xây dựng trong thế kỷ XIX đã không còn. Khmer Đỏ không chỉ phá hủy nó; chúng tháo dỡ đá từng viên đá, như thể nó chưa bao giờ tồn tại.
Từ năm Zero, mọi tôn giáo đều được tuyên bố là "bất lợi" cho đất nước mà đời sống chủ yếu xoay quanh giáo lý của Đức Phật trong nhiều thế kỷ.
Ký ức sinh động nhất của tôi về Campuchia trong lần cuối tôi đến đây là một vùng đất đầy các nhà sư áo vàng. Giờ thì không còn một ai; bất cứ ai bị trông thấy đang cầu nguyện đều bị giết.
Qua một nhà thờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông và một cậu bé, bước đi với vẻ sợ hãi mà tất cả những người sống sót ở đất nước này đều có. Cậu bé mười lăm tuổi trông như mới chín tuổi, và cậu ấy đang đói. Cha cậu bé bị mù và rất nhiều sẹo trên cơ thể do bệnh đậu mùa.
Ông ấy là thợ mộc và tên là Khim Kon. "Thằng bé này," ông nói, vỗ nhẹ vai con trai mình, "là người thân duy nhất của tôi còn lại. Vì chúng tôi đến từ thành phố, chúng tôi bị phân loại 'người mới', và phải làm việc từ 3 giờ sáng đến 11 giờ đêm, cả trẻ con. “Vợ tôi và ba đứa con trai khác đều đã chết”.
Sổ tay của tôi chứa đầy những câu chuyện kinh khủng tương tự, mà đến trực tiếp từ những người đơn giản không có lý do để nói dối. Tôi vẫn chưa tìm được một gia đình nào còn nguyên vẹn.
Tình trạng giết người man rợ của Khmer Đỏ không phải lúc nào cũng ngẫu nhiên. Nó được tổ chức chặt chẽ, với mục đích chính là giảm dân số xuống còn ít hơn 2 triệu: đến một thế hệ mới không bị ràng buộc với cuộc sống cũ.
“Nếu muốn sống", các cán bộ Khmer Đỏ nói với người dân thị trấn, "các người phải sống trong im lặng. Không nghe thấy gì, không biết gì, không hiểu gì cả”.
Các quy tắc đã rõ ràng. Mọi người sống trong các trang trại tập thể, các khu nhà lợp mái không có tường để có thể được giám sát mọi lúc. Họ được cho ăn theo năng suất công việc, và điều này thường có nghĩa là một mẩu gạo với kích thước của một chiếc thìa Nescafe nhỏ hai lần một tuần.
“Không có tình bạn giữa người với người”, một phụ nữ 25 tuổi tên là Sophak, người đã trở thành thông dịch viên của tôi suýt bị ném vào giếng vào ngày quân đội Việt Nam giải phóng trại của cô kể lại, "Một học sinh đã cố hóa trang thành một nông dân, đã bị đưa đi và đánh đến chết chỉ vì cậu ấy mỉm cười với tôi trong khi chúng tôi xát gạo. Chúng tôi thậm chí chưa bao giờ nói chuyện...".
Chỉ có "người giám sát" các trại mới có thể cho phép hôn nhân và vợ chồng chỉ được phép gặp nhau mỗi tháng một lần.
Bất cứ ai ngủ gật khi dự các lớp giáo dục "tư tưởng" nửa đêm sẽ bị cắt khẩu phần của tuần, hoặc bị giết.
