Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Sau Thượng Hải, Sài Gòn, Hoa Kỳ còn thoái lui khỏi Tehran và Beirut


BM
Lực lượng cộng sản tiến vào Thượng Hải, tháng 5/1949

Cuộc di tản khỏi Sài Gòn tháng 4/1975 là một trong bốn cuộc di tản lớn, đánh dấu sự tháo lui của Hoa Kỳ, bắt đầu từ Thượng Hải năm 1949.

BM
  
Sau Sài Gòn còn có vụ Tehran năm 1979, khi chính quyền thân Phương Tây bị lật đổ và hàng chục người Mỹ bị phái cách mạng Hồi giáo Iran cầm giữ làm con tin.

Năm 1984, Hoa Kỳ phải đưa đơn vị thủy quân lục chiến cùng lực lượng quốc tế (Anh, Pháp, Ý) rút khỏi Beirut, để lại một Lebanon tiếp tục hỗn loạn.

Tháo lui khỏi Thượng Hải

BM
  
Chiến dịch 'Giải phóng Thượng Hải' năm 1949, theo cách gọi của phe Mao Trạch Đông, là giai đoạn cuối của nội chiến Quốc - Cộng, với thất bại nghiêng về phe Tưởng Giới Thạch.

Hoa Kỳ đã dính líu từ đầu vào cuộc chiến này, với chuyến thăm Trung Hoa của Tướng George Marshall tháng 12/1945.

Tuy nhiên, trong một quyết định hiện vẫn gây tranh cãi trong giới sử gia, "sứ mệnh Marshall" của Hoa Kỳ không để nhằm để ủng hộ phe Quốc Dân Đảng chống cộng sản, mà để khuyến khích Tưởng và Mao ngưng bắn.

Tôi có thể hy vọng là QH có quyết tâm kiến tạo ra trật tự thế giới mới hay không đây? Bà Tống Mỹ Linh hỏi Quốc hội Hoa Kỳ, nước đồng minh của Trung Hoa Dân Quốc

Hoa Kỳ cũng giảm viện trợ quân sự và ngưng bán vũ khí cho Quốc Dân Đảng Trung cộng.

Tuy thế, 50 nghìn thủy quân lục chiến Mỹ được điều sang Trung cộng trong chiến dịch Beleaguer để giải giáp, đưa lính Nhật hồi hương và bảo vệ công dân Mỹ.

BM
  
Sau 1945, lính Mỹ đóng ở Thanh Đảo, có mặt ở Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải và một số nơi khác.

Quốc Dân Đảng khi đó đã nhân danh Trung Hoa Dân Quốc là nước đồng minh thắng trận nên tiếp quản sự đầu hàng của quân đội Nhật trên toàn Trung cộng.

Các thành phố lớn, hải cảng, cơ sở kinh tế, thương mại lớn nhất nay do chính phủ Tưởng kiểm soát nhưng họ phải đối phó với quân Mao "tấn công thành thị".

Quốc Dân Đảng ở vào thế phòng thủ, giữ dân giữ đất nhưng ngày càng bị động.

BM
Phụ nữ Thượng Hải thời kỳ thành phố này có nền văn hóa tư sản trước khi rơi vào tay chính quyền công nông của Mao năm 1949

Chiến dịch lớn cuối cùng của họ cuối 1946 đã không đẩy được quân cộng sản ra xa vùng đồng bằng, một phần vì thiếu hỏa lực pháo binh mà Hoa Kỳ từng hỗ trợ trong cuộc chiến Kháng Nhật.

Năm 1948, Lâm Bưu sau khi nhậm chức Tổng tư lệnh Quân Giải phóng đã mở chiến dịch Đông Bắc, và chỉ trong gần hai tháng, chiếm toàn bộ vùng Mãn Châu, và các thành phố lớn như Trường Xuân.

BM
  
Đến tháng 9/1948, quân của Lâm Bưu chiếm được Tế Nam, Sơn Đông, và phe Quốc Dân Đảng rút về phía Nam.

Tháng 11/1948, phe cộng sản mở chiến dịch Hoài Hải, và sang tháng 4/1949, dưới sự chỉ huy của Đặng Tiểu Bình, họ đưa 300 nghìn quân vượt sông Dương Tử.

Nam Kinh, thủ đô của phe Quốc gia thất thủ, khiến Quốc Dân Đảng phải dời đô về Quảng Châu.

Cũng trong năm 1949, Hồng quân Trung cộng tiến ra duyên hải, chiếm cảng Hán Khẩu và đến tháng 5 thì Trần Nghị chỉ huy Dã Chiến Quân 3 tiến vào bao vây ngoại ô Thượng Hải.

Chính phủ Dân Quốc không còn giữ được bao nhiêu và cuộc di tản khỏi Thượng Hải bắt đầu.

Là đô thị trên 6 triệu người gồm rất đông ngoại kiều Phương Tây, Thượng Hải là cửa ngỏ của Trung cộng ra thế giới, thành phố giàu nhất lục địa.

Lời thề tử thủ và khối vàng quốc gia

BM
Hồng quân Trung cộng tại Thượng Hải: Tất cả đều đội nón sắt của quân đội Mỹ họ lấy được sau khi Hoa Kỳ và quân Quốc Dân Đảng rút đi

Giống như tình hình Sài Gòn năm 1975, tại Trung Hoa Dân Quốc cũng có lời thề tử thủ và câu chuyện khối vàng trong kho quốc gia.

Delia Kalamouzis viết trong 'The Shanghai Campaign', rằng chính phủ Tưởng Giới Thạch thề "tử thủ" ở Thượng Hải, nhưng lại chuẩn bị sẵn để rút ra Đài Loan:

"Bị bao vây, người Trung Hoa và ngoại quốc ai cũng tìm đường tháo chạy, bằng xe, bằng tàu, bằng thuyền. Tưởng Giới Thạch tuyên bố không đầu hàng mà chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng trên thực tế, ông ta biết quân cộng sản sẽ tiến vào, và từ vài tháng trước đã chuẩn bị chuyển quân Quốc Dân Đảng sang Đài Loan."

"Không chỉ chuyển quân đi, Tưởng còn lấy luôn cả lượng vàng dự trữ trong Ngân hàng Quốc gia Trung Hoa ở khu phố Tây, tức The Bund."

Tuy thế, cuộc chiến vẫn diễn ra và chừng 34 nghìn quân cộng sản bị thương vong khi tiến chiếm Thượng Hải. Phe Quốc Dân Đảng thiệt hại tới 153 nghìn nhưng 50 nghìn kịp rút ra biển.

