Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Bắc Kinh không còn che dấu dã tâm xâm lược:


Ông Tập Cận Bình chuẩn bị lên thăm một tàu khu trục của hải quân nước này nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập QĐ  Giải phóng Nhân dân Trung Hoa hồi tháng Tư năm nay.

Bạch thư TQ nhắc tới VN, 
‘quyết bảo vệ chủ quyền Biển Đông’ 

VOA
05/08/2019

“Bạch thư Quốc phòng” mới được công bố của Trung Quốc có nhắc tới Việt Nam và Biển Đông đồng thời nói rằng các lực lượng vũ trang của quốc gia đông dân nhất thế giới “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” ở vùng biển tranh chấp, giữa bối cảnh tàu chấp pháp của hai nước “đối đầu” gần Bãi Tư Chính ở Trường Sa. 


Tài liệu có tựa đề “Quốc phòng Trung Quốc trong thời kỳ mới” viết rằng “tình hình Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] nhìn chung ổn định và cải thiện trong khi các nước trong khu vực đang xử lý phù hợp các rủi ro và khác biệt”.

Trong tuyên bố cho thấy Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ không nhượng bộ trong vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải, “Bạch thư Quốc phòng” ra ngày 21/7 nói rằng “mục tiêu cơ bản” của chính sách phòng thủ quốc gia của quốc gia đông dân nhất thế giới là nhằm bảo vệ “các quyền lợi và chủ quyền hàng hải của Trung Quốc”.

“Các hòn đảo trên Biển Nam Trung Hoa và quần đảo Điếu Ngư [tranh chấp với Nhật] là các phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc. Trung Quốc thực thi chủ quyền quốc gia để xây dựng cơ sở và triển khai khả năng phòng thủ cần thiết trên các hòn đảo và bãi đá ở Biển Nam Trung Hoa cũng như thực hiện các cuộc tuần tra ở vùng biển quanh quần đảo Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông”, tài liệu có đoạn.

“Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp liên quan thông qua đàm phán với các quốc gia trực tiếp liên quan trên cơ sở tôn trọng các dữ kiện lịch sử và luật quốc tế”.

“Bạch thư Quốc phòng” còn nói rằng Trung Quốc “tiếp tục làm việc với các nước trong khu vực để cùng duy trì hòa bình và ổn định” cũng như “kiên quyết duy trì quyền tự do hàng hải và bay ngang của tất cả các nước theo luật quốc tế”.

Hoa Kỳ, quốc gia không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, thời gian qua từng tiến hành các hoạt động thể hiện quyền tự do hàng hải gần các đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông, dẫn tới phản ứng gay gắt từ Bắc Kinh.

Hồi đầu tháng Năm, hai tàu khu trục có tên lửa dẫn đường của Hoa Kỳ, có tên là Preble và Chung Hoon, đã tuần tra trong khu vực 12 hải lý gần đá Ga Ven (Gaven) và đá Gạc Ma (Johnson) hiện thuộc kiểm soát của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng các tàu của Hoa Kỳ đã tiến vào vùng biển gần các đảo mà không có sự cho phép của Bắc Kinh, và hải quân Trung Quốc đã ra cảnh báo buộc các tàu này phải rời đi.

“Một số động thái có liên quan của các tàu Hoa Kỳ đã xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, và phá hoại hòa bình, an ninh và trật tự của các vùng biển liên quan. Trung Quốc không hài lòng và mạnh mẽ phản đối điều này,” ông Cảnh nói.

Trong khi đó, liên quan tới động thái trên của Mỹ, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng sau đó lên tiếng ủng hộ “quyền tự do hàng hải” ở Biển Đông.

“Bạch thư Quốc phòng” của Trung Quốc nói rằng “Hoa Kỳ đang tăng cường các liên minh quân sự ở Thái Bình Dương và củng cố việc can thiệp và triển khai quân sự, gây thêm phức tạp cho an ninh khu vực”.

Tài liệu này cho biết thêm rằng “kể từ năm 2012, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc đã triển khai các tàu tham gia hơn 4.600 cuộc tuần tra an ninh hàng hải và 72 nghìn hoạt động thực thi luật pháp và bảo vệ quyền lợi”.

“Bạch thư Quốc phòng” cũng nhiều lần đề cập tới tên Việt Nam, trong đó nhắc tới việc Trung Quốc “đặt ưu tiên hàng đầu nhằm xử lý các khác biệt và tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau nhằm duy trì sử ổn định láng giềng” cũng như việc Bắc Kinh đề xuất “thiết lập đường dây nóng quốc phòng trực tiếp với Việt Nam”.

Tài liệu này nói thêm rằng “kể từ năm 2014, năm cuộc họp cấp cao về biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được tổ chức”. Đây cũng là năm Bắc Kinh đã đưa giàn khoan dầu Hải dương 981 vào vùng biển mà Việt Nam nói là thềm lục địa của mình, dẫn đến nhiều cuộc biểu tình của người Việt.