Ngay cả bản thân từ “ngủ” cũng bị cấm; từ Năm Zero chỉ có "nghỉ ngơi".
Nhiều cánh đồng và rừng đã bị phá hủy vì lý do "chiến lược". Các nhà lãnh đạo Khmer Đỏ bị ám ảnh bởi viễn cảnh của một “cuộc xâm lược” của nước láng giềng, nên liên tục kéo dài cuộc tấn công vào các làng ở biên giới Việt Nam.
Trong một thung lũng gần các ngôi đền cổ Angkor Wat ở phía tây Campuchia, một trong những kỳ quan của thế giới, có một dải ruy băng bằng cỏ mọc cao tạo đường cho các chiến hào đã được khai quật gần đây.
Chúng được nhồi đầy những bộ xương, với những vết thương khủng khiếp trên đầu: búa đinh là dụng cụ phổ biến nhất gây ra cái chết.
Cho đến nay, hài cốt của 9.000 người đã được tìm thấy ở đây.
Trong ba tuần qua, Eric Piper và tôi đã đến nhiều điểm như thế này và đôi khi chúng tôi liên tưởng đến năm 1945, khi chúng tôi tới trại tập trung Belsen và Auschwitz.
Một trong số đó là nhà tù Tuol Sleng, nơi từng là trường học. Giống như Auschwitz, nó được bao quanh bởi một hàng rào dây thép gai đôi.
Giống như nạn nhân của Auschwitz, nhiều tù nhân được đưa tới đây bằng tàu hỏa và ít khi sống sót.
Nó được điều hành bởi một cơ quan gọi là "S21", được chia thành một "đơn vị thẩm vấn" và một "đơn vị tra tấn và thảm sát".
Trong các phòng học cũ, nơi mọi người bị cắt nhỏ trên giường sắt, máu và búi tóc của họ nằm trên sàn nhà. Rất nhiều.
Từ tháng 12/1975 đến tháng 6/1977, khoảng 12.000 người chết từ từ ở đây. Những kẻ giết người chụp ảnh nạn nhân trước và sau khi họ bị giết.
Chúng ghi lại tên, tuổi của họ, chiều cao và cân nặng. Và, giống như ở Auschwitz, có một căn phòng chất đầy quần áo và giày của các nạn nhân, nhiều người trong số đó là trẻ em, tới tận trần nhà
Khi quân đội Việt Nam phát hiện ra nơi này, họ tìm thấy 8 người còn sống sót trong số các xác chết, bao gồm bốn đứa trẻ và một em bé 1 tháng tuổi.
Đó là tin tức từ Campuchia, bị trì hoãn trong bốn năm rưỡi. Ngày nay, “chính phủ” gây ra tội ác này vẫn được hưởng sự tôn trọng và công nhận tại Liên Hợp Quốc; và lãnh đạo của nó, kẻ giết người hàng loạt Pol Pot, đã được quy y tại Trung Quốc.
Hai người đàn ông chịu trách nhiệm trực tiếp về việc ném bom và đẩy Campuchia vào sự hỗn loạn, thứ góp phần vào sự trỗi dậy của Khmer Đỏ: Richard Nixon đã ra đi năm 1974 vì sự dối trá; người còn lại, Henry Kissinger, đã nhận giải Nobel Hòa bình!
Cách đây một thế hệ, trong khi thế giới văn minh lúng túng trước thảm họa Auschwitz, Liên Hợp Quốc đã được hình thành "để điều này có thể không bao giờ xảy ra nữa".
Và nó lại xảy ra.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị bắt vì « chống Nhà nước »



