Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Trí thức phải biết thức tỉnh dân chúng


Hồng Thanh Quang (thực hiện
Hồng Thanh QuangVới tư cách của một người từng đi du học tại một số trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, và cũng là một chuyên gia hàng đầu về luật pháp, anh có thể nói gì một cách chung nhất về ý thức tuân thủ pháp luật của người Việt Nam ta?
.
TS Phạm Duy Nghĩa.
TS Phạm Duy Nghĩa: Theo tôi, một cách chung nhất thì người Việt Nam có khả năng chống lại pháp luật. Vì trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, người Trung Quốc đã mang luật vào đất Giao Chỉ nhưng thứ luật cai trị đấy không thể ngấm tới làng xã của người Việt Nam. Và chúng ta cũng phải cám ơn cái tinh thần đó nên người Việt Nam mới trường tồn, mới bảo vệ được bản sắc Việt. Sau đó, thực dân Pháp trong 80 năm đô hộ cũng mang luật của họ vào, nhưng người Việt Nam cũng mang tinh thần kháng lại những yếu tố vị lai, ngoại lai đó… Những năm của kế hoạch hóa tập trung thì cái gọi là mô hình nhà nước toàn trị với nhà nước làm thay dân cũng mang luật vào đây cũng bị cưỡng lại, thế nên mới phát sinh cái gọi là kế hoạch hóa không toàn diện lắm. Chính vì thế mô hình CNXH ở Việt Nam mềm mại hơn vì cách của mình làm không triệt để. Đặc tính không triệt để đó cũng thể hiện trong pháp luật. Tôi kết luận lại là, dân tộc Việt Nam nói chung là không có thói quen tuân thủ pháp luật.
Tôi thì lại nghĩ hơi khác. Tôi nghĩ cái anh gọi là thói quen không tuân thủ pháp luật là một kiểu pháp luật khác mà sở dĩ người ta tồn tại được không phải do những cái ta gọi là pháp luật mà do bản thân làng xã Việt Nam, cộng đồng Việt Nam, trong xã hội phong kiến Việt Nam có những điều luật riêng của mình. Vậy nếu người ta sống đúng với luật đó thì đâu phải nước ta là một nước không sống với pháp luật?
- Tôi không nói xã hội ta không có pháp luật mà tôi đang nói tới việc người dân chống lại tất cả những quy tắc mà người cai trị mang vào. Điều đó được kiểm định trong lịch sử. Còn cái mà anh gọi, đó là luật lệ, theo nghĩa rộng, tức là cứ một cộng đồng người là phải có quy tắc sống. Cộng đồng dù có man rợ đến thế nào cũng có những nguyên tắc sống. Những cái đó không gọi là luật mà là tục lệ, kiểu như quy ước hay quy phạm xã hội thì dân tộc nào cũng có. Đặc biệt là dân tộc Việt, thậm chí đến gần đây, doanh nhân cũng không cần biết luật kinh doanh, nhưng họ hành xử vẫn rất tốt. Điều này thì kể cả ở các xã hội như Nhật hay Hàn cũng vậy.
Ý tôi muốn nói là luật pháp trước hết là luật của người cai trị áp đặt vào, còn nếu anh hiểu những quy tắc để điều hành một xã hội có trật tự thì Việt Nam là xứ sở từ xưa tới nay không có kiểu như thế. Mình là xứ sở nhân trị theo nghĩa đạo đức, truyền thống, tôn ti trật tự. Những cái đó không phải là luật, mà chỉ là những quy tắc, luật lệ con người đặt ra, nó bị cưỡng chế không phải bởi nhà nước. Ví dụ anh nào đó bị cả dòng tộc tẩy chay, bị cả làng tẩy chay thì những cái đó không gọi là luật, không mang tính cưỡng chế bởi nhà nước. Những cái đó người ta gọi là những thói quen, tục lệ, quy phạm xã hội (rất mạnh vì nó vấp phải sự chống đối của toàn xã hội). Nếu anh không tuân thủ thì họ tẩy chay. Ví dụ nếu anh là doanh nhân, anh không vào được dây kinh doanh nào mà anh đối xử kém, bị mất mặt có nghĩa là anh khó mà tồn tại được. Nhưng chúng ta không đi khái niệm quá xa như thế.
Theo anh, cách sống, lựa chọn nào tốt cho một xã hội mang đầy tính đặc thù như xã hội Việt Nam? Sống dựa trên những thói quen, những tiền lệ hay là sống theo những cái nghiêm ngắn, mạch lạc, mực thước của luật pháp nhà nước?
- Còn tùy. Có hai học phái lớn chi phối toàn bộ tư duy của người phương Đông. Đó là học phái nhân trị của những người theo Nho giáo với Khổng Tử là người đại diện và học phái của Hàn Phi Tử rất nổi tiếng. Ông ta nói, một xã hội phải được cai trị bằng pháp luật, luật pháp nghiêm minh làm cho xã hội có trật tự. Như vậy từ thời thượng cổ thì người ta có thể điều hành theo hai cách, dùng kỉ luật mềm như đạo đức, uy tín để tạo ra những quyền lực mềm mại hơn hoặc đi theo những kỉ cương hà khắc mà mình phải tuân theo. Thực tế, chế độ Trung Hoa cổ đại không theo một học phái nhất định mà là cộng trừ của hai cái, gọi là ngoại nho, nội pháp, tức là những nhà cai trị bên ngoài thì vẫn khuyến khích có rường cột dựa trên trung hiếu, tiết nghĩa, tam cương ngũ thường, đó là về mặt đạo lý. Về mặt cai trị, vẫn có những hình phạt rất rõ để răn đe, những giá trị nào mà anh vi phạm thì anh sẽ bị chính quyền can dự. Ví dụ như phạm tội bất hiếu hay bất trung thì cả thể chế sẽ tấn công. Nói cách khác, xã hội phương Đông như mình dung hòa nhân trị với pháp trị.
Anh đánh giá thế nào về hiệu quả sự dung hòa giữa dân trị và pháp trị trong nhà nước ta hiện nay? Trong phương thức quản lý xã hội đó, đâu là “gót chân Asin” có thể dẫn đến sự sai phạm, những rối loạn xã hội?
- Đi xa hơn và tìm hiểu sâu hơn, tôi không nghĩ điều tôi vừa nói không chỉ đúng với Trung Hoa cổ đại. Nếu mình đọc lịch sử của các nước châu Âu hay Mỹ thì luật pháp cũng chỉ là một phần tạo nên của kiến trúc thượng tầng. Xã hội còn được điều tiết bởi hiệp hội, cộng đồng, gia đình. Người ta cứ nói người phương Đông trọng gia đình nhưng nước Mỹ cũng thế. Anh hãy đến thăm nước Mỹ vào dịp Giáng sinh, anh sẽ thấy các gia đình tại Mỹ cũng rất trân trọng từng li từng tí truyền thống gia đình. Anh hãy sang Đức để xem con cháu họ chăm chút từng kỉ vật gia đình. Ví dụ ông bố đã từng tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất hay chiến tranh thế giới thứ hai thì con cái rất tự hào, nó sẽ lưu giữ tất cả mọi quân trang, quân dụng. Đã làm giống người thì phải nhớ đến tổ tiên của mình, anh em, đồng bào, chiến hữu của mình. Trong xã hội đương đại, phải tìm cách tương tác giữa luật như là những quy phạm do nhà nước đặt ra và cưỡng chế thi hành, giữa lệ là những thói quen, tục lệ mà người ta tôn trọng và cả những quy phạm hoàn toàn không mang tính pháp luật như niềm tin, đức tin... Bên cạnh pháp lý còn có giáo lý của tôn giáo, niềm tin của tín ngưỡng, và cả những giá trị về mỹ học: người ta cho cái này là tốt, cái này là xấu. Về khía cạnh này cũng cần phải bàn thêm là ở người Việt Nam thì chủ nghĩa cá nhân hơi yếu thành ra người Việt Nam hay uốn theo dư luận, chịu sức ép của dư luận bảo thế là tốt hay xấu…
Điều đó có dẫn tới rối loạn nào cho xã hội hay ứng xử xã hội hay không? Như anh vừa nói, tính cá nhân của người Việt Nam hơi yếu, hoàn cảnh người Việt Nam ngày xưa sống luôn phải dựa vào thiên nhiên thành ra chúng ta sống cũng phải lựa theo hoàn cảnh xã hội. Theo anh có ảnh hưởng đến ứng xử của người Việt Nam?
- Anh có thể nhuộm tóc vàng, mặc quần bò áo thụng, nhảy hip-hop nhưng anh đã là người Việt thì anh vẫn có trong người những tiềm thức những giá trị anh tôn thờ, anh quý, anh yêu, anh ghét. Tóm lại, quan hệ tương tác giữa những luật lệ và các giá trị xã hội là một quan hệ vĩnh cửu, đấy là một ý. Còn nó có dẫn đến rối loạn gì không thì tôi có thể nghĩ, nếu luật pháp đưa vào mà vênh với truyền thống dân tộc thì có thể dẫn tới luật trên giấy và luật ngoài đời khác nhau. Nếu luật pháp tôn trọng những giá trị hiện hữu, nâng đỡ truyền thống thì nó sẽ lên một cái bổ trợ, dung hòa, làm cho xã hội tác động đến đâu, luật pháp tác động đến đâu, quy phạm xã hội tác động đến đấy, cái đó là những vectơ, những lực kéo. Nghĩa là nếu làm cho nó đồng chiều thì xã hội sẽ yên ổn, sẽ có nền văn hóa ổn định, nếu nó trái chiều thì nó sẽ triệt tiêu lẫn nhau, luật phá hoại văn hóa và ngược lại, văn hóa triệt phá luật.
Có ý kiến cho rằng công tác biên soạn luật của ta vừa qua do một số “trí thức Tây học” về thực hiện, thành ra có vẻ như bị mang tính sao chép, mô phỏng tư duy logic của phương Tây nhiều quá nên đôi khi nó vênh với truyền thống của chúng ta. Thực tế hiện nay luôn có độ vênh giữa luật và những điều lý giải thực tế. Anh đánh giá thế nào? Nó sai hay nó đúng và như thế nào?
- Nếu nói về văn hóa mà chúng ta hiện có thì nó có một độ gẫy nhất định với truyền thống. Anh không thấy người Việt Nam vào đình chùa miếu mạo không đọc được câu đối, anh không thấy trẻ con không đọc được gia phả của tổ tiên. Có vẻ như cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, người Việt Nam chứng kiến những khắc khoải, những mong muốn cải cách và những người chủ trương Tây học có vẻ như chỉ nhìn thấy sự sáng ngời của văn minh phương Tây mà không nhìn thấy cái gọi là sức mạnh tiềm ẩn trong lòng những nhân tố Việt, trong nền văn minh lúa nước. Ví dụ như việc chuyển ngữ sang quốc ngữ có thể thành công về mặt phổ cập biết chữ, nhưng cũng có tác hại lâu dài, làm cho văn hóa của tiền nhân và các thế hệ sau bị đứt. Điều đấy cũng có liên hệ với luật pháp. Chúng ta giảng dạy, nghiên cứu luật hiện nay không hề có dẫn chiếu nào với luật Hồng Đức hay luật Gia Long. Có 2 bộ luật lớn của nước Việt, đó là bộ luật đời Lê, còn gọi là Quốc triều hình luật và bộ luật đời Nguyễn 1812, thì chúng ta hầu như bị đoạn tuyệt với những giá trị đó. Tôi lấy ví dụ mình cứ nói anh nào gây thiệt hại cho anh khác thì phải đền bù nguyên trạng, có nghĩa là nếu tôi chạm vào anh thì tôi đền cho anh, coi như không có chuyện gì xảy ra. Ngày xưa trong luật Hồng Đức không như vậy, nó có thể phạt 3 đến 4 lần tùy theo nếu anh cố ý gây ra thế. Nghĩa là không nguyên trạng được mà phải cho anh sợ, lần sau không có chí khí để tái phạm. Cũng như vậy đối với vi phạm sở hữu trí tuệ …v…v… Có những loại tội không thể phạt mà phải đánh công khai, những cái đó thì người Mã Lai, người Singapore vẫn còn duy trì. Ví dụ anh hỗn láo với bố mẹ thì phạt 50 nghìn, 100 nghìn không có giá trị gì cả, nhưng mang anh trước đình, đánh cho cả làng xem thì lúc ấy mới có giá trị,
Tội ngoại tình thì gọt đầu bôi vôi có giá trị răn dạy hơn là “đóng cửa bảo nhau”. Ý tôi muốn nói là có rất nhiều thứ của tiền nhân mà chúng ta đã không kế thừa, điều đó rất đáng tiếc...
- Cũng như vậy với 80 năm di sản pháp luật của người Pháp. Người Pháp ra đi mà không để lại dấu ấn đáng kể nào về luật pháp với chúng ta. Các vị có thể tìm đọc bài “60 năm gia tài của thực dân” sẽ thấy nó chua chát vì người Pháp ra đi không để lại giá trị đáng kể nào nào về thể chế và luật pháp.
Chính điều đó tạo sự khó khăn cho các nhà làm luật hiện nay?