Cũng liên quan tới vấn đề Biển Đông, “Bạch thư Quốc phòng” của Trung Quốc nói rằng “kể từ giữa năm 2016, Trung Quốc và Philippines tăng cường đối thoại về an ninh biển, đưa hai bên trở lại xử lý vấn đề Biển Đông thông qua việc tham vấn hữu nghị”.

2016 cũng là năm Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye ra phán quyết có lợi cho Manila trong vụ kiện về Biển Đông với Trung Quốc.

Ngày 12/7/2016, PCA bác bỏ yêu sách chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc và ủng hộ vụ kiện của Philippines do Tổng thống khi đó của nước này, ông Benigno Aquino, khai mào. Tuy nhiên, theo giới phân tích, sau khi nhậm chức, người kế nhiệm ông Aquino, ông Rodrigo Duterte, dường như "làm ngơ" thắng lợi này và "xích lại" gần hơn với Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHÔNG MẤT BÃI TƯ CHÍNH?



Không lùi bước ở bãi Tư Chính 

Nguyễn Ngọc Chu 
5-8-2019 

Phải khẳng định rằng hiện nay không ai có mưu đồ xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam ngoài Trung quốc. Và cũng chưa ai lấy được lãnh thổ Việt Nam ngoài Trung quốc. Từ đó mà xác định rằng Việt Nam không có kẻ thù nào ngoài Trung quốc. 

Chính sách thân CHND Trung Hoa từ 1950 đã đưa nước ta vào bước ngoặt số phận, dẫn đến những đại họa đớn đau không muốn nhắc lại ở đây – vì đã thành quá khứ. Trong số đó có tổn thất dứt day hàng thế kỷ là mất đi một phần lãnh thổ trên đất liền và trên biển đảo cho Trung quốc. 

Trung quốc đã công khai tiến hành nhiều năm cuộc chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam trên đất liền và trên biển đảo. Và hiện nay nhờ tiềm lực kinh tế và lực lượng hải quân ngày càng lớn mạnh mà Trung quốc hung hăng đẩy mạnh chiến dịch gặm nhấm biển đảo. 

Bồi đắp đảo nhân tạo để biến thành lãnh thổ trên biển. Quân sự hóa để làm căn cứ chiến tranh và kiểm soát vùng trời vùng biển. Lấn chiếm biển đảo của các nước lân cận. Biến biển quốc tế thành biển riêng của mình. Trung quốc đang ngang ngược chưa từng có trong lịch sử nhân loại. 

Hành động mới đây nhất của Trung quốc là ngang nhiên đưa tàu đến Bãi Tư chính của Việt Nam để thăm dò địa chất. Không chỉ thế, ngang ngược hơn, Trung quốc tuyên bố Bãi Tư chính là của Trung Quốc và kết tội Việt Nam xâm phạm quyền chủ quyền của Trung quốc. Như vậy Trung quốc đã công khai xâm lược Bãi Tư chính của Việt Nam. 

Để mất Bãi Tư chính, Việt Nam sẽ mất thêm lãnh thổ nữa cho Trung quốc. Bởi vậy, nhiệm vụ cấp thiết nhất hiện nay của Lãnh đạo Việt Nam là không để mất Bãi Tư chính. 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHÔNG MẤT BÃI TƯ CHÍNH? 

Những biện pháp tác nghiệp không thể đề xuất công khai ở đây. Nó phải xếp hàng trong sách lược bí mật của những người đứng đầu nhà nước. Những người đó chịu trách nhiệm về sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc. Họ phải dồn tâm trí, tinh lực, cho vấn đề cấp thiết quan trọng này. Những giải pháp cho Bãi Tư chính phải là mối lo đêm ngày không ăn không ngủ của các Lãnh đạo Việt Nam hiện nay chứ không phải là điều gì khác. 

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN 

Không chỉ Bãi Tư chính, mà Trung quốc sẽ còn trắng trợn xâm lược thêm những vùng biển đảo khác của Việt Nam. Để chống lại tiến trình xâm lược gậm nhắm của Trung quốc, dứt khoát phải tuân thủ mấy nguyên lý sau đây như là các sách lược tiên quyết. 

1. MUỐN KHÔNG MẤT THÊM LÃNH THỔ THÌ PHẢI THOÁT TRUNG 

Chủ trương cầu hòa, thân Trung quốc, để cầu mong Trung quốc không xâm chiếm lãnh thổ là một chủ trương mê muội. 

Càng thân Trung quốc càng phụ thuộc vào Trung quốc. Càng phụ thuộc vào Trung quốc càng bị Trung quốc chèn ép. Càng bị Trung quốc chèn ép càng buộc phải để cho Trung quốc gặm nhấm lãnh thổ. 

Cầu xin Trung quốc nương tay là sách lược đớn hèn chỉ chuốc lấy thất bại thảm hại. 

Phép biện chứng và lý thuyết tập hợp bày cho ta kế sách ngược lại. 