Thụy My RFI tại Thụy My RFI - 3 giờ trước
*Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.* *Đăng ngày 21-11-2019 ** Sửa đổi ngày 21-11-2019 15:45* *Theo báo chí trong nước, tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã bị bắt hôm nay 21/11/2019 và bị khởi tổ vì cáo buộc « làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Việt Nam » theo Điều 117 Luật Hình sự sửa đổi.* Thông cáo của Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho biết cơ quan An ninh Điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam và lệnh khám xét đối với ông Phạm Chí Dũng, sinh năm 1966, ngụ tại Tân Bình. Cũng theo thông cáo này, ông Phạm Chí Dũng đã... thêm »


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kissinger: Thương chiến Mỹ-Trung có thể dẫn đến xung đột quân sự

VOV.VN - Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cảnh báo xung đột vũ trang Mỹ-Trung có thể nổ ra nếu 2 nước không thể giải quyết được thương chiến đang diễn ra.

Bình luận của nhà ngoại giao từng đóng vai trò quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh này được đưa ra tại một hội nghị ngày 21/11 ở Bắc Kinh về tương lai của 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
kissinger: thuong chien my-trung co the dan den xung dot quan su hinh 1
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger. Ảnh: Getty
"Nếu xung đột tiếp diễn và vượt ngoài tầm kiểm soát, kết quả sẽ còn tồi tệ hơn cả cuộc chiến tranh từng diễn ra ở châu Âu", ông Kissinger nhận định tại Diễn đàn Kinh tế Mới Bloomberg.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ cũng cho biết thêm: "Thế chiến I đã nổ ra vì một cuộc khủng hoảng tương đối nhỏ... và ngày nay các loại vũ khí còn mạnh hơn nhiều".
Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã kéo dài suốt 18 tháng qua trong khi hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn đang xoay xở để đạt được một thỏa thuận sau hàng loạt các cuộc đàm phán.
Căng thẳng giữa 2 nước leo thang cả trên mặt trận ngoại giao liên quan đến nhiều vấn đề khác như Biển Đông, Hong Kong...
Nhà ngoại giao kỳ cựu 96 tuổi Kissinger nhận định rằng trong Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, một kế hoạch nhằm giảm khả năng hạt nhân của 2 nước là ưu tiên hàng đầu.
Nhưng với Trung Quốc, do các cuộc xung đột trước đó giữa 2 nước luôn trong tình trạng "thụ động" nên cựu Ngoại trưởng Mỹ cảnh báo rằng không có cơ chế giải quyết cụ thể nào với Bắc Kinh nếu sử dụng "quyền lực quân sự".
Nếu 2 bên tiếp tục nhìn nhận từng vấn đề trên thế giới theo hướng xung đột với nhau, điều đó sẽ "nguy hiểm cho nhân loại", ông Kissinger cho biết./.
Theo CNA

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHÔNG LÀM ĐƯỜNG SẮT LÀO CAI – HẢI PHÒNG CHO TRUNG QUỐC Giao thông VN nhiều chổ đang cần đầu tư làm hơn đường sắt Lào cai Hải phòng



