Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Mỹ- Trung: Đã đến lúc «tính sổ» lẫn nhau


RFI - Năm 1989, bất chấp vụ trấn áp đẫm máu phong trào sinh viên đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn, Hoa Kỳ và trong một chừng mực nào đó là các nước Tây Âu, vẫn chìa tay giữ quan hệ với Trung Quốc. Thế nhưng, ba mươi năm sau, Mỹ và Trung Quốc đối đầu nhau dữ dội trên mọi phương diện. Cây bút xã luận Alain Frachon, trên báo Le Monde ngày 01/06/2019 mỉa mai nhận định : Trung Quốc và Hoa Kỳ đã đến giờ «tính sổ lẫn nhau».

Báo Le Monde: Cuộc đọ sức Mỹ - Trung 
giờ chỉ mới bắt đầu! REUTERS/Aly Song
Lợi ích của Mỹ là trên hết
Đầu tiên hết tác giả đặt câu hỏi: Chuyện gì đã xảy ra? Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả nêu ra một chi tiết ít ai biết đến: Vài tuần sau vụ đàn áp đẫm máu phong trào Thiên An Môn tháng 06/1989, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là George H.W. Bush đã bí mật cử lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, tướng Brent Scowcroft đến Bắc Kinh, cầm theo một bức thư gởi ban lãnh đạo Trung Quốc.

Về mặt chính thức, Hoa Kỳ đã có phản ứng khi thông báo ngừng trao đổi chính trị với Trung Quốc. Nhưng Scowcroft đến cải chính là không nên có sự hiểu lầm. Thông điệp của ông Bush gởi đến Đặng Tiểu Bình gói gọn trong một câu: Tất cả những điều này quả thật là đáng tiếc nhưng không làm thay đổi gì cả mối quan hệ của chúng ta.

Từ cuối những năm 1970, mối quan hệ này đã trở nên chặt chẽ đến mức hình thành mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau cả trong kinh tế lẫn tài chính. Mối quan hệ này đã tạo thuận lợi cho sự cất cánh thần kỳ của Trung Quốc. Cũng nhờ mối quan hệ đặc biệt này mà Hoa Kỳ trở thành một trong những nước đầu tiên được đầu tư vào nền kinh tế mới mẻ của Trung Quốc.

Và trên bình diện chiến lược, mối bang giao này còn giúp Hoa Kỳ có thể cô lập được Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Vào thời điểm đó, có thể nói, chính sách của Mỹ với Trung Quốc chịu ảnh hưởng của ngoại trưởng Kissinger – người thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.

Cuộc chiến công nghệ

Sự cố Thiên An Môn xảy ra cũng không làm «sứt mẻ» mối bang giao của hai nước. Trung Quốc quá quan trọng để mà Mỹ cũng như là châu Âu lên tiếng phản đối vấn đề nhân quyền. Lợi ích của nước Mỹ là trên hết. Thị trường rộng bao la và một tầng lớp trung lưu giầu có mới trỗi dậy đã làm cho Mỹ và phương Tây lóa mắt. Do vậy, khó có thể mà chọc giận Trung Quốc vì chuyện nhân quyền.

Ba mươi năm sau, tháng 6/2019, Mỹ và Trung Quốc xoay lại đối đầu nhau từ thương mại cho đến công nghệ, với nguy cơ tiềm tàng dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự tại vùng biển Tây Thái Bình Dương. Một cách tổng quát, cuộc đối đầu này sẽ kiến tạo diện mạo thế kỷ XXI.

Mỹ và Trung Quốc là hai siêu cường kinh tế thế giới và trong tương lai sẽ là những siêu cường hải quân ngang hàng nhau. Tác giả cho rằng, dù có đạt được một thỏa thuận thương mại, thì cuộc xung đột giữa hai nước cũng sẽ không suy giảm. 

Cách nhìn của Mỹ về Trung Quốc vì thế đã thay đổi.
Hoa Kỳ giờ đây mới vỡ lẽ ra rằng sự «thành công mô hình xã hội chủ nghĩa theo đặc tính Trung Hoa đã không sản sinh ra một sự tự do chính trị nào cả». Dưới thời Tập Cận Bình, chế độ còn cứng rắn hơn. Trong lĩnh vực kinh tế, Hoa Kỳ tố cáo Trung Quốc chơi không «sòng phẳng» : khép cửa thị trường nội địa, đánh cắp công nghệ để nâng cao chất lượng và giá trị các sản phẩm Trung Quốc, thao túng tiền tệ… Tóm lại là cạnh tranh bất chính gây thiệt hại cho Hoa Kỳ, kèm theo đó là chính sách bành trướng kinh tế - chính trị hung hăng của Bắc Kinh ra toàn địa cầu.

Chậm trễ phát hiện, nên giờ đây Washington phải trực diện với một cường quốc, mà lần đầu tiên kể từ năm 1945, được xem như là một đối thủ trong mọi lĩnh vực – kinh tế, công nghệ, quân sự, chính trị. Tình trạng này còn khó khăn hơn do những mối liên hệ kinh tế giữa hai nước vẫn còn quá quan trọng. Nước Mỹ có cảm giác như bị đánh lừa. «Đồng thuận Kissinger» giờ bị cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ cùng phản bác.

Cuộc song đấu mới chỉ bắt đầu

Giờ đây, cử tri Mỹ ủng hộ Donald Trump và một bộ phận đảng Dân Chủ cho rằng 40 năm toàn cầu hóa theo xu hướng tân tự do được Ronald Reagan khởi xướng năm 1980, đã giúp cho Trung Quốc trỗi dậy nhưng lại nhấn chìm nước Mỹ xuống hố sâu. Do vậy cần phải «kềm hãm» Trung Quốc. Chiến lược này đã được bắt đầu dưới thời tổng thống Barack Obama.

Tổng thống thuộc Dân Chủ muốn ngăn chận các tham vọng của Trung Quốc trong vùng châu Á – Thái Bình Dương bằng dự án Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP: Một liên minh khu vực về kinh tế và chiến lược mà Trung Quốc không được mời dự. 

Ấy vậy mà ông Trump đã từ bỏ để rồi sau đó thú nhận lấy làm tiếc và khởi động lại cuộc đối đầu.

