Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

NHỮNG TRANG BỊ CẦN THIẾT ĐỂ HIỂU TRIẾT VIỆT

Điều trước hết là ngũ hành phải nhận diện thật kỹ về vị trí, số độ, phương hướng, màu sắc. Số chẵn (2, 4) chỉ đất. Số lẻ (1, 3, 5) chỉ trời.
ngu-hanh
Có 2 chiều chiêu mục: vòng sinh: tay mục (hữu nhậm) theo kim đồng hồ, vòng khắc: tay chiêu (tả nhậm) ngược kim đồng hồ.
1
Vòng trong từ 1-5, vòng ngoài từ 6-10. Lấy số 5 làm cốt rồi cộng dọc lên thì được số 7, dọc xuống được số 6, ngang mục số 9, ngang chiêu số 8. Đôi khi thêm số 10 là cộng với 5 (vòng 10 chấm đen trong Hà Đồ là nó).
2
Hồng Phạm Cửu Trù chính là lược đồ của Việt Tỉnh Cương (vì nó do khung chữ tỉnh #) xưa cũng gọi là Cửu Lạc (con số 9 của dân Lạc) sau Nho công thức hóa thành Hồng Phạm Cửu Trù.
3
Nếu lấy các số ra khỏi Hồng Phạm thì sẽ có lược đồ các số như hình Chữ Viên mà tôi gọi nó là chữ Văn tả nhậm, An Độ gọi là sauvastika. Ngược lại với chữ Vạn Đức quốc xã, hữu nhậm, An Độ gọi là swastika. Nếu ta đặt tên bắn vào các số từ to đến nhỏ thì sẽ nhận ra 2 chiều cả Vạn lẫn Vãn trong Hồng Phạm Cửu Trù. Chữ vãn do tôi đưa vào để chỉ đường tiến vào nội tâm để khỏi lẫn với chữ Vạn. Vì thiếu tên gọi.
4
Hà Đồ, Lạc Thư chính là lược đồ bánh dầy bánh chưng. Bánh chưng vuông là Lạc Thư tiến theo chiều khắc (tả nhậm như các vùng trống đồng) tức tiến vào nội tâm gọi là sách mẹ. Nam ngoại nữ nội là thế.
Các bình đèn ở Đông Sơn, các đỉnh, cả lịch là những đồ dùng để tế tự tức đồ cao trọng nhất đều hàm tàng số 2-3 (3 chân 2 tai). cái phủ Việt (cốt yếu ở chỗ lưỡi cong) cũng hàm chứa số 2-3; trên 2 giao long dưới 3 người hoặc 3 con vật. Đủ biết bộ số vài ba quan trọng biết bao.
Điều cần nhận chân là Trống Đồng với Kinh Dịch cũng đặt theo hướng tả nhậm (trọng tả). Về Kinh Dịch bốn quẻ bên chiêu đều là quẻ âm (tốn, khảm, cấn, khôn) cứ xem hào nền tảng (hào bên dưới hay bên trong) là âm – thì gọi là quẻ âm, 4 quẻ bên mục đều dương: kiền, đoài, li, chấn nên là quẻ dương. Chiêu mục là bên trái bên phải, theo tinh thần Kinh Dịch không được nói bên nào trái bên nào phải, âm không xấu, dương không tốt, mà tốt ở tại hai bên hòa hay là thăng bằng động đích: dynamic equilibrium.
10
Mấy phù hiệu trên (Kinh Dịch, Lạc Thu, Trống Đồng) đều xếp theo hướng tả nhậm là hướng phù yểu, nâng đỡ bên yếu, đặt yếu lên trên như quẻ thái xếp Đất (Khôn) trên, Trời (Kiền) dưới thì mới gặp nhau. Vì Đất nặng đi xuống, Trời nhẹ bay lên mới có cơ gặp gỡ. Tu thân là hiện thực quẻ thái, hạ vật dục xuống đưa tinh thần lên. Nên ghi nhận các bình, các đỉnh, các lịch, các giả, các đồ để tế đều xếp theo quẻ Thái là hai tai (số chẵn chỉ đất) ở trên, 3 chân ở dưới (số 3 chỉ trời) tức cũng là tả nhậm phù yểu.
  Ngũ hành còn có vòng trong vòng ngoài như hình trên, vòng trong là 5 số sinh: 1, 2, 3, 4, 5 thêm vòng thành là 4 số: 6, 7, 8, 9/
11
 Các số trong Trống Đồng có đủ cả 5 số sinh lẫn 4 số thành (hay vòng ngoài). 5 số sinh là:
 – Số 1 là mặt trời ở trung cung chỉ bằng số không = zero = 0 = vòng 1.
 – Số 2 là nét song trùng chạy song song giữa có vòng tiếp tuyến. Có 2 còng kép và 2 vòng đơn.
 – Số 3 là các vòng tam giác gốc (tiếp cận mặt trời) và tam giác nhỏ ở ngoài (quen gọi răng cưa).
 – Số 4 là 4 quai trống chỉ 4 phương hoặc 4 người đánh trống ở vòng 3.
– Số 5 là 5 vòng: Mặt trời, 14 tam giác gốc, vòng con người, vòng hữu và chim, vòng ngoài cùng toàn là chim: 36 con.
 Số 5 cũng được tìm ở hàng ngang là:
1 người đánh trống
2 người giã gạo
2 người hát “cài hoa kết hoa”
4 người đánh trống.
12
Xếp theo quẻ Thái:
  Đất trước là số 4 và 2, Trời sau là số 3 và 1. Số 1 và 4 cộng lại 5 (số du mục vì ở hai đầu). Số 3 và 2 cộng lại cũng là 5 số nông nghiệp vì ở giữa có hợp thành. Số 6, 7 ở vòng 3: 6 bên chiêu, 7 người bên mục. Số 8 là chim ở vòng 4 bên chiêu.
  Số 9 là 36 chim ngoài cùng tượng 4 hoa quỳ 9 cánh: 4*9=36 chúng chỉ hoa nhật quỳ vì hoa quỳ hướng về thái dương, đây là 36 con đều đi hướng đó, hướng của “phượng minh triều dương” những con trĩ chào mặt trời (mới mọc).
  Số 10 là 5 cặp nai chà, có thể chỉ “ngày tiên tháng rồng”: ngày tiên là mồng 10 (2*5=10), tháng rồng là tháng 3 ở cung thìn (thì là cung 5: tí sửu dần mão thìn), nên trống có thể hàm chứa cả ngày giỗ tổ. Theo những điều đã nói trên đây ta thấy rằng Trống Đồng hàm chứa toàn nền triết Việt, có thể tóm vào hai chữ Tiên Rồng: tiên là chim trên mặt trống. Còn rồng là thuyền rồng dưới tang trống xếp theo quẻ Thái và tả nhậm tức mặt trống chỉ mẹ tiên ở trên, còn tang trống chỉ cha rồng ở dưới.
 