BM
  
Tưởng Giới Thạch tuyên bố không đầu hàng mà chiến đấu đến giọt máu cuối cùng Bà Delia Kalamouzis, nhà nghiên cứu về TC

Ngày 27/05/1949, điểm kháng cự cuối cùng của Quốc Dân Đảng ở Phố Đông bị dập tắt, và lực lượng cộng sản tiến vào Thượng Hải.

Ngay từ cuối 1948, thiếu tướng David Barr, chỉ huy nhóm cố vấn Mỹ tại Nam Kinh đã báo cáo về Ngũ Giác Đài rằng phe cộng sản sớm muộn gì cũng sẽ thắng và đề nghị cho rút về nước.

Sau khi Nam Kinh thất thủ, Hoa Kỳ quyết định cho rút đơn vị thủy quân lục chiến đóng ở Thanh Đảo.

Năm 1943, phu nhân của Thống chế Tưởng Giới Thạch, bà Tống Mỹ Linh, đọc diễn văn trước Lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ, kêu gọi người Mỹ "kiến tạo trật tự thế giới hậu chiến" và giúp Trung Hoa chống Nhật Bản.

Nhưng đến năm 1949, trật tự thế giới đó không hình thành, và tương lai Trung cộng thuộc về đội quân nông dân của Mao.

Sau khi Mao làm chủ Trung cộng, tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Glen Line Building, số 28 The Bund, Thượng Hải vẫn ở lại cả năm 1949, đóng kín cửa.

Phải đến ngày 25/04/1950, Tổng lãnh sự Walter McConaughy mới làm lễ hạ cờ và chấm dứt hoạt động của cơ quan này.

BM
Cuốn sách 'Và Sài Gòn sụp đổ' của tác giả Paul Dreyfus. Với Hoa Kỳ, sự sụp đổ liên tục của các chế độ ở Sài Gòn, Phnom Penh và Vientianne đánh dấu sự tháo lui của các giá trị Phương Tây khỏi Đông Nam Á trong nhiều thập niên

Lãnh sự quán Mỹ chỉ mở cửa lại ngày 28/04/1980 sau khi Washington công nhận Bắc Kinh thay cho Đài Bắc.

Địa điểm của lãnh sự quán Mỹ không đổi, chỉ có con phố nay đã mang tên Hoài Hải Trung lộ, đánh dấu chiến dịch quân sự thắng lợi của phe cộng sản năm 1949.

Từ Sài Gòn đến Tehran

BM
  
Cho đến ngày 29/04/1975, Đại sứ Mỹ Graham Martin vẫn tin là có thể tìm ra một giải pháp nào đó đem lại đối thoại với lực lượng cộng sản bao vây Sài Gòn.

Ông bị phê phán nặng nề sau chiến tranh, nhất là bởi nội dung cuốn 'Decent Interval' (1977) của cựu quan chức CIA Frank Snepp, về "sự ngây thơ" khi mà phe cộng sản muốn chiến thắng toàn bộ và không muốn nhìn thấy bất kỳ người Mỹ nào ở lại.

Graham Martin cùng những lính thủy quân lục chiến cuối cùng đã nhờ không vận bằng trực thăng, vì phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích, rời Sài Gòn ra biển.

BM
  
Cả chiến dịch 'Frequent Wind' bị Frank Snepp cho là "hỗn loạn" và ông Martin đã phải ra điều trần trước Quốc hội Mỹ năm 1976.

Ông không nhận mình phạm lỗi gì.

Một quyết định quan trọng của Graham Martin là không cho đem đi số vàng trong ngân khố quốc gia VNCH.

BM
Khẩu hiệu của phe cách mạng Hồi giáo Iran trong khủng hoảng bắt con tin Mỹ năm 1979: CIA, Ngũ Giác Đài, chú Sam, Việt Nam đã làm ngươi bị thương nhưng Iran sẽ chôn sống các ngươi'. Đây là căn nhà nhóm sinh viên Iran cầm giữ người Mỹ

Tuy thế, bản thân ông Martin và toàn bộ người Mỹ ở toà đại sứ ở Sài Gòn đều rất may mắn, so với các đại sứ khác của Mỹ ở Cận Đông.

Ngày 14/02/1979, đại sứ Mỹ ở Afghanistan, ông Adolf Dubs bị bắn chết tại Kabul, và đại sứ tại Iran, William Sullivan thấy một đám đông tràn vào sứ quán của ông.

Nhóm du kích Mặt trận Fedai bắt Kenneth Kraus, một lính thủy quân lục chiến bảo vệ Sứ quán Mỹ ở Tehran, đem người này ra tra tấn và chuẩn bị hành hình.

Chỉ nhờ sự can thiệp của Tổng thống Jimmy Carter, người Iran mới đồng ý thả ông Kraus, nhưng họ lại tấn công sứ quán Hoa Kỳ lần nữa, vào tháng 9, và tràn vào chiếm luôn tháng 11/1979.

Ngày 4/11: 99 người, gồm 66 người Mỹ bị sinh viên Iran bắt giữ để đòi Mỹ trao nộp cựu vương Iran Mohammed Reza Pahlavi từ Hoa Kỳ, nơi ông định cư sau khi bị Cách mạng Hồi giáo lật đổ.

Ngày 17/11: lãnh tụ tôn giáo Ayatollah Ruhollah Khomeini ra lệnh thả mọi con tin là nữ và người Mỹ gốc châu Phi, khiến con số bị cầm giữ còn 53.

Họ bị Iran bắt giữ 444 ngày, đưa đến việc TT Carter cắt quan hệ ngoại giao với Iran vào tháng 4/1980.

Cho đến ngày nay, quan hệ hai nước vẫn chưa trở lại thân thiện.

Hoa Kỳ và đồng minh bỏ Beirut năm 1984

BM
Nữ du kích Hồi giáo tại Lebanon cầm súng AK-47 trong Nội chiến 1982-84

Sau 18 tháng dính líu vào cuộc chiến Lebanon, chừng 1000 quân Mỹ thuộc lữ đoàn thủy quân lục chiến đã rút khỏi thủ đô Beirut, theo lệnh của Tổng thống Ronald Reagan.

Cùng thời gian, ngày 26/02/1984, các chiến binh Shia đi xe jeep và xe bọc thép tiến vào chiếm sân bay quốc tế ở quốc gia bị nội chiến và xung đột với Israel tàn phá.

Chừng 100 lính Mỹ cuối cùng ở lại để bảo vệ các nhà ngoại giao Mỹ trú ngụ trong Đại sứ quán Anh ở đại lộ ven biển.

Dù đến với quân Anh, Pháp, Ý trong màu áo lực lượng gìn giữ hoà bình Liên Hiệp Quốc từ 1982 để đảm bảo ngưng bắn giữa hai phái Hồi giáo và Ki Tô giáo, quân Mỹ trở thành mục tiêu tấn công.