Một cách tự nhiên, cuộc đối đầu dần chuyển sang lĩnh vực công nghệ cao. Trung Quốc đang đe dọa – không biết đúng hay là sai – một trong những trụ cột của sức mạnh Hoa Kỳ: Khả năng sáng tạo tương lai. Vụ Hoa Vi thể hiện rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghệ và an ninh quốc gia, giữa những bộ vi xử lý và các loại vũ khí hiện nay cũng như là trong tương lai. Do vậy, xung đột không còn là chuyện cán cân thương mại nữa mà là cân bằng chiến lược thế giới.

Theo chiều hướng này, thế giới sẽ lại chứng kiến một cuộc đối đầu Đông – Tây mới, như lời kết luận trong một hồ sơ đặc biệt trên tuần báo The Economist (18-24/05/2019). 

Đối với Bắc Kinh, thách thức rất đơn giản: chẳng qua là vì Hoa Kỳ không chấp nhận ý tưởng Trung Quốc đã thành công và vươn lên thành cường quốc. 

Với Washington, Bắc Kinh đang tìm cách kiến tạo một trật tự thế giới mới chỉ có lợi cho riêng mình. 


Tác giả kết luận: Cuộc đọ sức thế kỷ chỉ mới bắt đầu mà thôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hai cuộc khủng hoảng ngoài dự kiến


Nhiều người, đặc biệt là các nạn nhân của mạng xã hội có thể bi quan với kỷ nguyên hỗn loạn truyền thông mà họ đang đối mặt. Các hiện tượng như tin giả, tin đồn, tấn công cá nhân, lừa đảo, lũng đoạn thông tin… thực ra chỉ là một phiên bản mới của cuộc khủng hoảng truyền thông mà loài người đã gặp trong quá khứ. Lịch sử sẽ nói gì về các cuộc khủng mạng xã hội này? Và đâu là giải pháp cứu rỗi chúng ta khỏi những câu hỏi như: biết tin ai bây giờ? Hay nỗi sợ hãi (hoặc chán nản) mỗi khi đối mặt với sự hỗn loạn trên không gian tương tác mạng?


Từ in ấn đến mạng xã hội: Hai cuộc khủng hoảng ngoài dự kiến

VŨ ĐỨC LIÊM

Lịch sử sẽ nói rằng mỗi thời đại loài người gắn liền với một loại hình chủ đạo của truyền tin và truyền thông. Chúng ta không phải chờ tới Facebook thì mới có mạng xã hội.  Thực tế, chúng là một phần của sự vận hành xã hội loài người, phản ánh cách thức con người liên lạc, truyền tin, trao đổi thông tin và sử dụng thông tin để làm lợi (và gây hại, gây nhiễu...) theo mục đích của mình. Internet chỉ cung cấp thêm công cụ để mở rộng và phát triển mạng xã hội lên mà thôi. Có người đổ lỗi cho văn hóa tranh luận, việc tôn trọng quyền tự do cá nhân, người khác đổ lỗi tại công nghệ, hay nhắm đến đạo đức, văn hóa xã hội. Tuy nhiên, câu chuyện này chắc chắn không chỉ riêng Việt Nam mà còn là một hiện tượng gây đau đầu trên toàn cầu. 

Bản chất của vấn đề ở chỗ nhân loại và các thiết chế xã hội chưa được chuẩn bị để tiếp cận và làm chủ các công cụ truyền tin mới này. Vì thế, lượng thông tin khổng lồ tạo ra trong một thời gian ngắn không chỉ giúp tạo ra cách mạng tri thức mà còn làm chia rẽ, phân tán và gây ra hoài nghi, xung đột giữa các cá nhân và nhóm xã hội. Những người sáng lập Facebook, Twitter... tin rằng thế giới sẽ trở nên hoàn hảo nếu như tất cả mọi người được kết nối với nhau và tiếp cận thông tin một cách tự do. Tuy nhiên, công nghệ và các ý tưởng tốt đẹp về một xã hội tự do mới chỉ là điều kiện cần cho một hệ thống thông tin hoàn hảo. Góc bên kia của cuộc khủng hoảng mạng xã hội (tiếp nhận thông tin và ứng xử thông tin mạng xã hội) là hiện tượng có tính lịch sử, phản ánh sự khủng hoảng của con người trong cách thức sử dụng các công cụ truyền tin mới trong vận hành xã hội. In ấn dùng con chữ rời và máy tính cá nhân đóng vai trò tương tự nhau trong việc tạo ra một cuộc cách mạng trong sự vận hành của mạng xã hội. Điểm chung là chúng làm giảm giá thành phương tiện truyền tin trong khi làm gia tăng đột biến lượng thông tin trong một thời gian ngắn, vì thế, đặt con người trước thử thách xử lí, kiểm chứng và quản lí lượng thông tin này.

                                              