Vài thế giao chỉ uyên nguyên
 a. Nữ Oa Phục Hy giao chỉ: bà bên chiêu, ông bên mục. Bà cầm cái quy cũng gọi là thập tự nhai + (5 số sinh) làm nội tướng. Ong cầm cái củ (thước vuông) vòng ngoài.
 b. Trống cũng vậy: số chẵn ở bên chiêu, số lẻ ở bên mục tức âm (đất) trên, dương (trời) dưới.
 c. Thái cực đồ cũng âm bên chiêu, dương bên mục.
 d. Chữ Nghệ cũng nét dương theo hữu nhậm, nét mác theo tả nhậm. (Lạc Long Quân đóng đô ở xứ Nghệ An là thế)
 e. Văn Lang: văn kép bởi nghệ và bộ đẩu.
 f. Giao Chỉ: giao là kép bởi chữ nghệ và bộ lục.
Cài hoa kết hoa
  Lối hát giao tay nhiều khi cả giao chân gọi là “cài hoa kết hoa”. Đó là mô thức cho các lối hát hai bè, mà lớn lao hơn hết là hát trống quân. Trong đó hai bè nam nữ hát đối nhau (xem bài trống quân trong Văn Lang Vũ Bộ). Đó là lối hành đạo cụ thể hơn hết nên ta còn gặp đầy.
 Thuyền tình bể ái
   Đây là nét giao chỉ cụ thể để đẻ ra cái bọc trăm trứng. Hình phóng đại từ mũi thuyền trong trống. Au Cơ lao vào miệng rồng. Đó là cánh đồng Tương nơi mẹ Au Cơ gặp bố Lạc Long Quân đẻ ra cái bọc trứng rồi nở ra con, 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống bể. Còn số 5 (ngũ hành) đã tàng ẩn trong truyện.

Lưỡi rìu xoè ở Đông Sơn
Trên 2 giao long giao tay, dưới hình 3 người hoặc 3 con thú.
 Vài trên ba dưới = di vật Đông Sơn.  Giống Phủ Việt (Sứ Điệp 170), Phủ Việt là một cái “búa” có lưỡi cong cong.
 Nhất điểu nhì xà
Nhất điểu nhì xà tìm thấy trên Trường Sa có cả ở Mường: hai chim với hai rắn (xà long) tiền đề cho cặp đôi tiên rồng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Lực lượng đặc biệt” của Minh triều: tam xưởng nhất vệ

Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương (1328-1398).
Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương (1328-1398).
Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương một hôm hỏi Tống Liêm: “Tối qua, nhà khanh có tiệc rượu thì phải? Các ngươi gồm những ai, có được những thức nhắm gì?” Vị Hàn lâm học sĩ trọng thần triều đình vốn tính thật thà, nên nhất nhất đều thuật lại với hoàng đế. Nghe xong, Chương mỉm cười gật gù, buông một câu khiến Liêm không rét mà run: “Tốt, ngươi quả không dối trẫm!”
Chu Nguyên Chương nắm rõ nhất cử nhất động của bá quan văn võ là nhờ sự đắc lực của Cẩm Y vệ. Triều Minh, kể từ Chu Nguyên Chương, đã sáng lập nên các cơ quan thanh tra mật thám kiểm soát khắp trong triều ngoài nội. Sau Cẩm Y vệ, còn sinh ra “tam xưởng”, là Đông xưởng, Tây xưởng và Nội Hành xưởng chuyên theo dõi động tĩnh cả quan tình lẫn dân tình.
1/- Nhất vệ:
Sau khi lên ngôi (1368), nỗi lo canh cánh trong lòng khiến Chu Nguyên Chương ăn không ngon ngủ không yên chính lại là bọn khai quốc công thần. Chương thất học, bản tính đa nghi đố kỵ, lại tự ti về xuất thân hèn kém của mình, nên bị ám ảnh bởi mối lo rằng con cháu dòng dõi mình rồi đây sẽ bị tuyệt diệt bởi chính những đại thần thân cận. Chương bèn cho lập “Củng vệ ty”, đây là vệ đội ngự lâm quân chuyên việc hầu cận bảo vệ hoàng đế. Năm sau, 1369, Chương sáp nhập ty này với “Nghi loan ty” (chuyên lo về nghi vệ) thành “Thân quân Đô úy phủ”, cơ quan này chưởng quản nghi trượng kiêm thị vệ cho hoàng đế. Đến 1382, Thân quân Đô úy phủ chính thức đổi tên thành Cẩm Y vệ. Chương thực hiện cuộc cải cách qui chế Cấm vệ quân, thành lập 12 vệ Thân quân, và Cẩm Y vệ là lực lượng quan trọng nhất trong 12 vệ thân binh ấy, do Chương trực tiếp quản lý.
Đội Cẩm Y vệ hộ giá tuần du.
Đội Cẩm Y vệ hộ giá tuần du.
Là đội thân quân thị vệ kiêm nghi trượng của hoàng đế, Cẩm Y vệ tập hợp toàn những tay dũng sĩ, hình vóc lực lưỡng, võ nghệ cao cường, chia làm Hiệu úy chưởng quản dàn lỗ bộ và tàn lọng, Lực sĩ đặc trách chiêng trống và cờ phướn. Theo cơ cấu quân sự của triều Minh, mỗi “vệ” 5.000 quân, chia làm các “Thiên hộ sở” và “Bách hộ sở”. Cẩm Y vệ lúc ban đầu thành lập ban đầu chỉ 1.500 người, gấp rưỡi một “sở”, đều là thành phần ưu tú tinh tuyển; sau 5 năm thì khuếch trương thanh thế nảy cành đâm nhánh sâu rộng khắp hang cùng ngõ hẻm, đến lúc giải tán thì quân số đã hơn 6 vạn, và đồ sát cũng ngần ấy sinh linh.
Cẩm y vệ là cơ cấu quân sự nằm ngoài lục bộ, trực thuộc hoàng đế. Cơ quan này cai quản mọi việc hình ngục, toàn quyền trinh thám, dò xét, thẩm vấn, và định tội bất kỳ ai, kể cả hoàng thân quốc thích, văn võ trọng thần, cho chí bá tánh mà không cần phải thông qua Hình bộ. “Cẩm y vệ Chỉ huy sứ” có cấp Đô đốc trở lên, là nhân vật thân tín và chỉ có bổn phận phải giải trình với riêng hoàng đế.
Không phụ lòng tin của thiên tử, trong vòng vài năm, tất cả công thần của Chương đều bị vu tội và hành hình để trừ hậu hoạn. Riêng trong hai vụ án của Hồ Duy Dung và Lam Ngọc (tức “Hồ Lam chi ngục”) đã có hơn bốn vạn mạng người bị tru diệt. Sau khi thanh trừng trọng thần xong thì tiếng oán than về sự lộng quyền tàn độc của Cẩm Y vệ cũng lan truyền khắp thiên hạ. Chương lúc này lại dùng ngón đà đao, trở lại chém luôn bọn tai mắt nha trảo của mình. Vào năm 1387, Chương hạ lệnh tiêu hủy những hình cụ của Cẩm Y vệ, tất cả phạm nhân còn lại chuyển giao Hình bộ tra xét, những án ngục nội ngoại do Tam pháp ty thụ lý; Cẩm Y vệ được giải tán hầu lấy lòng, trấn an bá tánh, nhưng hậu quả nặng nề do Cẩm Y vệ gây ra đã khiến nhân tâm ly tán, luân thường điên đảo, không khí khủng bố bao trùm, người người ngờ vực nghi kỵ lẫn nhau, nguyên khí thịnh vượng đã chẳng cách nào phục hồi lại được.
Minh Thành tổ Chu Lệ (1360-1424).
Minh Thành tổ Chu Lệ (1360-1424).
Sau này, con thứ tư của Chu Nguyên Chương là Chu Đệ dấy binh thoán nghịch giết cháu ruột để lên ngôi, lấy niên hiệu Vĩnh Lạc, chính là Minh Thành tổ, vị vua tàn bạo hoang dâm nhất triều Minh. Biết lòng dân bất mãn, quần thần dị nghị, chẳng ai phục mình, nên chỉ vài tháng sau khi đăng cơ, Đệ đã cho khôi phục qui chế Cẩm Y vệ (vào đầu năm 1403). Từ đó, cơ quan khủng bố này được duy trì mãi cho đến khi Minh bị diệt (1644), tổng cộng Cẩm Y vệ tồn tại và hoành hành ngót 250 năm.
Cẩm Y vệ được giao cho đặc quyền ưu tiên tuyệt đối trong thực thi chức trách mật thám và xét xử toàn bộ thần dân trong triều ngoài nội, được đặt cơ quan xuống từng phủ huyện hương thôn biên giới hải đảo. Người của Cẩm y vệ tuy làm mật thám nhưng không cần cải trang, họ đều có phẩm phục theo thứ bậc để mọi người nhận ra: nhất phẩm thêu đẩu ngưu (trâu), nhị phẩm phi ngư (cá), tam phẩm mãng xà (trăn), tứ và ngũ phẩm thêu kỳ lân, lục và thất phẩm thêu hình hổ báo. Từ tòng tam phẩm (chức Chỉ huy Đồng tri), tứ phẩm (Chỉ huy Kiểm sự) của Cẩm Y vệ đều là những nhân vật cực kỳ thân tín từng vào sinh ra tử với hoàng đế.
Trang phục một Cẩm Y vệ.
Trang phục một Cẩm Y vệ.
Cẩm Y Vệ quyền lực rất lớn, Minh triều tuy có sự phân chia thẩm quyền giữa cơ quan này với chính quyền địa phương, Cẩm Y vệ chủ yếu chỉ điều tra tội phản nghịch, án mạng liên quan đến triều đình, huân quý, quan lại… Nhưng khi cần thì chỉ một viên Chỉ huy Đồng tri tòng tam phẩm của Cẩm Y vệ bảo chứng là đã đủ hiệu lực để một vụ án thuộc thẩm quyền địa phương phải chuyển giao cho Cẩm Y vệ thụ lý.