BM
Thủy quân lục chiến Mỹ canh gác điểm di tản người Âu Mỹ ra khỏi Beirut tháng 2/1984. Họ bay ra chiến hạm Mỹ rồi từ đó về đảo Síp. Sự can dự của Mỹ trong nội chiến Lebanon khiến 241 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với tư cách quân gìn giữ hòa bình bị giết chỉ trong một vụ đánh bom vào căn cứ của họ tháng 10/1983

241 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bị giết chỉ trong một vụ đánh bom vào căn cứ của họ tháng 10/1983.

Một số người Mỹ khác bị bắt cóc hoặc ám sát, gồm hiệu trưởng Đại học Mỹ ở Beirut, Malcolm Kerr.

Cuối năm 1983, phi cơ từ hai tàu USS John F. Kennedy và USS Independence oanh kích các mục tiêu của quân Syria.

Phái Hồi giáo Shia thề cho quân Mỹ "biết thế nào là một Việt Nam khác".

Sang tháng 4/1984, quân Anh, Pháp và Ý cũng rút đi, để lại các phe phái Palestine, Hồi giáo Shia, Ki Tô giáo Druze và Maronite tiếp tục chém giết nhau.

Nội chiến Lebanon, bắt đầu từ năm 1975, phải đến 1990 mới ngưng.

BM



Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÀNH KÍNH..

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và quần đùi

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc sống của ông Nguyễn Cao Kỳ những ngày đầu lưu vong ở Mỹ



Sáng ngày 29/4, từ Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã dùng trực thăng UH-1 do chính mình lái đưa vợ con ra tàu sân bay Midway của Mỹ để rời khỏi Việt Nam.
Sau khi đến Mỹ, ông lần lượt định cư qua các nơi: Fairfax bang Virginia, New Orleans bang Lousiana, Seattle bang Washington State, Hacienda Heights bang California và Houston bang Texas…
Theo lời tự thuật của ông với báo chí trong những lần trở về Việt Nam, ông kiếm sống bằng cách đi làm thuê trong hơn 10 năm đầu sống trên đất Mỹ.
Sau đây là một số hình ảnh về cuộc sống của vợ chồng ông Kỳ do nhiếp ảnh gia Mỹ Paul Slade ghi lại vào tháng 7/1975.
Cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ tại một căn phòng trong tư gia ở thành phố Fairfax, bang Virginia, nơi đầu tiên gia đình ông định cư ở Mỹ. Những đứa con của ông đang nằm ngủ trên đệm.
Bà Đặng Tuyết Mai, vợ ông Kỳ nấu ăn trong căn hộ của hai vợ chồng tại Fairfax.
Ông Kỳ tình tứ mớm thức ăn cho vợ yêu.
Vợ chồng ông Kỳ mua hoa quả trong một siêu thị địa phương.
Vợ chồng ông Kỳ mua hoa quả trong một siêu thị địa phương.
Ồng Kỳ cầm một túi đồ ở bãi đỗ xe.
Vợ chồng ông Kỳ khoác tay nhau dạo phố.
Chân dung chụp trên đường phố của vợ chồng ông Kỳ.
Vợ chồng ông Kỳ chụp ảnh lưu niệm cùng nhóm người Việt trước nhà hàng Thanh Long, nhà hàng của chị gái ông Kỳ.
Ông Kỳ và bà Mai trong một buối trả lời phỏng vấn tại hội trường của sân bay.
Ông Kỳ thăm thú cánh đồng rau của một trang trại ở California.
Vợ chồng ông Kỳ trong chuyến thăm trại tạm cư Pendleton ở bang California.
Vợ chồng ông Kỳ trong chuyến thăm trại tạm cư Pendleton ở bang California.
Bà Tuyết Mai thăm một lều tạm trú trong trại tạm cư Pendleton, California.
Ông Kỳ bà Mai biểu lộ sự sảng khoái tại sân golf mini trong một lần thăm tại trại tị nạn Weimar, gần Sacramento, California. Phần đông người trong trại là tướng, tá và gia đình thuộc binh chủng Không Quân của VNCH
Ông Kỳ và bà Mai chụp ảnh cùng diễn viên John Wayne trước nhà của ông này.
Ông Kỳ và bà Mai chụp ảnh cùng diễn viên John Wayne.
Ông Kỳ bắt tay John Wayne.
Ông bà Kỳ trò chuyện cùng John Wayne trong phòng khách.
Ông Kỳ cùng vợ đang đi vào trại tỵ nạn tại Weimar. Người phụ nữ Mỹ đi cùng dường như là tài tử Tippi Hedren (nổi tiếng trong phim The Birds mà Alfred Hitchcock là đạo diễn).
Vợ chồng ông Kỳ tại trại tỵ nạn Weimar.
Một bức chân dung của ông Kỳ.
Chân dung vợ chồng ông Kỳ, cùng bối cảnh với bức ảnh trước.
S.T / REDVN
Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Chao ôi thế thái nhân tình Thân mình mình chịu, phận mình mình cam".

“ CUỐI TRỜI MÂY TRẮNG”

KTS Thái Thành Vân

Kết quả hình ảnh cho Gia Dũng
(Tưởng nhớ Nhà thơ Gia Dũng)