1. Nép vào Trung quốc là biến thành Trung quốc. 

2. Không muốn Trung quốc chiếm thêm lãnh thổ thì phải đứng tách hẳn ra khỏi Trung quốc. 

3. Phải tâm luôn luôn niệm rằng, càng đứng xa Trung quốc thì càng tăng khả năng không bị Trung quốc thâu tóm. 

4. Đứng xa không có nghĩa là thù địch. 

5. Đứng xa không có nghĩa là đối đầu. 

6. Đứng xa có nghĩa là ít liên quan đến kinh tế – không phụ thuộc vào kinh tế. 

7. Đứng xa có nghĩa là ít liên quan đến chính trị – không phụ thuộc vào chính trị. 

8. Đứng xa có nghĩa là ít liên quan đến quân sự – không phụ thuộc vào quân sự. 

9. Đứng xa có nghĩa là ít liên quan đến dân số – khộng bị đồng hóa dân số. 

Hiểu cho đúng phép “ĐỨNG XA” thì tự khắc biết phải làm gì. 

2. MUỐN THOÁT TRUNG THÌ PHẢI THOÁT CHÍNH MÌNH 

Đất nước chúng ta đang đứng trước những hiểm họa lớn. Những hiểm họa này có thể quy thành hai nhóm NỘI XÂM và NGOẠI XÂM, mà kết cục làm cho Dân tộc Việt suy yếu, bị phụ thuộc vào Trung quốc và từ đó bị Trung quốc chèn ép ngày càng thêm trầm trọng, dẫn đến mất lãnh thổ từng phần cho Trung quốc. Những hiểm họa này mọi người dân thường Việt Nam – từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, không ai không thấy. 

Ai cũng nhìn thấy họa NỘI XÂM phát sinh từ thể chế. Làm cho mình không mạnh lại phụ thuộc vào kẻ NGOẠI XÂM cũng nguyên do từ thể chế. Cho nên, muốn thoát khỏi hiểm họa NỘI XÂM và NGOẠI XÂM thì phải thoát khỏi vòng kim cô tư tưởng người nước ngoài mà chúng ta đang tự đeo vào. 

Chừng nào mà chúng ta không tự giải phóng chính mình, chưa độc lập tư tưởng, thì chừng đó Việt Nam còn phụ vào Trung Quốc. 

Phải khẳng định rằng, hiện nay không ai có mưu đồ xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam ngoài Trung quốc. Và cũng chưa ai lấy được lãnh thổ Việt Nam ngoài Trung quốc. Từ đó mà xác định rằng Việt Nam không có kẻ thù nào ngoài Trung quốc. 

Mộtthể chế mới cùng một chính sách mới về ngoại giao và quốc phòng mới có thể cứu Việt Nam không mất dần thêm lãnh thổ cho Trung quốc. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BIỂN ĐÔNG: PHÉP THỬ Ý ĐẢNG LÒNG DÂN


Hoạt động của tàu Haiyang Dizhi 8 trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. 
(Nguồn: Ryan Martinson)

Nguyễn Anh Tuấn

BIỂN ĐÔNG: PHÉP THỬ Ý ĐẢNG LÒNG DÂN

Nếu đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển chỉ dừng ở mức va chạm, Ba Đình có xu hướng bóp nghẹt truyền thông và ngăn chặn biểu tình vì rủi ro trên bờ khi đó sẽ lớn hơn trên biển.

Khi đụng độ leo thang tới mức có nguy cơ xung đột vũ trang, sẽ bắt đầu xuất hiện những lời kêu gọi yêu nước, như đang râm ran hiện nay. Truyền thông bắt đầu được mở van nhỏ giọt, biểu tình được chiếu cố, miễn sao vẫn trong tầm kiểm soát về quy mô và chủ đề. Như cánh cửa mở hé, sẽ đóng sập lại ngay nếu chuyện ngoài biển không còn căng thẳng nữa. 


Khi nguy cơ mất đảo hiển hiện, những lời kêu gọi sẽ bùng phát dưới giọng hiệu triệu, vực dậy cả hồn thiêng sông núi lẫn anh linh tử sĩ. Báo chí được lệnh lên bài thả ga, mọi cuộc biểu tình từ quốc doanh đến dân doanh đều được cổ vũ nhằm, như một tờ báo gần đây giật tít, ‘huy động toàn dân bảo vệ chủ quyền’.

Nhưng vì sao lại phải nhọc công hiệu triệu toàn dân?

Toàn dân sẽ giữ được đảo nếu Trung Quốc nhất quyết đánh chiếm hay sao?

Chiến lược chiến tranh nhân dân (toàn dân đánh giặc) từng rất hiệu quả trước đây khi chiến cuộc chủ yếu diễn ra trên đất liền, nhưng với môi trường tác chiến trên biển dựa vào hải quân và không quân, thì chiến tranh nhân dân thế nào?

Ngư dân được phát súng và huấn luyện sơ sài (dân quân biển), nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên biển, sẽ làm được gì trước tàu chiến, máy bay và tên lửa hiện đại của Trung Quốc?

Cũng có người cho rằng toàn dân hưởng ứng thì sẽ giúp lên tinh thần. Không sai, nhưng tinh thần lên cao liệu có bù đắp được chênh lệch về khí tài, năng lực, nhân sự đôi bên trong bối cảnh tác chiến hiện đại?