Hãy nhìn lại cuộc cách mạng mạng xã hội thế kỷ XVI để thấy in ấn không chỉ tạo ra kỷ nguyên Phục hưng và những Shakespeare, Diderot mà còn gây ra chiến tranh tôn giáo, thuyết âm mưu và các giàn hỏa thiêu. Năm 1455, tại Strasbourg, người thợ  rèn, kim hoàn Johannes Gutenberg lần đầu tiên giới thiệu kỹ thuật in con chữ rời kim loại. Đây là một cuộc cách mạng thực sự trong truyền thông vì nó giúp giảm thời gian tạo ra phương tiện truyền tin (sách), giảm giá thành (sản xuất hàng loạt) và giúp đưa thông tin đến với công chúng chứ không chỉ dành riêng cho lớp tinh hoa hay tăng lữ. Với công nghệ đó, mục sư và nhà cải cách tôn giáo người Đức Martin Luther tin rằng nếu tất cả mọi người đọc Kinh thánh trên các bản sách in bằng ngôn ngữ địa phương (không phải bằng tiếng Latin) thì xã hội sẽ đạt đến cảnh giới của thần thánh. Giống như Mark Zuckerberg 500 năm sau đó, Luther đã đúng khi sách báo in ấn làm thay đổi tri thức của nhân loại với một cuộc cách mạng tôn giáo, tư tưởng, văn hóa... và sau đó là khoa học, kinh tế và chính trị (thế kỷ XVI-XIX). Nhưng điều mà Luther không thể lường trước là bên cạnh sách về nghệ thuật Hy Lạp và hình học giải tích của René Descartes, là cơn sốt sách báo về xung đột tôn giáo, mê tín dị đoan, về các cuộc hành hình phù thủy... Hệ quả của nó là hơn một thế kỷ chiến tranh tôn giáo và xung đột văn hóa đẫm máu.
Quá khứ đó giúp hiểu biết những khía cạnh có tính lịch sử-xã hội-kỹ thuật của cuộc khủng hoảng thông tin và truyền thông hiện tại. Điều gì đang diễn ra với máy tính cá nhân và không gian mạng xã hội? Tiến bộ công nghệ và việc giảm giá thành phương tiện lấy tin, truyền tin, lưu trữ tin (máy tính, điện thoại di động) và gia tăng số lượng thông tin (tốc độ đường truyền, đa phương tiện, lưu trữ...) thúc đẩy hai quá trình lớn song hành: giải trung tâm (decentralization) và giải chính thống hóa (delegitimisation) của nguồn tin và thông tin.
Trong quá khứ, nguồn tin chính thức được tạo ra bởi nhà nước hay các nhóm quyền lực. Giờ đây, bất cứ ai có một thiết bị điện tử và Internet là có thể đóng vai trò là một kênh truyền thông. Một bình luận của cá nhân trên Facebook có thể gây hiệu ứng xã hội tới hàng triệu người và gây ảnh hưởng kinh tế hàng tỉ USD trên thị trường chứng khoán, trong khi đổi lại báo chí quốc gia có thể trở thành giấy gói xôi nếu như không cập nhật và bảo đảm được các yêu cầu mới của thông tin. Người đồng sáng lập Twitter, Evan Williams đã nói: "Tôi từng tưởng rằng khi mọi người có thể nói một cách tự do và trao đổi thông tin, ý tưởng thì thế giới này tự động sẽ biến thành một nơi tốt đẹp hơn. Tôi đã sai lầm về điều đó". Niềm tin của nhà công nghệ này chắc chắn đã sụp đổ trong giây phút nhận ra rằng bên cạnh các bài báo khoa học và gương người tốt việc tốt được chia sẻ còn là cách chế tạo bom, các bài diễn thuyết kích động hận thù và sau cùng là tin giả với khả năng lan truyền chưa từng thấy trong lịch sử.
Tin giả (fake news) không phải là sản phẩm của nền chính trị hiện đại. Tin Lê Văn Thịnh hóa hổ trên hồ Dâm Đàm năm 1095 chắc chắn đã lan truyền với tốc độ chóng mặt (go viral) tại các quán trà ở kinh thành Thăng Long, chẳng khác gì các scandal chính trị hiện đại. Thông tin về một mụ phù thủy ăn thịt trẻ con sống nơi bìa rừng ở châu Âu thế kỷ XVI và tin về một người đàn ông tình nghi bắt cóc trẻ con ở làng quê Việt Nam năm 2018 được lan truyền với cùng một bức thông điệp, chỉ có điều mức độ truyền tải và khả năng ảnh hưởng của tin xấu thời hiện tại có tốc độ và quy mô chưa có tiền lệ. Vì thế, cái giá phải trả cho tin giả cũng cao hơn.
Sự nguy hiểm của thế giới mạng xã hội với sự trợ giúp của công nghệ này có thể được phản ánh ở một số khía cạnh:
Thứ nhất, các cá nhân và đám đông bị dắt mũi về thông tin. Nếu chúng ta không chấp nhận sự đa dạng, khác biệt và không có khả năng kiểm chứng các thông tin trái chiều một cách cẩn trọng, nguy cơ bị cô lập trong thế giới ảo của chính mình là hiện hữu. Trong thế giới đó, chúng ta được vây quanh bởi những người bạn ảo (friend list), cấm cửa bất cứ ai có quan điểm khác mình (block) và vì thế ngày càng làm cho việc tiếp nhận thông tin trở nên đầy định kiến. Cuối cùng, mỗi cá nhân chỉ sống trong thế giới thông tin được vây quanh bởi những người bạn mà  họ muốn chơi và thông tin mà họ muốn nghe.
Thứ hai, các công ty công nghệ với các thuật toán, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo có khả năng hiểu biết về sở thích, thế giới quan, xu thế đọc, xu thế chính trị, niềm tin tôn giáo... của bạn vì thế sẽ chỉ cho bạn các thông tin đáp ứng với thế giới quan đó. Hệ quả là mỗi cá nhân ngày càng chìm sâu vào thế giới hiện thực do chính họ tạo ra, tấn công các hệ ý thức, niềm tin và giá trị khác một cách cực đoan.
Thứ ba, nền độc tài số là một nguy cơ lớn của lịch sử chính trị nhân loại khi các nhà nước có khả năng kiểm soát một lượng lớn thông tin và dẫn dắt hành động của con người. Các hệ thống dữ liệu lớn, dĩ nhiên có thể góp phần nâng cao hiệu quả quản trị xã hội. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu các chính phủ dùng chính hệ thống dữ liệu này để kiểm soát con người?
Cuối cùng, nhân loại trong quá khứ đã mất cả thế kỷ để lập lại trật tự sau sự ra đời của in ấn và sách báo ở thời đại công nghiệp. Mạng xã hội hiện tại chắc chắn sẽ phải trải qua một cuộc thai nghén tương tự, một cuộc chiến thông tin mà ở đó sự thiếu tỉnh táo của người tiếp nhận, xử lí và truyền thông tin có thể sẽ phải trả một giá đắt. Điều chúng ta cần không chỉ là sự can thiệp của các thiết chế, nhà nước, hệ thống pháp lí mà còn là khả năng làm chủ thông tin và bản lĩnh ứng xử đối với tri thức, văn minh và nhân văn của mỗi cá nhân.


Tham khảo:
- Dittmar, Jeremiah. “The Welfare Impact of a New Good: The Printed Book”, 2011. Department of Economics, American University.
- Dittmar, Jeremiah E. “Information Technology and Economic Change: The Impact of The Printing Press”. The Quarterly Journal of Economics 126, no. 3 (August 1, 2011): 1133-72. https://doi.org/10.1093/qje/qjr035.
-Ferguson, Niall. The Square and the Tower: Networks, Hierarchies and the Struggle for Global Power. London: Allen Lane, 2017.