Là tai mắt của hoàng đế, mỗi viên Cẩm Y vệ đều phải trải qua quá trình huấn luyện khắc nghiệt, chẳng những họ phải tinh thông võ nghệ mà còn phải có tư chất lạnh lùng phi nhân. Minh sử còn chép lại câu chuyện một vụ phá án tiêu biểu của Cẩm Y vệ: Hồ Nam có bốn quan chức đang đêm chui vào mật thất bày tiệc với nhau, đang khi đối ẩm cao hứng, một trong bốn người buột miệng phẩm bình chính sự hà khắc, đột ngột đội Cẩm Y vệ gồm 3 viên nhị phẩm xuất hiện như từ trời rơi xuống, họ phá tường mà vào, lôi kẻ cuồng ngôn kia ra lột da mà rút từng sợi gân. Cẩm Y vệ có quyền thẩm vấn trong bí mật, thường thì ai đã sa vào tay họ dù không có tội cũng thành trọng tội, khó mong được chết êm thấm chứ đừng nói là sống còn. Hình phạt thông thưòng để bức cung là đánh bằng trượng cho đến chết, hoặc dùng gông nặng hơn trăm cân đè cho gãy cổ nát ngực chết từ từ cách thảm khốc kinh hoàng; ai sớm chịu tội thì họa may còn bảo toàn được cho gia quyến, bằng nghịch lại thì toàn gia tru diệt, gà chó cũng không còn.
2/. Tam xưởng:
Sau khi tái lập Cẩm Y vệ, Chu Đệ vẫn cho là chưa đủ để củng cố quyền lực, vì phạm vi của Cẩm Y bị hạn chế, không thể hoạt động trong nội cung, nên năm 1420 lại đặc cách thành lập Đông xưởng để giám sát trong cấm cung, chuyên trấn áp những lực lượng phản đối.
Biểu trưng của Đông xưởng.
Biểu trưng của Đông xưởng.
“Đông tập sự xưởng”, gọi tắt Đông xưởng, được lập nha môn ở bên cạnh Đông Hoa môn của Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay). Vì cửa nha môn này gồm 6 cánh ghép lại nên người ta còn dùng uyển danh Lục phiến môn để gọi Đông xưởng.
Đây là cơ quan đặc vụ bí mật, do nội thị đảm nhiệm, có trọng trách giám thị toàn bộ từ nội các đến trong quân đội, quan viên, nhân sĩ trí thức, học giả danh gia, mọi cơ quan quyền lực của triều đình. Kết quả giám thị này nếu điều tra ra tội nhẹ thì Đông xưởng toàn quyền liệu lý, không cần phải trình qua cơ quan tư pháp; tội trọng thì trực tiếp báo cáo với hoàng đế để ngài định đoạt. Được giao quyền lực nghiêng trời, Đông xưởng có thể khảo tra bất kỳ hoàng thân quý tộc nào.
"Lục phiến môn"
“Lục phiến môn”
Biên chế Đông xưởng hơn ngàn người, do bọn thái giám nắm giữ chức vụ trọng yếu, tai mắt rải khắp nơi, cả Cẩm Y vệ cũng phải chịu quyền Đông xưởng điều động. Thanh Tú Xuân đao lừng danh của Cẩm Y vệ, dưới trướng Đông xưởng, được chạm hai chữ “Đông” và “Xưởng” ở hai mặt chuôi cầm; đó là thứ vũ khí bất khả kháng cự, hễ ai cả gan cưỡng lại thì phải mang họa tru lục cả nhà. Mỗi sáng sớm, lục bộ phải tổng hợp binh tình các nơi có gì bất thường để làm báo cáo trình Đông xưởng tham cứu. Các thái giám quyền lực đời Minh: Vương Chấn, Lưu Cẩn, Phùng Bảo, Ngụy Trung Hiền… đều từng được bổ nhiệm thống lĩnh Tổng đốc Đông xưởng (còn gọi Xưởng công).
Tú Xuân đạo.
Tú Xuân đạo.
Quyền lực vô độ khó kiểm soát của Đông xưởng khiến ý trời lòng dân thảy đều căm giận, nhưng xem ra vẫn chưa làm bậc đế vương minh chủ hài lòng. Đời Minh Hiến tông Chu Kiến Thâm, vào năm Thành Hóa thứ 12 (1476), có viên đại thần Lý Tử Long xuất kỳ bất ý lạc bước vào tẩm viện trong nội cung, việc này khiến Thâm lấy làm lo lắng cho an nguy của bản thân, nên năm sau, 1477, đã thành lập “Tây tập sự xưởng” gọi tắt là Tây xưởng, do Đại thái giám Uông Trực đứng đầu.
Biểu trưng Tây xưởng.
Biểu trưng Tây xưởng.
Tây xưởng chẳng những kiêm nhiệm những chức năng của Cẩm Y vệ và Đông xưởng, lại có thêm quyền lực vượt bậc, là có pháp đình và lao ngục riêng. Tây xưởng lại được đặc cách không cần phải thông qua hoàng đế, toàn quyền quyết định thẩm án và đề ra hình phạt cho bất kỳ nghi can nào, dù là văn võ đại thần, quan chức địa phương hay thường dân bá tánh. Đã vậy, chức năng chính của Tây xưởng lại là giám sát hoạt động của Đông xưởng, nên thế lực càng ghê gớm phi thường. May là Tây xưởng tồn tại không lâu, chỉ hơn 5 tháng sau, dưới áp lực đàn hặc của bá quan cũng như dị nghị của dân chúng Chu Kiến Thâm đã phải đóng cửa Tây xưởng, nhưng tai tiếng hôn quân của Thâm đã kịp lưu vào sử sách.
Sang đời Minh Vũ tông Chu Hậu Chiếu, năm 1506 lại tái lập Tây xưởng. Chiếu là kẻ chơi bời chỉ ham trác táng, chán sợ khi phải nghe lời gián nghị nên được mệnh danh là “Ngọa hoàng đế” (vua nằm); Đại thái giám Lưu Cẩn chuyên quyền là “Lập hoàng đế” (vua đứng). Lúc bấy giờ, Đông xưởng do Mã Vĩnh Thành chưởng quản, Tây xưởng do Cốc Đại Dụng nắm quyền, hai tên này đấu đá nhau quyết liệt để tranh giành quyền lợi. Cáo già Lưu Cẩn nhân cơ hội ngao cò tương tranh đó đã bỏ nhỏ vào tai thánh thượng, năm 1508 được vua hạ chiếu lập ra Nội Hành xưởng để thống lãnh cả Đông Tây nhị xưởng.
Là cơ quan do Lập hoàng đế đích thân quản lý, nên tuy xuất hiện trễ nhất nhưng Nội Hành xưởng lại có quyền thế lớn nhất, tha hồ hoành hành bá đạo. Từ thiên tử trở xuống, trong triều ngoài nội đều bị Cẩn khuynh đảo, tất cả những ai phản đối y đều bị tiêu diệt tận gốc: tội nhẹ thì cả nhà bị đày ra miền biên viễn, chung thân không được đặt chân trở lại Trung nguyên, nặng thì phải bị gông sắt 150 cân đè cho chết thảm, đại nghịch nữa thì bị trượng đả liên hồi thịt nát xương tan hồn du địa phủ, hoặc chém đầu xẻo thịt thị chúng. Chỉ trong hai năm, tội ác do Nội Hành xưởng gây ra đã thảm tuyệt nhân hoàn, người người rởn óc; sa vào tay Nội Hành xưởng, thường người ta đều chọn con đường tự sát để trốn thoát hình phạt ghê rợn do bọn biến thái này bày ra. Năm 1510, Lưu Cẩn bị giết vì tội mưu phản, Nội Hành xưởng mới được phế bỏ. Trong hai năm, Nội Hành xưởng đã giết hại vài ngàn mạng, lưu đày ngót vạn người, chưa kể số tự vẫn không thể thống kê.
* * *
Dòng dõi nhà Minh nối nhau thống trị chỉ cậy vào bạo quyền để chế ngự bá tánh, chúng lập ra những cơ quan đặc vụ mong kiểm soát trị an phòng ngừa nội loạn. Chẳng tự tin ở chính nghĩa do mình thực thi, nên phải dùng đến nha trảo để đàn áp dân tình. Họa diệt vong của Minh triều chính tại nhãn tiền: là do tự mình gây ra quả báo cho chính mình mà thôi.
Xưa nay, bạo quyền nào có thể đè bẹp được khát vọng sinh tồn của vạn dân, than ôi than ôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TUỆ SỸ VIẾT VỀ NGUYỄN ĐỨC SƠN




1. Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh? Hay lịch sử? Hay cái gì nữa? Có bao nhiêu câu hỏi tương tợ như vậy, nghĩa và vô nghĩa, để chắp cánh cho ta đi tìm một bóng dáng huyền thoại của một nhà thơ chỉ một mà thôi?
Không; không có câu hỏi nào cả. Neti, neti, Tatt vam asi.
Không có gì cả.
Chỉ có tiếng hú, và huyền thoại của tiếng hú, trong cơn lốc quằn quại của con vượn biết mình đang tan vào lượn sóng, chồm lên hung hãn đòi hỏi phẩm chất làm người. Sóng gào thét với gió ngàn bạt đỉnh, nhận chìm tiếng hú xuống dòng xoáy của hư vô. Từ đó, loài người xuất hiện, lầm lũi bước đi trong bóng đêm u tịch, nghe sau mình tiếng vọng đuổi theo; tiếng vọng của những quá khứ đã chết, những tháng ngày bay vèo theo xác lá khô. Đâu đó, nghe ngân dài: Ôi tình Yêu! Ôi Vĩnh Cửu? Tiếng ngân ấy, rung lên giai điệu nhẹ nhàng, thướt tha, và cũng tha thiết. Tiếng thơ của ai? Hay của con người, chỉ một con người, đứng ôm mặt trời nóng bỏng trên đỉnh Trường Sơn. Thế rồi, thiên địa bất nhân, coi vạn vật như chó rơm, cho sinh thêm một con người nữa, để có thể hỏi: Thơ là gì, là tình yêu hay tội lỗi?
Thêm một người nữa, để cho ta biết yêu, biết hận, và biết làm thơ. Ta biết làm thơ, vì ta đã phụ bạc, đã ruồng rẫy; chôn tình người xuống hố sâu tội lỗi; dựng lời thơ thành cung điện huy hoàng. Đêm đêm rừng sao mênh mông tuôn xuống lớp lớp cơn mưa châu ngọc. Giữa cơn mê sảng của giàu sang, ảo ảnh hiện hình làm quỷ sứ, gọi nhà thơ dậy, hỏi dồn và thách thức: đâu tình yêu? đâu vĩnh cửu? Nhà thơ nhìn lại trong lòng tay; chỉ còn một hạt cát Trong cơn mê sảng, nó thét lên : Hột Thì le Vì người đã sống, và đã đi suốt chiều dài tiến hóa; nên Thơ đã chết. Chỉ còn giai điệu lăn lóc của sỏi và cát: Hột Thì le. Vô nghĩa, và vô ngôn. Chỉ có sự sống trần truồng, vật vã trong nắng bức và gió rát của sa mạc. Của đam mê và hủy diệt. Của tình yêu và phản bội. Của vĩnh cửu và hư vô. Hai mươi lăm năm rồi, từ khi tôi biết yêu; từ khi nhìn thấy ngọn cỏ gầy gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường, mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó có tiếng thì thầm: Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao. Khi chợt tỉnh, chung quanh khói lửa ngập trời. Rồi mặt trời đỏ rực màu máu. Rồi Thái Bình Dương dậy sóng. Đi đâu hết rồi, những người tôi yêu và những người yêu tôi? Trong bóng tối của tử tù, từng khoảnh khắc tôi nghe đồng vọng tình yêu trên cao. Tình yêu đến gần, đang tô điểm phấn son, chờ phút giây hội ngộ trong yến tiệc linh đình của pháp trường cát. Tình u phía trước, ngân vang giai điệu Prélude chậm buồn trong tay những xạ thủ: Mai sau tắt lửa mặt trời Tình yêu để lại phía sau, dãy hành lang hun hút, dồn đập tiết tấu Rhapsodie: Chuyện linh hồn với luân hồi có không Rồi lật sang chương ba của bản hòa tấu, Marchefunnebre: Thái hư chừng sắp chuyển vòng Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi Chúng ta giờ ước mong gì Văn minh gởi cát bụi về mai kia...
......
2. Sa mạc lớn dần... Thượng đế đã chết... Bởi vì con người đã chết. Một thế hệ được sinh ra, được nuôi lớn, để làm chứng cho sự sụp đổ, hoang tàn. Thần linh bỗng nhiên biến mất. Và hình ảnh mầu nhiệm, kết tinh từ Thánh thể, cũng biến mất. Sự sụp đổ của một nền văn minh, và hoàng hôn của những thần tượng. Tôi đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri, xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh. Sa mạc lớn dần... Thượng đế đã chết...
Từ lâu, tôi không còn nghe những âm hưởng một thời xao xuyến ấy. Không chỉ là xao xuyến, mà là sóng gió, là giông bão. Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Tôi muốn nói những ẩn ngữ của thơ. Cũng như tôi không hiểu tất cả sự huyền bí, mầu nhiệm, sự hiện hữu của một quả nho. Nhưng tôi đã từng nếm vị ngọt của nó. Nói cho thật nghịch lý, tôi chưa bao giờ biết, chưa bao giờ hiểu tôi là ai. Nhưng tôi vẫn là tôi. Một nghịch lý không thể tránh; một nghịch lý ám ảnh không cùng, là tôi vẫn luôn tự hỏi, mỗi khi đối diện với anh: Sơn là ai nhỉ? Con người này là ai?
Anh là ai?
......
Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn "quậy phá"? Dưới ngòi bút phê bình, anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng, và những ấn tượng, mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, và cũng khó mà làm quen được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một một cái gì đó, ở đâu đó, bỗng nhiên rơi xuống đó: Tôi đang rơi xuống kêu cái bịch Trên rong rêu tịch mịch Từ muôn đời nay Cái đó không phải là một hiện sinh; không phải là một hữu thể hay thực thể, bị ném vào đời một cách phi lý, vô nghĩa. Nó đến như là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng có phải vì vậy mà nó phi lý, nó làm cho buồn nôn? Tuy thế, cái ngòi bút phê bình quả là cái gậy thần. Gõ vào những trang sách dày cộm của Satre, những từ ngữ triết học bí hiểm nhưng lại mang nhiều ưu tư khắc khoải của Heidegger, từ những cơn thịnh nộ bốc đồng của Nietzsche; gõ vào đó và làm cho xuất hiện một hiện sinh, một con người hiện sinh biết làm thơ. Rồi người ta cảm thấy buồn nôn vì cái hiện sinh phi lý ấy, hay vì cái ngòi bút đầy quyền uy siêu nhiên ấy ? Dù sao, thì một thời, người ta nói, Sơn vẫn là nhà thơ hiện sinh. Người ta nói như thế. Cũng như người ta nói "Chú Sỹ hiện sinh". Bởi vì chú thích leo cửa sổ vào buồng ngủ của Thầy hơn là đi vào bằng ngõ chính. Có điều, chú không... rơi xuống kêu cái bịch Trên rong rêu tịch mịch. Anh là ai?