Vậy tóm lại kêu gọi toàn dân để làm gì?

Để chạy trách nhiệm.

Một khi có sự tham gia của toàn dân nhưng đảo vẫn bị mất thì Ba Đình có thể mạnh dạn nói rằng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã cố gắng hết sức nhưng mà Trung Quốc mạnh quá nên rất tiếc là đảo đã bị mất. Trách nhiệm của chung thì không ai có trách nhiệm.

Thế nhưng có vẻ người dân đang làm phá sản tính toán này của Ba Đình bằng cách tỏ ra thờ ơ với mọi lời kêu gọi có đóng dấu đỏ.

Bằng cách đó họ gửi một thông điệp không thể rõ ràng hơn: Các ông bà lâu nay đòi độc quyền yêu nước - ‘để Đảng và Nhà nước lo’, vậy nên nếu mất biển mất đảo thì các ông bà phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử, chứ không có cái gọi là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân nữa. Chúng tôi để cho Đảng và Nhà nước lo hết, nhưng nếu để mất biển mất đảo, các ông bà trước thì mất hết với chúng tôi, sau thì mãi mãi ô danh với lịch sử.

Nhưng cớ sao người dân lại giữ một thái độ như vậy?

Có ý kiến nói rằng vì lòng yêu nước của người dân đã nhiều lần bị xúc phạm: Từng viết bài, xuống đường phản đối Trung Quốc nhưng nhẹ thì bị đánh đập, sách nhiễu, nặng thì bị bắt bớ, giam cầm nên giờ họ không còn tha thiết nữa.

Có thể là vậy, nhưng nếu lẽ thường thực tâm yêu nước thì đoạn đầu đài cũng chẳng ngán, huống chi chỉ là đòn roi và ngục tù.

Mấu chốt ở đây là, càng ngày người dân càng nhận rõ rằng đổ xương máu dưới lời hiệu triệu ấy để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nếu có thành công đi chăng nữa, quốc gia vẫn chỉ là tài sản riêng của một nhóm nhỏ người mà chẳng có phần nào của mình trong đó. Vậy hà cớ gì phải hao tâm tổn trí cho cái không phải của mình? Người dân đang và sẽ quay lưng trước lời hiệu triệu của đảng không khác gì từng nhếch mép trước lời kêu gọi kháng Pháp của triều đình nhà Nguyễn vậy.

Nghĩa là, yêu nước thì vẫn yêu đó, nhưng yêu chứ đâu có ngu. Lòng yêu nước trở thành thứ quý giá mà dân nhất quyết không đưa ra dù đảng luôn miệng: ‘hãy trao cho anh’.

Thế giải pháp ở đây là gì? Làm sao còn có thể hiệu triệu được lòng dân?

Chỉ bằng cách thực tâm cải cách chính trị, mở rộng các quyền tự do dân chủ, khiến người dân thực sự cảm thấy đất nước này là của họ, chứ không phải là của riêng một vài cá nhân, gia đình hay bè đảng nào. Mà động thái cần thiết đầu tiên là trả tự do cho tất cả những người đang bị giam cầm chỉ vì yêu nước khác cách của đảng.

Bởi lẽ, đến cuối cùng người ta chỉ dám sống dám chết để bảo vệ những gì người ta coi và tin là của mình. Đất nước cũng vậy, chỉ khi người ta thấy mình thực sự có quyền làm chủ thì chẳng cần ai kêu gọi cũng tự nhiên dốc lòng dốc sức, đổ xương đổ máu ra bảo vệ.

Trái lại, không thể khác, là thờ ơ, cho tới khi mất cả.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

Dân Quân Biển trong Sự Kiện Haiyang Dizhi 8 Xâm Phạm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế Việt Nam