Nguồn: An Ninh Thế Giới cuối tháng 5-2019

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện sao bò


Sao bò. Nếu lật giở từ điển tiếng Việt, đố tìm thấy từ này. Nó chỉ tồn tại trong cuộc sống thực tế, gắn liền với một giai đoạn lịch sử, rồi chấm dứt. Đó là thời chiến tranh, Mỹ đưa máy bay ra ném bom, bắn phá miền Bắc, từ năm 1964 tới cuối năm 1972, khoảng 9 năm, bằng thời gian “9 năm kháng chiến thánh thần” chống Pháp.

Tự dưng nhớ tới “sao bò” bởi hôm qua đọc báo thấy có cái tin, có nhẽ là tin mừng, rằng Mỹ đã quyết định bán cho Việt Nam 6 chiếc máy bay trinh sát điện tử loại tối tân nhất của quân đội Mỹ hiện nay. Đó là những chiếc ScanEagle, đại bàng, thế giới gọi tắt là UAV, còn dân Việt lâu nay đặt cho nó cái tên nôm na máy bay không người lái. Thế gian biến cải, nhiều khi chả biết đâu mà lần. Trước kia, Mỹ đem máy bay không người lái tới dò la kẻ thù Việt cộng để ném bom cho chính xác, còn nay bán món hàng đó cho bạn từng kẻ thù xưa. Trong quan hệ quốc tế, không có gì là vĩnh cửu cả. Nay thù mai bạn, nay bạn mai thù, trong thù có bạn, trong bạn có thù, luôn luôn như vậy. Đâu thể hồ đồ kiểu tình hữu nghị này nọ đời đời bền vững. Lịch sử hơn nửa thế kỷ nay đã chứng minh thứ lý luận ấy hoàn toàn sai lầm, nẩy ra từ những đầu óc ngây thơ, thiển cận.

Từ hồi còn bé tí, đi học cấp 1, khi cả làng chỉ có vài chiếc xe đạp, thì đám trẻ con đánh dậm chúng tôi đã biết tới máy bay không người lái. Bây giờ nghĩ lại, hóa ra mình đã làm cách mạng 4 chấm 0 từ dạo còn đái dầm.

Suốt gần chục năm, những đứa trẻ ở miền Bắc quen với máy bay không người lái. Hầu như cứ ngửa mặt nhìn lên giời, cả ngày lẫn đêm, thấy ngay thứ của nợ này. Nó bay vào đất mình thung thăng tự nhiên như mấy bà Tú Đôi đi chợ huyện. Bộ đội tên lửa lúc đầu còn bắn nó, sau cũng chán, kiểu như kệ bà mày, mày tới đâu thì tới, chúng ông để dành đạn cho đám thần sấm, con ma. Mà kể ra bắn thứ ni cũng phí đạn. Nghe đâu rằng mỗi quả tên lửa Liên Xô to lừng lững nhọn hoắt kia nếu bán đi đủ tiền nuôi cả làng trong một tháng. Vậy mà chỉ thịt được thằng oắt con UAV giá mấy ngàn đô, phí. Cũng bởi nó nhỏ và bay cao quá nên bộ đội cao xạ, súng phòng không 12 li 7 khó bắn trúng, không với tới được. Sau này, tôi có nghe người trong nghề (bộ đội tên lửa) nói quân ta tổng kết bắn rơi hơn 3.400 máy bay, ai nghe cũng lắc đầu lè lưỡi, gớm, rơi lắm thế, nhưng ít ai biết cứ mỗi chiếc máy bay không người lái – UAV kia đều được coi là một đơn vị tính, tức là một… chiếc máy bay. Trộn đều, láo nháo thế cho nó oai, chiến công mới oanh liệt.

Tại sao nó có cái tên sao bò? Chả là những năm thập niên 60 làng quê miền Bắc còn thưa thớt lắm. Tôi nhớ như in, cứ buổi chiều, tiếng chuông chùa làng Trà vang xa mấy cây số, bởi không gian thoáng, không bị vướng víu đủ thứ như bây giờ. Cao nhất cũng chỉ ngọn tre là cùng. Cái chuông quý ấy, đúc từ thời nhà Mạc, về sau bị mất. Người thì bảo kẻ trộm vào đánh thó, người thì nghi chính nhà sư đem đi nơi khác, thế chuông dỏm vào. Vụ án mất chuông tới giờ vẫn nằm trong ngăn kéo, chẳng ai đoái hoài. Làng trống trải đến nỗi, lúc trời xanh trong ít mây, tôi ra gốc nhãn đình cổ thụ dõi về phía bắc còn nhìn thấy cả mỏm yên ngựa dãy núi Yên Tử cách xa hàng chục cây số đường chim bay, hệt câu dự báo thời tiết “tầm nhìn xa trên 10 ki lô mét”. Hầu như nhà nào cũng vậy, những đêm mùa hè, mùa thu, lại trải chiếu ra giữa sân nằm hóng mát, mắt ngước lên trời cao rộng mênh mông ngắm sao đếm sao.
Lũ chúng tôi, suốt mấy tháng nóng, đêm nào cũng ngửa mặt lên giời như vậy nên rất rành sao trời. Sao bắc đẩu, chòm tiểu hùng, đại hùng, sao thần nông, sao hôm sao mai, rồi cả cái đận được coi sao chổi Ha Lây (Halley) sáng rực quét hạ giới suốt gần nửa tháng giời, nghe đâu phải gần trăm năm mới quay lại quét, thật hãnh diện. Thày (bố) tôi nói sao chổi là điềm gở, hay ho cái gì. Năm ấy, trận địa Mả Đò bị trúng tên lửa Mỹ, chết mất chú sĩ quan điều khiển, thiếu úy Trần Phúc Cán.

Trong đám sao nhấp nháy lung linh ấy, mấy anh em tôi luôn phát hiện ra những ngôi sao không nằm yên một chỗ mà cứ di chuyển chầm chậm, suốt từ phương này sang phương kia, bao giờ xa tít mất hút thì thôi. Cứ tưởng chỉ mình biết, ai ngờ kể cho những đứa khác cũng tối tối ngửa mặt lên giời, hóa ra chúng biết cả. Chẳng ai bảo ai, tự dưng đặt tên cho nó là sao bò, tức ngôi sao bò trên giời.