- Sau đó 30 năm chúng ta theo kế hoạch hóa tập trung, có thể nói thời gian đầu chúng ta không tôn trọng luật pháp. Giải tán luôn Bộ Tư pháp. Chúng ta đã từng có một trường luật ở 33 Hàng Buồm nhưng rồi lại giải tán luôn. Năm 1946, Cụ Hồ có một sắc lệnh thành lập một Ban pháp lý tại các trường Đại học Việt Nam ở 19 Lê Thánh Tông. Sau đó khá lâu chúng ta đã lãng quên việc coi pháp luật thành những giá trị nên chúng ta giải tán Bộ Tư pháp. Cho đến tận ngày nay giới luật sư Việt Nam vẫn đang chiến đấu để có một vị trí xã hội quan trọng, còn thẩm phán vẫn chưa có uy, chưa có giá trị xã hội như cần có. Như vậy là chúng ta đã lãng quên pháp luật như một giá trị cần được thượng tôn, câu chuyện này mới bắt đầu quay trở lại khoảng hai thập niên gần đây. Xã hội cần có thời gian để quay trở lại những giá trị đã mất.
Theo anh, liệu tình trạng ấy có nằm trong những cái sơ xảy, thao tác quyết định hay nó nằm trong những hình mẫu sẵn của xã hội mà chúng ta đã lựa chọn từ nhiều năm về trước khi bắt đầu xây dựng xã hội mới?
- Có lẽ nó dài hơn cái anh hỏi. Có lẽ ở cuối thế kỷ XIX, người Việt Nam đã có những cuộc khủng hoảng những giá trị, khủng hoảng luôn những tầng lớp tinh hoa. Tôi hơi hoài nghi ai là tầng lớp tinh hoa ở Việt Nam ? Tầng lớp Tinh Hoa thời Lý-Trần là các nhà sư rất có uy tín. Ngay cả nhà vua cũng phải thỉnh giáo các cao tăng, thậm chí các nhà vua khi tìm thấy sự yên bình rồi thì cũng đi vào chùa. Chùa chiền là nơi tập hợp tinh hoa của thời đó. Đến thời Lê ta đã phá tan thế tam giáo đồng nguyên khi quá nhấn mạnh vào Nho giáo như công cụ và học thuyết cai trị. Phật giáo từ một tín ngưỡng của dân tộc trở thành nơi ẩn dật, nơi thôn quê. Thậm chí đến những năm 80 của thế kỷ XX, Phật giáo về cơ bản trở thành hang cùng ngõ hẻm, ảnh hưởng của Phật giáo rất thấp và bây giờ tái sinh. Có nghĩa là đến thế kỷ XIX, khi Nho giáo suy tàn, những ông thầy nho không mang lại tư duy cải cách cho đất nước này và bị sụp đổ theo ý nghĩa đó. Và Nho giáo đã trở thành hủ nho, trở thành phản động theo nghĩa cản trở sự phát triển. Dân chúng nhìn vào các ông đồ nho như những ông gàn, những ông thượng tôn những giá trị lỗi thời. Có vẻ như Nho giáo đã bị lỗi thời vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Và Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim là những ông thầy đồ cuối cùng đã cố gắng làm cho hậu sinh hiểu Nho giáo không chỉ là hủ nho mà nó còn có những sức mạnh riêng của nó. Sau đó ở miền Nam những năm 60 của thế kỷ XX đã có những cố gắng tìm cách làm cho xã hội phát triển xong vẫn dựa trên những giá trị truyền thống Việt Nam nhưng hình mẫu chưa tìm ra. Ngoài Bắc, Nho giáo bị coi là một thứ tàn dư của phong kiến, không được nghiên cứu và như thể đã phải lưu vong trong tiềm thức của người Việt, chứ không được phổ cập, nghiên cứu đàng hoàng. Mãi đến gần đây mới phổ biến lại những tác phẩm như “Nho giáo” của Trần Trọng Kim hay như cuốn sách phê phán Nho giáo của Ngô Tất Tố (Ngô Tất Tố không chỉ là nhà văn hiện thực phê phán mà ông còn là một nhà nho). Những công trình của 2 nhà nho này đã được sống lại. Hiện nay ở Trung Quốc có một trào lưu gọi là “tân trang lại Nho giáo cho hợp thời”, ở Singapore thì việc đó đã diễn ra sớm hơn. Trong miền Nam, những năm 60 có những cố gắng đến những năm 70 thì đã tan tành… Sau đó, những học giả như Phan Ngọc hay Trần Ngọc Vương, những nhà nghiên cứu vắn hóa, đã tìm được những giá trị của Nho giáo và sức sống dai dẳng của Nho giáo. Ý tôi muốn nói, Việt Nam đã có một cái gì đó như khủng hoảng về niềm tin lớn trong hàng thế kỷ, còn mô hình Việt Nam tìm kiếm thì tôi chắc chắn phải tìm dựa trên những giá trị truyền thống của Việt Nam, tất cả những gì chống lại truyền thống đều khó.
TS Phạm Duy Nghĩa.
Việc pháp luật không được tôn trọng đúng mức của nó, vai trò của người thực thi pháp luật như thẩm phán, quan tòa không có được vị trí xứng đáng với họ. Đó là do hệ lụy của các thao tác, các quyết định nào đấy sơ xẩy trong cái xã hội ta đã chọn khi xã hội ấy không phải là luật pháp mà đôi khi vai trò tối thượng đó là sự diễn giải luật pháp của các lãnh đạo, nói 1 cách nhẹ nhàng là thế.
- Từ hơn hai thập niên trở lại đây, tức là kể từ khi từ Hiến pháp 1992 được thông qua và những lần sửa đổi sau này, chúng ta mới có những tranh luận về thượng tôn pháp luật. Trước đó chúng ta chưa đặt vấn đề này ra.
Có thể do ý thức cá nhân của người Việt Nam không cao, khi mọi việc đều do cấp cao lãnh đạo quyết định, thành ra khi xã hội cởi mở, chúng ta bắt đầu đẩy mạnh xã hội xây dựng theo luật pháp thì điều đó chưa ngấm vào người dân và có thể nói hiện tại dân ta đang sống rất thụ động trong việc tìm hiểu về dân quyền của mình, xác định vai trò, nghĩa vụ của mình trong việc xây dựng xã hội ấy và vẫn nghĩ rằng tất cả các việc ấy là của nhà nước, của ai đó từ trên xuống. Theo anh, có phải đó là một thực tế không? Và nếu có thực tế đó thì ta phải làm gì để gỡ bỏ thực tế đó?
- Quan có thể thay được nhưng không thay được dân, nhà nước mà chê dân thì không ổn vì những đồng thuế là do dân đóng lên. Dân lý, dân tâm rất dữ dội. Không một nhà cai trị nào chê dân được. Đó là cách đặt vấn đề rất sai vì anh phải sống với những người tạo nên quyền lực cho anh. Khởi nguồn của quyền lực là dân chúng, có người bị trị thì anh mới có quyền cai trị, kể cả nhà vua. Có vẻ như văn hóa Việt Nam chứa đựng những yếu tố không khuyến khích sự sáng tạo, sự phát triển mang tính phá cách, chưa hẳn khuyến khích một xã hội thực sự tự tôn pháp luật. Ví dụ, xã hội Việt Nam vẫn tồn tại tâm lí ghét người giàu như “xấu đều hơn tốt lỏi”, hay thói kỳ thị khi tự nhiên trong làng có một anh xây cổng nhà sáng trưng lên, hoặc một anh phát biểu mang tính cá nhân. Tức là không khuyến khích sự vuợt trội của cá nhân, không khuyến khích những ai nói công khai “tôi giỏi giang đây”... Do xã hội Việt Nam trọng tình nên dị ứng với chủ nghĩa cá nhân.
Liệu điều anh vừa nói có chứng minh rằng xã hội Việt Nam không cần pháp luật nếu cứ sống đúng như thế. Nếu thực sự như thế thì mọi cố gắng của chúng ta trong việc xây dựng nhà nước pháp trị sẽ khó dẫn đến kết quả tích cực, nếu tâm lý cố hữu của người Việt đúng theo cách anh nói như vậy?
- Đến mức ấy thì không. Nhưng kể từ khi dân Việt Nam mình theo Nguyễn Hoàng vào Nam, chúng ta có cần luật đâu, vẫn sống với luật đời Lê đấy thôi. Người Việt có thể dựa vào truyền thống vẫn tồn tại và phát triển tốt, chứ không đến mức lúc nào cũng cần những đạo luật mới. Hoặc chúng ta thử làm một cuộc điều tra, đạo luật mới có thể đem lại sự tự do đến đâu thì sẽ hiểu…
Theo anh, cách xây dựng luật của mình trước hết và hơn cả phải dựa vào những quy cách ứng xử, truyền thống… Nếu chỉ đơn thuần áp dụng các điều lệ, luật lệ hay ho mà phương Tây đúc kết rất khó để tạo một bộ luật thực sự có thể mang lại những sự tốt đẹp tới cho đời sống người Việt?
- Về câu chuyện này thì có thể tham khảo thời Minh Trị đã thuê các học giả của Đức biên soạn luật cho nước Nhật. Vấn đề lớn đặt ra là, liệu có thể vay mượn luật của phương Tây để điều chỉnh luật của phương Đông không? Câu trả lời là có thể. Người Nhật đã thành công, người Hàn về một phương diện nào đó đã thành công, Người Nhật bê nguyên luật của mình sang bên Hàn và người Hàn áp dụng nguyên si. Từ đó ta rút ra một vài nguyên lý, thấy những dân tộc đang phát triển như mình nếu thua kém văn minh phương Tây thì mình phải học tập họ. Rút kinh nghiệm xem cái gì cần học, cái gì không cần học… Cái cần học, đó là tinh thần tôn trọng pháp luật, tôn trọng tự do cá nhân, tôn trọng sở hữu cá nhân, tôn trọng quyền tự định đoạt và sáng kiến của người dân, tôn trọng một xã hội coi pháp luật như một công cụ để chung sống hòa bình. Pháp luật không phải để cai trị, pháp luật là để cho nhà nước với người dân sống với nhau thoải mái, đến mức tôi không hiểu biết pháp luật, nhưng tôi vẫn sống tốt, vẫn tuân thủ pháp luật . Và đó là điều tuyệt vời! Luật của người Nhật được ban hành hoàn toàn theo mẫu của phương Tây, thế mà nó vẫn tồn tại đó thôi. Vậy mình phải vay. Trong quá trình vay mượn đó, họ đi trước mình thì mình phải nghiên cứu cái gì giống mình, có thể trồng trên đất của mình còn cái gì mang vào trồng sẽ bị héo. Có một thuyết nghiên cứu gọi là “Cấy luật từ hải ngoại vào nước mình”. Khi cấy thì nó sẽ có những tác động tương hỗ và tác động phản nghịch. Phản nghịch là những yếu tố về tâm lý, văn hóa, địa chính trị..v..v.. Ví dụ có những đạo luật khi cấy vào nước ta sẽ teo đi…
Nếu thực sự muốn có sự thay đổi thì chúng ta phải thay đổi điều gì trong đạo luật của chúng ta? Ở mặt gốc rễ, cơ sở, nền móng nếu không tất cả đạo luật của ta chỉ để làm cảnh vì nó không động đến cái căn bản nhất của vấn đề là hệ thống hoàn chỉnh cái nọ bổ sung cái kia. Anh không thể xây một cái móng như thế mà lại đêm một cái nhà có kiến trúc khác tới được.
- Có cái tôi đồng ý với anh nhưng có cái không. Luật không cốt nhiều, chỉ cốt nghiêm theo nghĩa cái gì du nhập dươc mọi người đều tuân thủ thì luật đó mới lên làm (từ quan đến dân). Chứ nhiều luật mà dân chúng nhờn, rồi chi phí xã hội tạo ra để dân chúng tuân thủ luật rất khó và nó mất nghiêm đi. Tôi đồng ý, những gì mà vay vào đây cần phải thích ứng và cẩn trọng…
Làm sao để nâng cao ý thức dân quyền của từng cấp hội? Trí thức có thể làm gì?
- Tôi thấy người Nhật có một câu rất hay là “nước Nhật trở nên mạnh mẽ bởi nước Nhật có một giới quan chức có liêm sỉ, một giới doanh nhân có dũng khí và một giới trí thức có tiết khí”. Trí thức gồm hai chữ “trí” và “thức”. Trí thức là người hiểu biết và người dùng hiểu biết của mình để thức tỉnh dân chúng. Phần thứ nhất có vẻ người Việt Nam làm được, nhưng đôi khi dám nghĩ đã là một chuyện, dám nói là chuyện khó hơn và nói hết là chuyện khó hơn nữa. Ở Việt Nam phải có một cơ chế làm cho những người trí thức dám mở miệng và điều này phải quy chuẩn thành điều luật. Hình như Cụ Hồ có định nghĩa dân chủ là làm cho dân chúng mở miệng ra. Khi nào dân mở miệng ra được? Khi đầu phải rõ, không phải lo sợ, không phải nhìn nghiêng nhìn ngửa thì miệng mới mở ra được. Muốn vậy phải từng bước để trí thức có trách nhiệm, thấy được sức mạnh của họ. Họ không bị trừng phạt bởi cách nghĩ khác, cách nhìn khác, cách phản biện...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bác bỏ luận điệu “Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘lãng tử hồi đầu’”