1.
Tôi từ Hà Nội lên Tuyên Quang theo chuyến xe chiều. Vừa cởi bỏ ba lô thì có điện thoại của Nguyễn Hữu Dực: “Nhà thơ Gia Dũng đã bay về Trời, hồi 12h37’ trưa nay- ngày 12/4/2019, tức 08/3 Kỷ Hợi.” Tôi bàng hoàng buông máy ….
Trời ơi, chỉ cách đây năm ngày tôi đạp xe vào bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang thăm ông. Nửa phần trên to béo, đầu húi cua, chằng chịt dây dợ y tế. Nửa phần dưới phủ một tấm khăn nhẹ. Ông nằm bất động. Tôi khẽ nắm bàn tay hỏi to: Anh Dũng ơi, có nhận ra em không? Hỏi hai lần đều không có phản ứng gì…
Rồi bà Bình vợ anh đến. Bà mang theo cháo, sữa và đồ thay ca trực đêm cho cháu Tuấn. Bà cho hay ông Dũng vào cấp cứu từ trước Tết dương lịch 2019, đến nay vừa tròn bốn tháng.
Nhớ lại giữa tháng 10/2014, khi được tin ông có lương hưu trí với chức danh Phó Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tuyên, cộng tiêu chuẩn lương thương binh được hưởng 7,5 triệu đồng một tháng. Tôi và nhà văn Vũ Xuân Tửu phóng xe ra ngõ chợ Tam Cờ mừng cho ông. Lúc đó ông mới bị tai biến nhẹ. Da bủng, mặt xệ, cử chỉ vụng về hơn. Hai chúng tôi nháy nhau không nói chuyện bệnh tật, chuyển nói chuyện THƠ . Nhắc đến thơ mắt ông sáng lên, mái tóc bồng bềnh. Ông khoe dự kiến sẽ ra tập này, tập nọ…
Rồi không hiểu sao chuyện lại chuyển sang lương bổng, chức tước. Bà Bình có ý phàn nàn. Bỗng ông đứng lên với tay nóc tủ đưa cho tôi một tập dày công văn, giấy tờ. Tôi lật giở từng trang cũ, mới; có chữ đánh máy, chữ viết tay. Rồi chức danh, chữ kỹ và dấu mực đỏ. Đó là những nhận xét, xác nhận của các đơn vị quân đội, các cơ quan văn hóa từ Trung ương tới địa phương đánh giá về nhà thơ Gia Dũng- tác giả phần lới của ca khúc “Bài ca Trường Sơn” nổi tiếng. Đánh giá sự đóng góp của ông với những tuyển tập, bộ sách khủng mà ông tâm huyết sưu tầm, biên tập, hiệu đính, chọn tên sách, màu bìa, tìm nguồn kinh phí, tìm nhà xuất bản, tổ chức in ấn, phát hành…
Trong số bút tích có chữ ký của các ông Xuân Thiêm, Đặng Quang Tiết, Nguyễn Trí Huân, Hữu Thỉnh… Họ là những cán bộ lãnh đạo nơi ông Gia Dũng đã tưng công tác như Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Hội Văn nghệ Hà Tuyên; Ty Thông tin Văn hóa Hà Tuyên; Tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang… Lại có cả nhận xét thống nhất của các cơ quan Bảo hiểm xã hội, Sở Lao động - Thương binh Xã hội… Và cuối cùng là Quyết định phê duyệt của UBND tỉnh Tuyên Quang có lý, có tình, đẩy tính nhân văn.
2.
Nhà thơ Gia Dũng sinh năm 1940 ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Sau khi học hết cấp 2, mười tám tuổi- ông lang bạt lên Hà Nội, rồi kịp học một lớp sơ cấp kế toán. Sau đó ông ngược núi tìm lên thị xã nhỏ bé bên bờ sông Lô lập nghiệp. Thoạt đầu, ông làm việc ở ngành thương nghiệp, nhưng nỗi ham mê thơ phú, viết lách đã đưa ông đến với phòng văn nghệ Ty Văn hóa-Thông tin ở đây ông tập làm thơ, biểu diễn văn nghệ, kẻ vẽ áp phích, khẩu hiệu cùng lứa với các ông Bùi Huy Tuyên, Lê Cảnh Đức, Khuất Quang Lân, Tất Ứng, Phạm Đức Hùng…
Nhưng cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã xẩy ra. Tháng 4/1965 ông gia nhập quân đội ở một Trung đoàn bộ binh cơ động do Trung tá Nguyễn Chuông chỉ huy. Mùa đông 1967 đơn vị hành quân vào chiến trường. Biết bao gian khổ, mất mát đã xẩy ra. ĐỂ giữ vững tinh thần cho chiến sĩ, trung đoàn trưởng cho gọi các hạt nhân văn nghệ như Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Phúc Ấm, Gia Dũng, Tiêu Sơn làm “ Tờ tin trung đoàn”, tập trung sáng tác thơ ca, chép các bài hát hay, in ti-pô xung kích chuyển tới các trung đội, tiểu đội.
Nhờ đó mà Gia Dũng viết được bài thơ “Trường Sơn” chính trên con đường mà anh cùng đồng đội đang dấn bước. Bài thơ 28 câu, thể tự do, đầy không khí lạc quan, tin tưởng:
"Trường Sơn ơi, trên đường ta đi qua không dấu chân người
Có chú nai vang nghiêng đôi tai ngơ ngác
Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát
Ngắt một đóa hao rừng gài lên mũ ta đi".
Hoặc,
"Miền Nam, miền Nam lửa đốt lòng ta
Hỡi Trường Sơn hãy thành con ngựa sắt
Và rừng xanh thành vạn khóm tre ngà
Cho con cháu Bác Hồ làm Thiên Vương đuổi giặc".
Bài thơ ấy chuyển ra miền Bắc, được in trang trọng trên báo Nhân Dân. Rồi được nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc. “Bài ca Trường Sơn” như được thăng hoa, bốc lửa, vang xa tới mọi miền đất nước qua giọng ca hào sảng của nghệ sĩ Quốc Hương trên làn sống Đài tiếng nói Việt Nam. Ca khúc đó đã góp phần thúc giục bao thế hệ thanh niên ra trận góp sức chó giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Nhà báo Phí Văn Chiến cho biết: Những tháng năm ác liệt đó, ở mặt trận Quảng - Đà, “Bài ca Trường Sơn” là một trong mười bài hát bắt buộc của các lực lượng vũ trang. Những người lính là học sinh Trường Tân trào, là con em Tuyên Quang khi gặp nhau tự hào cất cao tiếng hát, vì biết tác giả lời ca là một người đồng hương sông Lô.
Ông Gia Dũng kể lại: Mùa hè 1972 do bị thương ông được chuyển ra Bắc điều dưỡng. Một lần được về thăm mẹ, thăm quê lúa Thái Bình. Đến thị xã khi xuống xe, ông sững sờ bắt gặp bức tranh cổ động khổ lớn, vẽ đoàn quân hành quân ra trận. Chạy dài theo bước chân người lính là câu hát “Còn gì vui hơn đường ra trận mùa xuân” và những giọt nước mắt cảm động của nhà thơ đã chảy ra. Rồi Gia Dũng lại tay bút, tay súng ra chiến trường. Ông có mặt ở Sài Gòn ngày 03/5/1975, cuối năm 1978 ông rời Tạp chí Văn nghệ quân đội sau nhiều năm làm phóng viên và biên tập viên cho tờ tạp chí văn chương hàng đầu của các lực lượng vũ trang. Ông trở về phòng Văn nghệ Ty Thông tin- Văn hóa Hà Tuyên lúc này đã chuyển lên thị xã Hà Giang.
Rồi sự kiện chiến tranh biên giới tháng 2/1979 xảy ra. Gia Dũng-người lính của bài ca Trường Sơn có mặt ở Hà Tuyên thời điểm đó. Với sự năng nổ, nhạy bén, được sự hỗ trợ của đồng nghiệp trong tháng 2, tháng 3/1979 hai số báo “Văn nghệ Hà Tuyên:” chống bành trướng được in số lượng lớn phát hành tận bản làng biên giới, các đơn vị nông lâm trường, trường học, tố cáo dã tâm của bọn xâm lươc, nêu những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân toàn tuyến biên giới.