Thày tôi và các anh lớn bảo rằng đó không phải sao, mà là vệ tinh nhân tạo của Liên Xô. Hồi ấy bất cứ thứ gì hiện đại nhất thế giới đều được coi của Liên Xô. Ban ngày trời nắng, sáng chói chang, mắt thường không nhìn thấy, nhưng ban đêm nó như ngôi sao nhỏ, bay lừng lững, thực ra bay nhanh lắm, tuy nhiên do quá xa trái đất nên trông bò chậm vậy thôi. Bay mấy tháng không cần xăng dầu. Nghe giải thích, đứa nào cũng gật gù Liên Xô giỏi thế không biết. Chỉ có điều, từ giữa năm 1964 về sau, tự dưng quá nhiều sao bò. Trước, đêm có đêm không, giờ đêm nào cũng thấy bò. Chú Tước, bộ đội tên lửa trận địa Mả Đò nói không phải vệ tinh đâu, lấy đâu ra lắm vệ tinh thế, mà là máy bay không người lái của Mỹ đấy. Nó từ hạm đội 7 bay vào dò la, chụp ảnh, ngay cả trận địa Mả Đò nó cũng biết rõ như trong lòng bàn tay. Nghe khiếp quá. Mấy anh họ tôi còn dặn, chúng bay đi đánh dậm mà ngóc cái cán dậm lên, nó tưởng súng, nó chụp rồi kêu phản lực tới bỏ bom thì có mà chạy đằng giời. Lại khiếp.

Thấm thoắt, thế mà đã hơn nửa thế kỷ rồi. 

Nguyễn Thông


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đang phẫu thuật tim, bác sĩ thấy lửa bùng cháy trong lồng ngực bệnh nhân

Ngọc Quý

Ngọc Quý

1 2 3 
Khi bác sĩ đang thực hiện ca mổ tim hở thì bỗng thấy ngọn lửa bùng cháy ngay trong lồng ngực bệnh nhân. Điều đáng kinh ngạc hơn là nhóm phẫu thuật đã dập tắt ngọn lửa, hoàn thành ca phẫu thuật mà không để lại biến chứng nào.
Sự cố khác thường này xảy ra trong một ca mổ tim của một bệnh nhân 60 tuổi ở Úc. Ông bị chứng bóc tách động mạch chủ. Bệnh có thể gây vỡ động mạch chủ, vốn chịu trách nhiệm bơm máu từ tim đến những bộ phận khác của cơ thể, và gây tử vong, theo trang tin Gizmodo.

Do đó, các bác sĩ phải phẫu thuật khẩn cấp để khắc phục những tổn thương ở thành động mạch.
Tuy nhiên, bệnh nhân lại gặp một số vấn đề về phổi, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Chính căn bệnh này đã khiến ca phẫu thuật bất ngờ trở nên phức tạp hơn.
Để tiếp cận tim, các bác sĩ phải phẫu thuật mở xương ức. Tuy nhiên, xương ức lại dính chặt vào phổi. Những mảnh mô phổi bị tổn thương dính vào xương ức được gọi là bullae. Trên thực tế, chúng là những nốt phồng rộp chứa khí bên trong, thường xuất hiện ở người bị phổi tắc nghẽn mạn tính.
Khi bác sĩ đang cẩn thận cách tách phổi phải ra khỏi xương ức, họ đã làm bể một trong những nốt phồng này, khiến không khí bên trong thoát ra ngoài.
Để tránh bệnh nhân bị suy hô hấp, tình trạng mà chất dịch ứ đọng trong phổi, nhóm phẫu thuật đã bơm nhiều thuốc mê hơn. Nồng độ ô xy bơm qua máy thở cũng tăng lên mức 100%.
Một vấn đề khác là ca phẫu thuật cần phải sử dụng máy đốt điện, thiết bị dùng để đốt và cắt các mô. Các bác sĩ cũng phải cần đến một gói dụng cụ để đựng dao kéo đã tiệt trùng khi phẫu thuật.
Khi bác sĩ bật máy đốt điện, một tia lửa đã bén vào gói dụng cụ đang đặt gần lồng ngực bệnh nhân. Nhờ tiếp xúc với luồng không khí giàu ô xy rò rỉ quanh mô phổi mà đốm lửa đã bùng cháy.
Điều đáng kinh ngạc là bác sĩ đã nhanh chóng dập tắt ngọn lửa và không gây bất kỳ tổn thương nào cho bệnh nhân. Họ tiếp tục ca mổ và khắc phục thành công những tổn thương ở động mạch.
Sau sự cố bất ngờ này, nhóm bác sĩ đã tìm kiếm trong các tài liệu y văn và phát hiện có đến 6 ca tương tự từng được ghi nhận. Ca của họ là ca thứ bảy. May mắn là không bệnh nhân nào bị tổn thương do sự cố, theo Gizmodo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đoàn tàu Việt Nam và định vị quốc gia


Nguyễn Quang Dy - Trong bài này, tôi mượn hình tượng “đoàn tàu Việt Nam” để dễ hình dung và chia sẻ, với những ẩn ức và ám ảnh trong tâm thức người Việt. Đã lâu tôi không đi tầu, nhưng những kỷ niệm khó quên về tầu hỏa vẫn còn đọng lại từ thời niên thiếu và thời chiến tranh. Nay tôi ngại đi tầu không phải chỉ vì nó chạy quá chậm, mà còn vì những ám ảnh trong tâm thức. 
Image result for định vị quốc gia
Đoàn tàu Việt Nam đang ở đâu ?
Mỗi lần nghe bài hát “tầu anh qua núi” tôi lại thấy buồn, tuy bài hát đó có giai điệu vui. Tôi nhớ có lần (cuối thập niên 1980), đã theo một đoàn làm phim Úc đi từ Bắc vào Nam để quay phim tài liệu về tầu hỏa. Tôi vẫn nhớ hình ảnh tuyệt đẹp khi đầu tầu hơi nước hú còi và phun khói trắng hòa vào mây trời trước khi đoàn tàu trườn mình vượt đèo Hải Vân.



Từ đó đến nay, “đoàn tàu Việt Nam” hầu như không có gì thay đổi. Vẫn là những đầu tàu cũ kỹ ỳ ạch kéo những chiếc toa cũ kỹ lầm lũi chạy trên tuyến đường sắt chật hẹp (1,100m). Vẫn là cái barrier chắn đường thời trước để chặn dòng chảy đường bộ cho “tàu anh qua phố”, làm du khách nước ngoài ngỡ ngàng thích thú như xem bộ phim “Oriental Express”.