Nguyễn Thế Phương

Tuần Việt Nam ngày 24 tháng 7 năm 2019
01
Hình ảnh thu nhận được từ vệ tinh cho thấy tàu cảnh sát biển xung quanh Haiyang Dizhi 8 và ít nhất 1 tàu dân quân biển Qiong Sansha Yu0012. Nguồn: Dự án Đại Sự Ký Biển Đông/Marine Traffic.
Có một phương diện mà ít người để ý trong sự kiện Tư Chính, đó chính là sự xuất hiện của lực lượng dân quân biển Trung Quốc tới từ Hoàng Sa, bên cạnh chủ lực là các tàu hải cảnh. Một bộ phận quan trọng của chiến lược vùng xám, dân quân biển đóng vai trò quan trọng, là mũi nhọn giúp Trung Quốc kiểm soát thực địa ở Biển Đông.
Chiến lược vùng xám còn được gọi là chiến lược tiệm tiến cưỡng bức, thường được các nước lớn có nhiều nguồn lực sử dụng để đạt được lợi ích mà không cần dùng tới vũ lực một cách quy mô và trực tiếp. Chiến lược này có hai đặc trưng căn bản.
Thứ nhất, không để xung đột vượt ngưỡng. Kiểm soát xung đột ở mức độ vừa phải, vừa có thể gây sức ép lên đối thủ, vừa có thể kiểm soát rủi ro trên thực địa một cách có thể chấp nhận được. Thứ hai, tiến từng bước nhỏ. Trung Quốc quan niệm rằng nếu tiệm tiến thì sẽ không tạo ra nguy cơ gây ra phản ứng quân sự, nhưng lại có thể từ từ khiến cho thực trạng tranh chấp thay đổi theo hướng có lợi. Rốt cuộc, tranh chấp lãnh thổ không thể giải quyết được chỉ trong một sớm một chiều. Với Trung Quốc, càng kéo dài thì càng có lợi.
Dân quân biển Trung Quốc được xây dựng như một nhành riêng biệt của lực lượng vũ trang. Sách trắng Quốc phòng năm 2013 của Trung Quốc đã chỉ ra rằng dân quân là “lực lượng hỗ trợ và dự bị cho quân đội”. Lực lượng dân quân biển chủ yếu có mấy nhiệm vụ căn bản: (1) bảo vệ chủ quyền; (2) tiến hành tuần tra trinh sát; (3) phối hợp với các lực lượng chấp pháp biển; (4) tham gia cứu hộ cứu nạn và (5) hỗ trợ chiến đấu. Những nhiệm vụ giúp Trung Quốc chiếm ưu thế tại những khu vực tranh chấp.
Trung Quốc đầu tư rất lớn cho lực lượng dân quân biển. Lấy ví dụ như dân quân biển Tam Sa, lực lượng chuyên nghiệp nhất và cũng đóng vai trò quan trọng nhất trên Biển Đông, khi họ được trang bị vũ khí cá nhân phù hợp, được sử dụng những con tàu hiện đại, và được nhà nước trả lương hậu hĩnh.
Nguyễn Thế Phương, nghiên cứu viên cộng tác của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, ĐHKHXH&NV TpHCM, thành viên cộng tác Dự án Đại Sự ký Biển Đông. Tác giả thứ nhất “Hồ sơ Dân quân trên biển của Trung Quốc” – hồ sơ chi tiết và đầy đủ nhất lần đầu được công bố bởi Dự án Đại Sự Ký Biển Đông ở Việt Nam, tổng hợp nguồn tư liệu tiếng Anh.
———-

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chính trị và tư cách công dân