Hồ Anh Hải
Từ chuyện: Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì sang thăm Việt Nam tháng 6/2014 và tờ Hoàn Cầu Thời Báo đăng tin Trung Quốc đã thúc giục Việt Nam "hãy tự kiềm chế trước khi quá muộn" và "đứa con hoang đàng hãy trở về..." tác giả đã viết bài phản biện sau đây
.
5 năm trước, ngày 02/5/2014,Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam và tiến hành khoan thăm dò dầu khí.
Chính phủ ta đã mạnh mẽ tố cáo hành động này của TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông. Ngày 11/5, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 24, Thủ tướng ta kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế, tuyên bố Việt Nam sẽ nghiên cứu mọi phương án bảo vệ chủ quyền, kể cả phương án kiện TQ lên tòa án quốc tế. Trong các ngày 12-14/5 đồng bào ta một số nơi tự phát tổ chức biểu tình phản đối TQ.
Hành động ngang ngược của TQ đã gây ra sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Trước phản ứng quyết liệt của Việt Nam và thế giới, ngày 18/6 Ủy viên Quốc vụ TQ (chức vụ trên Bộ trưởng, dưới Phó Thủ tướng) Dương Khiết Trì đến Hà Nội hội đàm với Bộ trưởng Phạm Bình Minh nhằm giảm tình hình căng thẳng. Ngày 16/7, TQ rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, sớm 1 tháng so với kế hoạch ban đầu.
Cuộc đấu tranh chống lại vụ TQ đưa giàn khoan 981 vào vùng biển Việt Nam để lại cho chúng ta những bài học hữu ích đến nay vẫn cần ôn lại.

Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014

Tháng 8 năm nay, Trung Quốc lại ngang ngược đưa trái phép tàu thăm dò địa chấn HD-8 vào thềm lục địa của Việt Nam
.
Mặc dù trắng trợn vi phạm chủ quyền của Việt Nam nhưng TQ luôn tuyên truyền rằng Việt Nam mới là kẻ quấy rối họ thực thi chủ quyền. Ngày 19/6/2014, “Nhân dân Nhật báo”cơ quan ngôn luận của Nhà nước TQ đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam: Kẻ hư hỏng nên tỉnh ngộ trở về” (TQ phụng khuyên Việt Nam “Lãng tử hồi đầu”) [1]. Tác giả bài báo lời lẽ xách mé này là bà Tô Hiểu Huy (苏晓晖Su Xiao Hui), Phó Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề Quốc tế của TQ.
Xin đọc một số câu trong bài báo này (chúng tôi in đậm những chỗ cần chú ý):
Trong tình hình Việt Nam mạnh mẽ quấy nhiễu công việc bình thường của công ty TQ tại quần đảo Tây Sa[Việt Nam gọi là Hoàng Sa], gây nên tình thế căng thẳng liên tục nâng cấp, Ủy viên Quốc vụ TQ Dương Khiết Trì đã đến Việt Nam hội đàm với Trưởng đoàn Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương TQ-VN. Trong hội đàm, hai bên đều tỏ ý coi trọng mối quan hệ song phương và ý muốn quản lý kiểm soát tình hình trên biển; tình thế căng thẳng suýt bùng nổ đã dần dần được hòa hoãn...
Chuyến đi của Dương Khiết Trì cho thấy “TQ một lần nữa tạo cơ hội cho Việt Nam ghìm ngựa trước vực thẳm. Trước đó TQ đã nhiều lần nghiêm chỉnh tuyên bố quần đảo Tây Sa là lãnh thổ vốn có của TQ, không tồn tại bất cứ tranh chấp nào, và yêu cầu Việt Nam ngừng quấy rối tác nghiệp [thăm dò dầu khí, xây đắp đảo...]của phía TQ... Trong hội đàm, Dương Khiết Trì một lần nữa nói rõ giới hạn cuối cùng đối với Việt Nam, TQ mong muốn Việt Nam từ bỏ dã tâm không thiết thực, ngừng tạo ra các tranh chấp mới, quản lý được bất đồng, tránh gây thiệt hại lớn hơn cho mối quan hệ song phương. TQ bỏ ra rất nhiều công sức khuyên Việt NamLãng tử hồi đầu, nhưng Việt Nam có thể đi cùng TQ hay không thì vẫn là vấn đề chưa biết....
Câu cuối cùng viết mập mờ, không rõ đây là lời Dương Khiết Trì hay lời Tô Hiểu Huy; nhưng đã đăng trên “Nhân dân Nhật báo” thì chắc chắn là quan điểm của Nhà nước TQ.
Chữ Hán “Lãng tử” là đứa con/em hư hỏng, bỏ nhà đi lêu lổng. “Lãng tử hồi đầu” là đứa con/em hư hỏng [đã đến lúc] ăn năn hối lỗi, cải tà quy chính, trở về với gia đình.
Trước thái độ nước lớn kẻ cả nói trên của TQ, chúng ta cần trả lời: Việt Nam đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ nước mình là hoàn toàn chính đáng, không có gì phải ăn năn hối cải và chẳng có cái gia đình” nào để chúng ta trở về” cả.
Tại TQ lâu nay vẫn lưu hành một quan điểm lịch sử cho rằng, Việt Nam vốn là đất của TQ, về sau lợi dụng cơ hội nội bộ TQ loạn lạc mà tách ra thành một quốc gia riêng; dân tộc Việt Nam vốn là một trong các tộc người bị tộc Hoa Hạ ở Trung nguyên gọi vơ đũa cả nắm là «Bách Việt», như Mân Việt, Ngô Việt, Lạc Việt...; trong khi các tộc này đều phục tùng sự «chinh phục» [thực ra là xâm lược và cai trị, cướp bóc, đồng hóa] của tộc Hoa Hạ thì tộc Việt Nam lại cứng đầu cứng cổ tách ra khỏi «gia đình Bách Việt», độc lập với TQ; nay đã đến lúc Việt Nam - đứa con hư hỏng bỏ nhà ra đi này nên sớm hối cải, trở về với «gia đình» [nói cách khác, trở thành nước chư hầu của TQ].
Không ít dân mạng TQ tuyên truyền quan điểm nói người Việt Nam vốn là người TQ, sống trên đất TQ, có vương triều đầu tiên là triều Triệu Đà nước Nam Việt, hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của nước này chính là miền Bắc Việt Nam; về sau Việt Nam giành độc lập, tách ra thành một quốc gia nhưng vẫn triều cống TQ, nhận làm một «phiên quốc» [nước phên giậu] của TQ, cho tới khi bị Pháp chiếm (1884). Sử chính thống Việt Nam không coi nhà Triệu là vương triều của mình, chứng tỏ họ không còn coi TQ là «tôn chủ quốc» [chính quốc, nước mẹ] của mình, như thế là vong ân phụ nghĩa....
Các quan điểm kể trên hoàn toàn trái với sự thật lịch sử, cần dứt khoát bác bỏ. Dưới đây xin trình bày quan điểm của chúng tôi về các vấn đề đó.
1- Lãnh thổ Việt Nam không phải là đất của Trung Quốc.
Sau khi đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, năm 1428, Lê Lợi ra «Bình Ngô Đại cáo» tuyên bố: «Như nước Đại Việt ta thủa trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác…»
Đúng là «bờ cõi đã chia»: mảnh đất chữ S này trước đời Tần là một vùng đất riêng biệt, người phương Bắc chưa hề đặt chân tới. Thiên nhiên rào chắn mảnh đất này cả bốn phía: phía Tây có dãy Trường Sơn ngăn cách; phía Đông và Nam được biển bọc kín, phía Bắc có dãy Thập vạn đại sơn hiểm trở. Việt Nam cách rất xa vùng Trung nguyên TQ - nơi sinh ra tộc Hoa Hạ (từ triều Hán trở đi gọi là tộc Hán) và từ đời Tần xuất hiện đế chế Trung Hoa cùng chủ nghĩa Đại Hán. Chỉ sau khi bị nhà Tần chiếm (214 TCN), nước ta bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc và từ đó mới bắt đầu tiếp xúc với nền văn minh Trung Hoa. Đất nước này dù bị TQ cai trị hơn 1000 năm và về sau bị Pháp cai trị 80 năm nhưng vẫn là đất của dân tộc Việt Nam. Nếu nói lãnh thổ nào từng bị TQ chiếm đóng đều là lãnh thổ TQ thì cả châu Âu và TQ đều là lãnh thổ của Mông Cổ chăng?
Quá trình bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán khởi đầu bằng việc Tần Thủy Hoàng «chinh phục, thống nhất 6 nước», thực chất là xâm chiếm lãnh thổ 6 nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề trong các năm 230-221 TCN nhằm biến nước Tần thành một đế quốc lớn mạnh. Quân Tần giết người như giết ngóe, dã man tới mức dù nước Hàn đã đầu hàng nhưng chúng vẫn «Ngũ mã phanh thây» vua nước Hàn và xử chém hàng trăm nghìn tù binh nước Triệu; dân thường bị giết nhiều vô kể. Thủ đoạn tàn ác này khiến các nước xung quanh sợ hãi, nhanh chóng đầu hàng khi bị quân nhà Tần xâm chiếm.
Năm 219 TCN, nhà Tần cho 50 vạn quân đánh xuống phía Nam Trường Giang, quê hương của các bộ lạc «Bách Việt», trong đó có vùng Lĩnh Nam ở phía Nam dãy Ngũ Lĩnh. Cuộc chiến này ác liệt hơn cuộc chiến chiếm 6 nước trước đó, nhất là khi gặp sự chống cự của người Lạc Việt ở Quảng Tây. Đến năm 214 TCN, nhà Tần mới chiếm được Lĩnh Nam sau khi mất hơn 10 vạn lính. Từ con số này có thể suy ra bao nhiêu vạn dân Bách Việt từng chết dưới tay quân Tần. Một số bộ lạc Bách Việt phải di tản, nhờ thế tồn tại và trở thành các dân tộc thiểu số ngày nay ở TQ; ví dụ người Lạc Việt, nay là dân tộc Tráng. Các bộ tộc ở lại dần dần bị tiêu diệt hoặc đồng hóa.
Hầu hết các vương triều TQ đều ra sức tăng số dân nước mình bằng chủ trương giết dân ở các vùng chiếm được - chủ yếu giết đàn ông và đưa nhiều người Hán đến định cư. Mấy nghìn năm qua, chúng liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh và đồng hóa các dân tộc thua trận, biến họ thành người Hán.[2] Kết quả là từ một nước Tần ở hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc hơn 2.200 năm trước, hiện nay, tộc Hán chiếm 92% trong số 1.300 triệu người sống trên lục địa rộng 9,6 triệu km2 và còn muốn chiếm 90% diện tích biển Đông. Ngày nay, người TQ tự hào với công trạng ấy, cho dù tổ tiên họ phải trả giá bằng hàng trăm triệu sinh mạng - điều này cho thấy tư tưởng nước lớn «Đại nhất thống» đã ăn sâu vào đầu óc họ như thế nào.
2- Người Việt Nam không phải là người Trung Quốc và không thuộc cộng đồng Bách Việt.
2.1- Xét về mặt ngôn ngữ-tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt các dân tộc. Thời cổ, tổ tiên ta ở xa cách TQ cho nên tiếng Việt Nam thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.