Tiếp theo hai số báo xung kích, với kinh nghiệm làm báo ở chiến trường, khả năng tập hợp đội ngũ văn nghệ sĩ, Gia Dũng đề xuất chuyển tờ báo sang dạng tạp chí, kiểu khổ đứng như “Văn nghệ quân đội”. Từ 1980 đến giữa 1982, tám số tạp chí VĂN NGHỆ HÀ TUYÊN dày 80 đến 130 trang in với rất nhiều chuyên mục, thiết thực, hấp dẫn đã ra đời.
Tháng 8/1982, thường vụ Tỉnh ủy có Quyết Nghị thành lập Hội Văn nghệ Hà Tuyên do ông Đặng Quang Tiết- Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo làm chủ tịch. Nhà thơ Gia Dũng được chỉ định làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
Để phục vụ kịp thời sản xuất, chiến đấu bảo vệ biên giới, tạp chí văn nghệ lại chuyển thành báo VĂN NGHỆ HÀ TUYÊN đo Gia Dũng giữ chân Tổng biên tập và tờ báo này ra trọn ba mươi số từ 12 đến 16 trang cho đến Đại hội Văn nghệ lần thứ nhất. Tháng 1/1988. Đó là giai đoạn tập hợp đội ngũ văn nghệ sĩ hùng hậu, cộng tác viên tích cực các chuyên ngành Văn-Thơ-Nhạc-Họa-Nhiếp ảnh nở rộ.
Đây cũng là thời kỳ Văn nghệ Hà Tuyên mở nhiều triển lãm, nhiều trại sáng tác quy củ, qui mô. Các tập “Điểm tựa”, “Cực Bắc chiến hào”, “Hà Tuyên- mặt trận”. “Tân Trào 1945-1985”, “Măng non Tân Trào”, “Thơ và văn Hà Tuyên”… được liên kết xuất bản, có thể nói đó là thời kỳ sung mãn, trong đó phải kể đến sự năng nổ, đóng góp tích cực của nhà thơ Gia Dũng
3.
Đại hội Văn nghệ Hà Tuyên lần thứ nhất tổ chức ở nhà nghỉ Nông Tiến trong hai ngày 19-20/01/1988. Trong danh sách trúng cử Ban Chấp hành không có tên nhà thơ Gia Dũng. Lý do ông thiếu phiếu bầu không phải là không chính đáng. Cái tôi công hiến, cái tôi tài năng-nghệ sĩ đã đẩy ông xa cách những đồng chí, đồng đội. Hơn nữa cái ích kỷ, cá nhân của một số người trong cuộc đã không được tháo gỡ kịp thời, thiếu đi lòng vị tha thể tất. Sau vài năm, Gia Dũng lặng lẽ rời Tuyên Quang lao vào sáng tác từ do, tình nguyện làm một lão “ăn mày thơ”, người “đã cất xây đền thơ” người “quyết tôn vinh thơ Việt” khi tuổi đời xấp xỉ 50.
Trong vòng 25 năm, từ 1991 đến 2016, không một đồng lương hưu, không nhà ở cố định, không xe máy, không một tổ chức nào chi lương, nhà thơ Gia Dũng lặng lẽ đi “tầm thi thiên hạ”, miệt mài chung thủy yêu thơ. Trong cơ chế thị trường những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 có bao nhiêu người tranh giành dự án, bất động sản, chức tước… để nhanh chóng làm giàu, tô vẽ tên tuổi, thì Gia Dũng lao vào tầm thơ, in thơ, 25 năm lưu lạc ấy ông đã làm được một việc phi thường, nể phục- đi tìm và tập hợp cái HAY và ĐẸP của thơ ca Việt Nam với sự ham mê cuồng nhiệt, không chút vụ lợi, không chút né tránh.
Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay Gia Dũng đã xuất bản 14 tập thơ riêng; đã sưu tầm biên soạn, tìm kinh phí xuất bản 30 tuyển tập, hợp tuyển thơ và đã biên soạn khoảng 20 đầu sách thơ khác. Tất cả chỉ một mình ông kiên trì, lầm lũi làm việc.
Đọc mấy con số trên ta phải nghiêng mình kính phục, Rõ ràng nếu không có sự đam mê, sự dấn thân đến thua thiệt thì đã không có 44 đầu sách thơ xuất bản và 20 đầu sách thơ khác đang biên khảo chờ in.
Sách của ông chỉ mấy cuốn thơ mỏng từ 60 đến 100 trang in, nặng chỉ 0,2kg. Nhưng có rất nhiều cuốn khủng, dày từ 500, 700, đến hơn 2.000 trang in- có những bộ sách nặng đến 7 kg, in trên giấy tốt, bìa giả da, có hộp đựng quai xách sang trọng.
Đến nay với sự làm việc khủng khiếp Gia Dũng đã có khoảng 13.000 trang in với những tuyển tập, giá trị tầm cỡ quốc gia, qui mô hoành tráng đẳng cấp quốc tế. Có bộ đã đạt giải Bạc Hội xuất bản Việt Nam, có cuốn được đưa vào kỷ lục Ghi net sách Việt- Nhiều cuốn được phát hành sang các nước như Hoa Kỳ, Canada, Ban Lan, Hung ga ri…
Ta thử điểm qua một số đầu sách để thấy sự đa dạng các chủ đề, sự kiện, địa danh mà ông lựa chọn thơ để cung cấp cho bạn đọc và nhằm lưu cho hậu thế lâu dai.
Đó là tuyển thơ, tuyển tập, hợp tuyển được các nhà xuất bản lớn, như: Văn học, Văn hóa, Hội Nhà văn, Thông tin, Văn hóa dân tộc, Thanh niên, Phụ nữ, Hà Nội… ấn hành. Đó là các cuốn Thơ tình Đà Lạt, Duyên thơ, Vườn Thanh, Tràng An một thuở, Ngàn năm thơ Việt (1010-2010), Một thế kỷ thơ văn Lào Cai (1097-2007), Đường về xứ Nghệ, Trời Nam thương nhớ (Tuyển thơ Thăng Long –Hà Nội), Hồ Chí Minh (hợp tuyển thơ), Nước non một dải, Một trăm bài thơ chọn lọc thế kỷ 20, Văn chương Thái Bình mười thế kỷ, Nguyễn Trãi (Hợp tuyển thơ), Thơ Việt Nam 1945-2000, Trông về Việt Bắc, Thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chúng tôi đánh giặc và làm thơ.
Trong số các tập đang biên soạn có các tuyển thơ xưa, nay về Kinh Bắc, Xứ Đông, Xứ Đoài, đường lên Yên Tử, Tuyển thơ Nguyễn Bính, Mây trắng sông Hàn (thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm), 300 năm ấy (Tuyển thơ về Nguyễn Du)…
Những người thơ, địa danh thơ sẽ còn nối dài người biên soạn, tinh tuyển lại, nhưng người tiên phong đi đầu là nhà thơ Gia Dũng. Nhất định lịch sử sẽ ngưỡng mộ và tôn vinh, ghi nhớ ông.
4.
Chiều 14/4/2019 tại phố chợ Tam Cờ, phương Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, các cơ quan đoàn thể, gia đình nội ngoại, bà con khối phố, đông đảo bạn bè, đồng nghiệp đã long trọng làm lễ tiễn đưa Gia Dũng về nơi an nghỉ cuối cùng.
Đã khép lại một người thơ có tuổi đời 80 và tuổi làm thơ, yêu thơ, say thơ 60 là Gia Dũng- một người bình thường đã vượt lên sự bình thường để làm được câu chuyện phi thường- một mình rong ruổi khắp đất nước từ Bắc xuốn Nam, từ biển lên rừng để đãi cát xây ngôi đền thi ca Việt Nam.
Bất giác trong mùi khói hương, trong tiếng bước chân lặng lẽ của dòng người đến tiễn đưa, tôi nhìn lên bầu trời đầu hạ của thành phố Tuyên Quang mà tưởng như đọc được câu thơ tự bạch, in trong trang đầu tập thơ cuối cùng của ông:
"Chao ôi thế thái nhân tình
Thân mình mình chịu, phận mình mình cam".
Xin cúi đầu vĩnh biệt ông./.
Thành Tuyên, đêm 14/4/2019.
TTV