Image result for công dân




Ông bạn GS hẳn hoi, bắt tay mình rồi thì thầm ở góc hành lang:
- Ông viết chính trị làm gì cho nó đau đầu…
- Sao ông biết tôi viết chính trị?
- Con tôi nó in mấy bài ông viết trên mạng, đưa cho tôi xem. Nó lại còn xui tôi viết bài như ông, đưa nó đăng cho…
- Ông bảo sao?
- Tôi nói thật, chính trị ở cái xứ này nó bạc lắm, đểu lắm, không biết đâu mà lường. Tôi không dại mà dính vào. Mình còn sức thì tập trung cho chuyên môn, làm mấy cuốn sách lưu lại cho hậu thế là hay…
- Tất nhiên chuyên môn là hay rồi. Tôi vẫn dành 95% làm chuyên môn đấy chứ, còn 5% khi có nhu cầu bày tỏ ý kiến gì thì viết, trước hết giải tỏa cho mình, sau nữa là góp ý với chính quyền và chia sẻ cùng bà con… Góp mãi, gửi đi, nó chẳng trả lời, giờ có FB thì công khai bày tỏ ra. Đó là thái độ bình thường của mỗi công dân, chứ có gì đâu? Thế những bài chuyên môn của ông, như: “Quán triệt tinh thần Nghị quyết… trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục”, không phải chính trị à?
- Ờ…À… đó cũng là chính trị, nhưng chính trị trong chuyên môn. Tôi muốn nói chính trị là ông viết phê phán đụng chạm đến chính quyền… Mó dái ngựa làm chó gì cơ chứ!…
Mình chỉ cười, cám ơn lời khuyên chân thành của ông bạn. Cũng mong các bạn chớ bình luận xúc phạm ông bạn già đáng kính của tôi, mặc dù ông cũng như TS Đoàn Hương “không có thì giờ chơi FB” và chắc ông cũng chả thèm đọc thông tin trên mạng “lề trái”.
Nhân chuyện này tôi chỉ muốn nói một điều tại sao dân ta lại sợ chính trị như sợ ma quỷ?
Chính trị, nói nôm na là dân phải CHỌN RA những người thay mặt mình QUẢN LÝ XÃ HỘI và dân phải GIÁM SÁT những lời họ nói, những việc họ làm. Họ làm hay, lợi cho dân thì khen, tín nhiệm làm tiếp; họ làm dở thì phê bình để làm tốt hơn; họ không tiến bộ được thì chọn người khác thay. Mọi điều chính quyền này nói, mọi việc chính quyền này làm liên quan đến mỗi người dân, đến toàn xã hội, đến những di sản của tổ tiên để lại, đến đất nước hôm nay và tương lai dân tộc… đều là chính trị hết. Rừng bị tàn phá, lũ trôi dân; các sông hồ bị ô nhiễm, biển bị đầu độc, hàng triệu ngư dân mất nghề, thiếu đói; cưỡng chế ruộng đất, dân đi khiếu kiện khắp nơi; ăn gì, uống gì cũng sợ nhiễm độc; ra đường phải bịt mồm, thở cũng nhiễm không khí độc hại; nguồn nước bẩn và ống nước vỡ liên tục gây thiếu nước dùng; giao thông tắc nghẽn, mưa xuống là đường phố ngập úng; văn hóa, giáo dục, y tế xuống cấp; trộm cướp đe dọa an toàn, an ninh… Tất cả những hiện trạng đó là do đường lối chính sách và năng lực quản lý của chính quyền. Đó là chính trị đấy. Như vậy chính trị liên quan đến tất cả mọi người, từ cái bào thai trong bụng mẹ có an lành hay nhiễm độc vì mẹ sống trong mỗi trường ô nhiễm, đến nấm mồ người đã chết có yên ổn hay bị san ủi, giải tỏa… Thế mà lại bàng quan, hay sợ không dám nghĩ, không dám nói, không dám hành động đụng chạm đến những vấn đề trên thì có còn có TƯ CÁCH CÔNG DÂN nữa không?
Hôm rồi mấy ông già ngồi với nhau, bảo, nay mai cháu chắt mình nó hỏi:
Khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, ông bà có phản đối không? Ai cho làm Bô-xít Tây Nguyên, ai rước Formosa về Việt Nam ông bà có biết không? Formosa gây ra thảm họa môi trường biển, lúc đó ông bà đã làm gì? Sao lại làm cái đường sắt trên cao quái gở thế kia? Tại sao lại để ta phụ thuộc vào Tàu thế này? Tại sao nợ nần đầm đìa như vậy, lại đi xây những trụ sở hoành tráng và những tượng đài khùng thế kia? Tại sao để nước ta tụt hậu so với xung quanh thế này? Tại sao những kẻ bất tài, tham lam làm hại dân, hai nước, mà ông bà cứ cứ nhẫn nhục để họ cai trị mãi? Vân vân… Lúc đó ông bà nói gì hay cúi đầu câm lặng? Tư cách công dân của ông bà để đâu?
Nhìn ra thế giới, thấy ở Hy Lạp, hai bé trai 5-6 tuổi đã dám gặp Chủ tịch Quốc hội chất vấn: Tại sao các bác định bán một hòn đảo đi trả nợ? Tổ quốc không phải để bán! Ở Anh, một bé gái 5 tuổi, đã biết phê phán bà Thủ tướng không có chính sách đối xử tử tế với người nhập cư, “bà có nhiều tiền, bà không làm gì. Tôi ghét bà”… Ở Mỹ, sau cuộc tranh luận của 2 ứng viên Tổng thống ông Trump và bà Hillary Clinton, truyền hình trực tiếp cho dân theo dõi, đánh giá, PV Trường Sơn của VTV1 thường trú ở Mỹ, đã phỏng vấn một bé trai 6-7 tuổi, em trả lời: Em không thích ông Trum. Em muốn bà Hillary Clinton làm Tổng thống. Hơn nữa bà ấy có chồng từng làm Tổng thống, ông ấy biết nhiều cái hay ho, sẽ mách cho bà ấy…Đấy, ở các nước tư bản, trẻ con đã có ý thức công dân, trách nhiệm xã hội và thể hiện rõ ràng, đàng hoàng thái độ chính trị của mình. Còn ở ta, chế độ “Dân chủ gấp vạn lần, chế độ tư bản” (câu của bà cựu Phó CT Doan), mà các trí thức, GS bạc đầu vẫn cố tình hay giả vờ “vô chính trị”, hoặc có bầy tỏ thái độ chính trị cũng ấp úng, run rẩy, là sao?
Quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp. Khi công dân không biết, không đòi hỏi thực hiện, “trước những bất công không dám kêu đòi”, thì đừng trách chính quyền cai trị tồi tệ, mà hãy tự trách mình. Người Cu ba có khẩu hiệu “Tự do hay là chết”! Ta có khẩu hiệu: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Độc lập, tự do cho dân tộc và cho mỗi công dân. Khi mình chưa giác ngộ quyền công dân, không xác lập rõ tư cách công dân, thì thực ra cũng chưa đáng, chưa biết hưởng quyền tự do, dân chủ!
Dân ta đã từng có bao nhiêu tấm gương coi nhân quyền, nhân phẩm, tư cách công dân còn cao hơn cả sự tù đày và cái chết.