Tiếng Việt có những âm và thanh điệu không có trong tiếng Hán, như âm b, đ, v, g, nh, ng, ư,... , thanh điệu nặng và ngã.
Tiếng Việt có số lượng âm tiết (syllable) nhiều gấp khoảng 15 lần (ngót 18 nghìn so với hơn 1000 âm tiết) [3]; nghĩa là có hơn chục nghìn âm tiết mà tiếng Hán không có, người Hán không phát âm được. Vì thế chữ Hán không thể ghi được tiếng Việt và tiếng Việt không thể nào là một phương ngữ của Hán ngữ. Mặc dù Việt ngữ dùng chữ Hán hai nghìn năm nhưng người TQ không thể nghe hiểu bất kỳ bài văn thơ chữ Hán nào đọc bằng tiếng Việt.
Hán ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý (ví dụ chữ Hán), mà không thể dùng chữ viết loại ghi âm như chữ Quốc ngữ Việt Nam.
Các tộc Bách Việt như Mân Việt, Ngô Việt, Vu Việt, Lạc Việt… đều nói một trong các thứ tiếng địa phương (phương ngữ) của Hán ngữ, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, và chữ Hán ghi được các phương ngữ đó.
Tháng 11/2016, TQ công bố kết quả công trình «Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt» quy mô nhà nước, kéo dài 8 năm, do sử gia nổi tiếng TQ Lương Đình Vọng chủ trì, xác định 8 dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng [Zhuangdong] là Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão và Mao Nam có tổ tiên chung là người Lạc Việt; trong đó tộc Tráng (Zhuangzu, chữ Tráng viết là Bouxcuengh) đông nhất, là hậu duệ chính gốc của người Lạc Việt [4]; tiếng nói của họ, tức tiếng Lạc Việt, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, khác với ngữ hệ của tiếng Việt Nam.
Thời xưa một số người Tráng di cư đến Việt Nam làm thành dân tộc Tày-Nùng, hiện có 2,7 triệu người. Tiếng Tày-Nùng chính là tiếng Tráng, người Kinh nghe không hiểu.
Về ngữ pháp, một khác biệt rất rõ là tiếng Việt đặt tính ngữ sau danh từ, ngược với Hán ngữ, ta gọi là nói ngược. Ví dụ «Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc» trong Hán ngữ phải đặt tính ngữ «Nhân dân Trung Quốc» lên trước «Ngân hàng», thành «Zhongguo Renmin Yinhang». Tráng ngữ cũng viết «Cunghgoz Yinzminz Yinzhangz» theo thứ tự hệt như Hán ngữ. Trong tiếng Việt, trạng ngữ chỉ thời gian có thể đặt trước hoặc sau chủ ngữ nhưng trong tiếng Hán bao giờ cũng phải đặt trước chủ ngữ.
Lẽ thường các dân tộc ở gần nhau đều có ngôn ngữ giống nhau. Sự khác biệt ngôn ngữ quá lớn kể trên giữa tiếng Việt với tiếng của các tộc Bách Việt là bằng chứng rõ nhất cho thấy dân tộc ta thời xưa không ở gần cộng đồng các tộc Bách Việt.
Dĩ nhiên, sau hơn 10 thế kỷ là quận, huyện của TQ và gần 2.000 năm dùng chữ Hán, ngôn ngữ Việt chịu ảnh hưởng lớn của Hán ngữ, khoảng 60% từ vựng tiếng Việt có gốc chữ Hán.
2.2- Xét về thể hình. Người Việt Nam thuộc chủng người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang… Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học nước ta cho thấy hệ gene của người Việt Nam khác rất xa hệ gene của người Hán. [5]
2.3- Xét về văn hóa. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Hán sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc, nhưng nền văn hóa của dân tộc ta vẫn có nhiều điểm khác. Nổi bật nhất là sự khác biệt về văn hóa chính trị: Người Việt Nam coi độc lập dân tộc là lẽ sống cao nhất; dù bị nước ngoài chiếm đóng cai trị nhưng dân tộc ta xưa nay chưa hề ngừng đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa. Độc lập dân tộc đã trở thành đòi hỏi cao nhất, trên hết; đối với người Việt Nam «Không có gì quý hơn độc lập tự do» (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam đều coi các vương triều TQ cai trị mình là chính quyền của kẻ địch, và không ngừng chống lại chúng. Quan điểm đó hoàn toàn chính đáng. Triệu Đà người Hán quê Hà Bắc, xa Việt Nam hàng nghìn dặm vô cớ đem quân đánh chiếm nước ta đang sống trong hòa bình, gây ra cảnh chết chóc tàn phá đau thương, rõ ràng là kẻ xâm lược. Triều đình nước Nam Việt của Triệu Đà đóng đô tại Phiên Ngung, toàn bộ quan lại, quân đội là người TQ, quan quân cai trị Việt Nam cũng đều là người TQ; chúng chỉ lo áp bức bóc lột dân ta, sao có thể coi nhà Triệu là vương triều của Việt Nam?
Với quan điểm trên, tổ tiên ta, kể cả phụ nữ, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi giặc xâm lược: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), ... Khúc Thừa Dụ (năm 905) và kết thúc bằng chiến thắng giành độc lập của Ngô Quyền (năm 938).
Có sử gia TQ nói Mã Viện diệt khởi nghĩa Hai Bà Trưng là «công việc nội bộ» TQ, tương tự việc đàn áp mọi cuộc nổi dậy khác của nông dân TQ, không thể gọi là xâm lược [6]. Thật vô lý. Dân tộc ta đang sống yên lành bỗng dưng bị bọn người phương Bắc vô cớ đánh chiếm nước ta rồi sáp nhập làm quận, huyện của chúng. Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc chiếm đóng là chính nghĩa. Mã Viện đánh nước ta, rõ ràng là xâm lược.
Đặc biệt hơn cả là, dù bị chính quyền cai trị ép phải học và dùng chữ Hán suốt cả nghìn năm nhưng do hiểu rõ nguy cơ để mất tiếng mẹ đẻ thì sẽ để mất nòi giống dân tộc mình nên tổ tiên ta đã tìm mọi cách giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa tiếng Việt, nhờ thế dân tộc ta không bị Hán hóa. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Thời thuộc Pháp, dân ta cũng đấu tranh thắng lợi đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ buộc người Việt học tiếng Pháp từ bậc tiểu học; nhờ vậy sau 80 năm Pháp thuộc dân ta vẫn không nói tiếng Pháp như các thuộc địa Pháp khác.
Nhưng các tộc Bách Việt như Ngô Việt, Mân Việt… đều khá dễ dàng chấp nhận sự chiếm đóng, cai trị và đồng hóa của nhà Tần. Tộc Lạc Việt có đánh trả và lánh về vùng núi Quảng Tây, nhờ vậy giữ được tiếng nói; nhưng sau đó họ không dám nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược. Ngày nay, họ trở thành một dân tộc thiểu số ở TQ, sống trong Khu Tự trị dân tộc Tráng, không được là một quốc gia độc lập như Việt Nam.
Ngay cả dân tộc Hán đông người nhất thế giới khi bị ngoại tộc (Mông tộc, Mãn tộc…) xâm lược cũng chịu để cho kẻ địch cai trị hàng trăm năm mà không vùng lên đánh đuổi; giới quan lại người Hán ngoan ngoãn làm tôi tớ cho vua chúa ngoại tộc, giúp chúng áp bức bóc lột đồng bào mình, ép họ phải theo văn hóa ngoại tộc. Thời Mãn Thanh, đàn ông TQ phải để đuôi sam theo kiểu tóc tộc Mãn, các triều thần phải khúm núm tự xưng là «nô tài» trước Hoàng đế người Mãn. Chính quyền với đội ngũ quan lại cơ sở hầu hết là người Hán thời kỳ đầu còn bỏ chữ Hán, dùng chữ Mãn, và từng chặt đầu hàng triệu đàn ông TQ không chịu để đuôi sam. Hán tộc và các tộc Bách Việt đều coi nhà Nguyên và nhà Thanh là vương triều của mình, tuy thực ra đó chỉ là vương triều thực dân; thậm chí coi hoàng đế Thành Cát Tư Hãn của đế quốc Mông Cổ là anh hùng, coi Khang Hy là minh quân của người TQ.
Tóm lại, từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương Bắc xuống; trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam, dân ta không có quan hệ với các tộc người ở bên kia biên giới phía Bắc. Dân tộc ta không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt. Tổ tiên ta chưa bao giờ ngừng đấu tranh giành độc lập dân tộc và trên thực tế đã giành được những thắng lợi vĩ đại, giữ được nguyên vẹn nòi giống và lãnh thổ. Chúng ta kiên quyết giữ vững truyền thông đó, không cho phép bất cứ kẻ nào xâm phạm đất nước này.
Ghi chú:
[1] 党报:中国再给越南机会奉劝浪子早回头 (2014.6.19 人民日报海外版 )
[4] 《骆越方国研究》发布 (2016.11.07 人民网-文化频道)
[6] 越南反华情结:教科书写“越南史就是中国侵略史”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Công bố nghiên cứu lớn nhất về bộ gen của người Việt: Nhiều bất ngờ lớn