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đảng và Nhà nước đã quyết định tổ chức Quốc tang Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh vào ngày 3-5.


Fb Trần Nhung

Những ngày qua hệ thống truyền thông và mạng xã hội có rất nhiều bài về ông. Báo chí chính thống ca ngợi ông hết lời còn mạng xã hội có vô số bình luận phê phán ông với nhiều ngôn từ năng nề, thậm chí còn gọi ông là kẻ phản quốc.
Các nhà lãnh đạo cách mạng VN có nhiều công lao to lớn nhưng cũng có nhiều sai lầm nghiêm trọng gây tổn hại lớn cho nhân dân và đất nước.Ông Lê Đức Anh cũng không là ngoại lệ. Sở dĩ có hiện tượng bên khen hết lời bên phê phán hết mức trái ngược nhau là do nhân dân bị phân tâm và tình trạng hệ thống chính tri tư tưởng của ta xưa nay chi có khen lãnh đạo, tô hồng công lao mà tuyệt nhiên không nói hai mặt có tốt có xấu có công lao và có sai lầm.
Tôi có nhiều dịp đi theo ông Lê Đức Anh cả trong nước và quốc tế. Năm 1998 ông bị trọng bệnh tưởng khó qua khỏi, tôi được báo QĐND phân công viết bài về ông. Bài viết xong đã duyệt đăng nhưng ông khỏi bệnh thần kỳ, sống thêm 21 năm nữa. Các thày thuốc TQ đã chữa bệnh cho ông nên ông qua cơn nguy kịch. Bài báo của tôi Đại tướng Chủ tịch Nước Lê Đức Anh-nhà chính trị quân sự xuất sắc 20 năm sau mới đăng trên báo điện tử VIETTIMES tháng 2-2018 vào lúc ông lâm trong bệnh.
Ông Lê Đức Anh có nhiều công lao to lớn, là người đi qua ba cuộc chiến tranh trên nhiều mặt trận và giữ nhiều trọng trách lớn. Ông là một trong các nhà lãnh đạo có công đầu về nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, an ninh quốc phòng,đặc biệt là bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt -Trung, Việt-Mỹ.
Tuy nhiên ông cũng có nhiều vấn đề nhiều uấn khúc chưa được làm rõ và kết luận công khai nên gây nhiều tranh cãi và đánh giá khác nhau .
Đó là:
-Việc ông được kết nạp Đảng có khúc mắc về thử tục do có đơn tố cáo ông chưa là đảng viên của lão thành cách mạng Phạm Văn Xô. Lẽ ra việc này cần có kết luận và thông báo cho đảng viên biết.
-Thời ông được bổ nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng cũng râm ran dư luận do có việc ngẫu nhiên chỉ trong vài tháng hai Đại tướng Lê Trong Tấn và Hoàng Văn Thái từ trần mà hai vị này rất sáng giá cho chức Bộ trưởng Quốc phòng thay thế Bộ trưởng Quốc phòng Đại tướng Văn Tiến Dũng từ nhiệm.
-Nhiều người cho là ông đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông thuộc phe hạ bệ thần tượng Võ Nguyên Giáp.
-Vai trò và trách nhiệm của ông là Bộ trưởng Quốc phòng về bảo vệ đảo để mất nhiều đảo vào tay TQ do ông có lệnh cho Hải quân không được nổ súng trước.Vấn đề này vẫn chưa được kết luận cụ thể nên khi có cuốn sách về vụ đảo Gạc Ma gây nên tranh cãi nảy lửa.
-Trách nhiệm của ông về hội nghị Thành Đô mà như lời Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch là việc ký Mật ước này đưa VN vào thời kỳ Bắc thuộc mới. Lẽ ra việc này cũng cần kết luận và công khai để tránh suy diễn
-Ông cất nhắc và nâng đỡ nhiều người, bênh che cho sai lầm khuyết điểm của họ để họ ở trọng trách lớn gây nhiều tổn hại cho đất nước như Ba X., Ba T. ,Nguyễn Bắc Son...
....Cái quan định mệnh. Lúc về thiên thu, ông vào Nghĩa trang như các bậc tiền bối chứ không như mấy vị chiếm hàng nghìn hàng vạn mét vuông đất xây Lăng mộ.
Kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt ông.
Ảnh Chúc mừng sinh nhật lần thứ 75 của ông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia Phạm Chi Lan: Ba câu hỏi cho dự án đường cao tốc Bắc-Nam


27/04/2019 Phạm Chi Lan - Trong vài tháng gần đây, Bộ Giao thông - Vận tải (GTVT) đưa ra một số thông tin về triển khai dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam (ĐCTBN), gây xôn xao trong dư luận. Nhiều chuyên gia đã lên tiếng, bày tỏ sự quan ngại từ các góc độ khác nhau quanh dự án này. Tôi cũng xin chia sẻ những suy nghĩ và mối lo của tôi trên các mặt sau đây.