15/10/2016
Mạc Văn Trang

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Những mảnh rồng” Nỗi niềm đau thương của dân tộc


Kết quả hình ảnh cho


Tôi được nhà văn Hoàng Minh Tường tặng cuốn tiểu thuyết mới xuất bản, 2018, 465 trang, khổ 22x18cm, với cái tên là lạ “Những mảnh rồng”. Lạ nữa là do nhà xuất bản Edition VIPEN tại CHLB Đức xuất bản, phát hành tại Đức và EU… Đọc vào mươi trang thì hiểu rằng cuốn tiểu thuyết không thể xuất bản được ở trong nước, nơi “bên thắng cuộc” ngự trị; cũng không thể xuất bản tại Hoa Kỳ, nơi đông người Việt “thua cuộc” tị nạn…

Cuốn “Những mảnh rồng” cũng như số phận các nhân vật chính của nó, già, trẻ, nam, nữ có cả, muốn vượt lên trên nỗi đau chia rẽ dân tộc, khép lại đau thương, hận thù quá khứ, để cùng nhau hợp lực xây dựng một nước Việt mới, hùng cường, văn minh… Nhưng những tấm lòng yêu nước sáng trong ấy, bị truy sát giữa hai làn đạn, bị quy chụp, nghi ngờ, nhục mạ… từ cả hai phía! Thật là bi kịch của dân tộc, của giống nòi!
Ngay vào đầu câu chuyện, tác giả đã kể về một ngày 30 tháng 4 ở Little Sài Gòn, quận Cam, cộng đồng người Việt kỷ niệm ngày “quốc hận”; sau mit tinh nghe những lời kêu gọi “phục quốc”, đoàn người giương cờ vàng ba sọc đỏ diễu hành… Giữa lúc đó hai sinh viên gốc Việt: Nguyễn Hải Hành và David Bùi, giương hai lá cờ do các anh sáng tạo, gồm một giải đỏ bên trên, giải xanh ở giữa, có ngôi sao và giải vàng ở dưới, thể hiện sự kết hợp ba lá cờ xuất hiện ở Việt Nam trước 1975, hòa làm một. Hai sinh viên hăm hở chạy ra, vẫy cờ và hô vang lời kêu gọi “Việt Nam là một”, “Việt Nam thống nhất muôn năm”! Nhưng hai anh bị đám người “phục quốc” la hét là “Việt cộng” và đánh cho tơi tả. May có cô sinh viên Ngô Đoan Diễm cùng nhà báo Vũ Bảo Huy kịp gọi cảnh sát đến giải nguy, đưa vào bệnh viện cấp cứu… Những người thân, bạn bè của hai nạn nhân gặp nhau, rồi từ đó cứ móc nối, mở rộng mãi câu chuyện về số phận những người Việt tha hương với bao cảnh ngộ éo le, bi thương… Họ đều nặng lòng nhớ về quê hương đất nước, nhưng với những nỗi niềm, ẩn ức riêng tư, thăm thẳm…
Câu chuyện gợi cho ta thấy, dân tộc Việt, dòng giống “Tiên Rồng” bị xé nát ra thành “Những mảnh rồng” để cắn xé nhau, nồi da xáo thịt lẫn nhau và làm suy yếu giống nòi… Tất cả, qua hồi tưởng lịch sử từ “Hận sông Gianh” đến những số phận của các nhân vật qua từng cuộc chiến, từng cảnh ngộ lịch sử, làm xót xa, nhức nhối lòng người…
Hoàng Minh Tường với vốn sống phong phú lạ thường, chuyện trong nước đã đành, chuyện xảy ra ở Mỹ, ở Ba lan, Nga, Tiệp, Đức… cứ như anh đã và đang sống ở những nơi này cùng các nhân vật trong tiểu thuyết. nhờ vậy, anh bao quát được “Những mảnh rồng” sống động thời hiện đại, hướng hy vọng đến tương lại…
Thông điệp của cuốn sách xem ra quá “sâu nặng”, nhưng được chuyển tải qua các nhân vật rất sinh động. Đặc biệt qua những mối tình đầy éo le, lãng mạn, trớ trêu, gợi lên bao đau thương, cũng từ cảnh ngộ của dân tộc, dính mắc vào thân phận mỗi con người…
Đọc cuốn sách này vào mấy buổi tối, tôi thường thao thức mãi, nhớ câu thơ của Chế Lan Viên:
“Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên”…
Đất nước mình đẹp quá. Người mình thật dễ thương. Dân mình yêu nước, yêu quê hương ít ai bằng; đoàn kết chống ngoại xâm thì đáng kính phục… Vậy mà vì đâu nên nỗi?
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước được hòa bình, thống nhất, non sông quy về một mối… Ông Lê Duẩn nói một câu nức lòng mọi người Việt: Thắng lợi này là thắng lợi của toàn thể nhân dân Việt Nam, chỉ có đế quốc Mỹ là thua!