Hình tượng đó vẫn ám ảnh tâm thức về một đất nước giàu đẹp nhưng “không chịu phát triển”, như hoài niệm về câu chuyện cho trẻ em thời trước là “Mít Đặc và Biết Tuốt” (tại bến “lần sau tàu chạy”). Trong khi “chính phủ kiến tạo” nói nhiều về công nghệ 4.0, thì hệ tư duy (mindset) và hệ quy chiếu (paradigm) của người Việt vẫn dừng lại ở ngã ba đường.

Từ cuối thập niên 1990, tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai đã có mấy toa “tàu Victoria” chủ yếu để phục vụ khách nước ngoài của khách sạn Victoria ở Sapa. Tại sao họ làm được một đoàn tầu tử tế cho khách hàng của họ, mà ngành đường sắt Việt Nam sau mấy thập kỷ vẫn chưa làm được những toa tàu tử tế như vậy cho người Việt mình? Thật là vô lý!

Hơn bốn thập kỷ sau chiến tranh, Việt Nam tuy nhiều tài nguyên, nhưng khai thác đến cạn kiệt mà vẫn chưa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, vẫn tụt hậu so với nước láng giềng. Bộ GTVT thừa nhận Việt Nam chưa làm được cao tốc Bắc-Nam, mà “chỉ có Trung Quốc làm được”, bất chấp bài học đau đớn về dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông.

Ám ảnh về “đoàn tàu Việt Nam” là hệ quả của mấy thập kỷ cải cách kinh tế thị trường (nhưng què quặt) vì “định hướng XHCN” (đã lỗi thời). Đó là một thể chế bất cập được duy trì quá lâu làm triệt tiêu các nguồn lực tích cực dựa trên hệ giá trị cốt lõi của dân tộc, nhưng hậu thuẫn cho các nguồn lực tiêu cực dựa trên lợi ích nhóm “thân hữu” (cronyism).

Thể chế đó đã sinh ra “một bầy sâu” (theo lời ông Trương Tấn Sang) đang đua nhau đục khoét và “ăn của dân không từ một thứ gì” (theo lời bà Nguyễn Thị Doan). Chiến dịch chống tham nhũng của TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ, được đa số người dân ủng hộ, nhưng khó thành công nếu không giải quyết tận gốc.

Cái gốc đó là thể chế (như cái vỏ) đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển nguồn lực dân tộc (là cái lõi), cản trở dòng chảy của lịch sử. Các quốc gia hưng thịnh hay suy vong đều do các nguyên nhân nội tại. Sẽ là sai lầm và bi kịch nếu vẫn cố bám giữ “chủ nghĩa đặc thù” (exceptionalism) để bào chữa cho sự trì trệ bằng tư duy “tiệm tiến” (gradualism). Sau ba thập kỷ, động lực đổi mới (vòng một) đã hết đà, phải đổi mới (vòng hai) trước khi quá muộn.

Tại sao phải định vị quốc gia

Muốn phát triển, các doanh nghiệp thường phải “định vị” (positioning) trên thị trường. Các quốc gia cũng phải định vị (hoặc tái định vị) nước mình, nhất là khi bàn cờ quốc tế biến đổi. Mấy năm qua, trật tự thế giới đã bị đảo lộn đến chóng mặt và khó lường. Nếu không định vị lại và điều chỉnh chiến lược, Việt Nam dễ bị mắc kẹt vào thế “lưỡng nan” (ketch 22).

Hãy thử so sánh Việt Nam với nước láng giềng Thailand (trong ASEAN). Năm 2012, GDP Per Capita của Việt Nam là US$ 1.373, bằng Thailand năm 1981 (tụt hậu 30 năm). Theo dự đoán của IMF, đến năm 2019, GDP Per Capita của Việt Nam sẽ là US$ 2.473, bằng Thailand năm 1985 (tụt hậu 34 năm). Việt Nam đã từng tuyên bố đến năm 2020 sẽ là một nước công nghiệp, nhưng đến nay vẫn chưa công nghiệp hóa, năng suất lao động vào loại thấp nhất khu vực.

Hàn Quốc là một nước Đông Á, cũng bị thuộc địa, chiến tranh, và chia cắt Bắc-Nam, nhưng sau ba thập kỷ (1960-1990) đã vươn lên thành cường quốc. GDP Hàn quốc (năm 1960) là US$ 155, trong khi Việt Nam (năm 1981) là US$ 251. Nhưng sau 30 năm, GDP của Hàn Quốc tăng 34 lần, trong khi GDP của Việt Nam tăng có 4,25 lần (bằng 1/8 Hàn quốc).

Hàn quốc là một nước độc tài, nhưng để trở thành cường quốc, họ phải chuyển sang thể chế dân chủ (theo quy luật tất yếu). Tuy cùng vạch xuất phát tương tự, nhưng Hàn Quốc nay đã giàu mạnh. Việt Nam tuy thống nhất, nhưng nay vẫn nghèo nàn, tụt hậu. Việt Nam phải trả giá quá đắt cho sự ngộ nhận và nhầm lẫn, dẫn đến thất bại trong thời hậu chiến.

Trong bốn thập kỷ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, tuy 95% người dân mù chữ, nhưng họ đã xây dựng được đường sắt, đường bộ, cầu cống, cảng biển, sân bay, thành phố Hà Nội và Sài gòn (như “hòn ngọc Viễn Đông”). Nay với trình độ công nghệ cao hơn gấp nhiều lần, tuy 95% người dân biết chữ, nhưng hệ thống đường sắt vẫn kém hơn thời Pháp thuộc.

Hệ thống đường bộ, cầu cống, cảng biển, tuy có mở rộng, nhưng cơi nới và chắp vá. Đường phố Hà Nội nay mấp mô, lồi lõm, đầy “ổ trâu”, như đường nông thôn. Các nắp cống đủ kiểu lồi lên, tụt xuống thành những cái bẫy như “thập diện mai phục’. Vỉa hè năm nào cũng bị đào bới lát lại, để nhóm lợi ích kiếm chác như cái mỏ lộ thiên. Điều đó cứ hồn nhiên lặp đi lặp lại như chuyện tất nhiên (hay “new normal”). Lạ thay, chẳng thấy ai chịu trách nhiệm.