Công trình “Nghiên cứu về bộ gen của người Việt” vừa được các nhà khoa học công bố cho thấy hệ gen người Việt có sự khác biệt so với hệ gen các quần thể người khác, thể hiện qua sự khác biệt lớn về tần suất xuất hiện của nhiều biến đổi di truyền...
Công trình “Nghiên cứu về bộ gen của người Việt” là nghiên cứu lớn nhất về bộ gen người Việt Nam, được thực hiện từ việc giải trình tự bộ gen của 305 người Kinh khỏe mạnh, đồng thời, kết hợp với dữ liệu của 101 người đã được công bố trước đó.
Khác xa bộ gen người Hán Trung Quốc
Tạp chí di truyền quốc tế uy tín Human Mutation (IF 4,5) vừa công bố “Nghiên cứu về bộ gen của người Việt".
Công trình “Nghiên cứu về bộ gen của người Việt” do các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Tế bào gốc - công nghệ gen Vinmec (VRISG) thực hiện. Công trình này là cơ sở dữ liệu đồ sộ đầu tiên về hệ gen người Việt Nam, được thực hiện từ việc giải trình tự bộ gen của 305 người Kinh khỏe mạnh tại Vinmec; đồng thời, kết hợp với dữ liệu của 101 người đã được công bố trước đó.
Theo đó, kết quả nghiên cứu công bố hơn 24 triệu điểm biến đổi, trong đó có hơn 700 nghìn điểm mới hoàn toàn. Theo đó, hệ gen người Việt có sự khác biệt so với hệ gen các quần thể người khác thể hiện qua sự khác biệt lớn về tần suất xuất hiện của nhiều biến đổi di truyền.
Cụ thể, công trình phát hiện 1,24 triệu biến đổi xuất hiện phổ biến ở người Kinh, nhưng xuất hiện rất ít ở các quần thể người khác. Đây là đóng góp quan trọng, cung cấp cơ sở tham chiếu có độ tin cậy cao cho các nghiên cứu, ứng dụng Y - Sinh tiếp theo về sức khỏe người Việt có liên quan đến hệ gen.
GS.TS Nguyễn Thanh Liêm, Viện trưởng VRISG, Chủ nhiệm đề tài cho biết, các phân tích về hệ gen người Việt được công bố thể hiện sự khác biệt của người Kinh đối với các quần thể người khác. So sánh với cơ sở dữ liệu 1000 hệ gen người, khoảng 1/3 số lượng biến đổi di truyền ở quần thể người Kinh không xuất hiện trong quần thể người Hán và ngược lại.
Theo GS Liêm, một phát hiện thú vị không nằm trong dự tính ban đầu, đó là bộ gen người Việt khác xa bộ gen người Hán phía Bắc Trung Quốc.
So sánh với cơ sở dữ liệu 1000 hệ gen người, khoảng 1/3 số lượng biến đổi di truyền ở quần thể người Kinh không xuất hiện trong quần thể người Hán và ngược lại. “Sự giao thoa giữa người Trung Quốc và người Việt diễn ra hàng nghìn năm, về lý thuyết sẽ pha trộng gen nhiều, nhưng thực tế sự pha trộn này không nhiều”, GS Liêm nói.
Trong khi đó, bộ gen người Việt có nhiều điểm giống với gen của người Thái, nằm gần với bộ gen người Hán phía Nam Trung Quốc , có sự giao thoa nhất định nhưng không nhiều. “Sức đề kháng của bộ gen người Việt cao, ít bị pha trộn”, GS Liêm cho biết.
Đặc biệt, kết quả phân tích nguồn gốc tổ tiên của các quần thể người cho thấy người Đông Nam Á hiện tại, bao gồm người Kinh Việt Nam có nguồn gốc chính từ người Đông Nam Á cổ đại.
Các dữ liệu cũng khẳng định người Kinh và người Thái có hệ gen tương đồng cao và quan hệ tiến hóa gần gũi. Trong khi đó, sự giao thoa và dịch chuyển gen từ các quần thể người Đông Á đến quần thể người Kinh Việt Nam là không đáng kể.
Đối với các nhà khảo cổ học, lịch sử và di truyền học, thông tin mới về hệ gen của người Việt là cơ sở để có thể nghiên cứu tiếp về nguồn gốc của người Việt trong tương quan với các dân tộc khác trong khu vực.
Đồng thời, dữ liệu từ công trình nghiên cứu cũng góp phần củng cố giả thuyết khoa học về việc con người từ châu Phi đến định cư tại các nước Đông Nam Á, sau đó mới di cư sâu vào lục địa theo hướng từ phía Nam lên phía Bắc.
Xây dựng "Lá tử vi sinh học"
GS.TS Nguyễn Thanh Liêm cho rằng đây là một dữ liệu bộ gen người Việt lớn nhất, đầy đủ nhất từ trước đến nay. Nó như cuốn từ điển đầy đủ nhất tra cứu về hệ thống dữ liệu gen người Việt tính đến thời điểm hiện tại. Trước đó, các nhà khoa học trong nước thường phải tham chiếu bộ gen từ quần thể người nước ngoài.
“Dữ liệu về hệ gen liên quan chặt chẽ đến sức khỏe và bệnh học, có thể góp phần giải đáp các vấn đề về ung thư, các bệnh di truyền… nhất là trong xu thế phát triển của Y học cá thể hóa những năm gần đây. Do đó, công trình trên có ý nghĩa quan trọng việc xây dựng phương pháp phát hiện sớm các gen ung thư, chuyển hóa và đáp ứng với thuốc điều trị, các bệnh di truyền, chuyển hóa, thoái hóa thần kinh (Parkinson, Alzeimer..)", GS Liêm cho biết.
GS Liêm giải thích thêm, y học ngày nay đang hướng tới điều trị cá thể hoá. Ví dụ trước kia, phác đồ điều trị ung thư phổi áp dụng cho tất cả bệnh nhân. Khi dùng các loại thuốc đó có khoảng 60% kết quả tốt, 40% không đáp ứng do bộ gen mỗi người có những điểm khác nhau.
Khi tiến tới cá thể hoá, điều trị cho từng người một, dựa vào gen của từng người một. Lúc này công trình này sẽ là cuốn từ điển để các bác sĩ tham chiếu.
Hay như với thuốc tim mạch, có người dùng 1mg/kg cân nặng đã đáp ứng tốt, có người lại không hiệu quả vì có gen kháng lại, không hấp thu thuốc.
Được biết, hiện Vinmec đang kết hợp cùng Viện Big Data thuộc Tập đoàn Vingroup tiếp tục nghiên cứu giải trình tự hệ gen cho hơn 1.000 người Việt.
"Mục tiêu của chúng tôi là triển khai xây dựng ‘Lá tử vi sinh học" dựa vào giải mã bộ gen từng người để tiên lượng bệnh nhân, nhằm phát hiện sớm và ngăn ngừa bệnh tật liên quan các nhiều vấn đề sức khỏe của người Việt hiện nay”, GS Liêm nói.