Đường về miền Tây Nam bộ kẹt cứng 
dịp Tết Nguyên đán 2019. Ảnh: NĐT
Về chủ trương đầu tư xây dựng ĐCTBN, không ai phủ nhận tầm quan trọng của việc hình thành một hệ thống giao thông hiện đại, đồng bộ, kết nối các vùng khác nhau của đất nước, để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), đảm bảo an ninh quốc phòng, nhất là trong giai đoạn tới, khi chúng ta rất cần phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững hơn.

Xây dựng một tuyến ĐCTBN chạy suốt dọc chiều dài của đất nước chắc chắn là cần thiết. Việc xây dựng tuyến đường đó hẳn phải nằm trong chiến lược tổng thể về phát triển hệ thống hạ tầng giao thông ở nước ta với tầm nhìn dài hạn, để phân định rõ vai trò của các loại hình giao thông khác nhau (như đường bộ, đường sắt, đường thủy trên sông, ven biển và biển, đường hàng không), để phân kỳ đầu tư giữa các loại hình giao thông và trong từng loại hình theo các giai đoạn khác nhau, phù hợp với nhu cầu và khả năng thực hiện.

Riêng tuyến cao tốc Bắc - Nam, chắc cũng phải có chiến lược hay quy hoạch cho toàn bộ con đường dài trên 1.800km, được hoạch định tương đối chi tiết, dựa trên những nghiên cứu, tính toán, đánh giá tác động cẩn trọng, để từ đó mới phân đoạn, phân kỳ và tiến hành theo từng đoạn, từng thời kỳ.

Vấn đề là, tháng 11.2017 khi Quốc hội thông qua dự án ĐCTBN, các căn cứ chiến lược như trên không được trình bày rõ ràng để người dân - những người chi trả cho con đường và hưởng thụ nó - được biết và được bàn về dự án này. Vì vậy, hàng loạt câu hỏi đã nảy sinh khi Bộ GTVT công bố tiến hành xây dựng dự án, với chiều dài 654km và tổng chi phí trên 118.000 tỷ đồng, chia làm 11 dự án thành phần, trong thời gian 2017- 2020.

Câu hỏi đầu tiên: Tại sao tiến hành xây dựng ĐCTBN lúc này?

Tại sao tiến hành xây dựng ĐCTBN khi: (a) ngân sách của nhà nước còn hạn hẹp, trong khi nhu cầu đầu tư cho nhiều mặt phát triển KTXH rất lớn và mức huy động sức dân đã rất cao; (b) đường bộ đã được đầu tư rất nhiều, đã chiếm tới 79% tổng đầu tư cho lĩnh vực giao thông, trong khi các lĩnh vực giao thông khác có nhu cầu lớn không kém như đường thủy, đường sắt lại ít được đầu tư; (c) riêng đường bộ trục Bắc - Nam, đã có hai hệ thống đang hoạt động là quốc lộ 1 và “đường Trường Sơn công nghiệp hóa”, vậy ĐCTBN có cần làm ngay không và làm như thế nào trong tương quan và phối hợp với hai con đường kia để tránh lãng phí; và (d) ta đang lập kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, vậy hai tuyến đường cao tốc này sẽ được phối hợp thiết kế, xây dựng, kết nối như thế nào cho hiệu quả nhất?

Từ câu hỏi “tại sao” với bốn khía cạnh trên, dẫn tới câu hỏi: liệu việc tiến hành xây dựng ĐCTBN vào lúc này đã thật cấp thiết chưa; giữa đường bộ cao tốc và đường sắt cao tốc cái nào cấp thiết hơn; hoặc làm 654km này có cấp thiết hơn, hiệu quả hơn so với làm một số con đường để giải quyết vấn nạn nghẽn mạch giao thông (do chỉ được đầu tư quá ít) đang kìm hãm sự phát triển của đầu tàu kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng nông nghiệp quan trọng nhất nước - đồng bằng sông Cửu Long?

Thông thường, báo cáo đánh giá tác động của dự án ĐCTBN phải đặt ra và giải đáp những câu hỏi đó, phải chứng minh dự án này là cấp thiết nhất và không có chọn lựa nào về giao thông hiệu quả hơn, cũng như chứng minh lợi ích KTXH đạt được sẽ lớn hơn chi phí bỏ ra. Báo cáo đó phải dựa trên những nghiên cứu khách quan và tham vấn ý kiến các đối tượng trong xã hội, và phải được công bố để đông đảo nhân dân - những người đóng thuế biết và tham gia quyết định nên làm hay không.

Câu hỏi thứ hai: Các nguồn lực cho dự án sẽ huy động từ đâu, như thế nào?

Nguồn lực đầu tiên là tiền. Quốc hội quyết định nhà nước sẽ bỏ ra 55.000 tỷ đồng, và sẽ huy động từ các nhà đầu tư ngoài nhà nước hơn 63.000 tỷ đồng. Trong tình hình ngân sách hiện nay, với mức chi thường xuyên rất cao và chi trả nợ khá lớn, sẽ phải trông chờ nhiều vào trái phiếu chính phủ để có 55.000 tỷ đồng cho nhà nước đầu tư vào 3 trong 11 dự án thành phần như dự tính. Huy động trái phiếu thì sẽ phải tính tới việc trả lãi và tăng thêm gánh nợ công vốn đã nặng ở nước ta, kể cả cần tính “chi phí cơ hội” khi số tiền này có thể dùng vào những việc khác hứa hẹn lợi ích KTXH rộng lớn hoặc thiết thực hơn.

Hơn 63.000 tỷ đồng của các nhà đầu tư ngoài nhà nước thì sao? Trong nước, hiếm có nhà đầu tư có đủ vốn để tham gia loại dự án đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lâu như ĐCTBN. Do vậy, các nhà đầu tư sẽ phải đi vay, và sẽ phải tính vào chi phí cả lãi vay của mình và của người cho mình vay (vì họ cũng phải huy động từ đâu đó). Vậy là dòng tiền này sẽ chịu ba thứ lãi, lãi trả cho nhà đầu tư cùng hai thứ lãi vừa kể. Với mặt bằng lãi suất và sự khan hiếm vốn ở nước ta hiện nay, ba thứ lãi này không hề nhỏ và sẽ đội giá thành xây dựng lên. Tiền đổ dồn vào đó cũng sẽ khiến sự khan hiếm vốn trong xã hội tăng lên, và những đối tượng khó tiếp cận vốn như doanh nghiệp nhỏ và vừa hay các hộ nông dân càng khó tìm vốn hơn.