1. Liên tục mấy ngày qua hàng triệu người Việt Nam đã lo lắng đến mất ăn mất ngủ vì số phận người Hong Kong. Qua mạng xã hội, hàng triệu người Việt Nam đã lên tiếng, bày tỏ thiện cảm, ủng hộ người Hong Kong và lên án chính quyền Trung Quốc đàn áp dã man sinh viên Hong Kong.
Sống trong hoàn cảnh khó khăn thua kém người Hong Kong nhiều lần, nhưng người Việt Nam lại lo lắng cho số phận người Hong Kong sẽ bị xấu đi khi chính quyền Trung Quốc thắt chặt dần sự cai trị lên Hong Kong. Đó là bằng chứng đẹp cho thấy người Việt Nam yêu mến người Trung Quốc, rằng giữa nhân dân các nước không bao giờ có thù hận.
Điều mà người Việt Nam thù hận đó chính là nhà cầm quyền Trung Quốc dã tâm xâm chiếm Việt Nam. Người Hong Kong cũng thù hận và không chịu cùng đợi trời chung với là nhà cầm quyền Trung Quốc. Tội lỗi không phải từ người dân mà là từ nhà cầm quyền.
2. Điều giận dữ và đau xót khác của người Việt Nam là hiện nay có một nhóm người Việt Nam cam tâm chịu sự sai khiến của nhà cầm quyền Trung Quốc. Biết hợp tác với nhà cầm quyền Trung Quốc là mang tai họa cho Việt Nam mà họ vẫn liều lĩnh tiến hành. Họ đã mang về cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu dự án đại họa từ nhà cầm quyền Trung Quốc mà họ chưa sáng mắt, lại còn tiếp tục rước về Việt Nam những dự án đại họa khác.
3. Đoàn công tác của Bộ GTVT mới đây vừa làm việc với UBND TP Hải Phòng, UBND tỉnh Hải Dương và UBND tỉnh Hưng Yên về phương án xây đựng đường sắt khổ 1,435m Lào Cai – Hải Phòng dài 392 km. Đoạn Hà Khẩu – Lào Cai sẽ do Trung Quốc xây dựng.
4. Nhân dân Lào Cai không có nhu cầu xuất khẩu hàng hóa và du lịch qua cảng Hải Phòng. Tuyến đường sắt hiện hữu Lào Cai – Hải Phòng hàng ngày hiện nay đang không khai thác đến 1/10 công suất.
Tại sao phải xây thêm đường sắt mới khổ 1,435m dài 392 km, tốn 1 650 ha đất, mất 100 000 tỷ đồng, với 39 nhà ga, 73 chiếc cầu dài 130 km, và 25 tuyến đường hầm chui 25km từ Lào Cai đến Hải Phòng?
5. Đồng bằng sông Cửu Long với 20 triệu dân mà không có 1 m đường sắt. Điều cần trước hết là xây tuyến đường sắt từ đồng bằng sông Cửu Long đến TP HCM.
Cần thiết tiếp theo là đường sắt tốc độ cao Hà Nôi - TP HCM. Đây là cột sống giao thông của đất nước. Hãy dùng 392 km định xây dựng từ Lào Cai đi Hải Phòng để nối TP HCM với Nha Trang ngàn lần hiệu quả hơn.
6. Xây đường sắt Lào Cai – Hải Phòng là xây đường sắt cho Trung Quốc vận chuyển hàng triệu tấn hàng hóa và vũ khí từ các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Tây Tạng, Tân Cương – chiếm 1 nửa lãnh thổ Trung Quốc – xuất khẩu đi ra thế giới. Lúc đó hàng chục tàu vận tải Trung Quốc ngày đêm tấp nập ở cảng Hải Phòng, hàng trăm tàu chiến Trung Quốc bao vây vòng ngoài chiếm trọn cả vịnh Bắc bộ và thâu suốt biển Đông để bảo vệ. Đừng nghĩ là thổi phồng. Nhìn xa mới thấy hết hậu họa. Xây đường sắt Lào Cai – Hải Phòng là xây cho Trung Quốc. Là kéo dài cánh tay thống trị của Trung Quốc lên thế giới. Đó là một cung đoạn trong chiến tuyến “một vành đai một con đường “ của Trung Quốc.
7. Không vay tiền của Trung Quốc để xây đường sắt Lào cai – Hải Phòng cho Trung Quốc sử dụng.
Trung Quốc viện trợ không hoàn lại thì cũng dứt khoát không xây tuyến đường sắt Lào Cai – Hải Phòng. Đây là tuyến đường phục vụ cho Trung Quốc, làm cho Trung Quốc giàu có, giúp cho Trung Quốc bành trướng, bắt nạt nước bé, toan tính thống trị cả thế giới.
Trung Quốc có thể dùng cả chục đoàn tàu chứa bom nguyên tử, vũ khí hóa học, sinh học, chở qua, dừng lại trên lãnh thổ Việt Nam mà Việt Nam không thể hay biết!
8. Vấn đề xây mới tuyến đường sắt khổ rộng 1,435m Lào Cai – Hải Phòng không chỉ là vấn đề nội bộ của Bộ GTVT, cũng không chỉ là vấn đề của Chính phủ, đây là vấn đề của cả Dân Tộc.
Các nhóm lợi ích đừng nghĩ rằng đang có quyền thì cứ lấn tới. Đây không đơn thuần là tội sai phạm về kinh tế.

Phần nhận xét hiển thị trên trang