......
Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên rừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói "sùi bọt mép". Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến một "Sơn quậy" ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn thấy câu đầu và mấy câu cuối: Nhờ hồng phúc > Tôi vẫn đang ngủ trên am mây Với những bậc thầy Muôn thuở trước Đoạn giữa, là một đoạn đời, hay một cuộc đời "hiện sinh": mà nay Mà nay Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh tử trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Saigon chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn phải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì thật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng. Tôi tìm đâu một trời thơ, sau những ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết? Ta còn giỡn nữa hay thôi Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo Gửi về đâu một chút tro Kèn vang lộn mửa tiếng o í e.
......
......
3. Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm thơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh với cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể rất lạ, rất quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi thấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình. Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai. ất quá, tôi mượn những ý tưởng có sẵn trong kho ngữ vựng triết học đông tây kim cổ, để tự giới thiệu và tự mô tả. Những ý ấy, và lời ấy, tôi biết thật sự là vô nghĩa. Dù sao, cũng vẫn cần một câu trả lời, để khẳng định hiện hữu của mình giữa cái thế giới lầm lì, hiu quạnh này. Thử hỏi: Ta là ai?
......
......
Thì ra Ta vốn là ma Vẽ ma dễ hơn vẽ người. Mỗi người tuy là mỗi cá thể độc lập, biệt lập; không ai giống ai. Nhưng tất cả loài người, bất kể da vàng da trắng, đều có chung những quy ước phổ quát. Không tuân thủ những quy ước, không làm sao vẽ được một hình người mà mọi người đều nhận ra đó là người. Dù vẽ theo ấn tượng, hay siêu thức, hay lập thể; vẫn có những quy ước phổ quát. Ngoài đó ra, là vẽ hình ma quái. Ấy thế, cái người mà mọi người cho là quái dị, kỳ cục; nhưng ai cũng cảm thấy mình có thể vẽ được con người ấy; vì nó là ma. Người ta nó i nó là ma . Cái bóng ma ấy chập chờn trên sa mạc. Quả vậy, tôi đang đi trên sa mạc.
......
......
Đang quờ quạng trong bóng đêm rét buốt của sa mạc. Mới ban ngày đây thôi, mặt trời nóng cháy. Vì loài người đang thù ghét nhau. Thù nhau từ những phương trời mộng tưởng; đến đây để thanh toán nhau những món nợ oan cừu lịch sử gì đó. Bạn bè tôi, lớp lớp ra đi; theo nhịp bước lịch sử oai hùng. Nhưng thảy đều đi mất biệt. Không có trời đông, hay trời tây, để cho sao mọc hay sao lặn. Thế thì, sao trên rừng là cái quái gì ? Cho nên, đại bác và hỏa châu rượt đuổi anh hàng ngày. Anh trốn trong hủ gạo. Trốn xuống gầm xe. Trốn vào nhà chùa. Anh chạy trốn, tất nhiên vì anh muốn sống. Ai lại chẳng muốn sống? Sống như bóng ma của thời đại trong cái huyễn mộng phù sinh; trong cái chập chờn ma quái; đôi khi lồ lộ một con người chân thật; một hình ảnh con người chưa từng sống, mà cũng như chưa từng chết. Xuyên bức màn trăng, mênh mông vô hình, ta nghe một con người đang than thở :Ô hồn ta Sao quá mỏng. Ngoài vườn trăng. Trong sa mạc đêm lạnh lẽo này, trong cái bóng tối uy hiếp của bốn vách đá của bức màn sắt rờn rợn này, trong đây không dễ gì tìm ra một ma nào đang thở. Nhưng ngoài kia, ngoài vườn trăng kia, một hồn người sung mãn. Hồn người chứ không thể là hồn ma được. Đó là hồn người, cho nên nó biết khóc khi nhìn trong lòng tay, những giọt trăng đang đông lại thành những giọt máu. Máu của những oan hồn đang đòi quyền sống. Có muộn quá đi chăng?> Trong những đêm trăng Có một nỗi gì thấy quá muộn màng Làm ta muôn đời muốn khóc Sớm hay muộn, nơi đó vẫn có một nắm đất nhân từ, có bóng tối thân thương: Hỡi U Minh Giáo Chủ Trăm năm mần chi đủ Con hát hoài không thôi Lướt trên mồ cỏ phủ Đọc những câu thơ như thế, tôi muốn chui xuống mộ mà nằm, để còn được nghe tiếng hát.
......
......
4. Ôi trăng ngàn. Vừa tan Còn lại đó, một khoảng không tịch mặc của trời thơ. Và những lời không nói. Ngàn sau Phơ phất gò bông lau.