Các nhà khoa học nghiên cứu về bộ gen người Việt.
Trước đó, dự án 1000 bộ gen thế giới gồm 26 quần thể, xây dựng bộ gen chuẩn cho thế giới. Nhiều quốc gia còn xây dựng hệ gen chuẩn của họ. Hiện có khoảng 10 quốc gia tham gia vào câu lại bộ 100 nghìn bộ gen.
“Nghiên cứu về hệ gen của người Việt Nam” là một trong những nghiên cứu đầu tiên của các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ gen tại Việt Nam đăng tải trên Human Mutation(IF 4.5) - Tạp chí uy tín hàng đầu thế giới, có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực di truyền. Nghiên cứu trên đã được hội đồng chuyên môn của tạp chí lựa chọn là một trong những nghiên cứu xuất sắc, được đăng tải rộng rãi;khẳng định khả năng nghiên cứu chuyên sâu, độc lập và bắt kịp xu hướng của các nhà khoa học Việt Nam.
Dân Trí

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

NGƯỜI HÈN


Nguyễn Xuân Diện

Thơ: Phạm Chuyên *.
Đất nước ngàn năm
Hiếm kẻ bán nước
Có nhiều nhặn gì đâu,
Một Trần Ích Tắc
Một Lê Chiêu Thống
Một Hoàng Văn Hoan.
Đất nước ngàn năm
Quá lắm người hèn
Hèn vì quyền cao chức trọng
Hèn vì nhà cao cửa rộng
Hèn vì miếng cơm manh áo
Hèn vì vợ dại con thơ
Hèn vì danh hão danh hờ.
Hèn mà còn nhận ra
mình là thằng hèn
Là hèn tử tế.
Hèn ngậm miệng ăn tiền
hèn nhơ bẩn
Hèn ngậm máu phun người
hèn bất nhân
Hèn bán đất bán nước
Trời tru đất diệt
Hèn ơi! Đất nước ơi!
P.C.

* Tướng Phạm Chuyên, nguyên là Giám đốc Công an Hà Nội.
Ảnh: Tướng Phạm Chuyên mời rượu Nguyễn Xuân Diện nhân ngày Nhà báo (21.6.2011). Ông bảo: Nguyễn Xuân Diện đích thực là một nhà báo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIÁO SƯ HOÀNG NGỌC HIẾN BÀN VỀ HAI CHỮ "ĐA NGUYÊN"


Tôi biết về ông Hoàng Ngọc Hiến cũng khá muộn. Tôi nhớ câu nói, sẽ là bất hủ của ông: “Cái nước mình nó thế”. Tôi cũng biết đến một câu khác, cũng sẽ là bất hủ về một “nền văn học phải đạo”.
Tôi may mắn được dự một số buổi nói chuyện hoặc phát biểu của ông Hoàng Ngọc Hiến ở 53 Nguyễn Du (Trung tâm Minh triết Việt, và Quỹ Phan Chu Trinh) rồi cả ở buổi giới thiệu sách “Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ” của Trần Ngọc Vương ở 36 Điện Biên Phủ nữa.
Nhưng dịp được gần gũi ông nhiều nhất, hóa ra lại là hôm 25-12 mới rồi. Tôi được đi theo nhóm Minh Triết Việt đi thăm Đền Sóc và dự một bữa cơm ở nhà một ông giáo ở Đông Anh. Bữa ấy có nhiều nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, chính khách danh giá: các giáo sư Trần Nghĩa, Vũ Ngọc Khánh, Trần Thị Băng Thanh, ông Nguyễn Đình Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp), ông Nguyễn Khắc Mai (nguyên Vụ trưởng Vụ nghiên cứu và TBT Tạp chí Dân Vận, Ban Dân vận Trung ương)...
Các ông lên trước. Tôi cùng anh bạn lên sau. Gặp nhau ở một gia đình tại Mê Linh rồi cả đoàn kéo nhau đi thăm Đền Sóc. Vào trong đền, tôi tranh thủ nói với các cụ về “Tứ Bất tử” trong thần điện Việt Nam, rằng Tứ bất tử là những ai và có tự bao giờ, và rằng “tứ bất tử” của Việt Nam đuợc người Tàu phải thừa nhận. Ông Hoàng Ngọc Hiến lắng nghe chăm chú lắm. Ông bảo: Hay quá, hay quá! Tôi bảo: Việc thờ phụng Tứ Bất tử của Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Huyên, từ trước năm 1945, coi là một trong những biểu tượng của minh triết Việt.
Rồi khi tôi nói xong, thì mỗi ông đi một đằng. Riêng ông Hoàng Ngọc Hiến và tôi thì còn đi bên nhau, vì khi ấy tôi nói với ông về vấn đề tinh thần Minh triết Việt trong ẩm thực.
Tôi nói với ông rằng: Người Tàu lúc nào cũng có mưu đồ đồng hóa ta. Điển chế, lễ nghi, âm nhạc, thơ văn... đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hán học. Nhưng riêng có ẩm thực, từ ngàn năm nay, người Tàu khó có thể đồng hóa được. Ấy là vì, quần áo, mũ mão, hia hài... thì có thể mang sang mà bắt người ta mang vận trên người, nhưng đồ ăn thì không thể chở từ bên Tàu sang được. Sự ẩm thực nó gắn với con người vật thể, gắn với cái căn bản của nòi giống, của sinh hóa nên không thể nào áp đặt cho đuợc. Hơn nữa, đồ ăn thức uống đều phải chế biến từ các nguyên liệu ở xung quanh ta. Mà khí hậu, thổ ngơi, thổ sản thì Nam - Bắc hai đàng đều khác, cõi bờ phong tục đã riêng. Ấy thế là ẩm thực ta, ta vẫn là ta, anh Tàu không thể đồng hóa được. Minh triết Việt cần được xem xét cả ở khía cạnh này nữa....
Ông lắng nghe thật sự chăm chú và luôn thốt lên: Hay lắm! Hay lắm! - có phải ông luôn nói “hay lắm, hay lắm” với bất cứ ai và bất cứ chuyện gì? Thế rồi, tôi với ông cứ xoắn lấy nhau từ đó. Khi ra xe, ông Nguyễn Khắc Mai bảo tôi phải đưa ông Hiến về tận nhà. Tôi vâng lời.
Dọc đường, trên xe, ông Hoàng Ngọc Hiến biết tôi làm việc ở Viện Hán Nôm, ý chừng là cũng biết về chữ nghĩa nên muốn hỏi tôi về hai chữ “Đa nguyên” trong minh triết và văn hóa Việt. Ông nói, ông không thích dùng chữ “Đa nguyên” nhưng chưa chọn được chữ nào khác. Ông bảo ông loay hoay hàng nửa năm trời nay mà chưa tìm được chữ nào thay được chữ "đa nguyên". Thế rồi, ông bất chợt hỏi: Thế “đa nguyên” có dùng chữ “đa nguồn” được không? Một Nho một Việt vậy có được không? Có từ nào tương tự như vậy không?
Tôi thưa với ông: Đúng là “Đa nguyên” thì dịch ra là “Đa nguồn”. Dùng thông nhau đuợc. “Đa nguồn” thì “Đa” là chữ Hán, nhưng “Nguồn” lại là tiếng Việt. Ấy thế nhưng mà dùng được và ai cũng hiểu, lại tránh được chữ “Đa nguyên” dễ bị quy chụp hoặc suy diễn này nọ. Ông bảo tôi tìm có chữ nào tương tự một Hán một Việt như vậy không. Tôi nói: Thưa bác, có chữ “Đa chiều”. Ông bảo: Oh, hay lắm! Thế thì tôi dùng chữ “đa nguồn”. Minh triết Việt là một nền minh triết đa nguồn!
Rồi tôi bảo ông: Thưa bác Hoàng Ngọc Hiến, rồi một mai người ta không ai còn nhớ điều gì về Hoàng Ngọc Hiến, thì người ta không thể nào mà quên nổi cái câu: “Cái nước mình nó thế!”. Vì cái nước mình nó thế bác ạ!
Ông bảo, trong chữ Nho, cái chữ “tự nhiên” nó hay lắm đấy anh ạ! “Tự nhiên” là tự nó là như thế! Thật quá hay!
Rồi tôi hỏi ông về chuyện của ông. Rằng ông là một nhà văn hóa lớn, lớn lắm. Nhưng ông khác với các cái cây cổ thụ cô đơn trên trời cao vì xung quanh ông có nhiều bè bạn, học trò. Họ gần gũi ông, không xa cách với ông. Ông vừa là bạn, vừa là thầy của họ. Họ kính trọng ông mà gần ông. Ông thật hạnh phúc! Ông chỉ cười. Ông bảo ông sẽ đưa cho tôi bản thảo cuốn sách “Minh triết và Minh triết Việt” mà ông đã sửa đi sửa lại bản thảo đến cả gần chục lần, đề nghị tôi đọc và góp ý cho ông, nhất là về khu vực phương Đông.
Ông Hoàng Ngọc Hiến là tiến sĩ. Ông không phải là giáo sư - ông đã nói với tôi như thế. Mà ông cũng chưa đảm nhận công việc chức vụ gì nhớn bao giờ. Vậy mà ông được bạn bè, học giả, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ khắp nơi mến mộ, muốn kết làm bạn tâm giao.
Xe đưa về đến đầu ngõ, ông bảo tôi vào nhà chơi để tặng bản thảo cuốn sách. Ông hỏi tên vợ tôi để đề tặng cuốn sách cho cả hai vợ chồng. Ông đề tặng TTH trước tên tôi, đúng phong cách lịch sự của phương Tây. Rồi ông đề ngày tháng và ký chữ ký của ông.
Nay, Hoàng Ngọc Hiến đã hóa thân vào cõi vĩnh hằng. Nhưng, cũng như ông Phan Hồng Giang đã nói, và tôi cũng tin như ông rằng: Hoàng Ngọc Hiến ra đi là sự khởi đầu một cuộc sống mới của những giá trị tinh thần quý báu mà ông đã hào phóng để lại cho chúng ta hôm nay.
(...)
12h, ngày 27-01-2011
N.X.D
Gs. Hoàng Ngọc Hiến bàn về hai chữ “đa nguyên” (trích) - in trong sách Hoàng Ngọc Hiến trong lòng bè bạn, Nxb Hội Nhà văn, H, 2011, trang 303 - 307.
Xin đa tạ Nhà văn Văn Giá đã đưa bài này vào sách, và Nhà văn Tạ Duy Anh đã gửi lại bản word bài viết này, mà tác giả cũng không còn giữ được sau 9 năm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỌC ĐỂ BIẾT - HÃY GHI NHẬN