Không phải do thiếu kinh phí hay thiếu công nghệ, mà thể chế độc quyền đã làm cho ngành giao thông công chính và điện/nước trở thành nhóm lợi ích “không chịu phát triển” và bị phân liệt (dysfunctional). Hình ảnh những cột điện với các búi dây điện nhằng nhịt như mạng nhện đã làm Bill Gates ngỡ ngàng, trong khi đường ống nước Sông Đà vỡ tới 21 lần.

Khi đã ngoài 40 tuổi (giai đoạn trưởng thành) người ta thường không nhầm lẫn nữa. Theo khoa học tổ chức, bốn thập kỷ là quá đủ để mỗi công ty hay mỗi quốc gia trưởng thành, với ít nhất ba thế hệ kế tục, đủ thời gian cho các giá trị cốt lõi của dân tộc định hình. Nhưng ngành giáo dục Việt Nam vẫn đang bê bối với nạn chạy điểm, làm hỏng cả thế hệ trẻ.

Đã hơn bốn thập kỷ sau chiến tranh, Việt Nam vẫn loay hoay tại ngã ba đường, vẫn chưa hòa giải dân tộc và chưa thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ, nên quốc gia vẫn chưa trưởng thành (vẫn tiếp tục “nation building”). Theo quy luật tự nhiên (sinh-lão-bệnh-tử), đã đến lúc Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, như khuyến nghị của “Báo cáo Việt Nam 2035”.

Chiến tranh lồng ghép

Hiện nay, Trung Quốc đang tiến hành một cuộc “chiến tranh lồng ghép” (Hybrid warfare) là khái niệm mới được Bộ Quốc phòng Mỹ đề cập đến từ năm 2008. Đó là một cuộc chiến tranh không dùng quân đội và vũ khí, mà sử dụng những biện pháp “phi vũ trang” để triệt hạ toàn diện các mục tiêu của đối phương. Theo Wikipedia, “Hybrid warfare” lồng ghép chiến tranh thông thường với những biện pháp không thông thường khác như chiến tranh mạng (cyberwarfare), pháp lý (lawfare), tin vịt (fake news), và can thiệp vào bầu cử, v.v…

Nói cách khác, đó là binh pháp Tôn Tử (không đánh mà thắng) vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp trong “vùng xám” (grey area), để phá hoại không gian sinh tồn, cơ sở hạ tầng, và làm biến đổi hệ giá trị cốt lõi của đối phương. Trung Quốc có thể cho vay dài hạn để lũng đoạn kinh tế. Việt Jet và Bamboo Airways lấy tiền đâu để mua 110 máy bay Boeing?

Việt Nam phải nhập 60% nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc. Các nhà thầu Trung Quốc nắm hơn 90% các gói thầu EPC, chiếm 77/106 các dự án lớn trọng điểm của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã cho Trung Quốc thuê 300.000 Ha rừng đầu nguồn (thời hạn 50 năm) và thuê cảng nước sâu Vũng Áng cùng Formosa (thời hạn 70 năm). Hai nhà máy bauxite Tân Rai và Nhân Cơ lỗ hàng trăm tỷ VNĐ/năm, và gây hiểm họa môi trường miền Trung.

Theo Kiểm toán Nhà nước (2018), dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông, vốn đầu tư là 8.770 tỷ VNĐ, đã bị đội vốn lên 18.000 tỷ VNĐ (tăng 205%), dự kiến hoàn thành 6/2014 và chính thức khai thác thương mại 6/2015 (nay chậm tiến độ 4 năm). Nếu thu mỗi ngày 100 triệu VNĐ (theo bộ GTVT) thì phải mất 10.000 năm mới thu hồi được vốn. Theo NHK, đây là “tuyến đường tai tiếng nhất thế giới” (vừa chậm, vừa xấu, vừa không an toàn).

Nhưng bộ GTVT vẫn muốn Trung Quốc làm đường Cao tốc Bắc-Nam, một dự án chiến lược quan trọng hơn cả ba đặc khu. Trung Quốc muốn dùng cái bẫy ý thức hệ để buộc chặt Việt Nam vào cộng đồng “cùng chung vận mệnh” (chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, giáo dục). Việt Nam có thể bị xô đẩy vào vòng Bắc thuộc mới (như ông Nguyễn Cơ Thạch đã cảnh báo), vì vậy phải tỉnh ngộ để thoát khỏi cái vòng kim cô “16 chữ vàng”.

Theo Minxin Pei, trật tự thời “hậu Thiên An Môn” đã chấm dứt từ năm 2012 khi Tập Cận Bình lên cầm quyền, và từng bước thay đổi những nguyên tắc mà Đặng Tiểu Bình đã xác lập. Trung Quốc đã tăng cường “chế độ tư bản nhà nước” (state capitalism), và triển khai các tham vọng địa chính trị trên toàn cầu, xô đẩy Mỹ và phương Tây phải chống lại họ. (The Lasting Tragedy of Tiananmen Square, Minxin Pei, Project Syndicate, May 31, 2019).

Henry Paulson (cựu bộ trưởng Tài chính) kêu gọi Trung Quốc và Mỹ thỏa thuận về “các dự án hữu hình để xây dựng lòng tin”, là điều quan trọng lúc này. (America and China must manage their rivalry or risk disaster, Economist, May 16, 2019). Nhưng David Dollar (Viện (Brookings) cho rằng cách đây không lâu Mỹ và Trung Quốc đa cố gắng làm giảm căng thằng bằng cách hứa hẹn mở rộng thương mại, “nhưng nay đã quá muộn để làm việc đó”.

Theo Hal Brands (Johns Hopkins), siêu cường nào muốn thắng trong cuộc chiến sắp tới phải hiểu đúng nguyên nhân của nó. (The Real Origins of the US-China Cold War, Charles Edel & Hal Brands, Foreign Policy, June 2, 2019). Stephen Walt (Harvard) lập luận rằng chủ nghĩa dân tộc là động lực mạnh mẽ và lâu dài trong chính trị quốc tế, để tăng cường năng lực quốc gia, nhưng phải hiểu được giá trị thực sự và hạn chế tác hại của nó. (You Can’t Defeat Nationalism, So Stop Trying, Stephen Walt, Foreign Policy, June 4, 2019).