TUỆ SỸ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cát Linh-HĐ: Tổng thầu TQ “phá vỡ” cam kết mới?




*Dự án Cát Linh-Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc sẽ “phá vỡ” cam kết mới?* *Luật sư Nguyễn Văn Hậu cho rằng, nếu bây giờ mà khởi kiện tổng thầu Trung Quốc thì phải căn cứ theo hợp đồng, mà hợp đồng của phía Việt Nam và Trung Quốc bản chất là một hợp đồng thương mại, trách nhiệm chính là do nhà thầu. Mặc dù hợp đồng không rõ ràng, tuy nhiên theo Luật sư Hậu, Việt Nam cứ nên khởi kiện: “Tôi thấy mình cứ khởi kiện thôi, có thể là trọng tài hoặc tòa án, xử lý chuyện này từ một dự án được kỳ vọng mà sau 11 năm phê duyệt, 8 năm thi công, mà 10 lần lùi tiến độ, đội vốn 40%, đến giờ vẫn chưa xong.."


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lập lờ thương hiệu ngoại, lừa dối người tiêu dùng


Lập lờ thương hiệu ngoại, lừa dối người tiêu dùng

Thời gian gần đây, tình trạng một số cơ sở sản xuất và thương mại sử dụng tên nước ngoài gắn mác cho các sản phẩm theo kiểu “treo đầu dê bán thịt chó” khiến không ít người tiêu dùng bị lừa. Sau sự việc khăn lụa Khaisilk, hiện tượng này gióng lên hồi chuông cảnh báo về quản lý nguồn gốc, xuất xứ và nhãn mác sản phẩm, cả trong sản xuất và thương mại còn rất nhiều bất cập.

Đâu là sự thật về "thời trang phong cách Italy"?

Một chiếc áo măng tô lụa single breasted của hãng Valentino (Italy) có giá gần 4.000USD. Trong khi, trên thị trường Việt Nam có những sản phẩm cũng gắn chữ Valentino như Valentino Creations nhưng lại không phải hàng Italia mà có giá lên tới hàng nghìn USD.