Nhưng sau đó thì thắng lợi chỉ của “Bên thắng cuộc”. Ông Võ Văn Kiệt cũng biết: Ngày 30/4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn…Nhưng rồi, ông cũng không biết làm sao xử lý nổi vấn đề. Buồn chính vì “Bên thắng cuộc” coi bên thua cuộc là những “con người cũ” của “chế độ cũ”, không thể tin tưởng, không thể dùng được, thậm chí không thể sống được trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Họ phải được “giáo dục, cải tạo”, “gột rửa những tàn dư của chế độ cũ”; một lời nói, việc làm, một cử chỉ lỡ theo lối cũ, cũng có thể bị quy là “phản động”! Ai cũng sống trong sợ hãi, bất an. Trẻ em cũng chia theo thành phần: “con em diện chính sách” được ưu tiên; con “ngụy quân, ngụy quyền” bị phân biệt đối xử… Những cuộc cải tạo “kinh thiên động địa” diễn ra “đồng thời”: Nền kinh tế cũ phải cải tạo thành “nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa”; nền văn hóa cũ phải thành “Nền văn hóa mới”; con người cũ phải thành “con người mới xã hội chủ nghĩa”… Cơ cực nhất là mấy trăm ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” cao cấp, bị đi tập trung “học tập cải tạo”, thường gia đình tan nát. Trong đó hàng trăm ngàn người đã chết trong các trại cải tạo.
Trong bối cảnh như vậy, hàng triệu người đã vô vọng, âm thầm bỏ nước ra đi. Một cuộc di dân khủng khiếp chưa từng có diễn ra ngay cuối thế kỷ XX. Những con người đói, khát, chen chúc trên những chiếc thuyền rách nát, lênh đênh giữa mịt mù biển khơi, phó mặc cho bão tố và hải tặc cướp, hiếp, giết…
Chính nhân vật Nguyễn Hải Hành là “Thuyền nhân” (boat people), sinh ra giữa cái đêm kinh hoàng, bọn hải tặc lên thuyền cướp, bắn chết ba anh và chị gái anh trong lúc bảo vệ mẹ anh đang mang thai anh sắp đến ngày sinh… Hải Hành ra đời và lớn lên như vậy, mà anh chỉ một lòng yêu đất nước, muốn hiến dâng trọn đời mình cho quê hương, nhưng chính quyền vẫn không chấp nhận dự án làm phim “Thuyền Nhân” của anh. Mối tình trong sáng tuyệt vời của anh với Đoan Diễm, con một quan chức cao cấp cũng bị ngăn cấm, đọa đày...
Trong truyện có nói đến, năm 1979, khi các “ngụy quân cao cấp” ở Trại tù T43 tại Hà Giang nghe tin quân Trung Cộng tràn sang biên giới đánh ta, họ đã viết đơn tập thể, ký bằng máu, xin ra chiến đấu diệt giặc Tàu… Nhưng không những không được tin dùng, mà còn bị chuyển trại, phân tán về nơi xa xôi, hẻo lánh…
“Những mảnh rồng” xét đến cùng, thực chất là cuốn tiểu thuyết của nỗi đau dân tộc, tự ta không vượt qua được sự chia rẽ “ý thức hệ”, hằn thù, định kiến… Những xiềng xích của quá khứ vẫn giam hãm người Việt trong vòng u tối, và cứ làm khổ nhau mãi, làm dân tộc này chia rẽ và suy yếu đi mãi.
Gấp cuốn “Những mảnh rồng” lại, tôi chợt nhớ bài viết “Thư ký của Thiên thần” của bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa. Trong đó có kể về bác sĩ Nguyễn Hữu Thới. Một bác sĩ Nhi khoa tài giỏi, hiến cả đời mình cho chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Ông mừng, được bổ sung bác sĩ Thoa, còn trẻ lên giúp việc. Ông hết lòng truyền kinh nghiệm cho cô. Nhưng ông bị điều về Trại lao… Bác sĩ Kim Thoa viết: “Tôi nhớ có lần ông đã tâm sự:…“Mình con địa chủ, học trường Tây, lại là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, hơn thế nữa là trí thức. Địa chủ cộng với Tây, cộng với sĩ quan ngụy quân, cộng với trí thức, cộng với Ê Đê, cộng với giải phóng, cộng với Xã Hội Chủ Nghĩa để trở thành người Việt Nam. Làm người Việt Nam mà không đói khát, không đau thương, không khổ nhục, chưa thực sự là người Việt Nam”. Ôi, cái công thức, cái con đường gì mà đắng cay đến thế. Có đi hết những chặng đường như thế mới là người Việt Nam sao? Đối với riêng tôi, những lời của Nguyễn Hữu Thới là một liệu pháp giúp tôi vượt qua được những bi quan khiếp sợ trong những ngày đối đầu với bệnh tật và môi trường sống xã hội chủ nghĩa tại Buôn Mê Thuột”.. 
(https://www.diendan.org/sang-tac/thu-ky-cua-thien-than).

Giờ đây, tôi dám nói rằng, chẳng có người Việt nào thực sự hạnh phúc, nếu biết tự trọng dân tộc và còn nghĩ nghĩ đến dân, đến nước. Những xiềng xích của quá khứ và cách nghĩ về lối thoát cho hiện trạng xã hội đã chia rẽ, làm đau khổ mỗi chúng ta, những con người còn tấm lòng yêu nước thương nòi.



21/8/2018
Mạc Văn Trang

Phần nhận xét hiển thị trên trang