Thay lời kết

“Đoàn tàu Việt Nam” đã bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng (hijacked), chạy theo hướng có lợi cho họ (như câu chuyện AVG, BOT, Đặc khu Kinh tế, v.v.). Họ tìm cách lũng đoạn chính quyền để tham nhũng chính sách (là tham nhũng tệ hại nhất), nên đã bẻ ghi cho đoàn tàu Việt Nam đi chệch hướng khỏi các mục tiêu dân tộc và dân chủ. Về lâu dài, chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực của các nhóm lợi ích thân hữu là mục tiêu hàng đầu.

Muốn định vị quốc gia, phải “kiến tạo” và đổi mới “vòng hai”, với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết” (như lúc đổi mới “vòng một”). Để đổi mới “vòng hai”, phải đổi mới thể chế toàn diện để thoát khỏi cái “vòng kim cô” về ý thức hệ đã kìm hãm và làm đất nước tụt hậu. Tại đối thoại Shangri-La (Singapore, 31/5/2019) thái độ cứng rắn của Mỹ và Trung Quốc làm mấy nước khu vực lo ngại vì 2 xu thế: (1) Mỹ-Trung vừa đánh vừa đàm, trước mắt rất khó thỏa thuận; (2) Biển Đông và Đài Loan đang trở thành tiêu điểm của đối đầu Mỹ-Trung.

Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung thực chất là một cuộc chiến tranh lạnh kiểu mới, như thế cờ vây của Mỹ với Trung Quốc. Đó là một cơ may lớn cho Việt Nam, vì nó đang làm Trung Quốc suy thoái. Chỉ khi nào Trung Quốc suy yếu thì Việt Nam mới có cơ hội thoát khỏi ảnh hưởng của họ, để đối mới và phục hưng quốc gia. Cơ hội đó đã từng bị tuột mất vào năm 1978 và năm 1990, nay hy vọng không để cơ hội đó bị tuột mất lần nữa.

N.Q.D.
6/5/2019

nhận xét hiển thị trên trang

Ông Tập tặng gấu trúc và để Huawei ký hợp đồng 5G với Nga



Panda bearBản quyền hình ảnhREUTERS
Image caption'When we talk about pandas, we always end up with a smile' Mr Putin said
Thăm Moscow ba ngày, chủ tịch Tập Cận Bình gọi tổng thống Putin là 'người bạn tốt nhất' và cam kết tăng cường quan hệ.
Chủ tịch Trung Quốc tới Moscow tối thứ Tư và đã phát biểu gọi nước Nga là đối tác thân thiết của nước ông.
"Trong sáu năm qua, chúng tôi đã gặp nhau 30 lần, và ông Putin là bạn, người đồng cấp tốt nhất của tôi."
Chủ tịch Tập cũng xác nhận "Nga là nước tôi đi thăm nhiều nhất", và tặng cho Vườn thú Moscow hai con gấu trúc (panda) để bầy tỏ tình hữu nghị.
Được biết, trường cũ của ông Putin là Đại học quốc gia St Petersburg sẽ trao cho chủ tịch Tập bằng tiến sĩ danh dự.
Thông báo của hai bên cũng cho hay hai lãnh đạo bàn cả về tăng cường hợp tác quân sự.

Thời điểm sát lại gần nhau

Thời điểm diễn ra cuộc gặp cao cấp ở Moscow cũng là lúc quan hệ của Nga với Phương Tây xuống điểm lạnh nhất từ sáu năm qua, và Trung Quốc đang có cuộc thương chiến gay go với Hoa Kỳ, theo BBC News.
Trong khi trên thế giới diễn ra hai cuộc kỷ niệm, tưởng niệm Thiên An Môn (6/1989), và ngày đổ bộ D-Day của Đồng Minh chống phát-xít (06/1944) ở châu Âu, cả Nga và Trung Quốc đều không tham gia.
Chinese President Xi Jinping (L) and Russian President Vladimir Putin (R) applaud as Guo Ping (2L), Deputy Chairman of the Board and Rotating Chairman of Huawei, shakes hands with Alexei Kornya (2R), President and CEO of Russian mobile phone operator MTS, during a signing ceremony following Russian-Chinese talks at the Kremlin in Moscow on June 5, 2019.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác lãnh đạo cao cấp chứng kiến Huawei ký hợp đồng lớn với chủ tịch MTS, Alexei Kornya để thiết kế mạng 5G cho Nga
Trung Quốc cấm mọi nội dung nhắc đến vụ thảm sát Thiên An Môn, còn Nga từ một thời gian qua đề cao hơn lễ Chiến thắng chống Phát-xít từ Cuộc chiến Vệ quốc vĩ đại 1945.
Đặc biệt, trong lễ kỷ niệm ngày D-Day ở Portsmouth, Anh Quốc năm nay, người ta đã không mời tổng thống Nga.
Ông Vladimir Putin có dự lễ tương tự 5 năm trước, đánh dấu 70 năm ngày D-Day.
Phản ứng trước việc này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nga, bà Maria Zakharova nói ngày đổ bộ D-Day "không nên bị phóng đại" vì "chính các nỗ lực khổng lồ của Liên Xô hồi đó mới đem lại chiến thắng" trong Thế Chiến 2.
Theo bà Zakharova, "ngày D-Day không có tác động quyết định" cho Thế Chiến 2.
Ngoài sự chia sẻ nhãn quan chính trị quốc tế, quan hệ kinh tế Nga - Trung cũng ngày càng thắt chặt.
Đường dẫn khí đốt (The Power of Siberia) từ Nga sang Trung Quốc sẽ được hoàn tất năm nay, trị giá 400 tỷ USD.
Đầu tư của Trung Quốc vào Nga đạt 140 triệu USD năm 2017, còn quá nhỏ so với tiềm năng giao thương hai bên.
Cũng trong chuyến thăm của ông Tập, tập đoàn Huawei của Trung Quốc ký với Nga hợp đồng thiết kế mạng 5G ở nước này.
Huawei đang bị Hoa Kỳ đặt vào tầm ngắm và một số đồng minh Phương Tây của Mỹ cũng không muốn cho Huawei xây mạng 5G, viện cớ "an ninh về thông tin".
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCô nàng gấu trúc lớn Phúc Ni được đãi ngộ đặc biệt trong ngày sinh nhật tại Vườn thú Adelaide hồi 2015. Trung Quốc thường dùng gấu trúc vào công tác ngoại giao
Xem thêm:

Phần nhận xét hiển thị trên trang