Được biết, thương hiệu Valentino SpA có ba “nhánh”, gồm: Valentino Garavani, Valentino Roma và R.E.D. Valentino. Thế nhưng, tại Việt Nam lại xuất hiện rất nhiều sản phẩm có gắn chữ Valentino khiến người tiêu dùng hiểu lầm đó là thời trang phong cách Italia. Một trang mạng ở Việt Nam quảng bá: “Năm 1999, Valentino Creations có mặt tại Malaysia và tiếp theo đó những sản phẩm Valentino Creations có mặt tại các nước châu Á khác. Tất cả sản phẩm của nhãn hàng này đều được sản xuất trong những nhà máy tối tân nhất, với chất lượng hoàn hảo. Nhiều nhà thiết kế nổi tiếng của châu Âu mơ ước được làm việc cho Valentino Creations”.


 Một cửa hàng "thời trang phong cách Italy" tại Hà Nội. Ảnh: Nguyên Hồng.
Dạo quanh các trung tâm thương mại lớn tại Hà Nội, không khó để bắt gặp các loại “thời trang phong cách Italy” với những lời quảng cáo như: Giovani, Puzio-thương hiệu thời trang nam; Veneto-“thời trang nam phong cách Italy”; “Với tên gọi mang cảm hứng từ thành phố Bolzano của Italy, thời trang Bolzano Italy sử dụng nguyên liệu cao cấp cùng thiết kế phong cách Italy ...”. Còn nữa, các sản phẩm có tên na ná các hãng thương hiệu lớn trên thế giới như V.C, L.B, BR… dễ gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng. Đặc điểm chung là sản phẩm của các thương hiệu này đều được bày bán tại những vị trí đắc địa, được trưng bày sang trọng, bắt mắt trong những cửa hàng lớn.

Giá của các sản phẩm "thời trang phong cách Italy” không hề rẻ, từ vài triệu đồng tới hàng chục triệu đồng. Thế nhưng, khi tra cứu, tìm hiểu trên Google, thì không tìm được các thương hiệu thời trang này tại website chính thức của thương hiệu gốc. Một số người Việt sống lâu năm tại châu Âu cũng cho biết, ở những nước họ sống, không có thương hiệu thời trang nào mang các tên gọi trên.

Liệu có lỗ hổng quản lý

Trên diễn đàn Otofun hiện có nhiều ý kiến phản ứng với loại thời trang trên. Một thành viên diễn đàn từng đăng bài bức xúc kể về việc mua chiếc áo có nhãn Valentino Creations tại một siêu thị với giá gần 5 triệu đồng nhưng về nhà mặc hai lần thì túi áo bị rách. Cũng trên diễn đàn này, một số thành viên cho biết: Valentino Creations là hàng "chính hãng" nhưng không phải từ Italy. Áo khoác của Valentino hàng Italy có giá khoảng 2.000USD trở lên.

Có thể nói, tình trạng thông tin về hàng hóa có "thời trang phong cách Italy" trên các trang bán hàng qua mạng rất lộn xộn, khó biết thực hư. Trong khi đó, chính giải thích của cơ quan chức năng về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa loại này cũng không thật rõ ràng, chi tiết. Một công ty thương mại từng đề nghị Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) hướng dẫn về quy định phí bản quyền, phí giấy phép tại Thông tư số 29/2014/TT-BTC ngày 26-2-2014 và nghĩa vụ thuế liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam. Tại công văn số 10700/TCHQ-TXNK, ông Nguyễn Hoàng Tuấn, Phó cục trưởng Cục Thuế xuất nhập khẩu ký, giải thích: “Căn cứ quy định tại Điểm 18, Khoản 1, Điều 1, Thông tư số 29/2014/TT-BTC ngày 26-2-2014 thì phí bản quyền, phí giấy phép phải trả để sử dụng nhãn hiệu hàng hóa liên quan đến hàng hóa nhập khẩu đáp ứng các điều kiện sau: Hàng hóa nhập khẩu được bán lại nguyên trạng tại thị trường Việt Nam hoặc được gia công chế biến đơn giản sau nhập khẩu; hàng hóa nhập khẩu có gắn nhãn hiệu hàng hóa khi bán tại thị trường Việt Nam”. Đối chiếu với quy định nêu trên, công ty nhập khẩu hàng hóa từ các nước, như: Thái Lan, Trung Quốc, Italy, Thổ Nhĩ Kỳ... sau đó bán nguyên trạng hoặc có gắn nhãn hiệu hàng hóa khi bán tại thị trường Việt Nam thì coi là thỏa mãn điều kiện “liên quan đến hàng hóa nhập khẩu”.

Với quy định chung chung như trên dẫn đến tình trạng một số đơn vị bán hàng hóa có gắn nhãn hiệu nghe giống với hàng hóa xuất xứ châu Âu nhưng thực tế là hàng được nhập khẩu, gia công từ các nước châu Á mà vẫn được coi là đủ điều kiện “liên quan đến hàng hóa nhập khẩu” và người tiêu dùng có thể bị gian dối.

Ông Trần Hùng (cán bộ Cục Quản lý thị trường) cho biết: Hiện tượng lập lờ nhãn mác, gắn nhãn nước ngoài cho các sản phẩm theo kiểu "treo đầu dê bán thịt chó" diễn ra khá phổ biến không chỉ trong lĩnh vực thời trang. Một trong những nguyên nhân cơ bản do khâu quản lý sản xuất và thương mại, yêu cầu phải ghi rõ cụ thể nơi sản xuất, xuất xứ hàng hóa còn bị buông lỏng. Để lành mạnh hóa thị trường, đã đến lúc vấn đề này cần được quản lý chặt chẽ hơn, không để một số doanh nghiệp lách luật, lừa dối người tiêu dùng.


Theo ANH THƯ/Báo QĐND

Phần nhận xét hiển thị trên trang