Trong trường hợp huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN), hoặc doanh nghiệp Việt phải đi vay nước ngoài để tham gia dự án, thì lại có những vấn đề khác nảy sinh. Liệu ta có chọn được những nhà ĐTNN vừa đáp ứng về vốn, vừa đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, lao động, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng không? Liệu ta có rơi vào những bẫy nợ, bẫy tiêu chuẩn, bẫy chất lượng thấp như một số nước đã mắc phải? Không phải vô cớ mà công luận nước ta phản ứng mạnh khi Bộ GTVT đưa tin một tập đoàn Trung Quốc muốn tham gia đầu tư vào dự án ĐCTBN, thậm chí muốn làm toàn bộ con đường này.

Dân ta không thể chấp nhận trao cả con đường xương sống của đất nước hay bất cứ đoạn nào của con đường vào tay kẻ đến từ một quốc gia không ngừng muốn biến đất đai, biển trời của ta thành một bộ phận trong vành đai, con đường của họ, không ngừng quấy nhiễu cuộc sống của nhân dân ta.

Dân ta đâu có lạ gì những thủ thuật từ nhiều dự án họ đã làm ở nước ta, như bỏ thầu thấp rồi nâng vốn lên gấp hai-ba lần, kéo dài thời gian thực hiện, sử dụng kỹ thuật, thiết bị, vật tư chất lượng thấp, đưa lao động của họ sang làm và tìm cách ăn đời ở kiếp tại nước ta, rồi hệ quả về môi trường và tệ tham nhũng khi làm với họ...

Ngoài tiền vốn, các nguồn lực con người, kỹ thuật và quản trị cũng không kém phần quan trọng. Sau hơn 30 năm đổi mới, nhiều tổ chức, doanh nghiệp Việt đã trưởng thành hơn và có đội ngũ lao động với trình độ kỹ thuật và quản trị đủ sức đảm đương những dự án quy mô lớn và chất lượng cao trong lĩnh vực giao thông. Cần huy động họ vào làm dự án ĐCTBN, bất kể dùng vốn nhà nước, vốn vay hay ĐTNN, vừa giúp tăng tối đa khả năng làm chủ của phía ta trong dự án, vừa tạo cơ hội cho người Việt làm và lớn mạnh hơn.

Đương nhiên, các kỷ luật về ngân sách, tài chính, đấu thầu, chọn thầu, kỹ thuật, chất lượng, bảo vệ môi trường, về kiểm tra, giám sát, thẩm định... phải được thực thi nghiêm túc, không dung thứ cho bất cứ ai vi phạm. Minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện thiết yếu để đảm bảo kỷ cương trong các việc trên. Vai trò giám sát của Quốc hội, phản biện và giám sát của xã hội, của các chuyên gia độc lập và người dân càng phải được phát huy cao nhất.

Về nguồn lực đất đai, câu hỏi là dự án này được bố trí thế nào để hài hòa với các tuyến giao thông khác, đặc biệt là đường sắt cao tốc và các tuyến đường bộ nhánh, các cảng sông, cảng biển, cảng hàng không, tạo nên một mạng lưới giao thông kết nối tối ưu và sử dụng quỹ đất hiệu quả nhất. Đặc biệt trên các cung đường dài và hẹp của khúc ruột miền Trung, vốn đã có hai con đường bộ và một con đường sắt khổ hẹp, địa hình lại phức tạp, đòi hỏi đường sắt cao tốc tương lai phải được dành những quỹ đất thuận lợi hơn. Và dù lần này làm 11 dự án thành phần, trung bình mỗi dự án chưa đến 60km, thì 11 dự án cùng tất cả 654km đó cũng phải đồng bộ với nhau và với thiết kế của toàn tuyến hơn 1.800km đường cao tốc Bắc Nam.

Rất cần tránh căn bệnh “mạnh ai nấy làm” khi phân chia mỗi đoạn một nơi, một chủ, một cách làm, một chút “du di” so với chuẩn chung, để rồi cuối cùng cả con đường có thể trở thành những đoạn nối như những mảnh vá chắp lại, chứ không phải là dải lụa đào liền mạch trên mảnh đất hình chữ S của chúng ta.

Câu hỏi thứ ba: Làm thế nào để dự án được thực hiện tốt nhất, tránh những sai lầm, vi phạm thường xảy ra trong hầu hết các dự án tương tự?

Ở nước ta, những sai lầm, vi phạm xảy ra khá phổ biến trong các dự án đầu tư công, hay hợp tác công tư (PPP), hay tư nhân thực hiện theo hình thức xây dựng-vận hành-chuyển giao (BOT) hoặc xây dựng-chuyển giao (BT). Những thủ đoạn móc ngoặc, gian dối của các nhóm lợi ích để thâu tóm dự án cùng các món lời khủng về tay mình, bán rẻ lợi ích chung, coi thường pháp luật (mà nhiều khi đã bị chúng khuynh đảo hoặc cài cắm lợi ích vào) không còn xa lạ. Nhiều vấn đề đã được người dân phát hiện, các chuyên gia phân tích và được phanh phui trên mặt báo. Nhà nước đã sửa một số luật và quy định liên quan như luật đấu thầu, các qui định về PPP, BOT... cũng như đã trừng phạt một số kẻ vi phạm, tham nhũng.

118.000 tỷ đồng cho ĐCTBN là mồ hôi nước mắt của nhiều chục triệu người lao động, là gánh nợ của vài thế hệ người Việt hiện nay và mai sau. Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về cách sử dụng nguồn vốn to lớn đó, phải khắc phục bằng được những cái sai để khôi phục niềm tin của dân đã sa sút do bao chuyện lùm xùm lâu nay. Nhà nước kiến tạo, nhà nước phục vụ phải làm bằng được điều đó, và hoàn toàn có thể làm được khi biết thực sự lắng nghe dân, dựa vào dân.

Dự án ĐCTBN đưa ra vào lúc nước ta đã là thành viên của CPTPP và hy vọng sớm hoàn tất FTA với EU, nên theo các cam kết, chúng ta cũng phải cố gắng cao nhất để thực hiện theo các chuẩn mực liên quan trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới này. Chính các chuẩn mực đó cũng cho ta biết phải làm thế nào để cải thiện chất lượng điều hành, tổ chức thực hiện nghiêm túc, để tăng sức thu hút các đối tác đến từ các quốc gia có nền pháp trị đáng tin cậy và có trình độ kỹ thuật, quản trị cao, có thể cùng ta tiến hành đầu tư vào các dự án với chất lượng tốt.

Tôi mong biết bao những câu hỏi trên đây, cũng là những mối lo của tôi quanh dự án ĐCTBN này, sẽ sớm được giải tỏa.

Phạm Chi Lan
https://nguoidothi.net.vn/chuyen-gia-pham-chi-lan-ba-cau-hoi-cho-du-an-duong-cao-toc-bac-nam-18337.html



nhận xét hiển thị trên trang