7 người trong cái hội đồng duyệt phim (trên xuống, trái sang):
_ Ông Đỗ Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh,
_ Bà Nguyễn Thị Hồng Ngát - biên kịch
_ Ông Vũ Xuân Hưng - NSƯT, nhà biên kịch, đạo diễn tùm lum nhà
_ Bà Lý Phương Dung - Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh
_ Bà Ngô Phương Lan - Cục trưởng Cục Điện Ảnh
_ Ông Nguyễn Hữu Thức - Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Văn nghệ Ban Tuyên giáo TƯ
_ Ông Nguyễn Danh Dương - giám đốc trung tâm chiếu phim QG
Chính các ông bà này đã cho phép phim "điệp vụ biển đỏ" vào năm ngoái có hình ảnh hải quân Trung quốc bao vây đuổi tàu đánh cá VN ra khỏi vùng biển "South China Sea". Khi bị dư luận lên tiếng thì mấy người này nói rằng:
“Những hình ảnh, âm thanh và lời thoại của đoạn cuối phim hoàn toàn không có căn cứ để kết luận rằng bộ phim tập trung vào 2 nội dung như quy kết. Đây là những thông tin có tính suy diễn, chủ quan, gây ra nhiều thông tin sai lệch trong dư luận, đồng thời tạo ra những tác động tiêu cực trong xã hội”
- Và năm nay là phim “Người tuyết bé nhỏ” có hình đường lưỡi bò.
- Trong sự việc hình lưỡi bò trong phim "Người tuyết bé nhỏ", bà Nguyễn Thị Hồng Ngát cho rằng: "Có mấy giây thôi, mọi người cứ làm quá lên"
Trong khi đó phim Bụi Đời Chợ Lớn không được duyệt vì “không đúng hiện thực xã hội”. Hay một hình lá cờ đỏ sao vàng nhỏ xíu với dòng chữ Ho Chi Minh City thì bị bắt phải xoá vì cho rằng trẻ em đường phố thì không được mặc như vậy (?). Hay phim “Ròm” không duyệt đi chiếu nước ngoài và đang bị doạ phạt. (Phim này đoạt giải thưởng khi đi dự lhp ỏ nước ngoài)
Không biết hội đồng duyệt phim này có thay đổi không
[Cập nhật]:
Sau sự cố phim "Điệp vụ Biển đỏ". Bà Lý Phương Dung tiếp tục khẳng định Điệp vụ Biển Đỏ được thực hiện đúng quy trình thẩm định. Và cho đến nay, chưa có một ai phải chịu trách nhiệm về vụ việc này.
- Hiện nay bà Ngô Phương Lan đã nghỉ hưu, bà Nguyễn Thu Hà là Quyền Cục trưởng Cục Điện ảnh. Bà này vốn là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội , là tiến sĩ, NSƯT, họa sĩ thiết kế phục trang điện ảnh.
- Ông Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Hội đồng duyệt phim
- Ông Đỗ Quốc Việt là Cục phó Cục Điện ảnh mới. Ông này vốn là phó giám đốc trường quay Cổ Loa.
- Còn bà Nguyễn Thị Hồng Ngát, ngoài là biên kịch ra còn là phó chủ tịch thường trực Hội điện ảnh Việt Nam.
Sưu tập

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

CƯỠI THƠ PHẤT CỜ TIẾN LÊN


TIỂU HÙNG TINH 
ảnh internet

           Túng cách làm ăn, hỏi, Nguyên Tử bày nên làm thơ đăng báo, y băn khoăn bảo thơ là chuyện cao siêu, mình chữ nghĩa không bao lăm sao dám làm thơ lại còn thơ đăng báo nữa, chơi gì vậy! Tử bảo đừng lo, chỉ cần vần vè suôn suôn là được, cần gì phải chữ nghĩa cho lắm. Y ngần ngừ bảo liệu người ta có chịu đăng, rồi nếu đăng lên chắc thiên hạ sẽ cười cho chết. Tử bảo cứ yên tâm bởi vì có ma nào mất công đọc đâu mà  cười. Còn báo chịu đăng không thì phải có mánh.

            Thời buổi chính trị thống soái, tuyên truyền lên ngôi, thơ chỉ là công cụ cung tán chủ trương đường lối do vậy phải nắm ý đồ tuyên huấn mà sáng tác là được báo  đăng cái chắc.
Y kính cẩn xin nghe. Tử giảng giải:
            - Phải bám sát những đợt kỉ niệm chính trị, lúc bấy giờ báo cần thơ ca hò vè như khát nước để điền vào chỗ trống cho đáp ứng thời sự. Lễ lược có thơ lễ lược, kỉ niệm có thơ kỉ niệm, sự kiện có thơ sự kiện… Cứ mà Hôm nay ngày  8 tháng 3- Là ngày phụ nữ đàn bà vùng lên…20 tháng 11 là ngày- Các em phải nhớ ơn thầy ơn cô…Cùng nhau đi bỏ phiếu bầu- Cử người xứng đáng đưa vào đại biêu (biểu)…Chỗ không ai làm được thì mình độc quyền bá chủ, gửi năm bảy chỗ, báo nào chẳng rước. Cứ giữ bản gốc rồi năm này qua năm nọ xào tiếp gửi đăng, kiếm tiền khỏe!
            Y nghe theo và thành ngọn cờ thơ hàng tỉnh.
            Một tay nhân viên loại cắc ké cũng mon men tới xin tham vấn con đường thăng tiến, Tử cũng khuyên làm thơ. Bảo người ta vịn câu thơ mà đứng dậy còn ngươi dùng thơ làm vật lót đường mà lên. Bây giờ bọn nịnh nhiều nhưng chỉ biết nịnh nói, ngươi chơi kiểu nịnh thơ  mới không đụng hàng.  Làm thơ tán lão trưởng tra, tán mụ trùm bà, tán thằng cha thủ vồ... Cứ như Công bằng nhân ái bao la- Có ai bằng được thủ tra nhà mình… Giỏi việc nước đảm việc nhà- Hỏi ai hơn được thủ bà cơ quan…Từ giám đốc đến trưởng phòng- Đoàn kết nhất trí một lòng hi sinh… Cứ tán tới là được nâng đỡ đề bạt ngay.
Y nghe theo, không bao lâu lên hàng chức sắc chủ chốt.
            Trời xui đất khiến, một tay lãnh đạo loại máu mặt cũng tới nhờ tham vấn, bảo chức to quyền lớn lợi khẳm rồi, giờ chỉ cần lưu danh hậu thế, Tử cũng khuyên làm thơ. Lão nói toạc loạc rằng mình tiếng có cái tiến sĩ lận lưng nhưng đọc chưa rành viết chưa sạch nước cản làm thơ sao được? Tử cười:
            - Cần gì làm, cứ sai bọn chân cẳng  tán tác cho rồi xuất quỹ mà in, tiếng dậy như cồn đấy!
            Thấy lão vẫn còn hồ nghi, Tử bảo:
            - Cỡ ngươi chỉ cần nhợm hắt xì là có vài ba kẻ nâng khăn, đánh rắm là chúng tranh nhau ngửi hít. Giờ hô làm thơ  thì dù chửi trên đầu thậm chí phun bãi nước bọt chúng cũng a vào trổ tài thi hóa. Lo gì không có thơ!
            Lão ta  nghe theo và thế là tập thơ ghi dấu ấn một chức sắc thi sĩ ra đời và đi vào nền văn học.


Phần nhận xét hiển thị trên trang